NHÂN DUYÊN TÂM LUẬN
TỤNG (1)
Long-Mãnh Bồ-Tát
Tác
HT. Thích Tâm Châu dịch
Source: Chùa Di Đà
Sai-biệt thập nhị chi,
Năng-Nhân thuyết duyên sinh.
Ư phiền-não, nghiệp, khổ,
Tam trung câu nhiếp tận,
Sơ, bát, cửu: Phiền-não,
Nhị cập thập thị Nghiệp,
Dư thất tập thị Khổ,
Thập nhị duy tam nhiếp.
Tòng tam sinh ư nhị,
Tòng nhị sinh ư thất,
Thất phục sinh ư tam.
Thử hữu luân sác chuyển.
Thử trung vô chúng-sinh.
Duy tòng ư Không-pháp,
Hoàn sinh ư không-pháp.
Tụng, đăng, kính cập ấn,
Hỏa, tinh-chủng, mai, thanh.
Bất di, trí ưng sát.
Ư thậm vi-tế sự,
Nhược hữu kiến đoạn giả.
Bỉ bất thiện nhân-duyên,
Vị kiến duyên sinh nghĩa.
Thử trung vô khả khiển,
Diệc vô thiểu an-lập.
Ư chân dĩ quán chân,
Kiến chân nhi giải-thoát.
BÀI TỤNG VỀ
NHÂN-DUYÊN-TÂM
Tác-giả:
Bồ-Tát Long-Mãnh (2)
Việt-dịch: Thích-Tâm-Châu
Mười hai chi sai-biệt,
Năng-Nhân nói duyên sinh.
Một, Tám, Chín: Phiền-não,
Hai và Mười là Nghiệp.
Bảy tập khác là Khổ,
Mười Hai chỉ thuộc Ba.
Từ Ba sinh ra Hai,
Từ Hai sinh ra Bảy.
Bảy sinh lại nơi Ba,
Vòng HỮU (3) này thường chuyển.
Mọi thú do nhân-quả,
Trong đây không chúng-sinh.
Từ ở nơi pháp Không,
Lại sinh về pháp Không.
Như tụng, đèn, gương, ấn,
Lửa, tinh và mơ, tiếng.
Các uẩn kết nối nhau,
Không rời, trí nên xét.
Với sự rất vi-tế,
Còn tà-kiến: thường, đoạn,
Nhân-duyên bất-thiện kia,
Chưa thấy nghĩa duyên sinh.
Trong đây không thể trừ,
Cũng không an-lập được.
Dùng Chân để quán Chân,
Thấy Chân được giải-thoát.
MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN
01)
Vô-minh {Phiền-não (3 chi): vô-minh, ái,
thủ.}
02) Hành {Nghiệp (2 chi): hành, hữu.}
03) Thức {Khổ (7 chi): thức, danh-sắc,
lục-nhập, xúc, thụ, sinh, lão tử.}
04) Danh-sắc
05) Lục-nhập
06) Xúc
07) Thụ
08) Ái
09) Thủ
10) Hữu
11) Sinh
12) Lão tử
GIẢI-THÍCH LUẬN
NHÂN-DUYÊN-TÂM
Tác-giả: Bồ-Tát
Long-Mãnh
Việt-dịch: Thích-Tâm-Châu
Nơi đây có
vị Sa-Môn ham nghe, nhớ kỹ, hiểu thấu,
biết quán-sát và biết tóm gọn
những nghĩa chính-yếu. Một hôm, vị
ấy lại nơi vị Đại-Sư, y trong
giáo-pháp của Như-Lai, đặt ra câu
hỏi: “Đức thế-Tôn có nói
về mười hai chi nhân-duyên sai-biệt nhau
và bậc Năng-Nhân cũng nói về
Duyên-Sinh, vậy mười hai chi kia, chúng
nhiếp-thuộc vào đâu?” Nay tôi
muốn được nghe về ý-nghĩa ấy, xin
Đại-Sư giải -thích cho.
Biết vị kia hỏi
đúng chân-nghĩa của Phật, vị
Đại-Sư liền gọi vị Sa-Môn kia lại
mà bảo rằng: “Đối với lời
ông hỏi, trong ba thứ: Phiền-não, Nghiệp
và Khổ, thu nhiếp hết cả mười hai
chi”.
Trong sách có nói
về sự phân-biệt của mười hai
nhân-duyên hay mười hai chi. Trong ấy có Mười chi và
Hai chi, nên gọi là “Mười Hai Chi”.
Vì chúng có sự sai-biệt nên gọi
là “Sai-Biệt”. Như bộ-phận của
xe có nhiều bộ-phận khác nhau, nên
gọi là “Chi”. Thường giữ thân,
khẩu tịch-lặng, nên gọi là
“Năng-Nhân”. Nói về Năng-Nhân
thuyết, tức là chỉ về vị tuyên
sướng và giải-thích giáo-nghĩa
ấy. Song, đây chỉ là cái tên
khác của sự “Nói”, chẳng phải
là tự-tính, quyết-định là
sĩ-phu. Nương chân-tướng tự-tại,
thời-cơ, tự-nhiên theo với nhân-duyên
mong muốn. Mong muốn gặp vị Hóa-chủ,
nhân duyên gặp gỡ sẽ phát sinh. Đó
là nhân -duyên sở sinh.
Trong
mười hai chi-pháp sai-biệt này,
phiền-não, nghiệp và khổ, chúng
nương-tựa lẫn nhau, như bó cây lau, ba
loại kia, đều thu-nhiếp hết trong ấy.
Nói về chữ “Tận” (hết), có
nghĩa là không còn gì bên ngoài
nữa.
HỎI:
Phiền-não là gì? Nghiệp là gì?
Khổ là gì? Những pháp sai-biệt
này sẽ nhiếp -thuộc vào đâu?
ĐÁP:
Chi phiền-não bắt đầu (hay là chi số
Một), cùng với chi số Tám, chi số
Chín, đối với sự sai-biệt trong
mười hai chi-pháp, thì chi-pháp bắt
đầu (chi số Một) là Vô minh, chi số
Tám là Ái, chi số Chín là Thủ.
Ba chi ấy nhiếp-thuộc vào phiền-não.
Nghiệp là gì? Chi số Hai và chi số
Mười là Nghiệp. Chi số Hai là Hành,
chi số Mười là Hữu. Hai chi-pháp
này nhiếp-thuộc vào Nghiệp. Còn
bảy chi -pháp khác đều nhiếp-thuộc
vào Khổ. Nghĩa là, ngoài những chi-pháp
nhiếp-thuộc vào Phiền-não, vào
Nghiệp rồi, còn bảy chi-pháp khác
đều nhiếp-thuộc vào Khổ. Đó
là: Thức, Danh-sắc, Lục-nhập, Xúc, Thụ,
Sinh, Lão tử. Nói chữ “Đều”
là lời nói bao gồm tổng-quát, trong
đó bao-nhiếp tất cả:
“ái-biệt-ly khổ, oán -tăng-hội
khổ và cầu bất đắc khổ”. Cho
nên, trong mười hai chi-pháp này,
phiền-não, nghiệp và khổ, đều
thu-nhiếp hết. Nói về chữ “Duy”
(chỉ thuộc), nó có nghĩa hạn-chế.
Các chi-pháp trong kinh nói, chỉ trong ba loại
này thu-nhiếp hết, không còn sót
chi-pháp nào.
HỎI:
Các nghĩa trên đây tôi đã
hiểu, còn sự tương-sinh của
phiền-não, nghiệp và khổ như thế
nào? Xin Đại-Sư giải-thuyết cho.
ĐÁP:
Từ Ba sinh ra Hai, có nghĩa là từ ba
phiền-não sinh ra hai nghiệp. Từ Hai sinh ra
Bảy, có nghĩa là từ nơi hai nghiệp
sinh ra bảy chi-pháp của khổ, như đã
dẫn ở trên. Bảy sinh trở lại nơi Ba,
có nghĩa là các phiền-não lại
từ ba phiền-não sinh ra, rồi sinh ra hai nghiệp
v.v... “Vòng Hữu này thường
chuyển”, có nghĩa là: “Hữu”
(hữu-lậu) có ba loại là Dục-hữu,
Sắc-hữu và Vô-sắc-hữu.
Nhân-duyên trong ba Hữu này, chúng
lưu-chuyển không ngừng. Do lưu-chuyển,
chúng trở thành những chúng-sinh khác
nhau, rồi tự chúng lại lưu-lãng. Trong
câu này có chữ “thử” (này),
nó hiển bày cho nghĩa bất-định,
không phải hiển bày cho nghĩa luân
-chuyển, vì trong ấy, chúng lần-lượt
sinh ra các Hữu. Đó là nghĩa bất-định.
HỎI:
“Vậy, thân tự-tại của chúng-sinh
là gì? Tác-dụng của chúng như
thế nào?
ĐÁP:
“Các thú (cõi) chỉ do nhân-quả,
chỉ trừ các sự giả-danh. Trong
này không có chúng-sinh. Đó là
thực-nghĩa. Không phải giả-lập mà
có. Cảnh tướng giả-lập, không
thành vật thực.
HỎI: “Nếu như
thế, cái gì chuyển từ đời này
đến đời khác?
ĐÁP: “không
có những pháp cực-vi nào chuyển từ
đời này đến đời khác. Tuy
nhiên, từ nơi pháp Không, lại trở
lại nơi pháp Không. Từ nơi vô
ngã, ngã-sở, phiền -não, nghiệp,
năm loại không-nhân (4) lại sinh không
vô ngã, ngã-sở, và bảy loại
khổ-quả (5) của pháp (sự vật) cũng
vô ngã, ngã-sở. Tuy nhiên, từ nơi
tự-tính vô ngã của pháp, lại sinh
ra tự-tính vô ngã của pháp. Ông
nên biết như thế và nên nói như
thế.
HỎI: “Từ nơi
tự-tính vô ngã của pháp lại sinh
ra tự-tính vô ngã của pháp, có
gì làm thí -dụ?”
ĐÁP: “Như
tụng, đèn, gương, ấn, lửa, tinh
và mơ (trái mơ), tiếng”. Đó
là những thí-dụ. Giả-dụ, lập thành
tự-tính vô ngã và thành-tựu
các pháp thế-gian, thì cũng nên
biết chúng đều như thế. Ví như
ông thày tụng một bài nào
đó, nếu chuyển đến đệ-tử
tụng, thì sau lời tụng của ông
thày, không còn lời tụng của ông
thày ấy nữa. Thế nên, lời tụng
của ông thày không nhập với lời
tụng của người đệ-tử kia. Nhưng,
nó cũng không phải từ chỗ khác
mà có lời tụng ấy. Vì nó
không có nhân-quả. Như lời mà
ông thày tụng, tới khi tâm-thức
không còn tác-động nữa, thời
nó cũng lại như thế. Vì nó xong
rồi thường qua đi, không ảnh-hưởng
đến đời khác. Và, đời
khác kia cũng không từ đâu mà
có được. Vì nó không có
nhân-quả. Như lời ông thày tụng
cùng đệ-tử tụng, bài tụng ấy,
tức là lời ông thày kia, nhưng khác
với lời ông thày kia. Thực, không
thể đặt để nó một cách
dễ-dàng được. Y vào sự việc khi
tâm-thức không còn tác-động trong lời
tụng của ông thày kia mà phân-biệt,
thì sinh ra sự chia-xẻ tâm-thức. Sự sinh
ra ấy cũng lại như thế. Nghĩa là,
tức là cái kia, nhưng lại khác cái
kia, không thể đặt để nó một
cách dễ-dàng được. Như thế,
từ đèn sinh ra ánh đèn, và
nương vào đó mà thành ảnh-tượng.
Từ gương hiện ra các ảnh-tượng.
Từ các dấu ấn mà thành chữ.
Từ tinh-chủng của khí có ra lửa. Từ
hạt giống sinh ra mầm. Từ trái mơ
tiết ra nước miếng. Từ tiếng sinh ra
âm vang của tiếng. Có nghĩa là, sự
vật tức là nó mà khác nó,
không thể đặt để nó một cách
dễ-dàng được. “Các Uẩn
kết nối nhau, không rời, trí nên
xét”, Uẩn tức là năm uẩn: sắc,
thụ, tưởng, hành và thức. Kết
nối nhau, có nghĩa là nó từ nhân
nào đó mà sinh ra cái khác. Không
có những pháp cực-vi nào, từ ở
nơi đời này di-chuyển đến đời
khác. Cho nên, lưu-chuyển là do từ
nơi tập-khí hư-vọng phân-biệt sinh ra.
Phần sau câu này có chữ “ưng”
là “nên”, có nghĩa là nên
quán-sát ngược lại, để biết
rõ thực-chất các pháp ra sao.
Quán-sát các pháp, thấy chúng
thuộc vô thường, khổ, không, vô
ngã. Quán-sát được như vậy,
đối với các sự việc không bị
mê-lầm. Không mê-lầm thời không
có Tham. Không có Tham thời Sân không
sinh ra. Không có sân thời không có
Nghiệp. Không có Nghiệp thời không
có Thủ. Không có Thủ thời không
tạo ra cái Hữu sau này. Không có
Hữu thời không có Sinh. Không có Sinh
thời những đau khổ nơi thân-tâm
không phát sinh. Như thế, đối với
các chi-phần khác, không kết-tập năm
loại nhân, thời quả khổ không sinh.
Quả khổ không sinh, đó là quả
giải-thoát. Cho nên, cần phải dứt
trừ tất cả, dứt trừ cả những
ác-kiến về đoạn, thường v.v...
Đoạn giải-thích trên,
thuộc trong hai bài tụng sau này:
Với
sự rất vi-tế,
Còn tà-kiến: thường, đoạn.
Nhân-duyên bất-thiện kia,
Chưa thấy nghĩa duyên sinh.
Trong đây không thể trừ,
Cũng không an-lập được.
Dùng Chân để quán Chân,
Thấy Chân được giải-thoát.
Chú thích:
(1)Bộ Nhân-Duyên-Tâm Luận
này thuộc số 1654 trong Đại-Chính
Đại-Tạng Kinh. Bộ luận này do
Bồ-Tát Long-Thọ tức Long-Mãnh viết,
nhưng thất-lạc tên người dịch từ
chữ Phạm sang chữ Hán.
(2)Long-Mãnh tức là Long-Thọ
(Nàgàrjuna). Theo bộ Phật-Học
Đại-Từ-Điển (Hán- văn), y theo bộ
Tây-Vực-Ký quyển thứ 8 thì đời
Đường dịch là Long-Mãnh, xưa kia
dịch là Long-Thọ. Tên của Ngài, Trung-Hoa
dịch thành 3 tên: Long-Mãnh, Long-Thắng
và Long-Thọ. Nhưng, danh-hiệu Long-Thọ,
thường được người đời
xưng-tụng nhiều hơn. Ngài sinh tại
miền
(3)HỮU chỉ cho pháp
hữu-lậu, còn có sự tạo-tác,
còn phiền-não, còn bị luân-hồi
trong ba cõi: cõi Dục, cõi Sắc và
cõi Vô-sắc.
(4)Nhân-tố do
tứ-đại-chủng (đất, nước,
lửa, gió) tạo ra nên gọi là
“Nhân”. Nhân có 5 loại: 1)
Sinh-nhân: tứ-đại-chủng sinh ra
sắc-pháp. 2) Y-nhân: sắc-pháp nương
theo tứ-đại-chủng. 3) Lập-nhân:
sắc-pháp gắn bó theo
tứ-đại-chủng để tạo-lập. 4)
Trì-nhân: sắc-pháp cố gìn giữ cho
tương-tục không gián-đoạn. 5)
Dưỡng-nhân: làm tăng-trưởng
sắc-pháp. Nơi đây, đạt tới
lý Không, nên gọi là 5 loại Không
nhân. (5) Có nhân phải có quả. Có
tâm thân được kết-hợp bằng
5-uẩn, nên có 7 thứ khổ: sinh, lão,
bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội,
và cầu bất đắc. Nơi đây
đã đạt tới lý Không, nên
không chịu các quả khổ trên.