Nguời Mẹ

 Minh Đức. Nguyễn Trinh  Tuấn

 

***    Mùa Vu Lan đi qua, ai vào chùa  đều nhớ đến Mẹ. Nhưng người Mẹ trong câu chuyện mà vào chùa ai cũng biết , đó là Mẹ của ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên. Một vị Thánh tăng có thần thông đệ nhất, ông không phải chỉ là người đứng hàng đầu về thần thông trong các đệ tử của đức Phật. Mà ông còn gọi là người hiếu hạnh lớn nhất. Vì vậy Vu Lan là một lễ lớn về hiếu hạnh.
            Bởi vì có thần thông lớn nên Ngài Mục Kiền Liên mới nhìn thấy Mẹ đang ở địa ngục,và ngài mới có khả năng vào địa ngục để dâng cơm cho mẹ. Địa ngục theo định nghĩa Phật học thì đó là Bất Như Ý Xứ. Tức là nơi không như ý muốn của mình. Là một nơi ở, mình không có quyền có ý kiến gì, mà mình phải sống như là tù nhân bị giam , mất hết quyền có ý` kiến. Bất cứ ý muốn nào đều không như ý, do vậy gọi là địa ngục, tức là bị trở thành quỷ đói. Không thể nào thỏa mãn đựoc cơn đói, và cũng không thể ăn được gì. Bởi vậy bà mẹ của ngài đang đói nên phải mang thân Ngạ quỷ. Rơi nước mắt vì thương mẹ, nên Đại Hiếu Mục Kiền Liên dùng sức thần thông , mang chén cơm thơm tinh khiết và huyền diệu của Ngài đến dâng cho Mẹ. Nhưng chén cơm không thể nào  là thực phẩm của  qủy đói. Khi cơm đưa đến là biến thành  than lửa.  Cái cơm thiện lành của Thánh tăng mà lại biến thành lửa không dùng được, dù đây là vị thánh đệ nhất thần thông. Tại sao lạ vậy ? Bởi vì khi cơm đưa đến tay bà thì bà đã dùng tay che lại, sợ rằng vô số quỳ đói khác đang vây quanh bà sẽ dành lấy. Bà thấy rằng chén cơm nhỏ bé quá chỉ đủ dùng cho bà, nên bà phải che lại để dùng riêng cho sự đói khổ của bà, bà sợ hải người đồng cảnh chung quanh của bà, vì vậy cái sợ hải và ích kỷ của bà , chính nó là chất liệu làm cho cho cơm của thánh tăng trở thành than lửa.
            Cũng trong hoàn cảnh phải bị đọa địa ngục như vậy, mà tiền thân của Phật khi còn là chúng sanh chưa giác ngộ ,đã từng làm thân quỷ đói ở vô gián địa ngục. Vô gián là không ngừng nghĩ, cái địa ngục luôn hành phạt chúng sanh đau khổ thì gọi là vô gián địa ngục. Khi bị đọa vào cái bất như ý xứ liên tục hành phạt như vậy thì tiền thân của Phật Thích Ca đã phát tâm bồ đề. Cái sơ phát tâm bồ tát, nghĩa là cái giác ngộ ban đầu , chính là cái khởi nguyên của một chúng sanh giác ngộ để đi về đạo vô thượng, chính là sự Phát Tâm tỉnh thức. Ngay nơi vô gián địa ngục, bồ tát đã phát tâm để nguyện vì tất cả chúng sanh đau khổ đang mang thân quỷ đói, là cái nơi tồi tệ nhất của chúng sanh, chịu tất cả khổ nạn thay chúng sanh để chúng sanh được an vui giải thoát khỏi phiền não. Chính đức bồ tát tiền thân của Phật Thích Ca đã phát tâm vô thượng Bồ Đề để cùng chúng sanh giải thoát. Nếu tất cả chúng sanh chưa giải thoát thì bồ tát vẫn cùng chúng sanh chịu khổ. Chính do phát tâm như vậy mà đức Thế Tôn đã thành Phật Thích Ca.
             Thấy mẹ phải chịu đói khát khổ đau mà mình không thể làm gì được, dù có thần thông thấy và đến được với mẹ, nhưng không thể thay mẹ chịu khổ, mà cũng không thể cho mẹ ăn uống gì được cái pháp thực thanh tịnh thiện lành. Vì không thể cứu mẹ thoát khổ , nên Ngài Mục Kiền Liên đã tìm đến Phật, thưa với Phật tìm phương pháp cứu chửa cho mẹ và các chúng sanh ở địa ngục.
               Đức Phật dạy rằng : Muốn giải nạn cho Mẹ ngài Mục Kiền Liên và các chúng sanh thì phải mời tất cả mười phương chư Tăng nhóm hội lại hòa hợp cùng nhau đưa Pháp thực đến cho địa ngục thì mới trừ khổ nạn bất như ý và  đói khát của các qủy đói. Ngài Mục Kiền Liên liền làm theo lời dạy của Phật. Sau khi cúng dường chư Tăng , ngài đã đem bát cơm hòa hợp chúng của mười phương tăng đến cho Mẹ và các vị quỷ đói đang đọa địa ngục dùng. Khi đó thì năng lượng đủ dùng cho tất cả nên bà mẹ không phải sợ hải che đậy bát cơm của mình. Do không che đậy và mở lòng ra với tất cả  chúng sanh đồng cảnh địa ngục mà bà Mẹ đã thoát khỏi thân quỷ đói, được thân tâm an lạc, không bao giờ trở lại làm ngạ quỷ nửa. Cái hiếu của Ngài Mục Kiền Liên do vậy gọi là hiếu lớn đệ nhất. Lớn nhất do đã lợi ích tất cả chứ không phải riêng cho mẹ của ngài mà thôi.
            Nhưng khi đọc đến lịch sử của Ngài Mục Kiền Liên thì chúng ta rất ngạc nhiên, bởi vì là người đã có thần thông đủ sức hàng phục tất cả ngoại đạo, vậy mà Ngài lại bị giết chết và bầm xác ra rất ghê rợn, đem rãi ở khắp nơi, bởi vì những nguời giết Ngài sợ thần thông của Ngài, nên phải làm như vậy để Ngài không có cơ hội sống lại để hại họ. Có người thấy như vậy mới tìm đến Phật để hỏi nguyên nhân, tại sao ngài có đạo đức hiếu hạnh và thần thông lớn như vậy,  mà lại thọ cái quả báo ghê gớm như vậy ?
            Đức Phật dạy rằng : Trong tiền kiếp Ngài Muc Kiền Liên là một ngừơi tiều phu hiền lành, sống với cha mẹ già. Hai song thân của người tiều phu bị mù mắt vá rất già yếu, nên phải chăm sóc phụng dưỡng thật vất vã. Vào thời bấy giờ đang gặp nạn đói kém, mà khả năng của người tiều phu không thể cung cấp đủ cho cha mẹ và vợ con. Vợ của anh tiều phu mới bảo chồng rằng : "Cha mẹ già yếu lắm rồi, thế nào cũng chết. Thôi vậy chúng ta đưa cha mẹ vào rừng bỏ ở đó, rồi trở về lo chăm sóc cho con cái . Như vậy thì nhẹ cho chúng ta và có thêm miếng ăn cải thiện vì bớt đi gánh nặng." Nghe vợ nói mãi, chàng tiều phu cũng thấy hợp lý nên bằng lòng. Vậy là tiều phu đóng một cái xe để đẩy cha mẹ vào cho mang đến rừng chờ chết. Khi đến rừng thì không nở bỏ cha mẹ ngồi chờ chết đói. Nên tiều phu đã giả giọng của ăn cướp để gào lên hăm đọa, anh ta định dùng búa giết cha mẹ, mà lại dối gạt là kẻ cướp giết. Nhưng khi nghe giọng gào thét lên của "ăn cướp", thì hai ông bà đã kêu lớn lên rằng : "Chạy mau đi con ơi, cứ bỏ cha mẹ mà chạy đi con ". Nghe tiếng kêu của cha mẹ làm ông tỉnh thức không dám giết cha mẹ nữa , mà quỳ xuống thưa thiệt với cha mẹ, rồi đẩy xe đưa cha mẹ trở lại nhà phụng dưỡng. Do cái nhân bất hiếu này mà Ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên hối hận và trở nên người hiếu hạnh luôn luôn trong tất cả mọi thời tái sanh trở lại. Nay đến kiếp sau cùng của một vị A-la-Hán, nên Ngài mới chịu cái quả báo phanh thây vì tội bất hiếu xa xưa.
            Nhân quả tương quan với nhau rất nhịp nhàng và sinh động, trong cái bất hiếu nếu hồi đầu lại thì thành đại hiếu. Trong tận cùng địa ngục nếu hồi đâu lại thì lại là nhân giác ngộ giải thoát. Nếu đi tìm thoát khổ cho riêng mình, thì dù có đứa con như ngài Mục Kiền Liên, bà mẹ đói khát vẫn không ăn được cơm của đứa con hiến tặng cung dưỡng. Ngay nơi tồi tệ nhất mà gíác ngộ để phát tâm nghĩ đến tất cả mọi người thì ngay nơi đó đã có tâm giác ngộ hướng về vô thương bồ đề. Cái nhân đã có cái qủa trong đó. Vì vậy khi lâm khổ nạn thì chưa biết được nạn khổ đó là nhân hay quả của tâm giác ngộ đạo vô thượng của Phật.
             Vì vậy người Mẹ chính là nhân tố của giải thoát và trí tuệ nếu chúng ta đi đúng hứong tìm đến nhau như một thân thể không thể phân ly. Rời phiền nảo thì cũng không có trí tuệ giải thoát. Bà mẹ đích thật chính là khổ đau. Khổ là một sự thật làm cho chúng ta tan nát không chấp nhận được như một địa ngục. Nhưng nó là bứoc đầu của sự thật mà mình phải tìm đến để thấy và hiểu, trước khi thấy và hiểu bốn sự thật mà đức Thế Tôn đã chuyển bánh xe Pháp cho Tăng đoàn đầu tiên. Khồ là Bà Mẹ ở Địa Ngục. Đứa con không thể nhập niết Bàn khi Mẹ con đang ở địa ngục. Vì vậy mới có Vu Lan thắng hội để cầu nguyên cho tất cả âm siêu dương thới, thiên hạ thái bình. Căn nhà hàng xóm đang cháy mà mình không hổ trợ chửa cháy thì chính nhà mình cũng cháy. Bà Mẹ che chén cơm lại thì than lửa hiện ra chứ không phải là cơm. Chính câu chuyện người mẹ của Ngài Mục Kiền LIên là ngụ ngôn của Phật gởi đến cho các con của Phật trong khi tìm đến mẹ của mình. Ai cũng có một bà mẹ như ngài Muc Kiên Liên. Bởi vì nhiêu đời nhiều kiếp chúng ta đi lang thang, ta đã có vô số những bà Mẹ. Mẹ con luôn nhớ nhau và tìm đến như một  thân thề không chia lìa được.

10-9-2010

 

Bài Tháng Chín. 2010


Biên tập: Cư sĩ Liên Hoa (Nhật Minh)
Sửa văn bản tiếng Việt và trình bày : Diệu Tịnh | Sửa văn bản tiếng Anh: Diệu Ngọc
Phụ trách mạng : Chánh Niệm | Email: Padma9mt@hotmail.com


You are visitor number since January 24, 2005