|
|
Friedrich
Max Muller
Nhà Phiên Dịch
Kinh Điển PG tại Anh Quốc
Melbourne, Úc Châu 2005
Sinh ra là người Đức, Friedrich Max
Muller (1823-1900) đă đóng góp rất nhiều cho
Phật Giáo trong thời gian ông sống ở Anh quốc. Có
thể xem ông là “một người Anh tiêu biểu, nhân cách
sống của ông đă làm cho những tác phẩm của
ông có đặc tính dành cho giới trí thức ở Anh. Ông
là thần dân của Vương quốc Anh.
Ông đă chủ
biên một loạt Kinh sách Đông Phương gồm
năm mươi cuốn, là thành viên dịch tiếng Anh
của hai mươi học giả hàng đầu thế giới, kể cả bản
dịch Kinh Pháp Cú (Dhammapada) của ông. Sau loạt sách
này, ông tiếp tục biên tập một loạt kinh sách
Phật Giáo với sự bảo trợ của Hội
Phiên Dịch Kinh Điển Pali (Pali Text Society). Khi ông qua
đời vào năm 1900, Rhys Davids kế tục công
việc biên tập loạt sách này và hai mươi bản
dịch của loạt sách ấy đă được
xuất bản. Những tác phẩm Phật học tiêu
biểu của ông bao gồm: Kinh Pháp Cú Thí Dụ của
Ngài Phật Âm, một bản dịch Miến Điện
(Buddhaghosa's Dhammapada Parables. A Burmese Translation); Thuật
Ngữ Phật Học: một bản kinh Phật thời
cổ đại bị gán cho Ngài Long Thọ (Buddhist
Technical Terms. An Ancient Buddhist Text Ascribed To Nagarjuna); Bộ
sưu tập các bài kệ Kinh Pháp Cú (Collection Of Verses. Dhammapada); Kinh Điển PG Đại
Thừa (Buddhist Mahayana Texts); Những Văn Bản
về Giới Luật (Vinaya texts).Ngoài việc biên
tập hai loạt sách này, Max Muller đă
viết rất nhiều tiểu luận và những bài báo
về các đề tài khác nhau về giáo lư nhà Phật.
Bác
bỏ thuyết đoạn diệt:
Ông là một
trong những học giả đầu tiên
bác bỏ quan điểm cho rằng PG là thuyết
đoạn diệt. Trong số những người có quan
điểm này có thầy của ông, nhà
Đông phương học người Pháp Eugene
Burnouf. Ông viết: “Xét theo nhân tính của tất cả các
thời đại ở tất cả những xứ
sở, phải nói rằng chúng ta không thể nào tin rằng
nhà cải cách của Ấn Độ, vị thầy
của những nguyên tắc đạo đức hoàn
hảo, vị thái tử trẻ tuổi đă bỏ
tất cả những ǵ ḿnh có để giúp những
người mà Ngài thấy đau khổ từ thân, tâm và
hoàn cảnh, lại có thể nghĩ tới thuyết
đoạn diệt mà Ngài biết rằng những
người mà ḿnh muốn giúp sẽ hiểu lầm, hoặc
không hiểu ǵ cả. Ngài sẽ không bỏ công sức
của ḿnh hay bảo các đệ tử của ḿnh hy sinh
để quăng bỏ một trong những vơ khí mạnh
nhất trong tay của bất cứ một vị giáo
chủ nào, tức là không có niềm tin vào một
đời sống tương lai sau kiếp hiện
tại”.
Ra đời ngày
6 tháng mười hai năm 1823, ở Anhalt- Dessau,
Đức Quốc, Max Muller là con trai của Willelm Muller,
một thi sĩ nổi tiếng trong thời của ông. Là
nhà ngữ văn cổ ở tuổi 28, Wilhelm cũng là
hiệu trưởng một trường trung học. Sau
đó ông trở thành giám đốc thư viện công
quốc Anhalt- Dessau tại thành phố quê hương
của ḿnh.
Các thi sĩ,
họa sĩ, văn sĩ và nhạc sĩ làm bạn
với ông và với người vợ có tài năng và
học thức của ông, thường tới viếng
thăm nhà của ông. Ông đặt tên cho con trai của ḿnh
là Friederich theo tên của Friederich Leopold, Công Tước
Anhalt-Dessau, một người bạn của gia đ́nh
ông.
Tiến sĩ Ngữ văn 20
tuổi
Gia đ́nh Muller
có hạnh phúc nhưng không lâu dài, v́ vào năm 1827, Wilhelm qua
đời ở tuổi 33, để lại người
vợ trẻ, một con gái 8 tuổi và Max, 4 tuổi, trong
một hoàn cảnh khó khăn. Nhưng đă có những
người bạn giúp đỡ họ, Tiến sĩ Carus, một người bạn của
Wilhelm, đưa Max về nhà của ông ở Leipig và cho Max
đi học ở đó.
Nhà của
tiến sĩ Carus cũng là nơi gặp gỡ của các
thi sĩ, họa sĩ, văn sĩ và
nhạc sĩ. Họ thấy Max Muller là một cậu bé có
nhiều tài năng. Max cũng muốn học nhạc,
nhưng nhạc sĩ nổi tiếng Felix Mendelssohn khuyên
ông đừng theo nghiệp âm nhạc, v́ vậy ông
quyết định nghiên cứu ngữ văn.
Được coi là
một thần đồng, Max nhập học Đại
học Leipzig ở tuổi 17, và lấy bằng tiến
sĩ ngữ văn ở tuổi 20, vào năm 1843. Lúc c̣n
trẻ tuổi ông đă tiếp xúc với những nhà
đại trí thức như Lotze, Georg Forsters, Herder, và
Goethe, là người ca tụng thi ca và văn hóa Ấn
Độ cổ đại. Những vị này gây ấn
tượng nhiều cho ông. Ông thảo luận những
vấn đề sâu xa của tư tưởng Ấn
Độ với Schopenhauer (Triết gia Đức). Nỗ
lực văn học đầu tiên của ông là bản
dịch tiếng Đức “Hitopadesa”, một bản kinh
tiếng Sanskrit, được xuất bản năm 1844.
Sau đó ông
đến
Thế giới mới của
Vệ Đà và Phật Đà:
Tháng ba năm
1846, Max đến Paris, thành phố có sức thu hút
đặc biệt đặc biệt đối với
các nhà Ấn Độ Học và là nơi Antoine Leonard De
Chezy và sau đó là Eugnene Burnouf đă sống. Nhờ có
Burnouf mà ông biết đến giáo lư Vệ Đà (Veda) và PG.
Những bài diễn thuyết của Burnouf về những
bài thánh ca của Vệ Đà mở ra một “ thế
giới mới” cho Max, như ông đă viết trong tiểu
sử tự thuật của ḿnh. Được Burnouf gây
cảm hứng, ông quyết định biên tập kinh
“Rigveda” và để làm việc này ông đă đến
Ở thư
viện Bodleian, Max Muller tiếp xúc với Giáo sư Wilson
thuộc Đại Học Oxford, dịch giả của
bản Anh Hùng Ca “Ramayana” và là người thuyết phục
ông sống ở Anh Quốc. Năm 1848 ông định
cư ở Oxford, và năm 1849 sau khi xuất bản tập
đầu tiên của “Rigveda” ông được Đại
Học Oxford mời diễn thuyết về môn triết
học đối chiếu. Từ đó trở đi Max
Muller nổi tiếng dần dần. Ông trở thành Giáo
sư ngôn ngữ Âu Châu Hiện Đại năm 1854, thành
viên của ban giám đốc
Chức vụ
Giáo Sư tiếng Sanskrit bị khuyết vào năm 1860,
nhưng trong một trường đại học có khuynh hướng tôn giáo, sự phân biệt
sẽ tất nhiên tấn công vào người đă giới
thiệu triết thuyết của Kant cho trường,
ngăn cản việc đề cử ông vào chức
vụ này. Nhưng tám năm sau, chức Giáo Sư Ngữ
Văn được đặt ra, và theo quy chế, Max Muller
trở thành Giáo Sư đầu tiên của môn này. Ông
tiếp tục giữ chức vụ này cho đến khi
qua đời.
"Rigveda
trong sáu cuốn”
Sau 25 năm
biên soạn, Muller cho xuất bản cuốn “Rigveda” một
trong sáu tập sách lớn khác, và đây là đóng góp lớn
nhất của ông cho Ấn Độ Học. Đến
nay cuốn sách vẫn này c̣n là bản đáng tin cậy
nhất. Đối với Max Muller th́ điều khó tin là
“Rigveda”, vốn được xem là một sự thần
khải có thẩm quyền tôn giáo cao nhất, lại
chưa bao giờ được ấn hành trước
đây, và vẫn nằm ở trong tay giai cấp tu sĩ.
Chỉ có một ít người chống lại việc
xuất bản cuốn sách này. Đại đa số
chấp nhận cuốn này với ḷng biết ơn. Ngay
cả các tu sĩ Ấn Giáo cũng dùng cuốn kinh này trong
việc sửa chữa những bản chép tay của
họ. Một trong những tác phẩm hay nhất của
Max Muller là “Ấn Độ có thể cho ta những ǵ?" (
Cuốn “Cabinet
Portrait Gallery”(1893) viết “Giáo thuyết của ông có
thể được mô tả là một sự phản
đối lâu dài chống lại chủ nghĩa duy vật
trong mọi h́nh thức của chủ nghĩa này. Ông mang
thông điệp của mọi chủng tộc Aryan cổ
đại đến cho thế giới ngày nay” (His
teaching may be described as a long protest against materialism in all its forms.
He brought the message of Aryan antiquity before the modern world).
Anh quốc công
nhận ông là một công dân xứng đáng và đối
xử với ông rất tốt, nhưng Max Muller không
cảm thấy hoàn toàn thân thuộc với xứ sở này cho tới khi ông kết hôn
với Georgina Grenfell vào năm 1859.
Ở
nước Anh, ông nổi tiếng đến mức
Nhật báo “The Times” ở Luân Đôn luôn luôn dành những
cột báo cho những bài viết của ông. Ông là
người cổ vơ mạnh mẽ cho sự hợp tác
mật thiết hơn giữa Anh Quốc và Đức
Quốc. Nữ Hoàng
Diễn
văn về tôn giáo ở Westminter
Năm 1873, theo
lời mời của Khoa Trưởng Stanley, Max Muller
đọc một bài diễn văn về tôn giáo ở nhà
thờ Westminter Abbey, người thế tục đầu
tiên làm điều này. Tờ “The Times” mô tả đây là “
một sự kiện độc nhất vô nhị”.
Có lần ông
viết “có thể nói rằng tất cả những
người thực sự vĩ đại có ba
đời sống, một đời sống
được thế giới bên ngoài trông thấy và
chấp nhận; đời sống thứ hai chỉ
được thấy bởi những người
bạn thân, đó là đời sống tại gia; và
đời sống thứ ba chỉ được nh́n
thấy bởi chính đương sự và bởi
Đấng biết ḷng người”(All really great men, may
be said to live three lives – there is one life which is seen and accepted by
the world at large, a man’s outward life; there is a second life, which is seen
by a man’s intimate friends, his household life; and there is a third life,
seen only by man himself and by Him who searches the heart).
Cuốn “ The
Cabinet Portrait Gallery” nói rằng từ những tác phẩm
của Max Muller, người đọc có thể nhận
thấy trong tất cả ba đời sống của ông,
ông thực sự là một con người vĩ
đại”.
Ông có hạnh
phúc trong đời sống gia đ́nh và là bạn thân
của Bunsen, v́ hai người có cùng sở thích công
việc nghiên cứu và có cùng một niềm tin tôn giáo
đơn giản mà phóng khoáng. Trong số những
người bạn thân nhất của ông là Charles Kingsley và
Dean Stanley.
Tổng hợp theo tài
liệu:
- The Western Contribution to Buddhism.William Peiris (1973). Motilal Banarsidass
Publications,
- http://www.yrec.info/contentid-78.html
- http://en.wikipedia.org/wiki/Main_Page
- http://www.wordtrade.com/society/mullermax.htm