Cho đến
đầu thế kỷ XXI Việt Nam là nước có kiều dân thuộc loại nhiều và có
thể nói là thuộc loại rất nhiều nếu tính tỷ lệ kiều dân Việt Nam so
với tổng số dân trong nước. Vào cuối thế kỷ trước khi dân nước
Trung Quốc có khoảng 1,3 tỷ thì Hoa kiều có khoảng 55 triệu, chiếm
tỷ lệ 4,23%; Anh có khoảng 60 triệu dân thì kiều dân Anh có khoảng 2
triệu, chiếm 3,33%; Ấn Độ có khoảng 900 triệu dân thì kiều dân Ấn Độ
có khoảng 20 triệu, chiếm tỷ lệ 2,22%; Nhật Bản có khoảng 120 triệu
dân thì kiều dân Nhật có khoảng 2 triệu, chiếm 1,66%... Cùng thời
gian đó Việt Nam có khoảng 68 triệu dân thì người Việt Nam ở nước
ngoài có khoảng 2,6 triệu, chiếm 3,82%. Như vậy là, về mặt tỷ lệ, so
sánh với 4 nước thuộc loại có kiều dân nhiều vào hạng nhất thế giới
đó, Việt Nam chỉ sau Trung Quốc. Bước qua đầu thế kỷ XXI, số kiều
dân Việt Nam vẫn có chiều hướng tăng, tuy không có sự gia tăng đột
biến như thời kỳ những năm sau của thập kỷ 70 thuộc thế kỷ XX. Do
vậy, nghiên cứu về người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay cần đặc biệt
lưu ý tới sự diễn biến của sự gia tăng đó.
Vì nhiều lý do chủ
quan và khách quan mà việc thu thập tài liệu, số liệu về kiều dân
Việt Nam suốt nhiều năm qua vẫn chưa có được một con số thật sự
chính xác. Nhiều lúc các nguồn thông tin về số lượng kiều dân Việt
Nam khác nhau rất xa. Khoảng cách các con số có lúc xa nhau tới cỡ
xê dịch từ 2 triệu đến 4 triệu; đặc biệt, có lúc, có tài liệu thông
báo rằng người Việt Nam ở nước ngoài đã lên tới 6 triệu (!).
Kiều dân của bất cứ
nước nào cũng có sự biến đổi số lượng theo thời gian. Nhưng với Việt
Nam thì sự biến đổi số lượng kiều dân trong ba mươi năm qua mang
nhiều yếu tố đặc biệt; gắn kết với nhiều sự kiện lịch sử quan trọng
của đất nước và của thế giới. Sự kiện Nam Việt Nam được hoàn toàn
giải phóng tháng 4 năm 1975 và những vụ việc phát sinh tiếp theo do
sự kiện đó như sự xuất ngoại theo diện con lai Mỹ (Asian - American
Children - AC); theo chương trình ra đi có trật tự (Orderly
Departure programme - ODP) của Cao Ủy Liên hiệp quốc về người tị nạn
(United Nations High Commissoner for Refugees - UNHCR) hoặc theo
chương trình dành cho sĩ quan chính quyền Sài Gòn cũ đi cải tạo về
(Humanitarian Organization - HO)... cùng với việc xuất ngoại do sự
kiện chiến tranh biên giới và vấn đề "nạn kiều"; xuất ngoại và xáo
trộn di dân do sự kiện Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, v.v... Mặt khác,
hiện tượng gia tăng số lượng kiều dân Việt Nam còn chịu ảnh hưởng
không nhỏ từ những biến chuyển xã hội như vấn đề gia tăng xuất khẩu
lao động, vấn đề kết hôn với người nước ngoài... Sự thay đổi tổng số
lượng kiều dân Việt Nam đã phức tạp, nhưng sự thay đổi số lượng kiều
dân Việt Nam trên từng nước sở tại còn phức tạp hơn nhiều. Tổng hợp
nhiều nguồn số liệu thu thập được trong những năm 1994 - 1995 về
kiều dân Việt Nam trên 79 nước và vùng lãnh thổ, chúng tôi đã có một
con số là 2.643.200 người. Những số liệu này đã được công bố trên
các báo chí và đã in trong cuốn sách "Người Việt Nam ở nước ngoài"
do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản tại Hà Nội năm 1997. Đó
là bảng ghi số lượng kiều dân Việt Nam ở nước ngoài giữa thập kỷ 90
của thế kỷ trước.
Sau 10 năm, đương
nhiên những con số trong bảng ghi đó đã thay đổi. Bảng ghi dưới đây
là kết quả tổng hợp các nguồn số liệu mà chúng tôi nhận được từ đầu
năm 2004 đến đầu năm 2005. Các số liệu này được lập sóng đôi với
các số liệu của bảng ghi 1994 - 1995 để phục vụ cho việc tham khảo,
so sánh.
SỐ
LƯỢNG VÀ SỰ PHÂN BỐ KIỀU DÂN VIỆT NAM TRÊN THẾ GIỚI TẠI THỜI ĐIỂM
2004 - 2005
|
TT |
Tên nước hoặc vùng lãnh thổ |
Châu lục |
Số kiều dân Việt Nam (1994-1995) |
Chiều hướng tăng, giảm |
Số kiều dân Việt Nam (2004-2005) |
|
1. |
Hoa kỳ
(United States) |
Mỹ |
950.000 |
+ |
1.300.000 |
|
2. |
Pháp (France) |
Âu |
400.000 |
- |
300.000 |
|
3. |
Ôxtrâylia
(Australia) |
Đại dương |
160.000 |
+ |
250.000 |
|
4. |
Canađa
(Canada) |
Mỹ |
150.000 |
+ |
200.000 |
|
5. |
Trung Quốc
(China) |
Á |
300.000 |
- |
180.000 |
|
6. |
Campuchia
(Cambodia) |
Á |
100.000 |
+ |
130.000 |
|
7. |
Đài Loan
(Taiwan) |
Á |
15.000 |
|
120.000 |
|
8. |
Thái Lan
(Thailand) |
Á |
120.000 |
- |
110.000 |
|
9. |
Đức (Germany) |
Âu |
100.000 |
= |
100.000 |
|
10. |
Nga (Russian) |
Âu + Á |
100.000 |
= |
100.000 |
|
11. |
Anh (United
Kingdom) |
Âu |
25.000 |
+ |
40.000 |
|
12. |
Séc (Czech) |
Âu |
18.000 |
+ |
35.000 |
|
13. |
Lào (Laos) |
Á |
10.000 |
+ |
35.000 |
|
14. |
Ba Lan (Poland) |
Âu |
30.000 |
- |
25.000 |
|
15. |
Na Uy (Norway) |
Âu |
2.000 |
+ |
17.000 |
|
16. |
Hà Lan
(Netherlands) |
Âu |
10.000 |
+ |
15.000 |
|
17. |
Bỉ (Belgium) |
Âu |
7.000 |
+ |
12.000 |
|
18. |
Đan Mạch
(Denmark) |
Âu |
5.000 |
+ |
11.500 |
|
19. |
Thụy Điển
(Sweden) |
Âu |
2.000 |
+ |
10.000 |
|
20. |
Nhật Bản
(Japan) |
Á |
6.000 |
+ |
10.000 |
|
21. |
Hàn Quốc
(Korea, Republic of) |
Á |
5.000 |
+ |
9.500 |
|
22. |
Ucraina
(Ukraine) |
Âu |
10.000 |
- |
8.000 |
|
23. |
Guyana (Guyana) |
Mỹ |
|
+ |
8.000 |
|
24. |
Thụy Sĩ
(Switzerland) |
Âu |
5.000 |
+ |
6.500 |
|
25. |
Phần Lan
(Finland) |
Âu |
1.000 |
+ |
6.000 |
|
26. |
Philippin
(Philippines) |
Á |
5.000 |
= |
5.000 |
|
27. |
Tân Calêđônia
(New Caledonia) |
Đại dương |
|
|
5.000 |
|
28. |
Macao (Macao) |
Á |
4.500 |
+ |
4.579 |
|
29. |
Italia (Italy) |
Âu |
2.000 |
+ |
3.000 |
|
30. |
Hunggari
(Hungary) |
Âu |
5.000 |
- |
3.000 |
|
31. |
Áo (Austria) |
Âu |
3.000 |
= |
3.000 |
|
32. |
Niu Zilân
(New Zealand) |
Đại dương |
300 |
+ |
2.412 |
|
33. |
Hồng Công
(HongKong SAR) |
Á |
50.000 |
- |
2.000 |
|
34. |
Xlôvakia
(Slovakia) |
Âu |
|
|
2.000 |
|
35. |
Bungari
(Bungari) |
Âu |
2.500 |
- |
1.000 |
|
36. |
Aixơlen
(Iceland) |
Âu |
|
|
1.000 |
|
37. |
Tây Ban Nha
(Spain) |
Âu |
2.000 |
- |
1.000 |
|
38. |
Ăngôla
(Angola) |
Phi |
|
|
800 |
|
39. |
Vanuatu
(Vanuatu) |
Đại dương |
|
|
400 |
|
40. |
Ailen
(Ireland) |
Âu |
500 |
- |
350 |
|
41. |
Rumani
(Romania) |
Âu |
1.000 |
- |
300 |
|
42. |
Malaixia
(Malaysia) |
Á |
1.200 |
- |
300 |
| 43. |
Ấn Độ (India) |
Á |
2.000 |
- |
260 |
| 44. |
Cốt đivoa
(Vot d'lvoire) |
Phi |
|
|
253 |
| 45. |
Bêlarút
(Belarus) |
Âu |
|
|
250 |
| 46. |
Lítva
(Lithuania) |
Âu |
400 |
- |
250 |
| 47. |
Anbani
(Albania) |
Âu |
2.000 |
- |
200 |
| 48. |
Gaiane thuộc
Pháp (French Guiana) |
Mỹ |
|
|
200 |
| 49. |
Thổ Nhĩ Kỳ
(Turkey) |
Á |
2.000 |
- |
200 |
| 50. |
Mêhicô
(Mexico) |
Mỹ |
2.000 |
- |
200 |
| 51. |
Triều Tiên
(Korea, PDR) |
Á |
2.000 |
- |
200 |
| 52. |
Xingapo
(Singapore) |
Á |
2.000 |
- |
160 |
| 53. |
Inđônêxia
(Indonesia) |
Á |
5.000 |
- |
160 |
| 54. |
Angiêri
(Algeria) |
Phi |
1.000 |
- |
110 |
| 55. |
Lucxămbua
(Luxembourg) |
Âu |
500 |
- |
100 |
| 56. |
Mônđôva
(Moldova) |
Âu |
|
|
100 |
| 57. |
Udơbêkixtan
(Uzbekistan) |
Á |
|
|
100 |
| 58. |
Braxin
(Brazil) |
Mỹ |
1.000 |
- |
100 |
| 59. |
Bồ Đào Nha
(Portugal) |
Âu |
1.000 |
- |
100 |
| 60. |
Marốc
(Morocco) |
Phi |
500 |
- |
100 |
| 61. |
Irắc (Iraq) |
Á |
1.000 |
- |
100 |
| 62. |
Mađagaxca
(Madagascar) |
Phi |
|
|
100 |
| 63. |
Nam Tư
(Yugoslavia) |
Âu |
1.000 |
- |
100 |
| 64. |
Mianma
(Myanmar) |
Á |
500 |
|
80 |
| 65. |
Áchentina
(Argentina) |
Mỹ |
500 |
|
80 |
| 66. |
Ảrập Xếut
(Saudi Arabia) |
Á |
1.000 |
- |
57 |
| 67. |
Iran (Iran) |
Á |
1.000 |
- |
53 |
| 68. |
Kênia (Kenya) |
Phi |
200 |
- |
51 |
| 69. |
Chilê (Chile) |
Mỹ |
500 |
- |
50 |
| 70. |
Cadắcxtan
(Kazakhstan) |
Á |
|
|
50 |
| 71. |
Banglađét
(Bangladesk) |
Á |
500 |
- |
50 |
| 72. |
Pêru (Peru) |
Mỹ |
500 |
- |
50 |
| 73. |
Libăng
(Lebanon) |
Á |
|
|
40 |
| 74. |
Ixraren
(Israel) |
Á |
200 |
- |
40 |
| 75. |
Tuốcmênixtan
(Turkmenistan) |
Á |
|
|
39 |
| 76. |
Mông Cổ
(Mongolia) |
Á |
500 |
- |
35 |
| 77. |
Vaticăng
(Vaticano) |
Âu |
50 |
- |
30 |
| 78. |
Etxtônia
(Estonia) |
Âu |
300 |
- |
30 |
| 79.
|
Pocpua Niu
Ghinê
(Papua New
Guinea) |
Đại dương
|
300
|
- |
30
|
| 80. |
Cuba (Cuba) |
Mỹ |
2.000 |
- |
25 |
| 81. |
Nam Phi
(South Frica) |
Phi |
|
|
23 |
| 82. |
Hy Lạp
(Greece) |
Âu |
700 |
- |
20 |
| 83. |
Giócđani
(Jordan) |
Á |
200 |
- |
20 |
| 84. |
Cưrơgưxtan
(Kyrgyzstan) |
Á |
|
|
20 |
| 85. |
Látvia
(Latvia) |
Âu |
100 |
- |
20 |
| 86. |
Lixtenstâyin
(Liechtenstein) |
Âu |
100 |
- |
20 |
| 87. |
Pakixtan
(Pakistan) |
Á |
1.000 |
- |
20 |
| 88. |
Xan Mario (San
Mario) |
Âu |
100 |
- |
20 |
| 89. |
Xênêgan
(Senegal) |
Phi |
|
|
20 |
| 90. |
Paragoay
(Paraguay) |
Mỹ |
|
|
16 |
| 92. |
Guam (Guam) |
Đại dương |
|
|
15 |
| 94. |
Mônaco
(Monaco) |
Âu |
100 |
- |
10 |
| 95. |
Libi (Libya) |
Phi |
100 |
- |
10 |
| 96. |
Côlômbia
(Colombia) |
Mỹ |
500 |
- |
10 |
| 97. |
Anđôra
(Andorra) |
Âu |
100 |
- |
10 |
| 99. |
Ai Cập (Egypt) |
Phi |
1.000 |
- |
10 |
| 100. |
Nêpan (Nepal) |
Á |
100 |
- |
10 |
| 101. |
Công Gô
(Congo) |
Phi |
|
|
10 |
| 102. |
Cộng Hòa Trung
Phi (Central African Republic) |
Phi |
|
|
10 |
| 104. |
Êcuađo
(Ecuador) |
Mỹ |
|
|
8 |
| 105. |
Côoét (Kuwait) |
Á |
100 |
- |
7 |
| 108. |
Panama
(Panama) |
Mỹ |
|
|
3 |
| |
Tổng cộng |
|
2.643.650 |
|
3.078.143 |
Khi hình thành được
con số hơn 2,6 triệu người Việt Nam đang kiều cư trong gần 100 quốc
gia và vùng lãnh thổ trên thế giới hồi 1994-1995, chúng tôi đã đưa
ra thông tin dự báo rằng “con số đó đang nhích lên khá nhanh từ 2,6
triệu đến 3 triệu” trong những năm từ 1996 đến đầu thế kỷ mới. Con
số tổng hợp được về tổng số lượng kiều dân Việt Nam hiện nay
(2004-2005) là 3.078.143 trên lãnh thổ của 108 nước và vùng lãnh thổ
đã chứng tỏ rằng dự báo đó là khá chính xác - khá chính xác cả về
mặt xu hướng gia tăng, cả về số lượng gia tăng.
Để hình dung rõ hơn
ý nghĩa của con số 3.078.143 này, xin được lưu ý rằng ở thời điểm
giữa năm 2004 các nước và vùng lãnh thổ sau đây trên thế giới có dân
số ít hơn con số đó: Tây Sahara – 300 ngàn; Cômôrốt – 700 ngàn;
Gibuti – 700 ngàn; Môrixơ – 1,2 triệu; Mayhôtê – 200 ngàn; Rêuniông
– 800 ngàn; Xâysen – 100 ngàn; Bốtxoan – 1,7 triệu; Lêxôthô – 1,8
triệu; Namibia – 1,9 triệu; Xoadilen – 1,2 triệu; Cápve – 500 ngàn;
Gambia – 1,5 triệu; Ginê Bitxao – 1,5 triệu; Môritani – 3 triệu;
Ghênê Xích đạo – 500 ngàn; Gabông – 1,4 triệu; Xaotômê và Prinxipê –
200 ngàn người... Đó là các nước và vùng lãnh thổ thuộc Châu Phi.
Tại Châu Mỹ, các
nước và vùng lãnh thổ sau đây có dân số dưới 3.078.143 người:
Antigoa và Babuđa – 100 ngàn; Bahamát – 300 ngàn; Bácbađốt – 300
ngàn; Đôminica – 100 ngàn; Grênađa – 100 ngàn; Goađêlôp – 400 ngàn;
Jamaica – 2,6 triệu; Matinic – 400 ngàn; Quần đảo Ăngtin thuộc Hà
Lan – 200 ngàn; Xan Kit Nêvi – 50 ngàn; Xan Luxia – 200 ngàn; Xan
Vincent và Crênađin – 100 ngàn; Triniđát và Tôbacô – 1,3 triệu;
Gaiana thuộc Pháp – 200 ngàn; Guyana – 800 ngàn; Xurinam – 400 ngàn;
Bêlixê – 300 ngàn người.
Tại Châu Á, các nước
và vùng lãnh thổ có dân số dưới 3.078.143 người là: Đặc khu hành
chính Ma Cao – 400 ngàn; Mông Cổ – 2,5 triệu; Brunây – 400 ngàn;
Đông Timo – 800 ngàn; Baren – 700 ngàn; Síp – 900 ngàn; Côoét – 2,5
triệu; Ôman – 2,7 triệu; Cata – 700 ngàn; Butan – 1 triệu; Manđivơ –
300 ngàn người.
Trên đất Châu Âu các
nước và vùng lãnh thổ sau đây có dân số dưới 3.078.143: Quần đảo
Chanen – 200 ngàn; Extônia – 1,3 triệu; Aixơlen – 300 ngàn; Latvia –
2,3 triệu; Anđôra – 100 ngàn; Maxêđônia – 2 triệu; Manta – 400 ngàn;
Xan Mariô – 30 ngàn; Xlôvennia – 2 triệu; Lichtenxten – 30 ngàn;
Lúcxămbua – 500 ngàn; Mônacô – 30 ngàn người.
Tại Châu Đại Dương,
các nước và vùng lãnh thổ sau đây có dân số dưới 3.078.143 người:
Liên bang Micơrônexia – 100 ngàn; Phigi – 800 ngàn; Polinexia thuộc
Pháp – 300 ngàn; Guam – 200 ngàn; Kiribati – 100 ngàn; Quần đảo
Mácsan – 100 ngàn; Naura – 10 ngàn; Tân Balêđônia – 200 ngàn; Palan
– 20 ngàn; Quần đảo Xalômôn – 500 ngàn; Tônga – 100 ngàn; Tuvalu –
10 ngàn; Vanuatu – 200 ngàn; Tây Xamoa – 200 ngàn người.
Như vậy là trên cả 5
Châu lục, vào giữa năm 2004, đang có 72 nước và vùng lãnh thổ có số
dân ít thua tổng số người Việt Nam ở nước ngoài; có 58 nước và vùng
lãnh thổ có số dân bằng hoặc ít thua tổng số người Việt Nam tại Hoa
Kỳ (1.300.000); có 34 nước và vùng lãnh thổ có số dân ít thua tổng
số người Việt Nam tại Pháp (300.000); có 27 nước và vùng lãnh thổ có
số dân bằng hoặc ít thua số người Việt Nam tại Oxtrâylia (250.000)
và Canada (200.000); có 16 nước và vùng lãnh thổ có số dân ít thua
số người Việt Nam tại Trung Quốc (180.000), tại Campuchia (130.000),
tại Đài Loan (120.000), tại Thái Lan (110.000), tại Đức (100.000)
hoặc tại Nga (100.000).
Sự gia tăng số lượng
người Việt Nam ở nước ngoài trong lịch sử, đặc biệt là những đợt gia
tăng lớn, thường gắn với những sự kiện không vui của đất nước, của
dân tộc: Hậu quả của chiến tranh, của nghèo đói, của những bất ổn về
chính trị, kinh tế, xã hội... ở trong nước. Nhưng, trong hơn một thế
kỷ nay dường như người Việt Nam ở nước ngoài đã dần dần chuyển cái
thực tế không vui đó thành hiện thực đáng mừng: Ổn định việc kiều cư
hữu hảo và thích nghi nhanh chóng với đời sống kinh tế, chính trị,
văn hoá, xã hội... của nhân dân các nước sở tại; nuôi dưỡng và phát
triển trong cộng đồng kiều dân Việt Nam ý thức luôn hướng về đất mẹ,
hướng về dân tộc. Đó là một trong nhữnh thành tựu lớn nhất, căn bản
nhất của kiều bào – một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt
Nam mà nay đã lên tới hơn 3 triệu người, đông hơn tổng dân số của
mỗi một trong 72 quốc gia và vùng lãnh thổ của thế giới; đang có 10
quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới ngày nay mà số kiều dân Việt
Nam trong mỗi nước đó là nhiều hơn tổng số dân của mỗi một trong số
27 nước hoặc vùng lãnh thổ của thế giới hiện đại. Càng đông người
Việt Nam kiều cư ở nước ngoài, càng phải tăng cường hơn nữa sức mạnh
hướng về Tổ quốc Việt Nam; càng nhiều nước có người Việt Nam kiều
cư, càng phải tăng cường hơn nữa tình hữu nghị giữa Việt Nam với
cộng đồng quốc tế. Đó là lẽ sống, là cơ sở để tồn tại, để phát triển
của tất cả bà con kiều bào – những người luôn ý thức rằng mình là
“máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam”.
Xem xét cụ thể hơn
các số lượng kiều dân Việt Nam của từng nước và vùng lãnh thổ sở
tại; so sánh các số lượng đó giữa hai thời điểm 1994 - 1995 và
2004-2005 chúng ta có thể có được nhiều kết quả bổ ích. Chẳng hạn,
về xu hướng nhập cư có sự giảm bớt ở 54 nước và vùng lãnh thổ, trong
đó có 43 nước và vùng lãnh thổ giảm mạnh. So với 10 năm trước số
người Việt Nam ở 43 nước này chỉ còn lại từ 30% trở xuống. Đặc biệt
có 30 nước và vùng lãnh thổ mà so với 10 năm trước, số người Việt
Nam ở đây còn lại chỉ từ 10% trở xuống. Đáng chú ý hơn, có 7 nước và
vùng lãnh thổ trong 10 năm qua số kiều dân Việt Nam giảm rất mạnh
chỉ còn từ 5% trở xuống.
Về số lượng kiều dân
Việt Nam tăng đáng kể trong 20 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế
giới trong 10 năm qua được diễn biến theo thứ tự như sau:
1) Ở Mỹ tăng:
350.000 người; 2) Đài Loan: 105.000; 3) Ôxtrâylia: 90.000; 4)
Canađa: 50.000; 5) Campuchia: 30.000; 6) Lào: 25.000; 7) Séc:
17.000; 8) Anh: 15.000; 9) Na Uy: 15.000; 10) Thụy Điển: 8.000; 11)
Đan Mạch: 6.500; 12) Hà Lan: 5.000; 13) Bỉ: 5.000; 14) Phần Lan:
5.000; 15) Hàn Quốc: 4.500; 16) Nhật Bản: 4.000; 17) Niu Zilân:
2.112; 18) Thụy Sỹ: 1.500; 19) Italia: 1.000; 20) Macao: 79 người.
Từ thực tế về sự
tăng , giảm số kiều dân Việt Nam trên các nước và vùng lãnh thổ được
ghi nhận trên đây có thể có những nhận xét như sau:
1- Sự tăng, giảm số
lượng kiều dân còn mang tính truyền thống: Đó là sự gia tăng số
lượng kiều bào Việt Nam tại các nước láng giềng gần gũi nhất. Sau
thời gian chiến tranh và sau nhiều ảnh hưởng của các sự cố đột biến
khác từ hậu quả của các cuộc xung đột vùng, mối quan hệ Việt Nam -
Lào - Campuchia đã trở lại ổn định - nhờ đó việc di cư, định cư trở
lại bình thường là điều rất đáng mừng. Nhìn rộng thêm ra 7 nước Đông
Nam Á khác ta thấy: Ngoài số người Việt Nam ở Philippin không giảm
cũng không tăng và ở Brunây mới biết được thông tin là có 12 người
Việt Nam cư ngụ, còn ở 5 nước khác thì 10 năm qua số kiều dân Việt
Nam đều giảm bớt, cụ thể như sau: Ở Inđônêxia giảm 96,80%; ở Singapo
giảm 92,00%; ở Mianma giảm 84,00%; ở Malaixia giảm 75,00% và ở Thái
Lan giảm 8,33%. Phải chăng thực tế này cho chúng ta một thông báo
rằng: Mặc dầu 10 năm qua quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa các nước
Đông Nam Á được củng cố và mở rộng rất nhiều, nhưng song song với
điều đó lại đã có không ít những hiện tượng, những sự kiện khác ảnh
hưởng không tốt đến sự phát triển việc kiều cư của người Việt Nam.
Chẳng hạn như các chính sách chặt chẽ của một số nước trong việc
tiếp nhận người nhập khẩu lao động; đó chẳng hạn như là những biến
động về xung đột tôn giáo, về nạn khủng bố, về họa thiên tai ? !
2- Sự giảm (-) đồng
loạt của số lượng kiều dân Việt Nam ở các nước trước đây thuộc khối
xã hội chủ nghĩa Liên Xô - Đông Âu như: Nga (=) , Ba Lan (-),
Ucraina (-), Hungari (-), Bungari (-), Rumani (-), Etxtôni(-), Lítva
(-), Anbani (-), Nam Tư (-), Latvia (�-) là dễ hiểu. Hầu hết ở các
nước nhỏ thuộc khu vực này số lượng kiều dân Việt Nam đều giảm.
Riêng ở Nga thì vẫn giữ nguyên số lượng cũ. Ở Séc và Xlôvakia (Tiệp
Khắc trước đây) có tăng; ở Đức, bao gồm Tây và Đông Đức trước đây,
vẫn giữ số lượng kiều dân Việt Nam như 10 năm về trước. Tất cả những
thực tế tăng, giảm đó một phần chứng tỏ rằng sự xáo trộn việc kiều
cư của người Việt Nam ở khu vực này do sự biến "sụp đổ" đã dần dần
qua đi. Mục đích kiều cư thay đổi từ kiều cư chủ yếu là để học tập,
lao động xuất khẩu... đến kiều cư tự do để làm ăn, sinh sống cá thể
là chính, đã được chấp nhận và dần dần có xu thế ổn định mang tính
bền vững. Một số lớn kiều bào ở đây có nhu cầu chuyển sang làm ăn,
sinh sống ở phương Tây mà trước hết là tạm cư qua Tiệp rồi qua Đức,
một thời đã gặp nhiều khó khăn về mặt thủ tục xuất nhập cảnh, thủ
tục xác nhận quốc tịch, xác nhận phép cư trú, phép sản xuất, buôn
bán, làm ăn... cho đến nay cũng dần dần được giải quyết theo hướng
ổn thỏa. Điều đó chứng tỏ một phần hiệu quả của công tác tổ chức,
vận động kiều bào tại đây; chứng tỏ các đường lối, chủ trương, chính
sách của Việt Nam trên lĩnh vực này đã đem lại kết quả khả quan.
3- Nhân vừa nhắc đến
các nước Bắc Âu vốn trước đây là các nước cộng hòa thuộc Liên bang
Xô Viết, thấy cần nhìn lại sự thay đổi số lượng kiều dân Việt Nam
tại cả vùng Bắc Âu này. Trong vùng này ngoài quần đảo quốc nhỏ bé
Chanen (Chanel Islands) với diện tích chỉ 200 cây số vuông, còn lại
10 nước. Tại 10 nước này, trong 10 năm qua số kiều dân Việt Nam
giảm, ngoài Ailen (Ireland) giảm từ 500 xuống còn 350 kiều dân Việt
Nam, còn lại 3 nước bị giảm khác lại chính là 3 nước trước đây thuộc
Liên Xô: Ở Lítva giảm từ 400 xuống còn 250 người Việt Nam; ở
Etxtônia giảm từ 300 xuống chỉ còn có 30 người Việt Nam; ở Látvia
giảm từ 100 xuống chỉ còn lại 20 người Việt Nam (!). Trong khi đó
chính tại cái miền giá lạnh khủng khiếp đối với người dân từ vùng
nhiệt đới Việt Nam này, mười năm qua lại đã tăng vọt số kiều dân
Việt Nam lên: Ở Anh tăng thêm 15.000 người Việt Nam; ở Na Uy tăng
thêm 5.000 người; ở Đan Mạch tăng thêm 6.500; ở Thụy Điển tăng thêm
8.000; ở Phần Lan tăng thêm 5.000; ở Aixơlen mới biết thêm là có
1.000 người Việt Nam cư ngụ... Cần có một sự nghiên cứu kỹ càng, đầy
đủ hơn về sự tăng, giảm số người Việt Nam kiều cư tại Bắc Âu, nhưng
trước mắt hãy xem sự tăng vọt số kiều dân Việt Nam tại đây như là
một sự kiện đáng mừng; như là một thành công của bà con kiều bào
trong việc phát hiện ra một vùng đất tuy khắc nghiệt về khí hậu,
nhưng ở đó có những dân tộc thích hợp để cùng người Việt Nam làm ăn,
sinh sống... mà nhiều thập kỷ, nhiều thế kỷ trước kiều dân Việt Nam
chưa biết đến.
4- Đáng chú ý nhất
đồng thời cũng cần đặc biệt quan tâm để tìm hiểu sâu hơn, nghiên cứu
kỹ hơn là những số liệu tăng, giảm kiều dân Việt Nam trong 10 năm
qua tại 8 nước và vùng lãnh thổ thuộc miền Đông Á. Số lượng tăng,
giảm đó diễn biến cụ thể như sau: Ở Trung Quốc giảm 120.000 kiều dân
Việt Nam; Ở Hồng Công giảm 48.000; Ở Triều Tiên giảm 1.800; Ở Mông
Cổ giảm 465 kiều dân Việt Nam. Trong khi đó ở Đài Loan tăng 105.000
kiều dân Việt Nam; Ở Hàn Quốc tăng 4.500; Ở Nhật Bản tăng 4.000; Ở
Ma Cao tăng 79 kiều dân Việt Nam.
Ai và như thế nào
thì mới có thể gọi là "người Việt Nam ở Trung Quốc" vẫn chưa có
những tiêu chí thật rõ ràng để xác định. Cho nên, các số liệu về
người Việt Nam kiều cư tại Trung Quốc hiện nay có thể cách biệt nhau
rất xa. Sự gia tăng đột biến số lượng kiều dân Việt Nam tại Đài Loan
và Hàn Quốc thì có thể được giải thích là trong 10 năm qua hiện
tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng người Hàn Quốc và đặc biệt là người
Đài Loan quá nhiều. Có nguồn tin cho biết: Trong 10 năm qua có tới
hơn 4.000 phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc và có hơn 80.000 phụ nữ
Việt Nam lấy chồng Đài Loan; còn người Việt Nam xuất khẩu lao động
sang Đài Loan thì có gần 30.000. Trước một sự thực đang diễn ra mang
tính đột biến như thế rất cần được xem xét kỹ từ nhiều khía cạnh về
mặt tâm lý, về mặt xã hội cũng như về chủ trương, chính sách... để
có được những định hướng thật hợp lý về các vấn đề đó trong tương
lai. Sự giảm sút từ 50.000 xuống chỉ còn 2.000 kiều dân Việt Nam tại
Hồng Công trong 10 năm qua thì có thể giải thích được. Đó là do sự
giải tỏa cả một loạt "trại tỵ nạn" là hậu quả của chiến tranh, của
sự xung đột quân sự trong quá khứ. Ngày nay Hồng Công đã trở về lại
với Trung Quốc, thiết tưởng lập lại việc kiều cư bình thường mang
tính truyền thống của người Việt Nam tại vùng lãnh thổ này phải là ý
nguyện và thiện chí từ tất cả các phía hữu quan. Riêng sự gia tăng
người Việt Nam kiều cư tại Nhật Bản từ 6.000 lên 10.000 thì cần xem
đó như là một tín hiệu tốt. Cư ngụ, làm ăn, sinh sống hòa hợp được
với hơn 127 triệu dân Nhật Bản đầy sáng tạo và tân tiến, hy vọng
kiều bào ta ở đây sẽ thu được cho mình những kết quả khả quan về
nhiều mặt, đóng góp đáng kể hơn cho đất nước quê hương cũng như cho
nước sở tại.
5- Tại 18 nước Tây Á
và 14 nước Trung Nam Á trong 10 năm qua đã xảy ra nhiều sự bất ổn:
Xung đột quân sự, nạn khủng bố, thiên tai... Những điều này ảnh
hưởng rất lớn đến công cuộc làm ăn, sinh sống của kiều bào ta. Cho
đến nay mà vẫn còn một số lượng bà con kiều bào với chiều hướng
tăng, giảm so với 10 năm trước như ở bảng ghi dưới đây kể cũng đã có
thể xem như là một thành quả rất đáng ghi nhận về khả năng của kiều
bào trong nỗ lực thích nghi với vô vàn khó khăn, gian khổ ở hoàn
cảnh của các nước sở tại.
Tây Á chỉ ở 9 nước
sau đây có kiều dân Việt Nam cư ngụ:
| TT |
Tên nước
hoặc vùng lãnh thổ |
Số kiều dân
Việt Nam (1994-1995) |
Chiều hướng
tăng, giảm |
Số kiều dân
Việt Nam (2004-2005) |
| |
Irắc |
1.000 |
- |
100 |
| |
Libăng |
- |
+ |
40 |
| |
Ả rập Xêút |
1.000 |
- |
57 |
| |
Xiri |
- |
+ |
5 |
| |
Thổ Nhĩ Kỳ |
2.000 |
- |
200 |
| |
Yêmen |
- |
+ |
10 |
Trung Nam Á cũng chỉ
ở 8 nước sau đây có kiều dân Việt Nam cư ngụ:
| TT |
Tên nước
hoặc vùng lãnh thổ |
Số kiều dân
Việt Nam (1994-1995) |
Chiều hướng
tăng, giảm |
Số kiều dân
Việt Nam (2004-2005) |
| |
Bănglađét |
500 |
- |
50 |
| |
Nêpan |
100 |
- |
10 |
| |
Pakixtan |
1.000 |
- |
20 |
| |
Tuốcmênixtan |
- |
+ |
39 |
| |
Udơbêkixtan |
- |
+ |
100 |
6- Bắc Mỹ có hai
nước là Canađa và Hoa Kỳ. Tại hai nước này trước đây vốn đã có nhiều
người Việt Nam kiều ngụ, trong 10 năm qua ở đây lại là nơi kiều dân
Việt Nam gia tăng thuộc loại nhiều nhất: Ở Canađa tăng từ 150.000
lên 200.000; Ở Hoa Kỳ tăng từ 950.000 lên 1.300.000 kiều dân Việt
Nam. Như vậy là tổng số kiều dân Việt Nam tại hai nước Bắc Mỹ đã
chiếm ngót 1/2 tổng số kiều dân Việt Nam trên toàn thế giới. Nhìn từ
nhiều phía, số kiều dân Việt Nam tăng lên ở đây mà rõ nhất là số
350.000 người tăng lên tại Hoa Kỳ trong 10 năm qua có những nét
giống, nhưng cũng có rất nhiều nét khác so với số người Việt Nam đã
định cư ở đây trước năm 1945, trước năm 1954, trước năm 1975 và khác
ngay cả với số người Việt Nam định cư tại Mỹ trước năm 1995. Con số
350.000 kiều dân Việt Nam mới tăng thêm tại Hoa Kỳ trong 10 năm qua
phần lớn là nhập cư không phải vì những lý do liên quan đến hậu quả
của cuộc chiến tranh Mỹ - Việt thời 1954 - 1975 mà là sự nhập cư chủ
yếu vì những lý do tìm vùng đất thích hợp để làm ăn, sinh sống, học
tập, công tác...; nhập cư vào Hoa Kỳ, và cả vào Canađa nữa, trong
thời gian 10 năm vừa qua là sự nhập cư tự nguyện; nhập cư với nhu
cầu của bản thân và theo những cơ sở pháp lý càng ngày càng minh
bạch hơn của chính quyền từ cả hai phía. Điều này nói lên một phần
rất lớn kết quả những thiện chí của Nhà nước Việt Nam và của các
chính quyền Hoa Kỳ thời hậu chiến Việt Nam trong việc hàn gắn những
rạn nứt của quá khứ, hướng về tương lai sáng và đẹp vốn tiềm ẩn
trong ý nguyện của nhân dân Việt Nam cũng như của nhân dân Mỹ, nhân
dân Canađa. Hoa Kỳ là nơi mà kiều dân Việt Nam được sống tập trung
với nhau thành những quần cư đông đúc. Điều đó tạo cho kiều bào rất
nhiều thuận lợi trong sinh sống, làm ăn. Hàng rào ngôn ngữ không là
trở ngại quá to lớn đối với những lớp kiều dân Việt Nam chưa có hoặc
không có điều kiện để hiểu biết thông thạo ngôn ngữ nước sở tại
trong giao tiếp để làm ăn, sinh sống ở đây. Sống trong những quần cư
đông đúc toàn người Việt Nam là rất thuận lợi để cho các thế hệ nối
tiếp, kể cả các thế hệ con lai giữ được ngôn ngữ gốc của Việt Nam.
Bản sắc dân tộc, phong tục, tập quán... Việt Nam, cũng nhờ sống
thành các quần cư đông đúc toàn người Việt Nam với nhau như vậy mà
có nhiều cơ may được bảo tồn, phát triển. Với những suy nghĩ đó,
chúng ta mừng cho cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ trong 10 năm
vừa qua đã có thêm 350.000 đồng bào cùng kiều ngụ.
7- Vùng Caribê thuộc
Châu Mỹ có 17 nước và vùng lãnh thổ, trong đó chỉ có 2 nước được
biết chắc là có kiều dân Việt Nam cư ngụ. Từ trước năm 1994 mới chỉ
biết là có 2.000 người Việt Nam kiều cư tại Cuba, đến nay tại Cuba
chỉ còn lại 25 người Việt Nam, đồng thời mới biết thêm là có 15
người Việt Nam nữa ở Haiti. Như vậy, hơi đáng tiếc là nay chỉ có vỏn
vẹn 40 người Việt Nam kiều cư trên cả một vùng đất rộng hơn 235 ngàn
cây số vuông, tuy xa Việt Nam nhưng là vùng đất hứa hẹn về những mối
liên kết nhiều mặt quan trọng thuộc mọi lĩnh vực trong tinh thần hữu
nghị đặc biệt, như là hữu nghị Cuba - Việt Nam đã, đang và chắc chắn
sẽ còn phát triển mạnh hơn nữa.
Ở vùng Trung Mỹ, hồi
trước 1994 có hơn 2.000 người Việt Nam kiều cư tại Mêhicô. Nay con
số này bị giảm xuống mạnh chỉ còn lại độ 1/10; mới được biết thêm là
có 3 người Việt Nam cư ngụ tại Panama nữa, thế là trên 8 nước vùng
Trung Mỹ với ngót 2.500 ngàn cây số vuông chỉ có vài trăm kiều dân
Việt Nam cư ngụ. Đây cũng là điều không được bình thường, rất đáng
quan tâm đối với tất cả những ai, tất cả những tổ chức, cơ quan hữu
quan từ nhiều phía thuộc phạm vi quốc gia cũng như quốc tế.
Số lượng kiều dân
Việt Nam ở vùng Nam Mỹ trong 10 năm qua cũng đồng loạt giảm sút
mạnh: 5 nước và vùng lãnh thổ mà từ 1994 đã biết là có kiều dân Việt
Nam thì tính đến năm 2005 diễn biến về số lượng như sau: Braxin từ
1.000 giảm còn 100 người; Áchentina từ 500 giảm còn 80 người; Chilê
và Pêru mỗi nước đều từ 500 giảm còn 50 người. Côlômbia từ 500 giảm
còn 10 người. Mới được biết thêm ở Guyana có 8.000 người Việt Nam
kiều cư; ở Gaine thuộc Pháp có 200 người, ở Paragoay có 16 người và
ở Êcuađo có 8 người là kiều dân Việt Nam nữa. Như vậy tức là tổng số
kiều dân Việt Nam tại 9 trong số 13 nước và vùng lãnh thổ Nam Mỹ
hiện nay là: 8.514 người mà chủ yếu là tại Guyana (8.000). Sự giảm
số lượng kiều dân Việt Nam tại một loạt quốc gia và vùng lãnh thổ
Nam Mỹ, Trung Mỹ và vùng Caribê đồng thời tăng mạnh ở hai nước Bắc
Mỹ trong 10 năm qua là những hiện tượng mang tính bất thường. Điều
này rất cần nghiên cứu từ nhiều góc độ, thuộc nhiều phía hữu quan để
vãn hồi sự kiều cư bình thường cho kiều dân Việt Nam ở đây.
8- Chỉ trong một
diện tích 1.107 ngàn cây số vuông mà có tới hơn 185 triệu dân cư
trú. Đó là khu vực 9 nước Tây Âu. Tại đây có nước mật độ dân cư cao
tới 341 người trên 1 cây số vuông (Bỉ); 399 người trên 1 cây số
vuông (Hà Lan), cá biệt ở Mônacô mật độ dân cư cao tới 10.000 người
trên 1 cây số vuông. Trong cái vùng đất hẹp, người đông ấy, ngày nay
vẫn có mặt kiều dân Việt Nam trên cả 9 nước. Một bảng ghi các con số
dưới đây thiết tưởng có thể giúp ích ít nhiều cho những ai quan tâm
đến vấn đề kiều dân Việt Nam ở vùng này.
| TT |
Tên nước |
Dân số nước
sở tại |
Số kiều dân
Việt Nam |
Tỷ lệ kiều
dân Việt Nam so với dân nước sở tại (phần ngàn) |
| |
Đức |
82.600.000 |
100.000 |
1,21 |
| |
Áo |
8.100.000 |
3.000 |
0,37 |
| |
Thụy Sĩ |
7.300.000 |
6.500 |
0,89 |
| |
Lúcxămbua |
500.000 |
100 |
0,20 |
| |
Lichtenxtâyin |
30.000 |
20 |
0,66 |
| |
Mônacô |
30.000 |
10 |
0,33 |
Cái tỷ lệ cứ trong
1.000 dân Pháp hiện nay thì có 5 người là kiều dân Việt Nam là một
tỷ lệ rất cao. Nhìn vào quá khứ lịch sử về mối quan hệ lâu đời giữa
Pháp và Việt Nam ta thấy điều đó dễ hiểu. Từ một phía khác chúng ta
còn thấy so với 10 năm trước, số kiều dân Việt Nam tại Pháp bị giảm
mạnh. Từ 400.000 giảm xuống chỉ có 300.000 người. Sự sút giảm đó
phải chăng một phần có thể giải thích được nếu dựa trên cơ sở của sự
sút giảm trong quan hệ kinh tế, quan hệ khoa học, công nghệ; quan hệ
giáo dục - đào tạo... Pháp - Việt so với Mỹ - Việt?; hoặc dựa trên
cơ sở của sự sút giảm vai trò Pháp ngữ so với Anh ngữ đối với người
Việt Nam trong thời gian 10 năm vừa qua?, v.v... Trong cả 9 nước của
toàn vùng Tây Âu 10 năm qua số kiều dân Việt Nam giảm bớt gần 90
ngàn mà ngoài những nguyên nhân nói trên có thể vì nhiều nguyên nhân
khác nữa. Nhưng, sự giảm bớt cả 100 ngàn kiều dân Việt Nam tại Pháp
đã chi phối mạnh tới tất cả sự tăng, giảm của các nước khác ở đây.
Giảm bớt kiều dân Việt Nam tại vùng đất văn hóa, văn minh cao này
đương nhiên là đáng tiếc. Tuy vậy, số kiều dân Việt Nam còn lại hiện
nay hơn 436 ngàn người trên toàn vùng Tây Âu này kể ra cũng là điều
cần xem như là thành quả rất đáng ghi nhận về sự phấn đấu của nhiều
thế hệ kiều bào tại đây để thích nghi, hòa hợp với nhân dân các nước
sở tại - nhân dân của các nước mà chỉ số phát triển con người rất
cao. Cụ thể, năm 2002 Đức được xếp hạng 19; Pháp hạng 16; Lúcxămbua
hạng 5 của 175 nước và vùng lãnh thổ có đưa vào xếp hạng trên toàn
thế giới. Dù có tăng, giảm tới thế nào đi chăng nữa, số kiều bào còn
lại ở Tây Âu vẫn là biểu trưng đẹp về những thành tựu đóng góp của
kiều bào cho Tổ quốc, cho quê hương gần suốt một thế kỷ qua mà nổi
bật nhất là đóng góp cho sự thành công của Hiệp định Giơnevơ đình
chỉ chiến sự ở Việt Nam năm 1954 và Hiệp định Pari về chấm dứt chiến
tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973.
9- Ở Nam Âu kiều dân
Việt Nam cư trú và sự tăng, giảm số lượng diễn ra trong 10 năm qua
như sau: Trong 13 nước của vùng này có 8 nước được biết là từ trước
1994 đã có kiều dân Việt Nam ở. Mười năm qua chỉ có ở Italia là số
kiều dân Việt Nam tăng từ 2.000 đến 3.000 người. Còn lại 7 nước kia
đồng loạt giảm mạnh: Ở Anbani giảm từ 2.000 xuống chỉ còn 200 người;
ở Anđôra từ 100 giảm còn 10 người; ở Hy Lạp từ 700 giảm còn lại chỉ
20 người; ở Bồ Đào Nha từ 1.000 giảm xuống còn 100; ở Xan Mario từ
100 giảm xuống còn 20; ở Tây Ban Nha từ 2.000 giảm xuống còn 1.000;
ở Nam Tư từ 1.000 giảm xuống chỉ còn lại 100 kiều dân Việt Nam cư
ngụ. Mới biết thêm là ở Manta có 5 kiều dân Việt Nam. Như vậy, hiện
nay trên toàn bộ vùng đất Nam Âu có 4.455 kiều dân Việt Nam cư ngụ
thay vì cách đây 10 năm có tới 8.900 người. Sự giảm bớt, thậm chí
giảm bớt rất nhiều số kiều dân Việt Nam tại một số nước ở đây phải
chăng là do hậu quả của sự sụp đổ hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa?;
phải chăng do ảnh hưởng của những cuộc xung đột quân sự?; phải chăng
do sức hút về hoạt động kinh tế, hoạt động giáo dục, đào tạo, hoạt
động xuất khẩu lao động... của một số nước Tây Âu, Bắc Mỹ?;... Ngoài
ra cũng cần tìm thêm những lý do khác từ mối quan hệ giữa Việt Nam
và các nước sở tại của vùng này; từ diễn biến tổng hợp của tình hình
quốc tế liên quan đến việc cư trú, làm ăn của kiều dân Việt Nam tại
vùng đất này. Tìm ra cho thật nhiều và thật chính xác các lý do làm
giảm bớt số lượng kiều bào ta ở đây để tạo thêm thật nhiều điều kiện
thuận lợi nhằm gia tăng số lượng hiện có là rất cần. Bởi vì, bên
cạnh việc kiều cư để làm ăn, sinh sống về kinh tế, xã hội thì việc
kiều cư để hòa hợp, giao tiếp với gần 150 triệu dân sở tại có truyền
thống văn minh, văn hóa lâu đời, có chỉ số phát triển con người khá
cao như ở vùng Nam Âu này thiết tưởng cũng thuộc về nhu cầu và mục
đích lâu dài và chân chính trong sự nghiệp kiều cư của người Việt
Nam ta.
10- Châu Đại Dương
có 17 nước và vùng lãnh thổ. Hồi 1994 - 1995 mới chỉ biết 3 nước có
người Việt Nam kiều ngụ: Ôxtrâylia có 160.000 người; ở Niu Zilân có
300 người và ở Pocpua Niu Ghinê có 300 người. Đến 2004-2005 này được
biết ở Ôxtrâylia số kiều dân Việt Nam đã tăng lên tới 250.000; ở Niu
Zilân đã có tới 2.412 người Việt Nam kiều ngụ, ở Pocpua Niu Ghinê
giảm xuống chỉ còn lại 30 người, trong lúc đó được biết thêm là đến
2004-2005 tại Tân Calêđônia có 5.000 kiều dân Việt Nam; tại Vanuata
có 400 người và tại Guam có 15 kiều dân Việt Nam cư ngụ. Như vậy,
hiện nay tổng số kiều dân Việt Nam tại Châu Đại Dương có 257.857
người. Đây là vùng đất rộng (8.537.000 cây số vuông), người ít (33
triệu), mật độ dân cư chỉ 4 người trên 1 cây số vuông và dân tập
trung tới 72% tại các thành thị. Xét riêng về mặt này thôi thì đây
là vùng đất lý tưởng cho người muốn di cư đến. Xét về mặt lịch sử
hiện đại, Việt Nam đã có những sự kiện lớn tạo ra một loạt làn sóng
di cư và địa bàn Châu Đại Dương là nơi mà di dân Việt Nam đã luôn
hướng tới, trải qua 20 năm sau sự kiện 1975, với nhiều mắc mớ lịch
sử phải dày công tháo gỡ tại đây và phải nói là đã tháo gỡ tốt. 10
năm gần đây có thể xem là thời kỳ mà việc nhập cư, định cư của người
Việt Nam tại Châu Đại Dương đã thật sự ở vào thế ổn định theo chiều
hướng khả quan. Kết quả này là điển hình rõ nét nhất cho một nhận
định mà chúng tôi đã nêu ra hồi giữa thập kỷ 90 của thế kỷ trước
rằng: Mức độ thành, bại xét trên tổng thể của kiều bào tại mỗi nước
hoặc vùng lãnh thổ chủ yếu phụ thuộc vào ba yếu tố:
1/ Chiều hướng phát
triển của các mối quan hệ trên trường quốc tế;
2/ Chiều hướng phát
triển của các mối quan hệ giữa nước hoặc vùng lãnh thổ sở tại với
Việt Nam;
3/ Chiều hướng phát
triển tổng thể của tất cả các mặt: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội... tại bản thân quê hương Việt Nam.
11- Trong số 56 nước
Châu Phi ngày nay chỉ tại 13 nước là có kiều dân Việt Nam cư ngụ:
Tại Trung Phi: Ở Anggôla có 800 kiều dân Việt Nam; Ở Cônggô có 10
người và ở Cộng Hòa Trung Phi có 10 người kiều dân Việt Nam. Tại Tây
Phi: Ở Cốtdivoa có 253 và ở Xênêgan có 20 người là kiều dân Việt
Nam. Tại Bắc Phi: Ở Angiêri có 110 người; Ở Marốc có 100 người; Ở
Libi có 10 người và ở Ai Cập có 10 người là kiều dân Việt Nam. Tại
Đông Phi: Ở Madagátxca có 100 người; Ở Kênia có 51 người và ở
Tandania có 10 người Việt Nam kiều ngụ. Tại Nam Phi: Ở nước Nam Phi
có 23 người Việt Nam cư ngụ. Trong 13 nước này thì chỉ có 6 nước là
có cơ quan đại diện Việt Nam cấp Đại sứ quán, còn 7 nước khác là
Cốtđivoa, Marốc, Mađagátxca, Kênia, Xênêgan, Cônggô và Cộng hòa
Trung Phi chưa có Đại sứ quán và cũng chưa có lãnh sự quán hoặc Cơ
quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự ở nước ngoài của
Việt Nam. Đó kể cũng là một điều mà các cơ quan hữu quan cần đặc
biệt lưu ý.
Người Việt Nam có
mặt ở Châu Phi đã khá lâu. Hồi những năm giữa thập kỷ 90 của thế kỷ
XX được biết trong các nước sau đây có người Việt Nam ở: Angiêri có
1.000 người Việt Nam (nay chỉ còn lại 100 người); Marốc có 500 người
Việt Nam (nay chỉ còn lại 100 người); Kênia có 200 người Việt Nam
(nay chỉ còn lại 51 người); Libi có 100 người Việt Nam (nay chỉ còn
lại 10 người); Ai Cập có 1.000 người Việt Nam (nay chỉ còn lại 10
người). Sự giảm sút mạnh số lượng người Việt Nam ở tất cả các nước
đó là liên quan đến hàng loạt sự kiện chính trị, quân sự, kinh tế...
đã diễn ra hết sức dữ dội và khốc liệt tại Châu Phi 10 năm qua.
Những bà con kiều bào còn tiếp tục làm ăn sinh sống ở vùng này chắc
hẳn cần rất nhiều sự hỗ trợ về nhiều mặt của cả hai phía: Phía các
nước sở tại và phía đất nước quê hương.
Châu Phi là lục địa
mà chỉ số phát triển con người rất thấp. Theo số liệu thống kê xếp
hạng năm 2003 cho 177 nước trên thế giới, thì Châu Phi chỉ có 4 nước
được xếp hạng dưới thứ 100. Đó là Xâysen - thứ 35, Libi - thứ 58;
Morixơ - thứ 64 và Tuynidi - thứ 92. Còn lại 52 nước khác đều bị xếp
hạng bằng 3 chữ số, tức là từ hạng thứ 100 trở lên. Đặc biệt có 27
nước Châu Phi được xếp hạng từ thứ 150 đến 176; tức là trong 27 nước
có chỉ số phát triển con người vào hàng thấp nhất thế giới thì Châu
Phi đã có tới 25 nước (còn 2 nước nữa là Haiti thuộc vùng Caribê của
Châu Mỹ được xếp hạng 153 và Đông Timo thuộc Đông Nam Á được xếp
hạng 158). Xin được lưu ý thêm rằng: Tại Châu Phi, trong những nước
có bà con kiều bào ở, đều hầu như là những nước mà chỉ số phát triển
con người thuộc hạng thấp nhất: Mađagascar - hạng 150/177; Gibiti -
hạng 154/177; Eritơrêa - hạng 156/177; Xênêgan - hạng 157/177;
Ruanđa - hạng 159/177; Tandania - hạng 162/177, Côtđivoa - hạng
163/177; Dămbia - hạng 164/177; Malauy - hạng 165/177; Ănggôla -
hạng 166/177; Cộng hòa Trung Phi - hạng 169/177; Êtiôpia - hạng
170/177; Môdămbich - hạng 171/177; Burunđi - hạng 173/177.
Chỉ số phát triển
con người (Human Development Index - HDI) là thước đo tổng hợp phản
ánh sự phát triển của con người trên các phương diện thu nhập (thể
hiện qua tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người), tri thức (thể
hiện qua chỉ số học vấn) và sức khỏe (thể hiện qua tuổi thọ bình
quân tính từ lúc sinh). Thiết tưởng chỉ xem xét qua ba phương diện
đó cũng đã thấy sức phấn đấu để làm ăn, sinh sống của kiều bào ta
trong môi trường xã hội Châu Phi là lớn lao biết chừng nào! Sự quan
tâm, hỗ trợ để cho bà con kiều bào ở đây tồn tại và phát triển chắc
còn phải được tăng cường gấp bội ở thời gian tới trong suy nghĩ và
hành động của những người, những cơ quan hữu trách, và cả trong suy
nghĩ và hành động của toàn thể đồng bào trong và ngoài nước.
Năm 1995, trong tổng
kết công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước mang mã số KX04-10 "Luận
cứ khoa học cho việc đổi mới chính sách xã hội đối với người Việt
Nam ở nước ngoài " tôi có nêu 5 quan điểm cơ bản cần được quán triệt
mà quan điểm thứ nhất thiết tưởng cần nhắc lại ở đây nhân bàn về
kiều bào đầu thế kỷ mới và đặc biệt là nhân bàn tới bà con kiều bào
đang sống tại Châu Phi như vừa nói: "Cần khẳng định dứt khoát rằng:
Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng
đồng dân tộc Việt Nam. Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm bảo hộ quyền
lợi chính đáng của kiều bào trên cơ sở luật pháp Việt Nam, luật pháp
các nước sở tại và luật pháp quốc tế ". (1)
Những số liệu thông
tin về người Việt Nam ở nước ngoài mới nhận được trong những năm đầu
của thế kỷ mới càng củng cố thêm sự đúng đắn của lời khẳng định trên,
càng tạo thêm nhiều cơ sở pháp lý để việc bảo hộ quyền lợi chính
đáng của kiều bào được thực hiện với tính hiệu quả ngày một cao.
Tháng 02 năm 2006
Tiến sĩ Trần Trọng Đăng Đàn
(Nhà
nghiên cứu Khoa học xã hội)
Source : http://www.quehuong.org.vn
--------------------------------------------------------------------------------
(1) Xem: Đổi mới
chính sách xã hội, luận cứ và giải pháp. NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội 1997
Source: chimviet.free.fr