Hiệp Chủng Quốc Mỹ là đất hứa đối với
nhiều triệu con người trên khắp thế giới khi họ bắt buộc
phải rời bỏ quê hương chôn rau cắt rốn của họ. Họ ra đi để
tránh sự đàn áp khủng bố chính trị, giới hạn tôn giáo, tước
bỏ quyền tự do căn bản của con người, áp đặt bởi các chế độ
độc tài, độc đảng toàn trị.
Từ năm 1975, nước Mỹ đã mở rộng cửa đón tiếp cả triệu người
tỵ nạn chính trị từ miền Nam Việt Nam. Đây là số lượng cao
nhất của những người tị nạn thuộc cùng một sắc dân được tiếp
nhận vào Hoa Kỳ, một quốc gia mà dân chúng đa số được du
nhập từ khắp nơi trên trái đất.
Trong số trên một triệu người Việt tại Mỹ, người cao tuổi
chiếm một tỷ lệ khá cao. Họ đã cố hòa nhập với xã hội mới và
cũng có nhiều vấn đề như những người già khác ở đây. Nhưng
người cao tuổi mình đến Hoa kỳ từ một nền văn hóa, một nếp
sống khác biệt, trong những hoàn cảnh bất lợi nên việc thích
nghi có phần khó khăn hơn.
I-Các hoàn cảnh đưa đến việc Người Việt Nam di tản tới Hoa
Kỳ.
Kể từ ngày 30 tháng Tư năm 1975, con số người Việt từ miền
Nam Việt Nam tới định cư tại Hoa Kỳ tăng rất mau (tới 150%)
nhất là trong các thập niên 1980 và 1990.
Theo kết quả cuộc thống kê dân số thực hiện năm 2007, số
người Việt Nam hiện có trên đất Mỹ là 1,642,950 người, đứng
hàng thứ ba sau người Trung Hoa, Phi Luật Tân. Đây là một
con số nhẩy vọt khá nhanh. Quá phân nửa số trên một triệu
người Việt tập trung ở các tiểu bang California, Texas.
Trước năm 1975, chỉ có dăm ngàn người Việt sống trên đất Mỹ,
mà hầu hết là vợ con các quân dân chính người Mỹ đã từng
phục vụ ở miền Nam Việt Nam, hoặc du học sinh, nhân viên
ngoại giao đoàn Việt Nam Cộng Hòa.
Người Việt tới Mỹ theo nhiều đợt khác nhau.
Khi miền Nam Việt Nam sắp thất thủ thì một số người có liên
hệ với chính quyền Hoa Kỳ được ưu tiên di tản, cộng thêm
quân cán chánh Việt Nam Cộng Hòa có quen biết với tòa Đại sứ
hoặc Bộ Tư Lệnh quân đội Mỹ tại Sài Gòn. Họ ra đi bằng máy
bay. Sau đó một số khác chạy thoát bằng đường biển và được
hạm đội đồng minh đón vớt ngoài hải phận Việt Nam. Với lo
ngại sẽ có một cuộc tắm máu, trả thù bởi quân đội chiến
thắng Cộng Sản, dân chúng đều tìm đủ mọi phương tiện ra đi.
Đó là thời gian từ năm 1975 tới 1978.
Từ 1978 đến 1982, tại Việt Nam có phong trào chống kiều dân
người Trung Hoa nên một đợt di tản khác lại xẩy ra gồm cả
người Việt lẫn người Hoa. Họ ra đi bằng những chiếc thuyền
lớn nhỏ đủ loại và được mệnh danh là “Boat People”. Người ta
tìm cách vượt biên, vượt biển ra đi, tới các quốc gia lân
cận Việt Nam như Phi Luật Tân, Mã Lai, Hồng Kông, Thái Lan,
Tân Gia Ba.
Họ đi tìm sự sống trong cái chết, chỉ mong tới được bất cứ
mảnh đất nào có tự do, dân chủ. Nhiều người, có khi cả gia
đình, thiệt mạng trên biển cả vì bão tố, làm mồi cho cá mập,
hoặc bị hải tặc cướp hiếp ngoài khơi.
Tới đất liền, những người sống sót được đưa vào trong các
trại tị nạn, sống trong lo âu, thiếu thốn chờ đợi ngày được
nhận vào các quốc gia đệ tam.
Cảnh vượt biển với nhiều chết chóc thảm thương đã khiến quốc
tế lưu tâm tìm cách giải quyết. Cho nên sau nhiều điều đình,
thảo luận, những chương trình nhân đạo ra đi có trật tự được
thực hiện. Người Việt tới Mỹ bằng diện đoàn tụ gia đình,
diện con lai mang dòng máu người Mỹ và diện tù nhân chính
trị.
Diện cuối này còn được gọi là diện HO. Năm 1988, đích thân
Tổng Thống Ronald Reagan đã ký ban hành Đạo luật giúp đỡ
những cựu tù nhân cải tạo từ ba năm trở lên tới định cư tại
Mỹ.
Họ gồm quân dân chính các cấp của chế độ Việt Nam
Cộng Hòa đã bị chính quyền Cộng sản tập trung, đưa đi cải
tạo. Người dăm ba tháng, người vài ba năm, hầu hết mươi mười
lăm năm, họ bị cô lập trong các trại tập trung rải rác khắp
nước Việt Nam. Các phương thức kiềm chế, hành xác khắc
nghiệt được mang ra áp dụng đối với tù nhân. Họ phải lao
động chân tay ban ngày để tự sinh tự tồn, học tập về lý
thuyết Mác, Lê ban đêm để “gột bỏ tàn tích đế quốc”. Nhiều
người bỏ xác trong tù. Đa số có sức khỏe kém cả về thể xác
lẫn tâm hồn khi được thả về với gia đình.
Về tới nhà, họ tiếp tục bị chính quyền quản thúc, theo dõi
từng hành động. Họ không thể kiếm được việc làm vì là ngụy
quân ngụy quyền, thẻ căn cước được đóng con dấu oan nghiệt
phân loại đỏ chói. Con cái của họ không được học cao vì
thuộc thành phần cha mẹ có “lý lịch xấu”.
Họ chịu nhiều cay đắng vì đã bị người bạn đồng minh bỏ rơi
một thành trì bảo vệ tự do trước đây, rồi lại bị đối xử tàn
tệ bởi chế độc độc tài, độc đảng. Họ cũng buồn lòng với
những đồng ngũ, những cấp lãnh đạo đã bỏ chạy trước khi cuộc
chiến chấm dứt. Một số khi trở về nhà, thì người bạn tao
khang đã ôm thuyền bến khác hoặc đã rời khỏi quê hương, tìm
đời sống mới.
Nghe nói hậu quả của thảm cảnh hành hạ tù đầy này đã được
một số lãnh đạo đảng cộng sản cho là quá đáng, không nhân
đạo.
II-Những khó khăn khi hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ
1-Khó khăn về ngôn ngữ, việc làm.
Ngôn ngữ xứ người là bước cản trở lớn nhất cho người tị nạn,
từ kiếm việc tới mọi giao dịch. Đã có nhiều giai thoại tức
cười cũng như đáng buồn xẩy ra vì sự không diễn tả được ý
nghĩ bằng ngôn ngữ địa phương mới tới.
Vốn được đào tạo trong nền văn hóa Pháp rồi chuyển sang
chương trình tiếng Việt, nên nhiều người chỉ có một vốn
liếng rất giới hạn về Anh Ngữ. Họ gặp nhiều khó khăn trong
việc đối thoại với người bảo trợ, với hàng xóm mới, khi đi
tìm xin việc cũng như giao tế hàng ngày. Chỉ vì không biết
tiếng Anh. Mà Anh ngữ là chiếc chìa khóa vạn năng giúp di
dân hội nhập vào xã hội Mỹ nhanh chóng hơn.
Ngoài vấn đề ngôn ngữ, đa số người tị nạn đều không có một
nghề nào khả dĩ có thể dùng ngay trong xã hội mới, ngoài
việc làm lao động chân tay tại các nông trại, tiệm ăn, tiệm
tạp hóa... Một số theo học các lớp Anh ngữ căn bản rồi học
những nghề chỉ cần huấn luyện ngắn hạn. Mục đích của họ là
làm bất cứ việc gì để có thể nuôi sống gia đình, khỏi trở
thành cây chùm gửi trên đất Mỹ,.
Trong gia đình tỵ nạn Việt Nam, mọi người đều làm việc. Lợi
tức thu hoạch được góp chung với nhau rồi chi tiêu dè sẻn,
để dành. Cha mẹ nhiều khi làm hai, ba công việc, hết ngày
lại đêm. Con cái đi học về là đi rửa chén bát, làm bồi bàn
tại các tiệm ăn. Với sự lao động tối đa, chi tiêu tối thiểu,
chỉ dăm năm sau là họ đã dành dụm được một số vốn đủ để mua
nhà hoặc mở cơ sở thương mại. Họ đã nghiêm chỉnh áp dụng câu
ngạn ngữ “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm” vào đời sống thực
tiễn ở miền đất mà khi đó họ coi chỉ là tạm cư. Họ vẫn nghĩ
đến một ngày có thể trở về quê hương trong hoàn cảnh thuận
tiện, tự do, dân chủ.
2-Khó khăn trong đời sống mới:
Vào một xã hội hoàn toàn xa lạ, từ cách ăn uống, khí hậu,
địa dư, đối xử, giao tế, sức khỏe, dịch vụ y tế, cho nên
người tỵ nạn hoàn toàn lạc lõng. Chính quyền Mỹ, các
cơ quan thiện nguyện đã phải kiên nhẫn lắm mới giúp họ làm
quen với nếp sống này. Họ cố gắng hội nhập, đôi khi hầu như
phải cắn răng nhẫn nhục, vì đâu đây vẫn phảng phất một phân
biệt, một cái nhìn khác lạ tới mầu da của con người. Nhiều
di dân đến trước đã có cảm nghĩ là Tượng Thần Tự Do quay mặt
về Âu châu và xoay lưng về phía Á Châu, ám chỉ sự kỳ thị với
người Mỹ gốc Á. Mỹ Trắng thì gọi là dân Mỹ, Mỹ Phi Châu gọi
là Mỹ đen, còn các sắc dân khác thì là “công dân hạng hai”.
3-Khó khăn trong nếp sống gia đình.
Đa số gia đình Việt nam vẫn còn giữ được truyền thống tốt
đẹp cũ. Tuy nhiên vài vấn vấn đề đã được nêu ra ở một số
không nhỏ gia đình.
Khi hội nhập vào nước Mỹ, người Việt bị đặt vào môi trường
trong đó họ phải đối diện với hai nền văn hóa khác biệt: Hoa
kỳ với khuynh hướng tự do, cởi mở giữa con cái với cha mẹ;
còn truyền thống Việt Nam thì dành cho cha mẹ quyền uy tối
thượng, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó.
Trẻ con dù sinh ra ở Việt Nam, nhưng lớn lên ở Mỹ, chơi với
bạn Mỹ, giáo dục theo lối Mỹ, yêu thích tự do nên đã mau
chóng sống với nếp sống mới. Còn một số các bậc làm cha mẹ
thì vẫn giữ quan niệm xưa, luôn luôn cho mình là đúng, rồi
ra lệnh và sắp đặt. Cho nên sự mâu thuẫn giữa hai thế hệ là
điều không thể nào tránh được, nếu không có sự tương nhượng,
thông cảm.
Đã có trường hợp con cái kêu cảnh sát can thiệp vì cho là bị
cha mẹ lạm dụng, hành hạ; những cảnh con cái bỏ cha mẹ vào
nhà người già. Lại cũng có trường hợp, cha mẹ hy sinh vốn
liếng, tài sản để các con vượt biên, đến các nước tự do. Sau
vài năm, con cái làm ăn khá vững vàng bèn bảo lãnh cha mẹ
già sang với mục đích phụng dưỡng, đền ơn sinh thành, dưỡng
dục. Nhưng các cụ ở được một thời gian ngắn, niềm vui chưa
trọn vẹn thì chuyện buồn đã đến nên muốn bỏ về. Lý do hoặc
vì các con thay lòng đổi dạ, hoặc các cụ nhớ nhà, hoặc
nghịch cảnh dâu, rể không sống chung với nhau được. Rồi lại
những hôn nhân dị chủng, ly hôn ly dị của các con làm các cụ
đau lòng.
Bình tâm mà nói, nếu nhiều người già coi đất Mỹ như đất tạm
dụng, thì với giới trẻ có ý chí vươn lên, có nghị lực thắng
vượt khó khăn và quyết tâm đạt đến mục tiêu đã đặt ra, nước
Mỹ là mảnh đất tốt lành đã mang đến cho họ những cơ hội để
phát triển khả năng. Đây là một cơ hội ít có nếu họ còn ở
Việt Nam. Nước Mỹ luôn luôn tạo hoàn cảnh thuận tiện để mọi
người, nhất là giới trẻ vươn lên, miễn là đừng quá biếng
nhác
Rồi giữa vợ chồng với nhau, cũng có vài trục trặc đối xử.
Tương quan vợ chồng bình đẳng hơn. Nhiều người nữ dễ hòa
nhập nên thành công mau lẹ. Một số người nam gặp khó khăn
thích ứng vì quá suy yếu trong thời gian cải tạo, quá vất vả
trong những năm chiến tranh. Những so bì, bất đồng xẩy ra
khiến một số gia đình đi vào tan vỡ, chia cách.
III-Thành công hội nhập vào xã hội mới
Trong hơn một phần ba thế kỷ, hơn một triệu người Việt này
đã hình thành một khối thiểu số có những sắc thái đặc biệt
vừa làm phong phú và vừa thay đổi một phần nào cấu trúc căn
bản của Hiệp Chủng Quốc Mỹ.
Tới Mỹ không sửa soạn với hai bàn tay trắng. Họ tức tưởi rời
bỏ nơi chôn rau cắt rốn trong hoang mang, vội vàng, không
kịp suy nghĩ, nói chi đến sửa soạn. Họ không biết là sẽ đi
đâu, không biết tương lai sẽ ra sao miễn là xa lánh hiểm họa
cộng sản. Họ vào nước Mỹ đa số không nói được tiếng Anh, hầu
hết không có một Mỹ kim trong túi. Họ đến từ một văn hóa với
nhiều khép kín, ràng buộc vào một nếp sống phóng khoáng, tự
do. Họ lạc vào rừng người có cái nhìn khác biệt về chủng tộc,
giống tính. Họ chóng mặt trước sự tiến bộ, phồn thịnh của
một quốc gia mới chỉ có hơn hai trăm năm lập quốc.
Họ khởi sự lập nghiệp từ số không, không có một nền tảng có
sẵn như người Trung Hoa hoặc di dân từ các quốc gia Âu Châu
tới Mỹ từ cả trăm năm trước. Ho vật lộn với nhiều khó khăn
để sinh tồn, để thích nghi với nếp sống mới và để tạo dựng
một tương lai vững chắc cho thế hệ con cháu. Họ âm thầm làm
việc, chịu đựng mọi thử thách, kỳ thị trong những năm đầu.
Nếu đa số dân chúng Mỹ không muốn quay lưng trước hoàn cảnh
tuyệt vọng của con dân một quốc gia đồng minh với họ trước
đây, thì cũng có một thiểu số lạnh nhạt với lớp di dân này.
Trong những năm đầu, họ được phân tán khắp 50 tiểu bang để
sự cứu giúp được dễ dàng cũng như tránh sự tụ nhập quá đông
người Việt ở một địa phương. Nhưng rồi dần dà, sau khi đã có
lông có cánh, họ cũng tìm về với nhau, trong những tụ điểm
thích hợp để tương trợ, dìu nhau mà đi lên. Dù sao thì “một
giọt máu đào cũng hơn ao nước lã”. Và “Một cây làm chẳng nên
non; Ba cây chụm lại lên hòn núi cao”.
Với bản tính nhẫn nhục, cần cù, thực tế, dễ thích nghi, có
nhiều sáng kiến nhỏ, họ đã tham gia vào nhiều khía cạnh khác
nhau của đời sống Mỹ quốc. Họ đã tạo dựng nên những cơ sở
kinh tế, thương mại vững chắc, củng cố và phổ biến văn hóa
Việt Nam vào nền đa văn hóa địa phương. Hầu hết lớp người tỵ
nạn tới Mỹ vào thập niên 70 đã ổn định đời sống mật cách
thỏa đáng.
Các thế hệ Việt Nam thứ hai đã mau lẹ tiến tới để
thu nhập tinh hoa kiến thức qua nền giáo dục đa diện của
nước Mỹ. Họ đã có nhiều đóng góp khoa học, kỹ thuật đáng
khen ngợi cũng như cung hiến cho nền hành chánh tiểu bang và
liên bang nhiều chuyên gia có khả năng điều hành, lãnh đạo.
Chúng ta đã có những đại diện dân cử cấp liên bang cũng như
tiểu bang, thành phố. Đã có người giữ chức vụ cao trong hành
pháp Hoa Kỳ, những vị chánh án liên bang. Con số các khoa
học gia, khoa bảng bác sĩ kỹ sư nổi danh cũng không phải là
ít. Đã có người phát minh ra khí giới có thể truy tìm địch
thủ dễ dàng thì cũng có những phẫu thuật gia nổi danh ghép
cơ quan nội tạng, cứu nhân độ thế, những khoa học gia không
gian vũ trụ, những nhà toán học trẻ tuổi Việt Nam. Bằng sáng
chế khoa học của người Mỹ gốc Việt có thể nói là nhiều vô kể.
Sự thành công của thế hệ này đã tạo ra nhiều ngạc nhiên cho
con dân bản xứ.
IV-Kết luận
Người Mỹ gốc Việt Nam tỵ nạn là một nhóm thiểu số
có vận tốc hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ khá nhanh và rất thành
công. Họ đã đóng góp nhiều cho quê hương thứ hai và trong
tương lai chắc chắn sẽ dự phần quan trọng vào việc tạo dựng
một Quốc Gia hùng mạnh, tự do dân chủ tại quê hương nguồn
gốc Việt Nam. Một tự do dân chủ thực sự chứ không chỉ trên
văn kiện, giấy tờ.
Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức.
Texas-Hoa Kỳ