|
|
NHẬP BỒ TÁT HẠNH
Nguyên
tác Phạn ngữ Bodhisattvacharyavatara
Nguyên
tác: Tịch Thiên
(Shantideva)
Hoa dịch: Trần
Ngọc Giao
Việt dịch: Thích Nữ Trí
Hải
Thành kính dâng lên Giác linh
Ni Trưởng
(thượng) DIỆU (hạ) KHÔNG,
người trọn
đời thể hiện tâm BỒ ĐỀ tôn quư.
--- o0o ---
Bộ luận Nhập
Bồ Tát Hạnh là một kiệt tác của Phật giáo
Ấn Độ, không những trên phương diện tư
tưởng, tu chứng, mà c̣n cả trên phương
diện văn học. Nó
đă đem lại niềm vui cho biết bao nhiêu thế
hệ. Tương truyền ở Ấn Độ đă có
hơn một trăm bộ chú thích cho bộ luận này, và
ở Tây Tạng nó đă trở thành một trong sáu bộ
luận "gối đầu" cho những kẻ học
Phật.
Bộ luận này được
truyền đến Trung Hoa vào đời Triệu
Tống, lúc ấy Phật giáo vừa trải qua cơn pháp
nạn khốc liệt thời Đường Vũ Tông,
kế tiếp lại bị nhiều nạn đao binh phá
hoại trong thời Ngũ Đại, cho nên sinh khí của
Phật giáo lúc bấy giờ gần như bị kiệt
quệ, ngoài Thiền Tông và Tịnh Độ Tông ra, các tông phái
khác gần như tuyệt tích. Hơn nữa, vào thời
đó, các vị tăng sĩ ít c̣n "hứng thú" trong
việc khảo cứu các tác phẩm mới
được phiên dịch từ Ấn Độ, và v́ lư do
này, hầu hết các dịch phẩm mới dưới thời
Triệu Tống ít được các nhà học Phật
để ư đến, mà một "nạn nhân chính"
trong đó là bộ Nhập Bồ Tát Hạnh này. Một
điều tệ hại nữa là bản dịch của
ngài Thiên Tức Tai, một vị cao tăng Ấn Độ,
không những thiếu sót nhiều chỗ, mà văn
chương lại tối tăm khó hiểu, thành thử
số phận của nó lại càng hẩm hiu. Kết
quả là bộ luận này đă bị bỏ quên trong
bộ Đại Tạng Kinh của Trung Hoa hơn một ngàn
năm mà không ai biết đến. Trái lại, ở Tây
Tạng sự lưu truyền rất được
thịnh hành, và gần đây ở Âu Tây phong trào nghiên
cứu bộ luận này càng lúc càng trở nên rầm
rộ. Theo như sự hiểu biết của tôi, đă
có hơn mười bộ: nào phiên dịch, nào chú giải,
nào luận án nghiên cứu bằng tiếng Anh đă
được xuất bản, chưa kể đến
các ngôn ngữ khác như Nhật, Đức, Pháp, Ư, v.v...
Điều này chứng tỏ nó phải có một giá trị
nào đó mới có thể thu hút được sự chú ư
của nhiều người như thế. Sự
đặc sắc của bộ luận này có thể
được nh́n từ hai phương diện:
(Một) Phương diện tư
tưởng: Ngài Tịch Thiên trên phương diện
trước tác chỉ để lại vỏn vẹn có
hai (có chỗ nói ba)Ơ tác phẩm chính, tức là bộ
luận này cùng bộ Học Xứ Tập Yếu. Tuy
số lượng ít oi như thế, chỉ cần nh́n
vào hai tác phẩm này, chúng ta có thể quả quyết
rằng không những ngài là một học giả uyên bác mà
c̣n là một nhà tư tưởng cao siêu. Trong chiếc áo
nhà tu, Tịch Thiên đă biểu hiện cho chúng ta biết
rằng ngài không những là một bậc trí tuệ siêu
phàm, mà c̣n là một kẻ rạt rào t́nh cảm. Lư trí và t́nh
cảm không bắt buộc phải bị tách đôi như
các nhà triết học Tây phương quan niệm, mà lư có
thể hợp nhất với t́nh. V́ lư do này, Phật giáo
Đại thừa chú trọng nhiều đến
phương diện t́nh cảm, v́ nếu t́nh cảm
được đặt đúng vị trí, nó sẽ trở
thành một động lực căn nguyên của tâm
Đại Từ Bi. Mà muốn thành Phật th́ phải có
đủ cả hai đức tính, tức là từ bi và trí
tuệ. Thiếu một không thể được!
Phát Bồ Đề Tâm! Tu Bồ Tát
Hạnh! Nghe qua th́ có vẻ đơn giản, nhưng
chắc chắn không phải là công việc của một
kẻ tầm thường. Đây là khung trời của
những kẻ mà ư chí cao vượt đến những
dăy ngân hà xa tít, của những kẻ mà tâm nguyện kiên
cường vững chăi hơn trăm ngàn thành lũy,
của những kẻ mà trăm ngàn lưỡi đao bén
nhọn không làm cho họ nao núng, và trăm ngàn sự vui cơi
trời không làm họ xao động! Ai là kẻ có thể
nắm giữ được gia nghiệp của Đức
Như Lai? Ai là kẻ có thể làm xán lạn cho gia tộc
Phật? Những kẻ mà chí nguyện cứng chắc
hơn trăm ngàn kim cương đó, lại có thể là
những kẻ v́ chúng sinh mà chảy ḍng lệ nhạt nḥa
như người mẹ hiền nức nỡ
trước nỗi khổ của đứa con ḿnh.
Từ những ḍng tư tưởng của bộ
luận này chúng ta có thể thấy được, một
cách mông lung, tầm kích vĩ đại của con
người Tịch Thiên!
(Hai) Phương diện thực
tiễn tu hành: Điều trọng đại nhất cho
hành giả bắt đầu dấn bước trên con
đường tu hạnh Bồ Tát là sự phát tâm Bồ
Đề. Phát tâm Bồ Đề là sự chuyển ḿnh của
hành giả từ thân phận tầm thường của
một phàm phu vào đến tầm kích của vũ
trụ. Đây là sự biểu hiện của một nhân cách
vĩ đại nhất, mà không có một hệ thống
triết học hay tôn giáo nào có thể tự hào. Khi mà hành
giả đă lột bỏ được bộ quần
áo tâm linh cũ nát của ḿnh, thay vào đó bằng bộ
quần áo lộng lẫy Bồ Đề Tâm, trên phương
diện "người", hành giả đă trở nên
cao quí hơn tất cả phàm phu:
Kẻ tù ngục sinh tử
Nếu phát Bồ Đề tâm
Tức khắc tên Phật tử
Trời người nên cung kính!
Trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát Di Lặc
đă mô tả cho Thiện Tài một cách tỉ mỉ hành
trạng của tâm Bồ Đề như sau: "Bồ
đề tâm như hạt giống v́ từ đó sinh ra
hết thảy Phật pháp. Bồ đề tâm như
ruộng tốt v́ nơi đây sản xuất các thứ
thuần tịnh cho thế gian. Bồ đề tâm như
cơi đất v́ ǵn giữ tất cả thế gian. Bồ
đề tâm như ḍng nước v́ rửa sạch
tất cả cáu bẩn của tham dục. Bồ
đề tâm như ngọn gió v́ thổi khắp thế
gian không có ǵ làm trở ngại. Bồ đề tâm như
ngọn lửa v́ đốt cháy tất cả củi hư
luận. ......... Bồ đề tâm như cha lành v́ bảo
hộ hết thảy các Bồ tát. Bồ đề tâm
như mẹ hiền v́ dưỡng dục hết thảy
Bồ tát. Bồ đề tâm như nhũ mẫu v́
chăm sóc hết thảy Bồ tát. ......... Bồ
đề tâm như người tỉnh thức v́
đẩy lui tất cả cái xấu xa. Bồ đề
tâm như lưới trời Đế thích v́ nó khuất
phục những quỷ phiền năo a tu la. Bồ
đề tâm như lửa trời Đế thích v́ nó
đốt cháy tất cả công năng tập quán, tham
dục và phiền năo bất tịnh. Bồ đề tâm
như tháp thờ xá lợi v́ hết thảy thế gian,
loài người và loài a tu la kính ngưỡng." Rồi
Bồ tát Di Lặc kết luận: "Này thiện nam
tử, Bồ đề tâm thành tựu vô lượng công
đức tuyệt diệu như vậy. Tóm lại
Bồ đề tâm cũng đồng như Phật pháp
và các công đức của quả Phật. Tại sao thế?
Bởi v́, chính từ Bồ đề tâm mà hạnh của
Bồ tát bắt đầu khởi hành, và cũng chính
từ đó mà hết thảy Như Lai trong quá khứ,
hiện tại và vị lai xuất hiện ở thế
gian. V́ vậy, này thiện nam tử. Một khi ước
vọng giác ngộ tối thượng được phát
khởi, th́ vô số công đức cũng được
phát sinh, và cả đến ư thức ẩn áo nhất
của Nhất thiết trí cũng phát sinh từ
đó." (Trích từ Thiền Luận của Suzuki, bản
dịch của Tuệ Sỹ)
Thế nhưng, trong quá tŕnh trui luyện chí nguyện
Bồ tát, các công hạnh tuy có đa dạng, nhiều
đến vô lượng, song mục đích không ngoài
sự việc cốt yếu là buông bỏ "tự
ngă". Suzuki trong quyển "Khai Ngộ Đệ
Nhất" có nói: "Lúc mà chúng ta buông bỏ tự ngă
cũng chính là lúc tha lực hiển hiện." Khi mà hành
giả t́m đến bờ vực của tâm linh, trong
sự thành khẩn tha thiết đến cực
độ của ḿnh, trong phút giây bàng hoàng đó, hành
giả có thể tạm thời quên mất tự ngă. Và
chính trong giây phút huyền diệu đó, lạ lùng thay, tha
lực hiển hiện như một luồng ánh sáng chan
ḥa! Trong giây phút tuyệt vời đó, không c̣n sự phân
biệt giữa tự và tha, ḿnh và đối tượng
của ḿnh là một! Và ngay chính trong sự tha thiết
đến cùng độ đó, lại chính là giây phút hành
giả thể nghiệm được chân lư, và đây
cũng chính là một sự thể ngộ về Tính Không!
Dịch bản tiếng Việt này
của bộ Nhập Bồ Tát Hạnh là một công tŕnh
kiệt xuất của Ni sư Trí Hải. Ni sư không
những dịch thành văn xuôi mà lại c̣n dịch cả
thành văn vần, cả hai đều có thể gọi là
những dịch phẩm quan yếu cho Phật giáo Việt
Hai phần văn xuôi và văn vần
có được là nhờ sư huynh của tôi, thầy
Thích Pháp Quang, trụ tŕ chùa Tịnh Luật ở Texas, liên
lạc với Ni sư Trí Hải ở Việt Nam, gửi
qua cho thầy bằng "email". Khi nhận
được hai phần này từ thầy Pháp Quang, tôi
cảm thấy vui mừng như "kẻ khát
được cam lộ, kẻ nghèo gặp ngọc
quư" bèn không quản tài học thô thiển của ḿnh
viết lên vài hàng giới thiệu hầu kết duyên
với tất cả những hành giả "đă,
đang, hoặc sẽ phát tâm học tập Bồ tát
hạnh", và cũng nhân đây "phát lộ"
với tất cả đại chúng rằng ḿnh đă
được "diễm phúc" tắm gội trong hào
quang của Tam Bảo cùng ánh sáng chói ngời của con
người vĩ đại Tịch Thiên!
Nguyện đem công đức
truyền bá "áo nghĩa" của Đại thừa này
hồi hướng đến thân mẫu, Sư cô Thích Nữ Chúc Phước, đàn na tín
chủ, cùng tất cả chúng sinh. Nguyện tất cả
những ai thấy nghe, hoặc tin không tin, hoặc hiểu
không hiểu, hoặc khen hoặc chê, hoặc kính hoặc
hủy, đều đời đời trở thành Pháp
quyến của nhau, d́u dắt nâng đở nhau, cho
đến ngày tất cả đều thành Chánh Giác. Xin
tất cả hăy cùng nhau phát lên lời thệ nguyện
vĩ đại của Tịch Thiên:
Cho đến tận hư không,
Nơi nào có chúng sinh,
Nguyện sẽ đến nơi
đó,
Diệt khổ đau cho họ!
Mùa Phật Đản 2547, tháng 5-2003
Tường Quang
Tự,
Tỳ kheo Thích
Pháp Chánh cẩn thức
Lời nói đầu của
người dịch Việt Ngữ
Cách đây vài năm, tôi đă
được đọc dịch phẩm Bồ tát
hạnh của thầy Trí Siêu và sau đó, bản
dịch tiếng Pháp Vivre en héros pour l'éveil. Sách này đă gây cho tôi một chấn
động sâu xa, nhất là thấy đa số các học
giả và hành giả Phật giáo hiện nay trên thế
giới đều ít nhiều chịu ảnh hưởng
của nó trong hầu hết các bài giảng, tác phẩm,
dịch phẩm của họ; đủ biết ảnh
hưởng nó sâu rộng chừng nào. Được
biết luận này mang tên Nhập bồ tát hạnh của
bồ tát Tịch thiên sống tại miền
V́
sự g̣ bó của vần điệu, chắc chắn
dịch thơ không thể nào lột hết thánh ư trong
nguyên bản, nên song song với bản dịch thơ, c̣n có
bản dịch văn xuôi. Bởi vậy, gặp những
chỗ khó hiểu trong bản dịch thơ, xin
độc giả tham khảo câu, phần tương
đương trong bản dịch văn xuôi ở một
tập khác. Ngoài ra, trong khi dịch văn xuôi, để
giúp người chưa rành những từ ngữ Phật
giáo và pháp số, tôi có chú thêm giải thích trong ngoặc
đơn kèm theo ngay sau mỗi từ khó hiểu.
Bản
dịch này căn cứ trên bản gốc bằng Hán ngữ
của Trần Ngọc Giao dịch từ Tạng ngữ
kèm chú giải bằng tiếng Phổ thông, do Tạng
hải xă Đài Bắc xuất bản (Trung hoa dân quốc
năm 81); đồng thời tham khảo bản tiếng
Pháp nói trên của Georges Driessens, Editions du Seuil xuất
bản 1993, và bản Anh dịch của Stephen Batchelor,A
Guide to the Bodhisattva's Way of Life, Library of Tibetan Works and
Archives xuất bản 1979. Xin chư Bồ tát gia hộ cho
bản dịch này không quá xa Thánh ư.
Bản
dịch này có ra là nhờ thầy Pháp Quang ở
Nguyện
đời đời kiếp kiếp được
gặp Bồ đề quyến thuộc, chỉ ra
đời và sống v́ an lạc cho nhiều người,
v́ hạnh phúc cho nhân loại và chư thiên.
Tháng 3, 1998
Tỳ kheo ni Trí hải
TIỂU SỬ TÔN GIẢ TỊCH THIÊN
(SHÀNTIDEVA)
- Thích Trí Siêu -
Theo
truyền thuyết tôn giả Sàntideva sinh ở miền
Tỉnh
dậy, ngài hiểu rằng đó là sự khuyến cáo
của hai vị Bồ tát, nên đêm hôm trước ngày lên
ngôi, ngài rời bỏ cung thành trốn vào rừng sâu. Sau 21
ngày lang thang trong rừng, vừa khát vừa đói, ngài
gặp được một con suối, sắp sửa
định uống th́ có một thiếu nữ xuất
hiện bảo ngài đừng uống v́ đó là
nước độc, sau đó thiếu nữ dâng cho ngài
một thứ nước thơm ngọt như cam lồ.
Giải khát xong, ngài hỏi thiếu nữ: "Cô ở
đâu đến?"- Thiếu nữ trả lời:
"Ở giữa khu rừng mênh mông này là nơi thầy
tôi ở, ngài rất đạo đức, từ bi và
đă thành tựu phép tam muội của Văn Thù Kim Cang
Sư Lợi (Sri Manjuvajra). Tôi từ đó đến
đây." Vừa nghe như thế, tôn giả Sàntideva
mừng rỡ như kẻ nghèo bắt được
vàng, yêu cầu thiếu nữ dẫn Ngài đến
gặp vị thầy kia. Đến nơi ngài thấy
đó là một hành giả (Yogi) sống trong một cḥi lá,
ngài liền đảnh lễ, xưng tán cúng dường
và cầu xin được truyền phép tam muội
của Văn thù Bồ tát. Sau 12 năm ở đó tu
tập, ngài chứng được phép tam muội trên,
thấy được vị thầy kia chính là Văn Thù
và thiếu nữ kia chính là
Thích Như Thạch
(Trần Ngọc Giao)
Nhập Bồ Tát Hạnh
Đạo Luận
Nói
một cách tổng quát, nội dung bộ Nhập Bồ Tát
Hạnh là muốn chỉ rơ thứ lớp tu tập pháp môn
Đại thừa: Thế nào phát khởi Bồ Đề tâm và tu
tập Bồ Tát hạnh. Toàn bộ luận phân làm
mười chương. Chương thứ nhất Những
lợi lạc của tâm Bồ Đề, khuyến khích
chúng sinh phát tâm Bồ Đề chân thực. Chương
thứ hai Sám hối tội nghiệp, kế đó tu
tùy hỉ, khuyến thỉnh, và hồi hướng phúc
đức rộng lớn. Chương thứ ba Ǵn
giữ tâm Bồ Đề, phát khởi tâm Bồ Đề
nguyện cùng thọ giới Bồ Tát. Chương thứ
tư Không buông lung, tu tập hạnh không buông lung,
hầu tránh vi phạm Bồ Tát học xứ. Chương
thứ năm Giữ ǵn chánh tri, cho biết làm thế
nào để giữ ǵn Bồ Tát học xứ.
Chương thứ sáu Nhẫn nhục, dạy tu
nhẫn nhục để trừ khử tâm lư
chướng ngại trong sự tu tập Bồ Tát
hạnh. Chương thứ bảy Tinh tấn, v́
muốn được tăng trưởng Bồ Tát
hạnh, phải tinh cần tu tập. Chương thứ
tám Thiền định,
trước tiên tu tĩnh lự để đối
trị hôn trầm, tán loạn (đặc biệt quở
trách sự tham dục). Sau đó tiến thêm một
bước tu tập pháp môn tự tha hoán (trao
đổi ḿnh và người), để tăng
trưởng tâm Bồ Đề thế tục. Chương
thứ chín Trí tuệ, v́ muốn thông đạt
thực tướng của chư pháp, dẫn đến
tâm Bồ Đề thắng nghĩa, hầu có thể
đoạn trừ phiền năo, nên phải có trí tuệ.
Chương thứ mười Hồi hướng,
đem tất cả công đức của nghiệp lành
hồi hướng đến tất cả chúng sinh.
Phần
trên là đại ư nội dung của bộ luận này.
Nếu qui nạp lại, có thể chia làm bốn phần:
(1) Ba chương đầu là tông
chỉ chủ yếu, đối với chúng sinh chưa
phát tâm, dẫn phát thế tục tâm nguyện Bồ Đề
và tâm hạnh Bồ Đề.
(2) Ba chương Không buông lung,
Giữ ǵn chánh tri, Nhẫn nhục, chỉ dẫn,
khuyến khích thế nào giữ ǵn tâm Bồ Đề cùng
nghiêm tŕ giới luật Bồ Tát, không để cho
ngoại duyên làm ô nhiễm, thoái thất.
(3) Ba chương Tinh tiến,
Thiền định, Trí tuệ, một mặt
giúp hành giả tăng tiến tâm Bồ Đề thế
tục, một mặt đem hành giả đến sự
phát sinh tâm Bồ Đề thắng nghĩa, thuần tịnh
không nhiễm. Cùng y vào đây thực hành xuất thế
gian Ba la mật, tăng trưởng phúc tuệ tư
lương, tăng tiến cho đến lúc thành Phật.
(4) Cuối cùng là chương Hồi
hướng, hồi hướng phát nguyện, và đây
cũng là một phương cách tăng trưởng vô
tận phúc đức.
Nếu
từ một khía cạnh khác, theo quan điểm của
chính ngài Tịch Thiên trong quyển Học Xứ Tập
Yếu, có thể giải thích như sau:
(1)
Tông chỉ chủ yếu của ba chương đầu
là muốn dẫn phát một loại ư nguyện tối thù
thắng. Nguyện đem thân thể, tài sản, thiện
căn của ḿnh, hoàn toàn bố thí cho tất cả chúng
sinh. Hơn nữa, lại bắt đầu chân thành tu
tập hạnh Bồ Tát.
(2) Ba
chương Không buông lung, v.v..., chủ yếu
muốn nói đến trong quá tŕnh tu học, làm thế nào
để giữ ǵn thân thể, tài sản, thiện căn
của ḿnh để thuận tiện cho việc lợi
ích chúng sinh.
(3)
Bốn chương cuối là muốn chỉ đạo
hành giả, sau khi giữ ǵn thân thể, tài sản v.v... ,
làm thế nào tiến thêm một bước nữa trong
công việc tịnh hóa cùng tăng trưởng.
Nói
một cách tổng quát, nội dung chủ yếu của
bộ Nhập Bồ Tát Hạnh này là chỉ dẫn hành
giả trong quá tŕnh tu học hạnh Bồ Tát, làm thế
nào tu tập lục độ vạn hạnh, để
thuận tiện dùng những phương thức bố
thí, giữ ǵn, tịnh hóa cùng tăng trưởng thân
thể, tài sản, thiện căn v.v..., trong việc
lợi tế quần sinh. Tịch Thiên trong quyển
Học Xứ Tập Yếu, chương Học tập
bố thí, có nói: "Đem thân thể, tài vật cùng thiện
căn của ḿnh hoàn toàn bố thí cho tất cả hữu
t́nh. Hơn nữa, phải giữ ǵn, tịnh hoá cùng
tăng trưởng chúng. Đây là yếu lĩnh của
Bồ Tát học xứ". Tại cuối chương
đó, Tịch Thiên dẫn kinh Bảo Vân mà kết luận
như sau: "Thí xả là Bồ Đề
của Bồ Tát". Nhập Bồ Tát Hạnh,
chương thứ ba, bài kệ 10, 11 cũng nói: "V́
muốn thành tựu sự lợi ích của tất cả
hữu t́nh, con bố thí thân mệnh ḿnh không chút luyến
tiếc. Bố thí tất cả tài sản cùng thiện
căn phúc đức. Nếu có thể từ đáy ḷng thí
xả tất cả thân thể, tài sản, thiện
căn, con sẽ vượt qua tất cả khổ, thành
tựu Niết Bàn".
Do
đây, có thể thấy được Tịch Thiên
rất chú trọng đến sự tu tập bố thí.
Từ cái nh́n của ngài, chữ Xả
là tổng tŕ trong sự hành tŕ của cả Đại
thừa lẫn Tiểu thừa. Hành giả Tiểu
thừa, do v́ xả ly tất cả
sự tham luyến đối với tam giới mà
chứng được sự diệu lạc của
Niết Bàn. Hành giả Đại thừa, lại tiến thêm
một bước, xả bỏ luôn sự diệu lạc
của Niết Bàn, đạt tới cái gọi là "Trí
không trụ ba cơi, Bi không trụ Niết Bàn", chính là
cảnh giới vô trụ của vô thượng Bồ
Đề.
Chính do Tịch Thiên nghĩ rằng tu
tập bố thí là trọng yếu nhất trong quá tŕnh tu
học Bồ Tát hạnh, v́ thế ngài không lập riêng
một chương Bố thí, mà đem quan niệm "thí
xả tất cả" vào trong tất cả các
chương khác. Nhân đây, trong mỗi chương
của quyển Nhập Bồ Tát Hạnh, chúng ta có thể
thấy rơ ư nghĩa của sự "thí xả tất
cả" này.
Văn Thù Bồ tát, thường
hiện thân, tay phải cầm kiềm trí huệ, tay trái
cầm kinh Bát Nhă.
Mahasiddha:
người tu hành đắc đạo có thần thông.
Simhasana:
Ṭa ngồi chỉ dành cho những hàngTỳ kheo
Trưởng lăo Pháp sư.
Hai
tập Siksàsamuccaya (Giáo Tập Yếu) và Bodhicaryàvatàra (Bồ TátHạnh) chắc chắn tác giả
là ngài Sàntideva, riêng tập Sùtrasamuccaya, đa số các
học giả đều công nhận tác giả là ngài Long
Thọ (Nàgàrjuna). Tiểu sử này tôi rút tỉa từ 2 tài
liệu History of Buddhism in India của Taranatha và La Légende de
Sàntideva trong Indo-Iranian Journal Volume XVI. Trong tạng Luận
của Tây tạng có nói đến bộ
Mdo.sde.sna.tshogs.kyi.mdo.btus.pa mà học giả Marcelle Lalou
đă chuyển sang lại Sanskrit là Visvasùtrasamuccaya, tập
này ngày nay đă bị mất tích. Theo học giả J.W.De
Jong th́ có lẽ 2 tập này tương tự nhau nên các
sử gia Tây tạng và luận gia Ấn độ cùng cho
tác giả của Kinh Tập Yếu (Sùtrasamuccaya) là ngài
Sàntideva. Kinh Tập Yếu đă được Ḥa
thượng Linh Sơn thượng Huyền hạ Vi
dịch từ Hán văn ra Việt văn năm 1985 với
tựa đề là Yếu Nghĩa Phật Pháp.
--- o0o ---
Mục Lục
Phần văn vần | Chương
1-5 | Chương
6-10
Phần văn xuôi | Chương
1-5 | Chương
6-10
--- o0o ---
Chân thành cảm ơn
Đại Đức Thích Pháp Chánh
đă gởi tặng phiên bản điện tử tập
sách này
---o0o---
Vi tính: Diệu
Mỹ; Tŕnh bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-12-2004