Frank Lee Woodward
một nhà phiên dịch Kinh
Điển PG tại Úc Châu
Thích Nguyên
Tạng
Melbourne, Úc Châu 2005
|
|
Tên tuổi của Frank Lee Woodward nổi
bật trong số các học giả Pali, người đă
biên tập và chuyển ngữ kinh Phật thuộc Hội
Phiên Dịch Kinh Điển Pali (Luân Đôn), tuy nhiên,
Woodward được tôn kính và ghi nhớ công ơn mà ông
đă phục vụ trong ngành giáo dục tại Tích Lan
hơn là những ǵ ông đă cống hiến cho công tác phiên
dịch kinh Phật.
Frank Lee Woodward sinh năm 1871 ở
Là một người Thông Thiên Học
thuộc phái cũ, ông sẵn sàng làm theo ư Đại Tá
Olcott. Năm 1903, Olcott công cử cho ông chức vụ
hiệu trưởng Trường Makinda của Hội
Thông Thiên Học Phật Giáo ở
Ở đây ông làm việc không mệt
mỏi trong mười sáu năm, đạt một
địa vị huyền thoại gần ngang với
Đại Tá Olcott. Không nhận tiền lương, ông dùng
nhiều tài sản của ḿnh để xây dựng
những cơ sở mới và nghĩa cửa này làm cho ông
phải sống nghèo khó vào cuối đời. Tuy là một
thầy giáo nghiêm khắc, ông vẫn được 350 nam
sinh của trường này xem là thần tượng.
Ngoài công việc điều hành
trường, ông đích thân giảng dạy với
nhiều lớp khác nhau. Ông biết rơ tên của từng
học sinh và nhớ cả tên lóng mà chính ông đặt cho
từng người theo tên của nhân vật trong các
vở kịch của Shakespear. Woodard cũng dạy
những lớp Phật Học cao cấp. Ông thường
mặc áo sơ mi trắng và thọ tŕ tám giới cấm
vào ngày trăng tṛn, ông cũng thường đích thân
rửa chân cho nhiều vị tăng khi họ đến
trường khất thực. Trong một thời gian ông
làm chủ bút tờ “Buddhist”, tạp chí Phật Giáo hàng
đầu của Tích Lan, và năm nào cũng đi Madras,
Ấn Độ, để tham dự hôi nghị hàng
năm của Hội Thông Thiên Học. Tuy nhiên, khí hậu
nhiệt đới bắt đầu có ảnh
hưởng rơ rệt đến sức khỏe của
ông, v́ thế năm 1919, trang bị với trọn một
tấn sách và những “xá lợi”, tặng phẩm của
các tăng sĩ ở quận Galle, ông về hưu ở
Tasmania (Úc châu) và sống phần đời ba mươi
năm c̣n lại của ḿnh và dịch kinh sách tiếng Pali.
Wooward
mua một vườn táo nhỏ cùng với ngôi nhà tranh
của một hội viện Thông Thiên Học. Tọa
lạc ở bờ sông Tamar cách Launceston bốn mươi
cây số, ngôi nhà của ông nh́n ra phong cảnh hùng vĩ
của núi Ben Lemond, một trong những đỉnh núi cao
nhất ở Tasmania, cách đó 65 cây số. Trong khung
cảnh thơ mộng này, ông bắt đầu thực
hiện công tŕnh thực sự của đời ḿnh,
ở tuổi gần năm mươi. Ngoài việc
thỉnh thoảng đóng góp bài vở cho tạp chí “Theosophy
in Australasia”, công việc chính của Woodward là dịch
thuật cho Hội Kinh Điển Pali (Pali Text Society), do
Tiến sĩ Rhys Davids thành lập năm 1881 ở Luân
Đôn. Tính từ năm 1916 trở đi, số kinh sách
đóng góp của ông không dưới mười sáu
cuốn, trong đó có các kinh như Trường Bộ Kinh
(The Digha Nikaya, or "Collection of Long Discourses"), Trung
Bộ Kinh (The Majjhima Nikaya, or "Middle-length Discourses),Tương
Ưng Bộ Kinh (The Samyutta Nikaya or The Grouped Discourses),
Tăng Chi Bộ Kinh (The Anguttara Nikaya, The
"Further-factored" Discourses). Đáng kể nhất là
tuyển tập “Lời Dạy của Đức Phật”
(Some Sayings Of The Buddha), có lẽ là cuốn này làm cho ông
được nhớ đến nhiều nhất. Chirstmas
Humphreys, một tín đồ Phật Giáo Thông Thiên Học
nổi tiếng ngang với Woodward, viết vào năm 1972
rằng ông xem cuốn này vẫn là tuyển tập về
Kinh Điển Pali hay nhất đă được
xuất bản. Cuốn này cũng được
đưa vào loạt sách “Cổ Thư Của Thế
Giới” (World’s Classics Series) với lời giới
thiệu của Sir Francis Younghusband. Đối với
nhiều người Tây Phương, kể cả
những tín đồ PG Úc nổi tiếng sau này, th́
cuốn “Lời Dạy của Đức Phật”
vẫn là ngưỡng cửa để bước vào Phật
Giáo, và dù ngày nay văn phong của cuốn này có vẻ hào
nhoáng, nó vẫn làm cho Wooward được đặt ngang
hàng với Rhys Davids và Nyanatiloka như một học
giả kinh điển Pali.
Đời sống của F. L. Wooward ở
Trong những năm cuối đời
của ông, khu vườn không được chăm sóc, và
lối sống “ thiểu dục tri túc” của ông không
tiện nghi ǵ hơn đời sống của một tu
sĩ Phật Giáo, với số tiền trợ
cấp khoảng 70 bảng một năm, nhưng ông
vẫn xem là luôn luôn khá “vui vẻ và sôi nổi” rồi. Ông
hành thiền mỗi đêm, và trở nên xao lăng với
vẻ bên ngoài của ḿnh đến mức trong những
dịp ít có rời khỏi “bán kính đạo viện”, ông
thường chỉ mặc “một cái quần pyjamas,
một cái bao giấy thay cho áo sơ mi, và cái khăn
đội đầu màu trắng”, theo lời kể
của ông. Những người láng giềng nói rằng
trong một chuyến đi dạo, ông t́nh cờ gặp Sir
Robert Menzies lúc đó đang đi thăm người
bạn trong vùng, và đă mời ông đến nhà ḿnh
uống trà. Woodward chỉ đi thành phố Launceston hai hay
ba lần mỗi năm, thường là để tham
dự những hoạt động của chi hội Thông
Thiên Học địa phương. Ông tuyên bố rằng
ḿnh luôn luôn “tin tưởng vào phương diện
tốt đẹp của bất cứ sự việc ǵ
xảy ra”. Có lẽ sự nhiệt thành này đă
giảm bớt phần nào khi ông giao tiếp với
những Phật tử Úc mỗi lúc mỗi đông hơn
trong mấy năm trước khi ông qua đời vào
năm 1952.
Tổng hợp theo tài
liệu:
- The Western Contribution to Buddhism.William Peiris (1973). Motilal Banarsidass
Publications,