Việt Nam
là một nước có truyền thống văn hoá
Phật giáo lâu đời. Lịch sử dân tộc
từng ghi nhận những người phụ nữ
Phật tử đứng ở ngôi vương, ngôi hậu….
Họ là những bậc nữ lưu tài hoa xuất
chúng được xã hội cảm phục. Họ dạy
dân giữ làng giữ nước, chăm lo sản
xuất, giữ vững giềng mối tâm linh
truyền thống. Và có người trong số
họ đã hiển thánh, đã hóa ngôi vị
Phật bà được thờ cúng trang nghiêm
trong nhiều đền chùa với ý nghĩa phù
trợ cho mưa thuận gió hòa, gia đình
ấm no hạnh phúc, đất nước thanh bình
phát triển.
Đức Kiều Đàm di
mẫu đã từng đi bộ suốt 200 cây số từ
kinh thành Ca Tỳ La Vệ đến thành Tỳ
Xá Ly để khẩn thỉnh Đức Thế Tôn cho
nữ giới được xuất gia sống đời phạm
hạnh. Ngài A Nan vì hiểu rõ tâm
nguyện của Đức Kiều Đàm, nên đã ba
lần khẩn thỉnh Đức Thế Tôn thương
tưởng chấp nhận cho người nữ được
xuất gia. Công lao to lớn đó của các
bậc tiền nhân chính là sự chuyển
tiếp những giá trị bình đẳng, công
bằng đầy ý nghĩa cho thời đại. Nhằm
nâng tầm giá trị và tiến bộ của
người phụ nữ Phật tử, chúng ta cần
đặt giá trị ấy tương quan với những
yêu cầu cấp thiết về sự bình đẳng
giới trong phạm vi toàn xã hội.
Sứ mệnh của người
phụ nữ Phật giáo đang được đặt ra
một cách cấp thiết trong tinh thần
hòa hợp và đi tới. Sự hòa hợp đó
không chỉ vì tầm nhìn của một sự đổi
thay mang tính kỹ thuật trong một xã
hội đòi hỏi những yếu tố tiến bộ,
hiện đại mà sự hòa hợp đó còn cho
chúng ta những giá trị bình an từ
trong tâm. Và hòa hợp để chúng ta
bày tỏ niềm kính tin tuyệt đối với
những điều Đức Phật đã dạy trên tinh
thần giải thoát và giác ngộ.
Không một giá trị
nào trong kinh điển không cần chúng
ta phải nghiền ngẫm hay nhắc lại ở
những cấp độ nhận thức khác nhau.
Nhưng nếu chỉ tìm những ý nghĩa
“đúng-sai” trong lời dạy của Đức
Phật, chúng ta sẽ không bao giờ chạm
đến giá trị đích thực của lời dạy
với ý nghĩa giáo lý chỉ là phương
tiện, là chiếc bè đưa người qua bên
kia bến bờ an vui. Và giới hạn trong
nhận thức sẽ khiến chúng ta khó tiếp
cận với phương tiện mà Đức Phật đã
ân cần chỉ dạy.
Hàng năm, những
người con gái lành của Đức Thế Tôn
nhóm họp định kỳ để lắng nghe những
tiếng nói quan trọng của người phụ
nữ Phật tử, vì trước mắt chúng ta là
cả một thế giới tương quan với những
cuộc khủng hoảng ở phạm vi toàn cầu
từ kinh tế, chính trị đến môi trường
sống. Điều đó đang tác động trực
tiếp đến ngôi nhà chung Phật pháp,
đến chị em chúng ta trong những hoàn
cảnh sống khác biệt.
Một ngôi nhà dù
tối cả trăm năm nhưng chỉ cần thắp
ngọn đèn lên thì mọi vật đều sẽ sáng
tỏ. Đó là ý nghĩa: Hãy tự mình thắp
đuốc lên mà đi. Và sự “xuất chúng”
của người phụ nữ Phật tử có lẽ nào
không xuất phát từ chính công việc
thắp sáng ngôi nhà mà mình đang
sống.
Những mâu thuẫn
quốc gia, sắc tộc, tôn giáo, những
phản ứng dữ dội của thiên nhiên,
những đói nghèo bệnh tật, những hoàn
cảnh phân biệt kỳ thị giới, những
yếu kém về thể chất và tinh thần
thời đại…, tất cả điều đó đều là
biểu hiện của những ý nghĩ, hành vi
tiêu cực do chúng ta đã và đang sử
dụng sai năng lực của chính mình. Sự
hoang phí năng lực đó đang được đầu
tư vào những cạnh tranh vô bổ và
lãng phí khi trước mắt chúng ta là
mối tương quan, tương duyên không
thể tách rời giữa con người và môi
trường sống.
Sự khẳng định nào
cũng sẽ là ích kỷ nếu không thể đi
ra ngoài những phân biệt và kỳ thị
kể trên. Chúng ta không thể dùng
chính sự phân biệt để chống lại sự
phân biệt mà vốn dĩ chúng ta từng
cho đó là sự bạo hành, bất bình đẳng
về giới, sự chống đối tư tưởng tự
do, tiến bộ của con người.
Đức Phật đã khéo
léo vận dụng nhiều phượng tiện để
chúng ta tự hoàn thiện mình ở cấp độ
tự thắp sáng năng lực, hóa giải và
hòa hợp trước mọi hoàn cảnh sống. Đó
không phải là cam chịu và nhẫn nhục
một cách mù quáng mà đó là tâm từ
bi, lòng trắc ẩn trước những khổ
đau, bất hạnh của đồng loại.
Việc cần làm của
chúng ta ngày hôm nay là cùng ngồi
lại với nhau trong mục đích thống
nhất và hòa hợp để triển khai nhiều
hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa sự tự thắp
sáng, hơn là ngồi để dằn vặt với
những xung đột ích kỷ cá nhân mà vốn
dĩ những mức độ tràn lan của nó vẫn
đang bị điều hiện hóa bởi nhiều hoàn
cảnh sống khác biệt. Nhiệm vụ của
chúng ta là nói lên tiếng nói cảm
thông để những người anh chị em của
chúng ta lắng nghe, hiểu và làm đúng
với những điều Đức Phật đã dạy: Mọi
loài chúng sinh đều có Phật tính;
Hãy lấy giới luật làm thầy…
Chúng ta nên cung
cấp nhiều hơn những cách nhìn tích
cực về người phụ nữ Phật tử. Và
chúng ta phải chứng minh điều đó
bằng thực tiễn sống và tu tập của
bản thân. Bởi lẽ sự tương kính sẽ
luôn đem lại giá trị của lòng tự
trọng và sự tôn trọng. Không một ai
đem sự kính trọng đi mà không nhận
lại được sự kính trọng. Nguyên lý
nhân quả đã khẳng định rõ như vậy.
Hãy quán chiếu sâu vào sự bình an
nội tại, ở đó sự tương kính trong
một gia đình giữa người nam và người
nữ, vốn đã là những kết luận sâu sắc
về tình yêu thương: Anh em như thể
chân tay. Mất cái tay hay cái chân
thì cơ thể chúng ta sẽ mất cân bằng.
Trước sự đóng góp
vào quá trình phát triển chung của
xã hội, chúng ta có nhiệm vụ kêu gọi
hãy chấm dứt sự kỳ thị và những cung
cách ứng xử trịch thượng, mệnh lệnh,
không xuất phát từ sự tương kính và
tôn trọng nhân phẩm. Kêu gọi đó thể
hiện mục đích duy nhất của chúng ta
là đưa xã hội tiến gần hơn đến sự
công bằng. Sự kêu gọi bình đẳng giới
không phải việc làm ích kỷ cá nhân
và không nên xuất phát từ động cơ
thiếu thiện chí hòa hợp. Những lời
trách móc thị phi, sự đổ lỗi, thái
độ giận dữ đều không làm cho chúng
ta tiến bộ hơn trong con đường tu
tập, bởi chúng ta đã là người “phụ
nữ Phật tử”, và giáo lý của chúng ta
không phải là học thuyết tư tưởng
“đấu tranh xã hội”. Hơn nữa, những
định kiến, giáo điều về giới tính
phần nào cũng do thái độ sống thụ
động của chính chúng ta góp sức xây
nên.
Sự bình đẳng, tự
do, hòa hợp không thể tự có, nên
trong chính chúng ta, sức mạnh của
lòng từ bi là sức mạnh lớn nhất để
chúng ta vươn lên chứng minh và
khẳng định chúng ta là những người
con gái lành thực sự của Đức Thế
Tôn. Để từ đó, những người anh chị
em của chúng ta thấy chúng ta như
một phần máu thịt của chính mình.
Đức Phật từng dạy, hãy nhìn những
người phụ nữ lớn tuổi cũng như ít
tuổi mà coi họ như những người chị,
người em ruột thịt của chính mình để
che chở, bảo vệ. Sự an trú trong tâm
từ bi là sự an trú giúp chúng ta
trưởng thành theo thời gian.
Chúng ta đang đi
trên con đường của những người anh
chị em đã từng là tổ tiên huyết
thống và tổ tiên tâm linh của chúng
ta xây đắp nên. Thừa hưởng điều đó,
chúng ta nên hướng nhận thức của
mình nhiều hơn đến đồng loại, rằng
nhiều người trong số họ vẫn phải
chịu sống một cách đầy khó khăn với
những đau khổ, đói lạnh, bệnh tật,
hoang mang, đọa đày trong chiến
tranh, trong sự khắc nghiệt của
thiên tai, bệnh dịch. Sự “xuất
chúng” của chị em chúng ta không chỉ
thể hiện ở số đông những người có
bằng cấp cao trong những ngôi trường
danh tiếng thế giới mà còn là nhận
thức chung trước những liên đới xã
hội mà chúng ta không phải là người
đứng ngoài chứng kiến. Người phụ nữ
là một nửa sự sáng tạo của thế giới.
Nhiệm vụ chính yếu của chúng ta là
phải sử dụng trí tuệ và sự sáng tạo
ấy để giảm bớt những nhân tai và
thiên tai đang từng giờ, từng phút
gây ra cho con người.
Người ta nói,
đường đi ngắn không đi không bao giờ
tới. Mỗi ngày làm được một điều
thiện nhỏ, thêm được một ý nghĩ lành
nhỏ là chúng ta đang cần mẫn góp
nhặt cho thế giới một sự an vui lớn.
Chúng ta hãy ngồi bình tâm để lắng
nghe những tiếng nói, những hành
động nào từ cuộc sống đang đem đến
cho chúng ta một cuộc sống tốt đẹp,
an nhàn trong khi máu xương, mồ hôi
nước mắt của biết bao những người
mẹ, người chị, người em của chúng ta
đã đổ xuống để đất dữ hóa lành. Nhìn
ra sự tương quan ấy, những uất ức về
giới tính như một cách khẳng định
bản ngã của chị em chúng ta chỉ là
giả tạm.
Mục tiêu của
chúng ta hôm nay là vượt qua những
khác biệt về giới, về hoàn cảnh xuất
thân, tông phái để hướng tâm vào
những đóng góp thiết thực cho xã
hội. Và đó cũng là ý nghĩa cao cả
nhất của sự hy sinh. Bằng không sự
tranh đấu của chúng ta chỉ làm gia
tăng những phiền não, chỉ trích và
chống đối. Chúng ta sẽ làm gì để
theo kịp những tiến bộ của khoa học,
kỹ thuật trong thời đại mà chúng ta
đang sống, để không chỉ nâng cao
trình độ nhận thức thực tiễn mà còn
chứng tỏ những người phụ nữ Phật tử
không hề kém sáng tạo hơn bất cứ ai
trong xã hội.
Vậy thì chúng ta
phải biến ước muốn thành hiện thực.
Chúng ta phải có trường đại học
riêng dành cho nữ Phật tử với những
kiến thức chuyên môn cơ bản và những
phân tích tích cực trong tìm hiểu
những tiến bộ của thời đại, làm sao
cho phù hợp với thể chất và tâm sinh
lý của nữ giới. Nhất định chúng ta
sẽ tập trung được trí tuệ để mở màn
cho những đề xuất mới, táo bạo và
thiết thực hơn, song song với việc
giữ vững truyền thống tu tập trong
tông môn của mình. Hiểu mình, nắm rõ
được năng lực của mình, chúng ta sẽ
đi xa hơn trên con đường mà Đức Phật
đã khai mở. Sẽ có những anh chị em
thắc mắc về “tham vọng” của chúng
ta. Nhưng điều khẳng định “Phụ nữ
Phật giáo xuất chúng” không còn nằm
ở những hình thức lực lượng chúng ta
nhiều hay ít mà ở chất lượng sáng
tạo của chị em chúng ta trong ngôi
nhà chung Phật pháp và trong sự vận
động nhiều đổi thay của xã hội.
Không phải sự dấn
thân của chị em chúng ta còn hạn
chế, càng không phải do những người
anh em không hoàn toàn tin tưởng
chúng ta, không đề cử chúng ta vào
những vị trí quan trọng trong giáo
hội mà là việc làm thường ngày của
chúng ta vẫn chưa tỏ ra tích cực,
hữu hiệu. Và một nguyên nhân quan
trọng là trong nhiều hoàn cảnh tín
ngưỡng, các tư tưởng phân biệt nam
nữ đã đan xen vào hệ thống giáo dục
của chúng ta ở những thời kỳ Phật
giáo mất định hướng và lâm vào khủng
hoảng.
Chúng ta có quyền
đặt câu hỏi, liệu một nữ Phật tử có
thể là Chủ tịch hay Phó chủ tịch để
điều hành Giáo hội, giống như thế
gian có những người phụ nữ làm tổng
thống, thủ tướng hay không? Đó không
phải là câu hỏi thiếu thực tế mà sự
thiếu thực tế nằm trong chính bản
thân chúng ta, rằng chúng ta chưa
chuẩn bị gì nhiều cho những mong
muốn chính đáng và cao đẹp đó. Chị
em chúng ta đã tự tạo cho mình những
khoảng cách đối lập bằng sự sợ hãi
chứ không phải bằng sự tương kính.
Trong Bát kính pháp, Đức Thế Tôn
muốn chúng ta giữ chữ kính không
phải bằng thái độ run sợ. Lấy kính
mà đối đãi thì nhận về sự kính
trọng. Nhưng lấy sợ làm phương thức
sống thì sự lấn lướt về giới tính sẽ
xảy ra, chúng ta sẽ đánh mất sự
tương quan và lòng tự trọng của phẩm
cách.
Sức mạnh nội tại
tạo ra sự phong phú và thịnh vượng.
Chúng ta hãy khẳng định rằng chúng
ta làm được. Người con gái lành của
Đức Thế Tôn lẽ nào lại không tích
cực trau dồi đạo hạnh, lẽ nào không
mạnh dạn dấn thân để làm sáng ngôi
nhà của mình để đem lại cho số đông
những giá trị và ích lợi thiết thực?
Câu hỏi này xin
để chị em chúng ta cùng suy nghĩ.
Mặt đất dưới chân chúng ta đang
chuyển động, nhưng chúng ta đã run
sợ trước những nguy hiểm và khó khăn
do chính chúng ta tưởng tượng ra.
Chúng ta chưa đủ năng lực xả thân
cầu pháp như nhiều tấm gương mà
những người anh em chúng ta đã làm.
Thực tế này chúng ta phải chiêm
nghiệm nhiều hơn trong lịch sử. Xin
từ bỏ những lo sợ và cả những điều
không chính đáng mà chính chúng ta
tạo lập nên trong quá trình tu tập.
Chị em chúng ta cần có sự bảo vệ che
chở, nhưng chúng ta cũng có đầy đủ
năng lực và điều kiện để bảo vệ, che
chở cho những người anh em chúng ta.
Sức mạnh của phụ nữ Phật tử là sức
mạnh của sự thận trọng, mềm mỏng,
mẫu mực và khiêm nhường. Ở đó, lòng
từ bi là sức mạnh lớn nhất. Và không
phải ngẫu nhiên chư Phật, chư Bồ tát
lại hiện thân như những người mẹ
hiền, cưu mang, tần tảo để giữ ấm
cho gia đình và cộng đồng.
Trong nhiều quốc
độ ngôn ngữ, văn hóa, chị em chúng
ta hội tụ về đây không chỉ để biểu
dương những nhận thức mới mẻ đã được
củng cố và phát triển trong mấy chục
năm qua, mà chúng ta muốn nói rằng,
qua công nghệ thông tin, qua những
nỗ lực cống hiến và hàn gắn ở mỗi
quốc gia, chị em chúng ta đã nhận ra
trái đất như nhỏ lại trong khi sự
trải nghiệm, lòng trắc ẩn, tâm từ bi
của chúng ta ngày càng lớn hơn, rộng
mở hơn. Chúng ta nguyện cùng với
những người anh chị em của mình đoàn
kết lại để giữ vững hình ảnh của một
tôn giáo luôn đề cao những giá trị
của trí tuệ, tiến bộ và hòa bình.
Có thể trong một
quốc độ nào đó những giáo điều đã
làm cho một số chị em cảm thấy mình
chưa được tôn trọng. Vì thế, nhiệm
vụ của chúng ta phải làm sáng tỏ hơn
những quốc độ mà sự giáo điều đã
được sử dụng nhằm gây nên những
khoảng cách văn hóa và định kiến
trầm trọng về giới tính. Thực tế vẫn
còn những người trong hàng lãnh đạo
đã đứng sai chỗ khi o bế đời sống
của chị em chúng ta bằng nhận thức
hời hợt về giới tính. Nhưng chúng ta
sẵn sàng lắng nghe và đưa năng lực
của mình ra bằng sự kính trọng, bằng
từ bi, trí tuệ để họ có thể buông bỏ
những khắc nghiệt trong định kiến về
giới tính khi xem chị em chúng ta
như những chướng nạn trên con đường
tu tập.
Suy nghĩ như vậy
không thể nhận được sự cỗ vũ của
chính chị em chúng ta, bởi trong
hoàn cảnh đảm bảo sức sáng tạo và sự
tự do, chúng ta phải tồn tại để
chứng minh cho sự chuyển hướng và
điều chỉnh nhận thức của xã hội,
rằng những người nữ Phật tử có thể
đóng góp nhiều hơn nữa cho tương lai
của sự ổn định toàn cầu. Ngay bây
giờ chúng ta hãy đến gần với những
người chị em trong quê hương huyết
thống và quê hương tâm linh để chia
sẻ với họ nhiều hơn nữa những nỗi
bất công và thống khổ; đem đến sự
cần bằng trong tinh thần và vật chất
cho những ai còn thiếu may mắn hơn
chúng ta.
Làm sao chúng ta
có thể có hạnh phúc và bình yên khi
những người chị người em thân yêu
của chúng ta còn đang chịu nhiều khổ
đau, bất hạnh? Tinh thần phục sự đạo
pháp và xã hội chính là sự sẵn lòng
hy sinh để tìm kiếm, chia sẻ những
lợi ích chung cho cộng đồng. Sống
thân thiện, đoàn kết, lương thiện và
tử tế với bạn bè, anh em, với láng
giềng, cộng đồng trong những lúc khó
khăn, thách thức cũng như lúc thanh
bình sẽ giúp cho chị em chúng ta có
những gia đình vững chắc, những nền
tảng xã hội căn bản để tạo dựng hạnh
phúc. Cống hiến những giá trị cao
đẹp cho những hoàn cảnh khó khăn
phức tạp càng làm cho chị em chúng
ta trưởng thành hơn trong tu tập,
đúng với bốn đức lớn Từ-Bi-Hỷ-Xả mà
Đức Phật đã dạy.
Những giá trị đạo
đức mà chị em chúng ta xiển dương
phải luôn phù hợp với tư tưởng thời
đại và pháp luật của mọi quốc gia.
Đó là những giá trị bền vững, giúp
chúng ta tin tưởng trong quá trình
tiếp cận xã hội một cách sâu rộng,
bài bản và khoa học hơn.
Mọi “hóa thành”
sẽ hiện ra khi chúng ta mệt mỏi,
nhưng nhiệm vụ của chúng ta không
phải gắn chặt mình vào với cái “hóa
thành” đầy ảo ảnh đó để hưởng thụ sự
cung phụng mà chính chúng ta phải
biết tồn tại bằng mọi nghị lực khi
“hóa thành” một ngày kia biến mất.
Việt Nam là một
đất nước hồi sinh mạnh mẽ từ sau một
thế kỷ đầy biến động khắc nghiệt của
chiến tranh. Điều đó luôn thúc đẩy
người dân Việt Nam, người phụ nữ
Phật tử ý thức giữ gìn nền độc lập,
hòa bình, tự chủ. Việt Nam luôn là
quê hương của những ứng xử hòa bình,
bởi vì Việt Nam đã sống và vươn lên
bằng tinh thần của một dân tộc có
hơn 2.000 năm Phật hóa. Và hôm nay,
Hội nghị SAKYADHITA Lần thứ XI được
tổ chức trên quê hương chúng ta đã
tô đậm thêm những giá trị hòa bình
thiết thực cho trang sử Phật giáo
Việt Nam.
Theo:
Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam