
Nhân quả, Luân hồi, Nghiệp báo và
tổ ấm Việt
HT.Thích
Đức Nhuận
Cập nhật: 25-11-2005 bởi admin
Trong kho tàng Cổ Tích Việt
Hẳn ta chưa quên tích Truyện Mai An Tiêm buôn bán
với người ngoại quốc. Truyện Cây Nêu và
Tấm Áo Cà Sa, Truyện Trầu Cau với sự luân
hồi thác sinh thành cây, đá v.v... Tất cả đều
nói lên sự liên lạc văn hóa Ấn - Việt.
Được biết: dưới thời Sĩ Nhiếp cai
trị nước ta từ năm 182 đến năm 226,
th́ văn hóa Trung Hoa, hay nói khác là Nho giáo và Lăo giáo, lúc ấy
đă chính thức công khai truyền bá ở Giao Châu; hệ
thống giáo lư của hai đạo này không có các tích kể
trên, qua các truyền thuyết đời Hùng Vương.
Với những mẩu truyện trên, ta thấy:
người Việt đă tiếp nhận giáo lư Nhân
Quả, Luân Hồi và Nghiệp Báo của đạo
Phật một cách hết sức tự nhiên, không do
dự, như tiếp nhận sự phát minh của chính
ḿnh vậy.
... Kể từ đời Hùng Vương mở
nước, đóng đô ở đất Phong Châu,
người Việt đă sớm ư thức: chỉ có
sự thuần nhất mới có thể tồn tại
để phát triển và tiến hóa. Dù rằng buổi ban
đầu sự sinh hoạt của xă hội Văn Lang
hăy c̣n theo lề lối bộ lạc, nhưng sự
thuần nhất trong ư chí đoàn kết đă
được thể hiện một cách trọn vẹn
để vượt thẳng các ttrở ngại và duy tŕ
cho sự tồn tục của giống ṇi.
Thật vậy, v́ ư thức
Tự Chủ của dân tộc Việt trải qua hơn
một ngàn năm bị người Hán thống trị
đất nước, từng làm đau khổ giống
ṇi ta, nên người Việt đă sớm thức tỉnh
nhận rơ dă tâm thôn tính của họ nên đă cương
quyết tử thủ, ôm chặt lấy những ǵ
thuộc truyền thống của tổ tiên, để
bảo tŕ nếp sống, phong hóa, ngôn ngữ sáng, bén,
lối y phục, cách ăn ở, xử thế; tâm hồn
th́ bao dung rộng mở... điển h́nh như việc
sử dụng chữ Nho mà người Việt đọc
khác người Hoa, và đă sáng chế ra một thứ
chữ riêng, thứ chữ Nôm. Chữ Nôm là một lối
chữ mượn ở chữ Nho rồi ghép thêm một
chữ làm thanh phù mà tạo thành, đọc theo tiếng
mẹ đẻ (tiếng Việt). Đó là óc sáng tạo
đặc thù của người Việt đối kháng
lại với mọi áp lực nguy hiểm của
người phương Bắc, chỉ muốn
đồng hóa dân tộc ta.
Với lối sống đặc thù của
người Việt khác với lối sống của
người Hán... Người Việt suy nghĩ, nói
năng và hành động nhất nhất đều y
cứ vào đại tiền đề: lấy "Tổ
ấm" làm căn bản chung, nên không bao giờ
người Việt chấp nhận có sự tương
tranh v́ ư hệ hoặc mưu cầu danh lợi cho riêng cá
nhân hay một tập thể nào, rồi gây bè kết
đảng ḥng tiêu diệt lẫn nhau. Những ai đi
ngược lại truyền thống ấy đều coi
là nghịch lư, nhất định bị đồng bào
chối bỏ, coi họ như những người
dị chủng.
Chính quan niệm "Tổ ấm" được
coi như linh hồn của Tổ quốc mà người
Việt c̣n tồn tại đến ngày nay, không bị
đồng hóa. Cá nhân làm việc để phục vụ
Tổ ấm v́ quan niệm quốc gia là đại Tổ
ấm. Người Việt biết trọng phép
nước, nhưng không bao giờ chấp nhận bất
cứ nhân vật hay một tập thể nào coi đó là
"khuôn vàng thước ngọc" lúc nào cũng đúng,
cũng hay, cũng giải quyết được hết
mọi vấn đề rắc rối qua mọi không -
thời gian và mọi hoàn cảnh khác nhau. V́ vậy, hễ
chỗ nào, nơi nào có người Việt chúng tôi muốn
nói những người Việt chân chính sinh tụ th́
chỗ ấy, nơi ấy, không có vấn đề nhân
danh, hoặc nịnh trên nạt dưới, bất
hiếu, bất trung, bất nhân, bất nghĩa... Ḍng Bách
Việt sống êm đềm, thương yêu nhau, không gây
thù, trả oán, tranh dành xâu xé, chà đạp lẫn nhau...
nhằm đạt cho được cái danh cái lợi hăo
huyền, đến nỗi hăm hại nhau; nhưng đôi
khi cần chống kẻ ngoại xâm để bảo toàn
cương giới quốc gia th́ dù phải hy sinh tính
mệnh cũng không từ nan, một ư chí kiêu hùng của
ṇi giống Việt.
Với
những tấm gương sáng mà muôn đời con cháu vua
Hùng vẫn tự hào:
* Năm 542;
vị khai quốc LƯ NAM ĐẾ (LƯ BÍ) đánh đuổi tên
thái thú Tiêu Tư (nhà Lương) và bè lũ phải bỏ
trị sở chạy về nước; lập nên
nước Vạn Xuân, mơở đầu nền
Tự Chủ ở nước ta.
* Năm 938, NGÔ
VƯƠNG QUYỀN đánh ta quân Nam Hán trên sông Bạch
Đằng, giết thái tử Hoàng Thao tại trận,
khiến Hán chủ đành nuốt hận thu quân về Tàu.
* Năm 1077,
vị anh hùng dân tộc LƯ THƯỜNG KIỆT đại
thắng quân nhà Tống trên sông Nhự Nguyệt, khiến
lăo tướng Quách Quỳ phải phủ phục đầu
hàng.
* Năm 1258, vua
TRẦN THÁI TÔNG và Hưng Đạo đại vương
TRẦN QUỐC TUẤN chiến thắng quân Mông Cổ
ở mặt trận Đông Bộ Đầu, giải phóng
thủ đô Thăng Long.
* Năm 1285, vua
TRÂN NHÂN TÔNG và Quốc công tiết chế chống lĩnh
quân đội kháng chiến chống quân Nguyên TRẦN
QUỐC TUẤN, đă đánh tan giặc Mông Cổ, chém
đầu Toa Đô ở Vạn Kiếp.
* Năm 1288, vua
TRẦN NHÂN TÔNG và Thượng phụ TRẦN QUỐC
TUẤN đại phá quân Nguyên trên sông Bạch Đằng,
bắt sống các tướng Ô Mă Nhi, Phàn Tiếp, Tích
Lệ Cơ... khiến tên tổng chỉ huy Thoát Hoan
khiếp đảm phải vộ vă rút quân về
nước.
* Năm 1427,
B́nh Định vương LÊ LỢI và mưu sĩ NGUYỄN
TRĂI, sau mười năm kháng chiến chống giặc
Minh và đă toàn thắng, nối lại nền tự
chủ của nước nhà.
* Năm 1789,
Bắc B́nh vương NGUYỄN HUỆ, chiến thắng
quân Thanh ở trận Đống Đa (gần Hà Nội ngày nay)
khiến cho bại tướng Tôn Sĩ Nghị phải "vứt
bỏ tất cả sắc thư, ấn tín để lo
thoát thân," sau bảy ngày đêm mới đến
được trại Nam Quan.
... V́ danh dự của Tổ ấm mà người
Việt không bao giờ hành động một cách cẩu.
Và quan niệm hạnh phúc là do Tổ ấm để
lại cho con cháu muôn đời về sau:
"Người trồng cây bách người chơi
Ta trồng cây đức để đời mai
sau."
Do đó mà trong nhiều
đời con cháu phải hương đăng thờ
tự trân trọng giữ ǵn cái "Chí lớn" của
tổ tiên:
"Cây xanh th́ lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con."
V́ quan niệm Tổ ấm mà người Việt lúc nào
cũng tỉnh táo, b́nh tĩnh, và cương quyết trong
mọi hành động trong ư niệm "âm phù dương
trợ," lúc nào cũng coi như có ông bà, tổ tiên theo
dơi, chỉ dẫn, v́ nghĩ rằng: "Sự tử
như sự sinh" coi khi chết cũng như lúc c̣n
sống, không khác.
Đạo đức
cương yếu của người Việt chính là quan
niệm "phúc đức Tổ ấm" vậy (1).
Thuyết
"Tam cương Ngũ thường" của Nho giáo
chỉ chiếm một chỗ rất nhỏ trong diệu
lư "phúc đức Tổ ấm" mà thôi. Thật
vậy, người Việt trước khi hành
động bất cứ một việc ǵ, c̣n phải
đắn đo xem có đụng chạm đến
Tổ ấm và hại đến ai không đă. Quan niệm
đạo đức này đă liên kết được
toàn dân trong một sự thuần nhất, không cần
phải "dân tứ tước ngũ" (2) gây bè
kết đảng rồi khinh khi nhau, làm suy yếu
tiềm năng quốc gia. Đấy là ta chưa nói
đến hậu quả thảm khốc chạy theo h́nh
thức chủ nghĩa, duy lạc hưởng thụ,
kỳ thị đẳng cấp... thiếu hẳn căn
bản để sống một cuộc sống cho ra
sống, nghĩa là sống tốt đẹp hơn (3).
Nói tóm lại, các cá nhân đều coi ḿnh như là
một thành phần cộng đồng của Tổ
ấm. Phúc đức xuất phát tự Tổ ấm
rồi lại về Tổ ấm. Tổ ấm (nhỏ)
là gia đ́nh và (lớn) là quốc gia, đều
được tôn trọng. Cảnh thái b́nh, hạnh phúc, giải
thoát là những mục tiêu thiết thực đă
được người Việt xưa cũng như
nay chấp nhận và thực hiện sự lao tâm khổ
tứ của người Việt cốt để
củng cố cho thân mệnh, tuệ mệnh, của cá
nhân cũng như của Tổ ấm, là nhằm
đạt tới Giác Ngộ Giải thoát, chứ không mang
tâm ích kỷ để thôn tính, tiêu diệt nhau.
Bây giờ ta thử xét qua
một vài đặc tính văn hóa dân tộc và văn hóa
Phật giáo, có thể nói: hai nền văn hóa tuy hai mà
một tự bản thân của nó đă có những nét
ḥa đồng mầu nhiệm một cách kỳ diệu:
VỀ THỰC
TẠI CUỘC SỐNG
Người Việt sống tôn sùng thờ cúng Tổ
tiên, mà Phật giáo cũng triệt để kính trọng,
và c̣n đặt ra những nghi lễ thích hợp với
nhu cầu dân tộc, như lễ "Nhập Liệm, Qui
Lăng," hay lễ Vu Lan Báo Hiếu v.v... Tục ngữ
Việt
* Dân tộc Việt
Mẹ Việt
không son không phấn
Mẹ Việt
chân lấm tay bùn
Mẹ Việt
không mang nhung gấm
Mẹ Việt
mang tấm nâu sồng...
* Dân tộc ta giàu đức tính
tiết kiệm, ít có ham muốn quá đáng, nên hay
"hưởng thụ b́nh quân," như đời Lê
Phân Điền chẳng hạn. Th́ trong Phật giáo dạy
thực hành "b́nh đẳng, thiểu dục, vị
tha..."
* Tinh thần "tự lực
cánh sinh" của dân tộc ta thật phong phú, về ư
hệ, người Việt tự hào đă có bốn ngàn
năm văn hiến; và về vơ công th́ qua các đời:
Ngô, Lư, Trần, Lê, Nguyễn ông cha ta đă từng chiến
thắng oanh liệt các kẻ thù xám lăng dưới các
thời: Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, và như lịch
sử đă chứng minh: dân tộc Việt sống hiên
ngang kiêu hùng bất khuất. Xét trong đạo Phật có
thuyết "Đại hùng, đại lực."
VỀ MẶT
SÁNG TÁC
Trong suốt dọc dài lịch sử (có thể nói)
hầu hết những sáng tác phẩm văn học
nghệ thuật do người Việt viết, hoặc phóng
tác, không nhiều th́ ít, đều đă chịu sự
ảnh hưởng của thuyết nhân quả, luân
hồi, nghiệp báo của Đạo Phật.
Thật vậy, người Việt
"Ở
hiền th́ lại gặp lành
Ở ác gặp
dữ tan tành ra tro."
(hay tội dành vào thân).
"Sống
đục sao bằng thác trong.
Ba vuông sánh
bảy tṛn,
Đời cha nhân
đức đời con sang giàu."
"Làm việc
phi pháp sự ác đến ngay." v.v...
Cùng trong những mẩu chuyện mang một nội dung
tương tự, như: Tấm Cám, Truyền Kỳ
Mạn Lục, Quan Âm Thị Kính, Nhị Độ Mai, Phan
Trần, Đoạn Trường Tân Thanh, v.v...
Chẳng hạn, Truyện
Tấm Cám, Bụt hiện ra để cứu giúp
người lành. Truyền Kỳ Mạn Lục, với lư
nhân quả nghiệp báo được tác giả viện
dẫn bàng bạc trong khắp các truyện dĩ nhiên
trong đó tác giả có đề cập luân lư Khổng
Mạnh nhằm giải thích những t́nh huống éo le
như người có hạnh mà nghèo, kẻ bất nhân lại
khá, bằng lối sống, "đầu thai chuyển
kiếp," như truyện Nghiệp Oán Của Đào
Thị, truyện Gă Trà Đồng Giáng Sinh...
Ta hăy nghe Nguyễn Dữ
kể về câu chuyện Giă Trà Đồng:
... "Có hạnh mà nghèo,
hoặc bởi tội khiên kiến trước: bất
nhân mà khá, hẳn là phúc thiện đời xưa. Tuy
rằng khó biết sâu xa, nhưng thực không sai tơ tóc.
Cho nên không nên lập luận một bề và xem trời một
mặt (xem Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn
Dữ bản dịch Trúc Khê.)
Dưới đây là
những câu trích trong các truyện Quan Âm Thị Kính. Nhị
Độ Mai, Phan Trần. Đoạn Trường Tân Thanh:
"Đoái
trông thế sự nực cười
Như đem
tṛ rối mà chơi khác ǵ."
(QATK, câu 335-336)
... "Cho
nên mến cửa Từ Bi
Dám xin nhờ
đức Tăng, Ni mở ḷng." (QATK, câu 343-344)
Truyện Nhị Độ Mai:
"Trời nào phụ kẻ trung trinh
Dầu vương nạn ấy, ắt dành phúc kia
Danh thơm muôn kiếp c̣n ghi
Để gương trong sạch, tạc bia dưới
đời." (Nh. D.M. câu
7-10)
Truyện Phan Trần:
"Xa xa
phảng phất hành lang
Đức Quan Âm
đă giáng sinh bao giờ." (Ph. T. câu 391-392)
"Sư c̣n lân mẫn chúng sinh
Xin thương đến tấm ḷng thành mấy
nao." (Ph. T. câu 401-402)
Đoạn
Trường Tân Thanh hay Truyện Kiều với những
triết lư về nghiệp báo:
"Kiếp này
nợ trả chưa xong
Làm chi thêm
một nợ chồng kiếp sau." (ĐTTT. câu 1019-1020)
"Đă mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời
xa
Thiện căn ở tại ḷng ta
Chữ tâm ca với bằng ba chữ tài..." (ĐTTT, câu 3249-3252)
Những truyện ngụ
ngôn, có tính cách luân lư và nhân quả thường quấn quưt
lấy nhau. Kéo Cày Trả Nợ, Âm Đức, Hai Vợ
Chồng Con Chiền Chiện, Ông Sư, Chẽo Cờ và
Vẹt, Phù Du và Đóm Đóm, v.v...
Và c̣n biết bao nhiêu đặc tính khác của Phật
giáo rất phù hợp với dân tộc tính, dân tộc t́nh,
dân tộc trí, đă làm nảy nở trong những nếp
sống hằng hữu để vươn lên cuộc
sống trong sáng, cao cả, toàn mỹ. Đó là những nét
điển h́nh để chứng minh rằng văn hóa
Phật giáo và văn hóa dân tộc có những mối duyên
gặp gỡ rất đồng nhất tế nhị. Có
thể nói hai nền văn hóa tuy hai mà một.
... Không chỉ riêng
nước Việt
Một triết lư cao
đẹp như thế ở xă hội nào, thời gian hay
hoàn cảnh nào mà không thích hợp, vĩnh viễn. Được như vậy là v́
đạo Phật có một tôn chỉ rất rộng răi:
tôn trọng những đặc tính của mỗi dân
tộc, mà chỉ cần khai thác phần NHÂN TÍNH để
hỗ tương, với mục đích d́u dắt con
người đạt tới đích Chân Thiện Mỹ;
và khi đạo Phật đến dân tộc nào cũng
vẫn kính trọng nếp sống cổ truyền,
những phong tục sẵn có... Chỉ v́ tinh thần giáo
lư Giác Ngộ Giải Thoát Tự Chủ của đạo
Phật không bao giờ trái với sự việc nào,
bất cứ ở đâu, hạng người nào, khi
họ biết hướng đến chân lư.
ĐẠO PHẬT VÀ D̉NG SỬ VIỆT vẫn măi măi
sống đẹp và tươi sáng!
Nước Việt Nam dù
trải trên mười thế kỷ chung đụng
với văn hóa Trung Hoa nhưng khi nguồn văn hóa GIÁC
NGỘ GIẢI THOÁT và TỰ CHỦ của đạo
Phật truyền vào Việt Nam th́ người Việt
đă hân hoan lấy đó làm ngọn đuốc thắp
sáng cho cuộc cách mạng giải phóng giống ṇi khỏi
ách thống trị của người phương
Bắc, giành lại quyền tự chủ, độc
lập cho Tổ quốc mến yêu.
Việt Nam là nơi hội
tụ các tăng tài khắp bốn phương, nên tinh hoa
đạo Phật Việt luôn luôn đượm sắc
thái đặc biệt, trong những thời gian hoàn
cảnh đặc biệt. Đạo Phật đối
với dân tộc Việt Nam được coi như
thứ vũ khí tinh thần hiệu nghiệm, để
vừa đối kháng với nền văn hóa Trung Hoa,
vừa thâu thái những tinh hoa của nền văn hóa
đó rồi dung hóa cả hai nền văn hóa Ấn - Hoa
hợp với tinh thần "Lối sống" của
người Việt h́nh thành một nền văn hóa
Việt Nam sống động trong tâm tư mỗi
người và trong cuộc sống dân tộc. Phật giáo
đă kích động tinh thần tự chủ của
người Việt. Và, từ đó đưa đến
đ̣i hỏi một nền tự chủ dân tộc. Khi
một nền văn hóa đă có cá tính khác biệt với
nền văn hóa của đế quốc th́ công việc
đấu tranh giành độc lập chỉ c̣n là công
việc thời gian mà thôi. Chính v́ vậy mà trước kia,
trong lịch sử đạo Phật Việt, các vị
thiền sư đă cùng với dân tộc Việt Nam
phấn đấu cho một nền Tự Chủ vẻ vang
của dân tộc.
____________
Chú thích:
(1) Cách nay khoảng
30 năm, tôi nhớ, trên những chuyến đ̣
ngược xuôi, người xẩm mù ḷa chuyên đi hát
rong và thường mang theo ḿnh cây đàn nhị, hoặc
chiếc trống bỏi, có khi một ống sáo, đi kèm
bên một em bé dẫn đường, tay cầm chậu
thau để xin sự "bố thí" của
đồng bào thập phương; anh ta vừa kéo nhị
(hoặc đánh trống, thổi sáo) và nghêu ngao hát
những câu (giọng khàn khàn):
"Phúc đức
Tổ ấm, bà ơi!
Làm duyên làm phúc cho tôi
với nào."
Cùng có khi
người ta nói: "Phúc đức tại mẫu, bà
ơi", hay "ông ơi," "anh ơi,"
"chị ơi," "cô ơi..."
Hai chữ "phúc
đức" đă là Nguồn Sông tràn trề hy vọng
mà lẽ nhân quả luân hồi tội phúc báo ứng
của Đạo Phật đă gieo vào tiềm thức sâu thẳm
của giống ṇi Lạc Việt, để mỗi ngày
vun bồi cho cây "đức" thêm xum xuê, tươi
tốt.
(2) Trong thơ
NGUYỄN CÔNG TRỨ có câu:
"Dân hữu
tứ, sĩ chi vi tiên
Tước hữu
ngũ sĩ cư kỳ liệt."
(3) Chúng tôi đề
nghị độc giả nên đọc thêm cuốn
"Đạo Phật Với Con Người" của Ḥa
Thượng Tâm Châu.