|
|
|
|
Người Cư sĩ và việc Giáo dục
con cái Cư Sĩ Nhuận-Bảo Source: VN.NET Saturday, September 23 2006 @ 06:46 PM PDT |
|
|
Tu, Tề mặc nhiên được cả
cộng đồng ngầm hiểu, ngầm công
nhận như là một đạo lý làm
người căn bản, một bài học
rèn luyện nhân cách và đạo
đức mà kẻ nam giới, cũng là
rường cột của gia đình vã xã
hội trong tương lai, phải vượt qua,
hầu tự lột xác để trở thành
những con người mẫu mực, những
trượng phu đúng nghĩa, những chánh
nhân quân tử tài đức vẹn
toàn, trong có thể yên trị gia
đình, ngoài có thể sẵn sàng
đảm đương công việc chăn
dân, trị nước một khi được
tín nhiệm, trao phó.
Cổ đức dạy : Dục tu kỳ gia
giả, tiên tu kỳ thân. Có nghĩa là,
muốn cho gia đình được nề nếp,
an ổn, trật tự thì phải biết tập
rèn lấy bản thân mình cho thẳng ngay,
trong sáng, chỉnh tề, gương mẫu
trước đã. Những lời giáo huấn
đó tuy mộc mạc, bình dị nhưng
lại rất gần gũi với cuộc sống
thực tế của từng mỗi con người,
trong từng mỗi gia đình, là nền
tảng vững chắc để xây đắp
hạnh phúc thực sự cho tự thân, gia
đình và xã hội, đã khiến
chúng ta hiểu rõ hơn vì sao ông cha
mình xưa nay lại coi trọng đạo lý
tu thân, tề gia đến như thế?
Bỡi vì kết quả mong đợi của
việc điều tâm, sửa thân cũng
chính là sự thành tựu cái vốn
quí căn bản là "thành nhân -
thành người", cũng tức là
để "biết sống sao cho đúng nghĩa
một con người", có ích cho tự
thân, gia đình và xã hội.
Bài học căn bản "biết làm
một con người đúng nghĩa" mà
ông cha ta thường yêu cầu đối
với cháu con mình, gần như là một
điều kiện bắt buộc. Nghĩa là
ngoài năng lực chuyên môn, chuyên
nghiệp mà mình phải có trong một
lãnh vực nào đó để có
thể dùng nó nuôi sống bản thân
và gia đình mình, còn nói rộng
hơn thì có thể góp phần xây
dựng xã hội, thì tài năng ấy
phải luôn luôn song hành cùng với
phẩm hạnh và đạo đức làm
người, thì cái tài ấy mới
khả dĩ đắc dụng cho tự thân, gia
đình và xã hội. Bằng có
tài mà thiếu cái vốn cơ bản
để làm người, nghĩa là không
có đủ nhân cách, phẩm hạnh
và đạo đức, thì đó
thường là người tàn nhẫn,
ích kỷ, hiếu thắng, cao ngạo, việc gì
cũng có thể làm được, dù
biết có hại cho người khác đi
nữa cũng không từ, miễn là thấy
có lợi cho mình. Con cháu có tài
mà thiếu đức, theo quan niệm của
ông cha mình, chẳng những không phải
là niềm vinh hạnh mà còn là
điều sỉ nhục, làm hoen ố thanh danh
ông bà, tổ tiên vậy.
Cho nên, đối với những kẻ
đã biết làm người đúng
nghĩa, thì khi có điều kiện gánh
vác, biết dùng cái vốn
tài-đức căn bản ấy mà nhân
rộng ra để giúp dân giúp
nước, đem lại ấm no hạnh phúc cho
người. Bằng trong đời không có
dịp để thi thố tài năng, thì
cũng là người công dân tốt của
xã hội, là rường cột của gia
đình, biết tuỳ duyên tuỳ phận
mà tri túc tri nhàn, tự tại hiu nhiên,
an bần lạc đạo, biết đường
dạy bảo cháu con, biết sắp đặt
cữa nhà bình ổn, trật tự. Nói
ngược lại, nếu tự thân của người
đàn ông trụ cột trong gia đình
làm điều bất nghĩa, bất nhân,
dối gian, tà vạy, không biết thế
nào là lễ nghĩa, liêm sỉ
(thượng bất chánh) mà lại dạy bảo
vợ con, em cháu trong nhà phải thẳng ngay,
liêm khiết, trinh tiết, hiếu đễ,
thì ai mà nghe theo (hạ tắc loạn) . Cho
nên, một việc dễ là sửa mình
và trị nhà mà còn làm chẳng
được, tự thân thì phóng túng
theo sở dục, gia pháp thì không nghiêm
minh, dưới trên chẳng có kỷ
cương trật tự, cha chẳng ra cha, con chẳng
ra con, vợ chẳng ra vợ, chồng chẳng ra
chồng, thì thử hỏi tài năng và
đạo đức ở đâu mà
người kia có thể đem ra gánh vác
việc ngoài xã hội cho tốt
được.
Nếu thân tâm của mình đen
tối, tà vạy mà không biết tự
chỉnh sửa lại cho thẳng ngay, liêm khiết;
gia đình dưới trên lộn xộn, sanh
điều bất đạo phi pháp mà
không biết dạy dỗ, chỉnh đốn cho an
ổn trật tự được; ấy thế
mà mình lại ra ngoài dạy dân,
trị nước, bắt dân chúng phải
thẳng ngay đúng phép như thế này,
như thế nọ; hóa ra điều ấy
đối với đạo lý chẳng phải
là nghịch lắm ư, đối với
lương tâm mình chẳng phải là
đáng hổ thẹn lắm ư, đối
với miệng đời chẳng phải là
mình làm trò cười cho nhân thế
mỉa mai, biếm nhẽ đó ư?
Bỡi thế cổ nhân mới dạy:
"Dục tu kỳ quốc giả, tiên tề
kỳ gia - Muốn dạy dỗ nhân dân, sủa
trị đất nước cho tốt, thì phải
biết sắp đặt gia đình của
mình cho trật tự, chỉnh tề, an ổn
trước đã" . Cái đạo lý
ấy, cũng là khuôn phép học làm
người để mưu cầu hạnh phúc cho
tự thân, gia đình và xã hội, xem
ra rất bình thường, giản dị, mộc
mạc và cũng có thể nói là
xưa như trái đất. Thế nhưng nó
chưa bao giờ bị coi là vô ích hay
lỗi thời cả. Bỡi vì, giả như
một con người mà không biết thế
nào là lễ, nghĩa, liêm, sỉ, không
biết thế nào là nhân, hiếu, tín,
thành, làm điều tà vạy mà
không biết xấu hổ với người,
không biết thẹn thuồng với lòng khi
chỉ có một mình, thì có thể
nào gọi đó là một con người
đúng nghĩa được và làm sao
người đó có thể cư xử
một cách nồng nàn, êm thấm, thuận
thảo với gia đình, hay có thể tạo
dựng một mối quan hệ tốt đẹp
với xã hội được? Cho
nên, nếu không nhờ cái khuôn phép
học làm người để chỉnh sửa con
người, thì mầm loạn thú tính theo
sở dục trong từng mỗi con người ắc
nẩy sinh, con người sẽ không còn
biết đến điều lễ nghĩa liêm
sỉ, nhân tâm ắc suy đồi điên
đảo, khiến gia đình sẽ không
thể nào nề nếp, kỷ cương, xã
hội sẽ không thể nào trật tự,
ổn định được.
Lại nói thêm một chút để
tránh hiểu lầm mà cho rằng người
viết nệ cổ, hay có tư tưởng
lạc hậu. Khuôn phép học làm
người mà lúc khởi thuỷ cổ
đức đem ra giáo huấn, thì hoàn
toàn sáng trong, bình đẳng, nghĩa
là không ra ngoài cái lẽ "Trung"
của đạo thường. Trung có nghĩa
là không thiên lệch, không ngã về
một phía nào, không tư vị một
riêng ai, mà luôn luôn chan hòa, bình
đẳng, bất biến, tự nhiên như
nhiên. Thế nhưng càng về sau, sự
tiến bộ của loài người đã
làm cho nhân tâm ngày một trí
trá, cơ xảo, tham ác hơn, nên
người ta mới thêm thắc, nhào nặn
vào đấy những tư tưởng vị
kỷ, nhỏ nhen, cực đoan, thiên lệch
để không ngoài mục đích phục
vụ cho quyền lợi riêng tư của các
thế lực cầm quyền phong kiến ngày
trước, khiến cái đạo "Trung"
chơn-chất bị bóp méo, lệch lạc,
mất đi tính trong sáng tự nhiên
của thuở ban đầu.
Chẳng hạn như bên cạnh thuyết
"Chính-Danh" của người xưa, nghĩa
là người nào cũng phải lo làm
tròn chức phận của người nấy,
như làm tôi phải trung, làm vị
quốc trưởng phải nhân, làm con phải
hiếu, làm cha phải từ, vv.....đều
là những lẽ phải, là đạo lý
nên làm cả. Thế nhưng, để bảo
vệ cho lợi quyền phong kiến, người ta
đã cố tình gán ghép, cột
buộc vào đó những ý tưởng
mưu đồ đen tối, những cái nút
thắt áp đặt nghiệt ngã, phản
lại tính nhân bản và đạo
đức làm người, như "Quân
sử thần tử thần bất tử bất trung.
Phụ sử tử vong, tử bất vong bất
hiếu -Vua khiến bề tôi phải chết
mà bề tôi không chịu chết là
tôi bất trung. Cha khiến con phải chết mà
con không chịu chết, là con bất
hiếu" chẳng hạn. Đó chẳng
khác những hạt sạn, những tạp chất
nguy hại lẫn lộn trong nồi cơm ngon vậy.
Cho nên, nếu chúng ta biết dùng cái
tâm trong sáng và không thiên lệch
để suy xét, biện biệt tư tưởng
giáo dục của người xưa, nghĩa
là biết gạn đục khơi trong để
có thể dùng cái triết lý sống
muôn đời ấy một cách đắc
dụng cho tự thân, gia đình và xã
hội, thì có thể nói cái khuôn
phép học làm người là "sửa
thân, trị nhà" tuy xưa cũ thiệt,
nhưng nó chưa bao giờ bị lỗi thời
hay bị coi là vô ích cả. Cũng như
vấn-đề "giáo dục con cái"
chẳng hạn, có thể nói đó
là đề tài xưa như trái
đất, gần như ai ai cũng biết, là
cái món "biết rồi, khổ lắm,
nói mãi", thế nhưng đối với
thực tế cuộc sống của từng mỗi gia đình
có trẻ thơ, có con cháu trong lứa
tuổi mới lớn, thì theo chúng tôi,
sự quan tâm của chúng ta đối với
bầy trẻ sẽ không bao giờ được
gọi là thừa, là lỗi thời hay vô
ích cả.
Theo thói quen dung nạp của cơ thể
và khẩu vị của người Việt-nam,
thì thức ăn chính trong các bữa
"cơm" không thể thiếu cái món
cơm, hay những món ăn được làm
từ chất gạo. Một thùng gạo lúc
mới xay giã thì sạch sẽ, tinh nguyên;
đem nấu lên thành cơm thì thơm tho,
bổ dưỡng, mang lại sức sống cho con
người; thế nhưng nếu để lâu
ngày, chuột bọ côn trùng cũng rất
có thể gây ra những tạp chất nguy
hại cho con người. Cho nên, nếu biết
nhặt bỏ các tạp chất trong thùng
gạo ra thì chúng ta sẽ có
được những bữa cơm ngon lành,
hợp khẩu vị, no nê, bổ dưỡng.
Đạo lý sửa thân, trị nhà
của ông cha ta, từ lâu đã thấm
đượm trong máu thịt, tim óc của
người Việt, đã trở thành một
nhu cầu thiết yếu cho những ai muốn mưu
cầu hạnh phúc thực sự cho tự thân,
gia đình và xã hội, chẳng khác
gì hằng ngày cơ thể chúng ta cần
có được những bữa ăn no nê,
bổ dưỡng và ngon miệng, mà cơm
là thức ăn chính không thể thiếu
hay những món được làm từ
chất gạo. Bữa cơm của người
Việt, dù là dân thường hay tầng
lớp cao sang, mà không có cái món
"cơm" thì quả là một thiếu
sót lớn.
Cho nên, nếu mỗi người trong chúng
ta biết chắt lọc để rút tỉa
những cái hay, cái đẹp, cái tinh ba
nguyên thuỷ từ những bài học làm
người căn bản kia mà dùng để
điều tâm, sửa thân, an trị gia
đình và làm gương cho lớp trẻ
noi theo, thì có thể nói, nó luôn
luôn hữu ích, cũng như không bao giờ
bị coi là lỗi thời.
Trước mắt chúng ta, văn minh khoa
học đã làm cho thế giới tiến
bộ, đổi thay từng ngày, từng giờ
một, khiến nhân loại được hưởng
thụ nhiều tiện nghi vật chất hơn.
Thế nhưng, bên cạnh những lợi ích
mà nó đem lại, không ai trong chúng ta
có thể phủ nhận một sự thật rằng,
cái nền văn minh vật chất kia cũng
chính thiệt là con dao hai lưỡi, là
thủ phạm gây ra những cám dỗ vật
dục bệnh hoạn, làm tha hóa nhân
tâm, băng hoại đạo đức và
cũng làm cho con người dễ rơi vào
khổ đau hơn. Bằng chứng là hằng
ngày trên mặt báo đã có
không biết bao nhiêu người tự dẫn
mình vào vòng tội tù lao lý, gia
đình ly tan đổ nát, chồng một
nơi, vợ một ngả, con cái hút hít,
sa đọa truỵ lạc, sống dở chết
dở, chỉ vì lúc ban sơ người ta
đã quên nghĩ tới hay chưa một
lần nghĩ tới những giá trị đạo
đức cơ bản hay khuôn phép học
làm người, như sửa thân trị
nhà, mà chỉ biết nhắm mắt chạy
theo sự cám dỗ của vật dục.
Đến khi bừng tỉnh thì mọi chuyện
đã trở thành quá khứ muộn
màng, có hối cũng không còn kịp
nữa.
Chẳng phải chỉ có những
người thất học hay nghèo khổ vì
không biết hay vì sự khốn khó về
vật chất nên mới rơi vào hoàn
cảnh như trên, mà ngày nay, không
ít những gia đình dư giả, sung túc
cũng phải bị hệ lụy, khổ đau, tan
nát chỉ vì những người chủ
của gia đình ít để ý tới
sự giáo dục đạo đức làm
người, cũng là không coi trọng việc
tự chỉnh sửa thân mình để
làm gương cho lớp trẻ noi theo, buông
thả việc dạy dỗ, cũng như nuông
chìu con cháu quá đáng.
Vì tiên liệu những điều tệ
hại, bất hạnh, khổ đau có thể
xảy ra cho con cháu, mà ông cha ta lúc
nào cũng coi việc tự chỉnh sửa thân
tâm, trị yên nhà cữa như là
một đạo lý làm người bắt
buộc, dành cho những người chủ gia
đình trong tương lai.
Đối với người Việt-nam hiền
lành, hòa hiếu và ưa chuộng
đạo đức, thì bài học khuôn
mẫu của đạo làm người, mà
cơ bản là sửa thân, trị nhà
có lẽ đã ăn sâu vào tận tim
óc, máu thịt của chúng ta từ
hàng nhiều ngàn năm qua rồi. Cho nên,
dù muốn công nhận hay không, một
cách bất thành văn, vai trò của
người ông, người cha, người huynh
trưởng trải qua bao đời nay, luôn
luôn được các thành viên trong gia
đình tôn trọng, quí kính, coi như
là cây cột cái của ngôi nhà,
là cái đầu tàu, cái bánh
lái của con thuyền, là chất keo của
sự gắn bó, đoàn kết, là chỗ
nương tựa vững chắc nhất của
mọi người, cả về tinh thần lẫn
thể chất. Cũng bỡi lý do ấy mà
trách nhiệm tất yếu của người
chủ gia đình cũng thật nặng nề,
nếu không muốn nói là vô cùng
khó khăn và quan-trọng.
Cương vị của người đàn
ông trụ cột ấy, theo phong hóa và
mỹ tục của người Việt còn chịu
ảnh hưởng một cách âm ỉ của
lễ giáo Á-Đông, thì họ vừa
là người chủ, vừa là người
ông, người chồng, người cha,
người thầy, người huynh trưởng
đáng kính, đáng tin cậy và
hết mực thân thương của cả gia
đình. Vai trò, trách nhiệm và sự
đóng góp công sức cũng như
trí tuệ của người đầu tàu
ấy quyết định sự hưng suy, thành
bại của một gia đình, một gia tộc,
hay tương lai của cả giòng họ trong
nhiều thế hệ.
Một gia đình có được
cuộc sống ấm no, an ổn và chan hoà
hạnh phúc hay không, tuỳ thuộc rất
nhiều vào thái độ tích cực hay
thờ ơ, chễnh-mãng trong việc góp
phần dựng xây và vun đắp cho gia
đình mà người đầu tàu
đã thể hiện ở cả hai mặt vật
chất lẫn tinh thần. Ở đây chúng
tôi không đề cập tới hai chữ
"vinh-hoa, phú quí" hay một cuộc
sống sung-túc dư thừa về vật chất,
mà chỉ nhấn mạnh đến sự chan
hoà, đầm ấm, an lạc, một tinh thần
"hạnh phúc" đúng nghĩa của
nó, vì đó mới chính thiệt
là cái đích mà những người
tu Phật tại gia như chúng ta đang theo
đuổi. Hơn nữa, người xưa có
câu "Hoà khí tất sanh tài". Nghĩa
là ở đâu có cái không khí
gắn bó, chan hòa, thân ái, đầm
ấm, hạnh phúc, trật tự thì ở
đó dễ có tài lộc nẩy sinh,
kiết tường tụ hội. Cho nên một gia
đình vốn sẵn kỷ cương nề
nếp, có tôn ti trật tự, lễ nghĩa
hiếu thảo, trên thuận dưới hòa,
biết giao tế thân thiện, biết tương
thân tương ái, ai ai cũng biết lo
làm tròn phận sự của riêng mình,
biết tiết kiệm thành quả lao động
của mình và của cả gia đình
mình, thì gia đình ấy lo gì trong
đời không có lúc được
hưởng những tiện nghi vật chất hơn
người mà không hề mất đi ý
nghĩa hạnh phúc thật sự mà cuộc
đời đã đem lại.
Nghĩa là cuộc sống của những
người vừa nói, hoàn toàn khác
với sự vinh hoa, phú quí của những
người suốt đời chỉ biết lo tạo
dựng cho mình và gia đình mình
một sự giàu có, sung túc bằng
vật chất để thoã mãn tư dục
mà không biết nghĩ tới hay quên nghĩ
tới những giá trị tinh thần khác,
cũng là nhân tố tất yếu quyết
định sự hạnh phúc một cách
đúng nghĩa, ngay trong cuộc sống này.
Từng mỗi con người trong gia đình
là nhân tố tất yếu để hình
thành nên một quốc gia và chính
cái nhân tố này, tức con người
chứ không là gì khác, quyết định
sự hưng thịnh hay suy tàn của đất
nước, của dân tộc. Cho nên, nếu
mỗi cá nhân trong từng mỗi gia
đình, ai ai cũng đều được
thừa hưởng một nền giáo dục
truyền thống cơ bản tốt đẹp,
được rèn luyện đạo đức
và tính nhân bản từ thuở nhỏ,
lại biết thường xuyên phát huy nếp
sống lành mạnh cả về thể chất
lẫn tinh thần, biết yêu gia đình,
yêu tổ quốc, yêu đồng bào,
biết sống thân thiện, chan hòa, bình
đẳng cùng đồng loại, thì dân
tộc ấy ắc phải có được
một cuộc sống tràn trề hạnh phúc,
quốc gia ấy ắc phải được an
hưởng thái-bình, phú cường,
hưng thịnh. Đó là lẽ tất
nhiên, khó ai có thể phủ nhận.
Thế thì, một người là thân
cận nam của nhà Phật, tức một cư
sĩ "tu Phật tại gia", có nghĩa
là tuy thân người ấy còn ở
nhà, còn là thành viên của gia
đình nhưng tâm đã xuất gia theo
Phật, có vai trò như thế nào
đối với chính gia đình mà
mình đang sinh sống và tu hành, đặc
biệt là có nghĩa vụ và trách
nhiệm ra sao đối với những đứa con
của mình còn đang trong lứa tuổi
cần phải được dạy dỗ cho nên
người? II. Tại sao vấn đề này
lại được nêu ra với các bạn
đạo của chúng tả
Số là trong chỗ tai nghe mắt thấy
mà thường ngày chúng tôi ghi nhận
được từ các bạn hữu thân
thiết và gia đình của họ, thì
có không ít những người tu Phật
tại gia, do chưa thấu suốt cái lẽ
tất nhiên "đời đạo tương
ưng, đạo đời bất khả chia
lìa", cũng là chân lý bất
biến"không thể lìa đời mà
có thể đạt đạo", cũng là
"không thể lìa bỏ, trốn chạy, hay
quay lưng lại với các pháp tướng
sanh diệt (diệu dụng của tánh) mà mong
có thể ngộ tánh (chơn thể vô sanh)
được", nên không ít người
đã bị lầm lạc, tự dẫn mình
đi vào ngõ cụt không lối thoát
ngay trong cuộc sống này. Có những bạn
đạo quen biết, đang theo đuổi tông
Thiền, thường bộc bạch một cách
chân thành rằng, nay tuổi đời
đã lớn (thường từ trên bốn
mươi trở lên) chán ngán hồng
trần, muốn gát bỏ mọi việc để
dành hết thời gian tu học một cách
khẩn trương và triệt để, hầu
sớm được giải thoát. Lòng
nhiệt tình, hăm hở đến với
đạo pháp trong buổi đầu sơ
phát tâm đã khiến cho họ quên
mất thực tại, quên mất chân lý
giải thoát của Thế tôn là
"Phật pháp bất ly thế gian", quên
mất cái đạo lý hiển nhiên trước
mắt là chưa làm tròn một con
người đúng nghĩa thì làm sao
có thể làmThánh, làm Phật
được, cũng như quên mất đằng
sau lưng mình còn có cả một gia đình
mà mình phải có bổn phận chung
cùng gánh vác để đem lại
hạnh phúc cho mọi người, cũng là
nghĩa vụ và đạo lý làm
người muôn thuở.
Vì không sáng tỏ lý giải
thoát vi diệu của Phật đạo, là
không lìa thế gian mà vẫn hiện
tiền giải thoát, cho nên, dù chung sống
với những người thân yêu, ruột
thịt dưới cùng một mái nhà,
nhưng họ đã không ngần ngại
cắt đứt tất cả những mối
tương quan, tương tác với gia
đình, tự coi như người độc
lập, để mặc vợ con làm gì
thì làm miễn là không ai đụng
chạm tới mình, miễn là mình
được tự do làm theo sở ý
để lo cho cái phần hồn của mình
trước đã.
Phần đông những người như
thế, thường trao gánh nặng gia đình
lại cho vợ, hay những đứa con lớn,
còn mình thì tự đi tìm sự an
ổn cho riêng bản thân mình. Họ thờ
ơ với tất cả mọi người, bình
thản với bất cứ chuyện gì xảy ra
trong gia đình, dù là tốt hay xấu.
Họ chẳng quan tâm tới việc dạy dỗ
con cái, để mặc chúng muốn làm
gì thì làm, xem như cây mọc
ngoài thiên nhiên, ngay cũng tốt mà cong
cũng chẳng sao, nên cũng phải mà hư
hỏng cũng xong. Nói chung, họ tự coi
mình như người ngoài cuộc, không
chỗ dính dấp với gia đình. Trăm
công ngàn việc trong ngoài, phó thác
hết cho vợ con, tự coi mình như cái
bóng, thẫn thờ đi tìm lý thiền,
lý đạo bên ngoài cuộc sống
hiện tại.
Ngoài việc ngày đêm chúi
đầu vào sách vở, kinh điển
để tầm chương trích cú như con
mọt sách, học thuộc lòng một số
thiền ngữ như vẹt học nói tiếng
người, khiến bộ dạng bơ phờ,
đờ đẫng như người không
còn hồn vía, thì họ chẳng còn
biết làm một việc gì khác
để có thể gánh vác, giúp
đỡ người thân, hay dạy dỗ con
cái, làm chút lợi ích cho đời,
trừ mỗi ngày ba bữa cơm cháo không
thiếu không thừa.
Có
ai động tới thì liền moi kinh này
điển nọ ra đối đáp với
một giọng điệu y hệt các thiền
ngữ của những bậc đắc pháp
của tông Thiền, như là "cần
phải biết sống với cái tâm bình
thường, nghĩa là đói thì ăn,
khát thì uống, mệt thì đi nằm,
đó là sống đạo vậy".
Hoặc "phải biết nhàn cư, vô
sự, vô tâm, bằng cách không làm
thiện cũng chẳng làm ác, là
vượt trên đối đãi nhơn quả
nhị nguyên để giải thoát khỏi
sự trói buộc của nhị nguyên nhơn
quả".
Đây là một sự hiểu lầm
nghiêm trọng đối với Giáo-lý
giải thoát của đức Phật, một
sự xuyên tạc (mặc dù vô tình
vì thiếu hiểu biết) đối với
tông Thiền, một sự bắt chước
sáo rỗng, ngô nghê, ngớ ngẩn như
vẹt học nói, nói mà không biết
ai nói, khiến chúng ta phải cười ra nước
mắt!
Đứng về cả hai mặt Đạo và
Đời mà xét, thì, do chưa phải
là người đã thực sự ly gia
cát ái trọn vẹn trăm phần, nên
trong chỗ thật tế trước mắt,
người cư-sĩ (tu Phật tại gia)
đương nhiên vẫn còn là một
thành viên gắn bó và chịu ảnh hưởng
trực tiếp đối với gia đình mà
mình đang sinh sống. Dù tâm đã
xuất gia theo Phật, nhưng bản thân
người ấy mặc nhiên vẫn còn
là người chủ, người thầy, người
ông, người cha, người huynh trưởng,
là người trực tiếp quyết định
sự thành bại, an nguy, vui sướng hay khổ
đau cho cả gia đình mình ở
tương lai, phía trước. Đặc biệt
là đối với sự giáo dục, uốn
nắn con cái để chúng thành
người hữu ích cho gia đình và
xã hội mai sau, thì đó là bổn
phận và trách nhiệm to lớn mà
người Phật-tử tại gia phải làm
tròn.
Đề cập tới vai trò của một
người tu Phật tại gia đối với
chính gia-đình mà mình đang sinh
hoạt và chịu ảnh hưởng, thì
đó là một vấn đề hết
sức rộng lớn và khó lòng có
thể bộc bạch hết trong vài ba quyển
sách, huống là trong khuôn khổ hạn
hẹp của một bài viết ngắn. Cho
nên, ở đây chúng tôi chỉ xin đề
cập tới một phần nhỏ của một
chủ đề lớn, ấy là bàn về
trách nhiệm của người cư sĩ
đôùi với việc dạy dỗ con cái
trong gia đình. Hơn thế nữa, nếu vấn
đề nhỏ này được khai thông
sáng tỏ, thì những mắc mứu còn lại
trong cuộc sống trước mắt, một bên
là gia đình và một bên là
đạo pháp, tức mối tương quan
giữa đạo và đời, ắc cũng
sẽ được người cư sĩ
"ngộ ra" mà giải quyết một
cách minh bạch, hầu tự mở cho mình
một hướng đi đúng pháp, vừa
tốt đời vừa đẹp đạo, trọn
vẹn cả đôi đường.
III. Chân lý giải thoát của Phật
đạo, thể hiện rõ nét và cũng
rất dễ nhận ra, đặc biệt là ở
tông Thiền, cũng là Chánh-pháp
Nhãn-tạng của Như-lai, là không
phải giải thoát ở đâu xa, không
phải đợi đến sau khi chết rồi
mới giải thoát, mà giải thoát ngay
trong cuộc sống này, giữa cuộc đời này,
tự thân chứng nghiệm hiện tiền giải
thoát, cũng là thực tế giải thoát
khỏi sự trói buộc của cái tâm
chấp ngã, chấp pháp vậy. Nghĩa là
sao? Nghĩa là tự vượt thoát khỏi
bản ngã, vượt thoát khỏi các
khái niệm sanh diệt xung đối ràng
buộc, trói cột trong tâm như giàu
nghèo, phải trái, hơn thua, lành dữ,
thánh phàm, được mất, có
không, cao thấp, sang hèn, sướng khổ . .
. do phân biệt vì chấp ngã.
"Chấp" cũng có nghĩa là tự
trói buộc vào các pháp tướng
hư vọng, huyễn hóa, sanh diệt kia để
cùng chúng đi vào nhơn quả sanh
diệt. Bằng vô chấp thì cũng có
nghĩa là tự tâm rổng rang không
trói buộc với bất cứ một pháp
tướng nào, kể cả cái pháp
tướng vi tế mà mình "vô
chấp" kia, thì ngay đó ắc hốt
nhiên nhận ra thể tánh chơn thật
của bổn tâm, cũng là tánh biết
sáng suốt tuyệt đối hiển lộ,
không lầm nhơn quả, cũng là biết
như thật vạn pháp tự "như"
trước mắt, không chi dính dấp, là
vô ngã tự tại, là hiện tiền
giải thoát vậy.
Đạo Phật là đạo của sự
thật, là chân lý hiển hiện tự
nhiên như nhiên rõ ràng trước
mắt, nghĩa là vạn sự vạn vật
xảy sanh trong từng mỗi sát-na, trong từng
mỗi hoạt dụng, từ thô đến tế
không chi không phải từ đạo mầu
diệu xuất. Người tu Phật chân chính
có thể tự chứng ngộ Phật tâm
không sanh không diệt trước mắt, không
lầm nhơn quả trước mắt, vô ngã
tự tại trước mắt. Đặc biệt
đối với những người phước
đức cao dày, căn trí linh lợi, tu
học theo tông Thiền, có bậc thầy
đắc pháp trực tiếp dẫn dắt
thì hoàn toàn có thể thật chứng
Phật tâm ngay trong đời này. Trở
lại với người cư sĩ trên kiạ
Chỉ vì sự thiếu hiểu biết ban
đầu đối với chân-lý giải
thoát của đức Phật, đã kéo
theo hàng loạt những sai lầm khác trong
ý tưởng và hình thức tu tập,
khiến người cư sĩ trên kia tự
dẫn mình đi vào ngõ hẹp không
lối thoát, lại phải mang tiếng là
yếm thế, tiêu cực, tư kỷ, trốn
đời. Bỡi vì suy nghĩ và hình
thức tu tập như vừa nêu, chẳng phải
là hành động của một Phật tử
tại gia sáng suốt mà là sự ngớ
ngẩn, thiểu trí, nông nổi nhứt
thời, do chấp ngã, chấp pháp vì
thiếu hiểu biết, không được dẫn
dắt trực tiếp bỡi các bậc thiện
tri thức.
Có một số không ít các
bạn đạo ham thích và theo đuổi
Tông Thiền, nhưng do căn trí kém linh
lợi, cũng như không có được
các bậc thiện tri-thức tức những
vị thầy đắc pháp của tông môn
này trực tiếp hướng dẫn, nên thay vì
biết trên lời, vựơt ý mà
hiểu để tự thể nhập Trung-đạo,
thì họ lại dùng tri thức sanh diệt
để biện biệt, lý giải ngôn
ngữ và hành động siêu vượt
phàm tình của các Thiền-sư trong
sách vở, khiến họ càng xa lìa
tánh thấy biết, cũng là tự trói
buộc chặt hơn vào mớ tri thức của
vọng nghiệp sanh tử.
Do vậy mà không ít người
đã không ngần ngại mượn lời
người khác để lý luận hoặc
chống chế khi bạn bè hoặc những
người thân phàn nàn họ về
việc không chịu giúp đỡ gia
đình hay dạy dỗ con cái. Họ nói: - "Chư Tổ dạy không
làm thiện cũng không làm ác, vì
thiện ác đều là lẽ tương
đối, là hai đầu trói buộc của
nhơn quả sanh diệt. Tôi là người tu
Thiền, nên trước mắt mọi việc
cứ như như, không chỗ nào dính
dấp tới". - Có thiệt là thân tâm
bạn đã thật sự tự "như
như" đối với các pháp xảy sanh
trước mắt chưa? Tuy hỏi như thế
nhưng cũng vẫn trả lời giùm bạn: -"Ngàn lần chưa
"như" được ! Chẳng "như"
được một chút nào cả".
Bỡi cớ sao? - Chỉ bỡi một sự
thật mà thôi. Nghĩa là ngôn ngữ
mà bạn vừa dùng ở trên, chẳng phải
như là thứ ngôn ngữ vượt
cách, được áp dụng cho từng
mỗi tình huống mà các bậc không
tâm, đắc pháp của tông Thiền
đã dùng để khai thị cho người,
mà là thứ ngôn ngữ của khái
niệm được vay mượn để giải
thích sự việc nhơn quả, nghĩa là
cũng chẳng qua lấy tướng trói buộc
này để giải thích tứơng trói
buộc kia mà thôi. Lời đáp ấy
chẳng dính dấp, họ hàng gì với
ngôn ngữ của những bậc đã
thành tựu cái tâm "như" không
dính dấp trói buộc với vạn pháp,
nghĩa là đã sáng tỏ tánh
"biết" tuyệt đối, không lầm
nhơn quả.
Cho nên, bạn nói trước mắt
vạn pháp cứ như như không chỗ
dính dấp tới bạn, ấy là bạn
chỉ tưởng tượng ra như thế mà
thôi. Bỡi cớ sao? Bỡi vì một khi
đã tự "như" đối với
tất thảy pháp, thì dẫu nói sao
cũng đều là ngôn ngữ trung đạo,
từ cảnh giới chơn như thật chứng
tuông chảy, siêu vượt phàm tình,
không chỗ can hệ vướng mắc, chứ
chẳng phải như bạn đã dùng
khái niệm nhơn quả để cột buộc
với khái niệm nhơn quả đó.
Vì thế có thể khẳng định,
chỗ mà bạn cho là mọi việc
trước mắt cứ "như như" không
dính dấp tới thân tâm bạn, thật ra
đó chỉ là việc mượn vải
thưa để che mắt thánh, chẳng khác
tự bưng mắt mình để không
nhìn thấy người, rồi cứ tưởng
người cũng không nhìn thấy mình.
Điều ấy có nghĩa là bạn
đã cố tình che dấu cái tâm
sống động có ý thức của
mình để nó trở thành như vô
thức, như ngủ quên, như vô ký,
tức cố tình giả bộ như không
thấy, không nghe, không hay, không biết
bất cứ một việc gì xảy ra chung quanh
mình, cũng là cách tự dối mình,
đánh lừa người, mang ý nghĩa
trốn đời, tư kỷ, lười nhác,
giũ bỏ trách nhiệm. Nói chính
xác hơn, bạn đã cố tình muốn
quên đi tất cả mọi việc xảy sanh
trong tâm cũng như trước mắt mình,
hầu có thể lẫn tránh những gì
có liên quan, mắc mứu tới mình
mà thôi.
Thế nhưng sự cố tình vận
dụng cái tâm ý thức để quên,
để như là không thấy, nghe, hay,
biết thì sự cố tình ấy lại
là sợi giây trói buộc chính
mình, vì càng dụng tâm để
quên đi thì cũng có nghĩa là
cái tâm ý thức vẫn luôn luôn
nhớ, tức nhớ những gì đã bắt
cái tâm phải quên, và cũng chính
mình chứ không ai khác vào đây,
tự trói buộc tâm ý của mình
vào chỗ "cố mong quên ấy", chỉ
vì một lẽ chấp ngã mà thôi.
Chỗ mà bạn cố tình đè nén,
bắt cái tâm có ý thức để
thành như vô thức, để như không
thấy, nghe, hay, biết kia hoàn toàn chẳng
giống cái tâm "như" thường nghe,
vô phân biệt mà tự nó vẫn
biệt biệt rõ ràng, chơn thường,
sáng suốt, vô ngã, vô biên, vô
hạn lượng, không lầm nhơn quả,
nhơn quả chẳng thể trói buộc, là
tâm "như" của những bậc đã
sáng tỏ tánh Phật chúng sanh.
Tóm lại, hoặc là vì chính bạn
"không tự biết như thật" thế
nào là một tâm "như" do chưa
thật chứng bổn tâm, nên mới ngộ
nhận tâm "như"; hoặc là cố
tình bắt cái tâm có ý thức
phải quên để trở thành như vô
ký, hoặc chính bạn phải miễn
cưỡng lẩn tránh tất thảy những
gì mà bạn không muốn bắt gặp
trong tâm ý thức đó, để phủ
nhận trách nhiệm ngoài thân; hoặc
là cố tình tự lừa mình và dối
người khi cho rằng tâm mình đã
tự như như, cũng tức là đã
sáng tánh "biết" tuyệt đối,
đã không lầm nhơn quả, đã
tự tại đến đi; thế nhưng qua
việc làm không khế hợp với lý
giải thoát "Phật pháp bất ly thế
gian" cũng như ngôn ngữ trói buộc
trong khái niệm nhơn quả mà bạn
đã thể hiện, thì có thể
nói, sự tu hành của tự thân bạn
cũng chưa là gì cả, tâm bạn
cũng chưa "như" được một
chút nào cả.
Tâm bạn có tự "như như",
tức không vướng mắc trói buộc
với các pháp xảy sanh trước mắt
hay không, tự nó thể hiện lên
thân, khẩu, ý một cách rõ nét,
dù mình có muốn dấu che cũng
chẳng thể được nào. Nghĩa là,
chỉ cần một câu nói, một hành
động bất chợt, thì mọi việc
phô bày cách rõ ràng: hoặc là
nó thể hiện sự trói buộc với
các khái niệm nhị nguyên nhơn quả
do vọng tâm phân biệt vì chấp ngã
như câu nói của bạn ở trên;
hoặc là đã tự vượt thoát
bản ngã, là "đang-là" trong
nhứt niệm, đương niệm, cũng là
nói, là làm trong tánh "biết"
sáng suốt tuyệt đối, thông lưu
vô ngại, siêu vượt khái niệm
nhơn quả phàm tình.
Sẽ chỉ tự "như" một cách
chân thật đối với vạn pháp
trước mắt, khi nào tự tâm bạn
bùng vỡ, cũng là chợt bừng sáng
tánh thấy biết bổn lai, cũng là
bổn thể chơn thường, cũng là
Phật tánh hiển lộ. Cũng tức ngay
đó, tự thấy biết chơn thật,
không lầm nhơn quả, nghĩa là vạn
pháp biến hiện, mất còn trước
mắt mà không chổ dính dấp tới
tánh thấy biết tuyệt đối, sáng
suốt, chơn thường, không một vật
mà tạm gọi ngay ấy, trong ấy, hiện
ấy, tại ấy bạn tự
"đang-là", là một, tuyệt
đối, bất khả thuyết, bất khả tư
nghì.
Chợt sáng tánh biết thì liền
đó "biết" như thật, bản
thể sáng trong, thường hằng, linh diệu,
tuyệt vô đối đãi, là bổn lai
diện mục cùng cái tướng động
tay, múa chân, nghiêng đầu, hả
miệng, trợn mắt, chau mày của bạn,
luôn tự viên dung, thông lưu, xuyên
suốt, chẳng phải hai cũng không phải
khác, như lửa đã sẵn có tự
trong củi, như sóng đã tự sẵn trong
nước vậy; lửa trong củi, sóng trong
nước thiệt chẳng phải một, chẳng
phải hai cũng không phải khác, nếu
không tự vọng niệm phân biệt. Có
nghĩa là tánh biết "biết" như
thật, cũng là thật chứng bổn tâm,
thể tánh chơn thường và tướng
này dung thông, chẳng ngại nhau, chẳng
phải hai cũng không phải khác, cũng
tức là bổn thể chơn như phi sanh
diệt và diệu dụng của chính nó
tự một, thông lưu, xuyên suốt, bao
trùm, vô ngại, nhờ "tánh" linh
diệu của bổn thể mà được
như thế. Khi ấy không có gì là
có "hai bên, hai phía" tức lưỡng
nguyên đối đãi có thể hiện
hữu trong bạn nữa, bỡi ngay đó bạn
tự một, đồng một, cũng chính
là một pháp duy nhất, độc diệu,
sáng suốt, vô hạn lượng, bất
khả thuyết, bất khả tư nghì. Một
khi sáng tỏ tánh thấy biết, thì
(tánh thấy biết, cũng là chơn tâm,
chơn ngã) liền tự "như" đối
với tất thảy pháp, không gì dính
dấp tới dẫu trời có sập trên
mình bạn, vì ngay đó tánh biết
"biết" như thật thảy thảy vạn
pháp đều là hoa đóm trong không.
Ngay đó, bạn (cùng tánh biết dung
thông, là một, tuyệt đối) tự rõ
như thật, không còn cần phải bỏ
thân, trốn đời, hay cố tình cắt
đứt cuộc đời cũng là tự
cắt đứt chính bạn ra làm trăm,
ngàn mảnh như bây giờ, cũng tức
là bạn không cần phải tự làm ma
thuật để dối lừa chính bạn
nữa. Bỡi vì mọi hoạt dụng xảy sanh
trước mắt bạn, đều là
đạo, từ đạo xuất sanh chứ không
là gì khác, kể cả cái thân
tướng sanh diệt, huyễn vọng mà một
sát na trước tự chấp là "ta",
cũng chỉ là dụng của tánh biết
tuyệt đối, như trăng trong nước,
như cái bóng trong gương mà thôi.
Đến khi đó bạn tự biết
như thật, chỉ có từ thế gian, trong
thế gian, từ nhơn quả sanh diệt, trong nhơn
quả sanh diệt, từ các pháp huyễn
vọng, trong các pháp huyễn vọng, từ
trong vọng thức vô minh, nhờ vọng thức
vô minh....từ chính các hoạt dụng
xảy sanh trước mắt mà chúng sanh
mới có thể tự ngộ tánh thấy
biết sáng suốt tuyệt đối, cũng
là mặt mũi chơn thật vốn tự
sẵn có, thường hằng, phi sanh diệt,
cũng là tánh Phật chúng sanh mà
thôi.
Đến khi đó thì bạn tự
ồ lên kinh ngạc vì vỡ lẽ: thì ra
tánh thật vô minh là Phật tánh,
thật tánh sanh tử chẳng ngoài Niết-bàn
tịch tịnh vô sanh.
Bằng ngược lại, nếu không từ
trong nhơn quả vô minh, không từ chính
trong cuộc đời này, không từ chính
trong thân tâm hư vọng này, không
từ chính trong mọi hoạt dụng hằng
ngày, không từ chính trong từng cá
thể sanh diệt và các pháp tướng
sanh diệt tương quan tương tác ngay
giữa thế gian này mà có thể
khám phá và ngộ nhập lý mầu
của Phật đạo để giải thoát
vô minh sanh tử là điều chưa từng
có, chưa từng xảy ra vậy. Muốn tìm
đạo, muốn thể nhập đạo, muốn
"một" với đạo mà tự quay
lưng, trốn tránh, rời lìa các
hoạt dụng nhiệm mầu trước mắt
mà lúc nào đạo cũng tự sẵn
dung chứa, thông lưu, thì biết chừng
nào mới thành tựu được sở
nguyện. Thí như muốn có lửa
để sưởi ấm mà không dùng củi
để tự nhen nhúm, thì làm sao ấm
được?. Bỡi muôn
pháp hư vọng trước mắt, mà trong
đó có chính cái thân tâm
này, được tạm gọi là
"Ta", tức cũng là một pháp hư
vọng, đều từ một pháp chơn
thường duy nhất mà ra, tức bổn thể
chơn như, thường hằng, tự tại,
bất biến, mà thường tuỳ duyên
khéo sanh các pháp. Nếu lìa cái
dụng "rất diệu" của thể tánh
chơn thường mà có thể khám
phá bổn thể linh diệu chơn thường,
thì chỉ đợi khi nào thỏ có
sừng, rùa mọc lông thì họa chăng
mới thành sự thật.
Không thể lìa thế gian mà có
thể chứng ngộ Phật đạo, không
thể lìa cảnh giới sanh tử mà có
thể sáng lẽ Bồ-đề giải
thoát, chứng nhập cảnh giới
Niết-bàn, tịch tĩnh, vô sanh. Đó
là lẽ thật trăm phần, là chân
lý bất biến. Thí như muốn thấy
biết cái mặt thật của mình tròn
méo ra sao mà không cần nhờ tới
cái ảnh ảo của mình trong gương
thì khó mà biết được. Cũng
có nghĩa là không biết nương
cái ảnh ảo trong gương thì khó
bề nhận ra cái mặt thật của mình.
"Phật pháp bất ly thế gian",
đó là chân lý bất biến, một
sự thật hiển nhiên, tất yếu, là
lẽ tự nhiên như nhiên, như một
cộng với một là hai vậy.
Nghĩa là sao ? Nghĩa là từng mỗi
chúng sanh biết tuỳ duyên nhờ vào
một trong hằng vạn pháp phương tiện
thiện xảo mà đức Phật đã
chỉ bày để đem áp dụng trực
tiếp vào chính cái thân này,
cái tâm này, cái cảnh này, cái
tri thức huyễn vọng này, cái cuộc
sống hiện tại trước mắt này,
để có thể ngộ ra mặt mũi chơn
thật vốn tự sẵn có xưa nay chưa
từng hư mất của mình. Bổn thể
uyên nguyên, tạm mượn từ ngữ
gọi là một pháp duy nhất, tự tại,
chơn thường, bất biến mà vẫn
thường tuỳ duyên khéo sanh muôn
pháp, mà thân tâm này cũng là
một pháp trong muôn vạn pháp xuất sanh
từ một pháp duy nhất đó, hễ
chợt ngộ ra thì cũng liền tự biết
như thật, mình cũng là một pháp
duy nhất bất biến, chơn thường, mà
nói không thể tới.
Vẫn
biết rằng cái con người đi
đứng, nằm, ngồi cùng vật, cảnh lay
động trong gương là ảo ảnh. Thế
nhưng, muốn tìm ra cái con người
thật trong gương, thì chỉ một phép
là phải biết nhìn dội ngược,
chiếu theo bóng hình, ảo ảnh kia mà
tìm thì mới mong khám phá ra
người thật được.
Tạm lấy một thí dụ. Như từng
mỗi bóng trăng trên sóng nước,
một khi ngộ ra lẽ thật, liền biết
như thật chính nó là một huyễn
pháp sanh diệt, tự nó không có
thật thể. Nó biết như thật, sở
dĩ có muôn vàn bóng trăng như
nó và cùng nó tương quan,
tương tác, biến hiện, mất còn
trên sóng nước, chỉ là do ánh
sáng của mặt trăng thật chiếu soi
trên nước mà thành, tức biết
như thật cái tướng trăng huyễn
giả của nó trên nước là do
thể sáng của mặt trăng tuỳ duyên
chiếu soi mà hiện ảnh; tánh sáng
của ảnh hiện đồng một cùng
tánh sáng của ánh trăng luôn bất
động, tự tại, như như, bình
đẳng, thường hằng. Ngay đó tự
khám phá, chính nó (ảnh hiện)
là một huyễn tướng, huyễn sanh
huyễn diệt, một pháp tướng hữu
hạn sanh diệt trên sóng nước, mà cũng
là một vô hạn lượng, thường
hằng, sáng trong, phi sanh diệt, đồng
một, là một, và cũng chính là
tánh sáng của mặt trăng thật vậy.
Nghĩa là, nếu không trăng thật
tuỳ duyên chiếu soi trên sóng nước,
thì cũng sẽ không có những bóng
trăng huyễn và các tương tác sanh
diệt như nó được. Ngược
lại, từng mỗi mỗi bóng trăng đang
thoắt ẩn, thoắt hiện trên sóng
nước cùng thâu nhiếp vào một
mặt trăng thật, tự chúng đồng
một, là một với mặt trăng thật.
Đang trói buộc trong cảnh giới nhơn
quả sanh diệt vì lầm biết do chấp
có thật ngã thật pháp, hốt nhiên
bừng sáng tánh biết bổn lai, tánh
biết tuyệt đối, thì liền vượt
qua bờ kia, không lầm nhơn quả, nhơn
quả chẳng thể trói buộc, là tự
tại giải thoát.
Chúng sanh trong cảnh giới nhơn quả
cũng như thế, chỉ có thể ngộ ra
thật tánh, thật tướng của mình
bỡi chính từ cái thân tâm huyễn
vọng, nay còn mai mất mà mình đang
đeo mang, trong cảnh giới nhơn quả này
mà thôi. Bằng lìa cái thân tâm
này, quay lưng nhắm mắt lại với cái
cảnh giới hư huyễn này, trốn chạy
các pháp tương quan, tương tác ngay
trong cuộc sống này mà có thể
giác ngộ tánh biết chơn thật,
tánh biết không lầm nhơn quả hầu
vượt thoát nhơn quả, có khác
nào cái bóng trăng trên nước
tự rời lìa chính cái bóng sáng
hình trăng của nó trên nước
thì lấy cái gì để mà nó
có thể ngộ ra thể tánh chơn thật
của chính nó, cũng là mặt trăng
đang tỏa sáng và lặng lẽ chiếu soi
kia?
Với bạn cũng vậy, một khi tánh
thấy biết chơn thật hiển lộ, thì
liền biết như thật, mọi hoạt dụng
xảy sanh trước mắt, tất thảy
đều tương ưng, tương hợp với
đạo pháp, trong tình thương bao la,
bình đẳng của tánh Phật. Nghĩa
là bạn làm tất thảy việc để
giúp đỡ mọi người sao cho đều
được trở nên toàn hảo, mà
trong đó có những thành viên của
gia đình bạn, bằng với một tâm như,
nghĩa là tự nhiên như nhiên, làm
mà không thấy làm, vì biết như
thật, đó chỉ là cái tướng
huyễn từ diệu tánh đang trổ thần
thông để tuỳ duyên hành
Bồ-tát đạo, làm tất thảy
việc với cái tâm "vô" bình
đẳng, vô phân biệt .
Đến lúc đó bạn mới biết
một cách như thật, thế nào là
ý nghĩa câu nói của chư Tổ,
"đói ăn, khát uống, mệt đi
ngủ", hay "không làm thiện không
làm ác", tức là làm bằng
cái tâm "không, vô tướng, vô
tác" tự nhiên như nhiên, bình
đẳng của đạo mầu, chứ chẳng
phải bằng sự hiểu biết ngô nghê,
ngớ ngẩn vì vô minh trói buộc.
IV. Còn bây giờ, đối với
biển pháp mênh mông không ngằn mé
ở phía trước, bạn chỉ là
người sơ cơ cầu Phật. Cũng có
nghĩa, trong khi chờ đợi một cơ duyên
hy hữu xảy đến với bạn ở
tương lai, cũng là thành tựu đại
công đức "khám phá tánh thấy
biết chơn thật để không lầm nhơn
quả", vượt thoát nhơn quả, tự
do tự tại, thì song song với việc tham
thiền tu học, bạn hãy nên biết áp
dụng một cách thực tiễn giáo lý
giải thoát của đức Phật vào ngay
trong cuộc sống này để tự làm
một phật tử tại gia đúng nghĩa
trước đã.
Nghĩa là trước hết bạn phải
biết y theo những lời dạy của đức
Phật mà tu hành một cách chân
chính: không một việc thiện nào
mà không làm, cũng như không một
việc bất thiện nào mà làm, mà
nghĩ tới. Có làm được như
thế, cũng tức là để trước
hết vun trồng căn lành, phước nghiệp
cho mình, đến lúc đầy đủ
công đức, tròn duyên tròn
phước, thời cơ chín mùi, thì
tự khắc có chỗ khai mở, tự khắc
thật chứng bổn thể vô sanh. Vả lại
bạn là người đang theo đuổi tông
Thiền. Mà với tông Thiền cũng là
chánh pháp Nhãn-tạng của Như-lai,
thì, đạo mầu phô bày trong từng
mỗi hoạt dụng hằng ngày, dù nhỏ
nhặt nhất, không lìa thế gian, chưa
từng che dấu và bí quyết của sự
chứng ngộ là ở ngay trước mắt.
Đối với tông môn này,
đạo chưa từng lìa mình một
giây một khắc nào, nó thực tế
đến nỗi đi đứng nằm ngồi
uống ăn ngủ nghỉ đều là
đạo, từ đạo, trong đạo, cho
đến việc một ngày không làm
là một ngày không ăn, cũng là
đạo lý đó bạn ạ. Nếu
không phải thế thì Thiền Tổ
Bá-Trượng đã không buộc phải
chép cái điều lệ bất hủ
"nhứt nhựt bất tác, nhứt nhựt
bất trác" này vào Thanh-qui của
mình đâu !
Một Phật tử tại gia đúng
nghĩa, thông sáng lý đạo, thì
hiểu rằng không thể lìa thế gian
mà có thể chứng ngộ tâm giải
thoát. Lại nữa, do chưa phải là
người thực sự ly gia, cát ái trăm
phần, nên người cư sĩ ắc phải
biết y theo những lời dạy của đức
Phật mà hành trì, nghĩa là tu
và hành không ra ngoài tam-qui, ngũ
giới, cũng như không quên ba đức
lớn Bi-Trí-Dũng mà người Phật
tử phải biết luôn luôn phát huy,
củng cố và giữ gìn, mà trong
đó cái tâm từ bi khiến mình
không quên nghĩa vụ chăm lo giúp
đỡ gia đình, mà trách nhiệm
giáo dục con cái nên người là
việc quan trọng hàng đầu.
Một Phật tử tại gia đúng
nghĩa, song song với việc như pháp hành
trì, phải biết vun đắp cái vốn
đạo đức căn bản làm người
trước đã, sau đó biết đem
cái vốn tu học sở đắc của
mình ra để trực tiếp giúp đỡ
những người gần gũi thân cận,
hầu xây dựng cho gia đình mình,
tức cái nôi, cái tổ mà trong
đó mình cũng là một thành
viên, có được một cuộc sống
bình ổn, an lạc, chan hòa, hạnh phúc,
cũng có nghĩa là tu và hành như
thế nào để vừa tốt đời,
vừa đẹp đạo vậy.
Làm tròn được nghĩa vụ
này là người cư sĩ đã
góp phần không nhỏ vào việc đem
lại hạnh phúc cho những người thân
yêu, nhờ đó có thể cảm hóa
được mọi người trong gia đình
cùng hoan hỉ đến với đạo pháp
bằng tất cả con tim và tấm lòng
của họ, nhất là tự tạo dựng cho
chính mình có được một môi
trường lý tưởng để tu hành
và giáo hoá, cũng là tuỳ thuận
nhơn duyên hành Bồ-tát đạo ngay
trong đời này. Đến chừng đó,
chỉ cần bước một bước là
vào ngay cảnh giới "Trung" của các
bậc thánh, tánh biết hốt nhiên
bừng sáng, biết như thật vạn pháp
trước mắt "tự như", nói
nín tuỳ duyên làm lợi ích cho
người mà không chi dính dấp, tự
tại an nhiên, đến đi vô ngại,
chứ chẳng cần phải mượn lời
người khác nói ngớ ngẩn như con vẹt,
nói mà không biết ai đang nói, hay
thẫn thờ, đờ đẫng, tỉnh tỉnh,
mê mê như con mọt sách trong hiện
tại. oOo |
|