Ngày xưa, ai đi ngang qua trường Quốc
Học Huế, đều chú ư đến cái biển
tên trường độc đáo là v́ bên cạnh hai
chữ "Quốc Học" bằng chữ
Quốc ngữ, c̣n có phụ đề thêm hai chữ
Hán hai bên. Nét chữ tuy khá chân phương nhưng
vẫn hiển lộ nét tài hoa và sắc sảo:
Đó là nét chữ của linh mục Nguyễn Văn
Thích. Khi tôi có đủ chút hiểu biết
để hiểu về nét đẹp của thư
pháp Trung Hoa th́ cha Thích vẫn c̣n nổi tiếng là
người viết chữ Nho đẹp nhất
Huế thời bấy giờ. Tôi được may
mắn học môn chữ Hán với cha Thích hai năm
ở văn khoa và sư phạm. Dường như
trong các lớp chữ Hán tôi thuộc loại gàn gàn,
bướng bướng làm sao ấy. Chữ Hán có ba
dạng: Chân, triện, thảo mà trong đó chữ
thảo là khó nhất. Nét thảo thiên biến vạn
hóa, nhiều khi chỉ một chữ nhất mà
học hoài không hết nét chấm phá tuyệt tác
của những nhà thư họa lừng danh. Thế
mà khổ nỗi tôi lại mê chữ thảo.
Nhưng trời cũng có luật thừa trừ,
để bù lại với cái ngông "ăn mày mà
đ̣i xôi gấc", tôi lại có chút tài mọn
viết chữ Hán khá bay bướm. Tuy phần
lớn dùng bút nguyên tử nhưng tôi vẫn tạo
ra những nét mác, nét đá, nét sổ, nét ngang rất
"ra ǵ với núi sông". Nếu không thế th́
tại làm sao vẫn có cô sinh viên "thương
chữ", năn nỉ xin tôi bản chép tay nguyên
văn chữ Hán bài B́nh Ngô Đại Cáo của
Nguyễn Trải về nhà để treo lủng
lẳng trong pḥng ngày tháng xem chơi(!).
Tôi phải nhắc đến linh mục Nguyễn
Văn Thích v́ cha là linh mục Công giáo, lại dạy
về Nho giáo và thường liên hệ đến lư
thuyết Phật giáo một cách thâm uyên. Có lần
dạy Trung Dung "Thành giả thiên chi đạo
dă..." cha hùng hồn chỉ tay lên trời, nói
với sinh viên:
-
Các người có quá nhiều nên lúc nào cũng lo,
cũng ham, cũng muốn, cũng sợ...
Thượng Đế là đấng toàn năng
nhưng ngài lại không sở hữu ǵ cả trong
khi ngài sáng tạo ra tất cả. Con người th́
ngược lại, muốn sở hữu, sở
đắc tất cả nên cuối cùng chẳng c̣n
ǵ hơn là tay trắng trở về với cát
bụi.
Tư
tưởng "có" và "không" đó chập
chờn sống măi trong tôi: Tại sao khi đạt
đến trọn vẹn cái không th́ lại có; mà ham
hố cho được cái có rồi th́ lại
trở thành không? Chính khái niệm về "cái
không" của Thượng Đế và khái
niệm về "tâm không" trong kinh Kim Cang (hay c̣n
gọi là Kim Cương) đă cho tôi chút ít kiến
thức sơ đẳng về "có có, không
không" giữa cuộc trần ai nầy.
oOo
Kinh Kim Cương BÁT NHĂ BA LA MẬT
(Vajracchedikà-Prajnà-Pàramità Sùtra) thường
được coi là "Kinh lời vàng - Kinh ruột
tuệ giác siêu việt" của Phật giáo. Theo
Phật giáo sử lược th́ kinh nầy là
lời nói trực tiếp của đức Phật
nguyên văn bằng chữ Phạn (Sanskrit), sau
truyền sang Trung Hoa được dịch ra
chữ Hán.
Những nhà phiên dịch Phạn-Hán gồm có :
-
Cưu Ma La Thập (Kumàrajiva): ở chùa tại
Trường An (chùa Thảo Đường). Vào niên
hiệu Hoằng Thủy năm thứ tư, tức
là năm 401 tây lịch, thuộc đời Dao
Tần. Ngài dịch tên kinh là Kim Cang Bát Nhă Ba La
Mật. Đây là bản có giá trị nhất,
được gọi là định bản, v́ sau khi
dịch đến giờ đều được
mọi người dùng để tŕ tụng. Bản
này nằm trong bộ Tam Bảo tụng hằng ngày.
- Bồ Đề Lưu Chi (Bodhiruchi): đời
Ngụy dịch tên kinh cũng đồng với
bản trên tức là Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật, vào
khoảng 508 dương lịch.
- Ba la Mật Đa (Paramârtha) (Trung Hoa dịch Chân
Đế): dịch vào đời Trần, khoảng
giữa thế kỷ thứ sáu đề tên là Kim
Cang Bát Nhă Ba La Mật.
- Đạt Ma Cấp Đa (Dharmagupta) : đời
Tùy, khoảng đầu thế kỷ thứ
bảy, dịch tên cũng đồng là Kim Cang Bát Nhă
Ba La Mật.
- Huyền Trang (Hiouen-Thsang) : đời
Đường, khoảng giữa thế kỷ
thứ bảy, dịch chung trong bộ Đại Bát
Nhă, 600 quyển, gồm 16 hội, ‘Kim Cang’ là hội
thứ 9, quyển 577 trong bộ Đại Bát Nhă.
Huyền Trang c̣n được biết theo
phương danh khác là Tam Tạng trong truyện Tây Du
Kư.
- Nghĩa Tịnh: đời Đường,
đầu thế kỷ thứ tám, dịch tên là
"Phật thuyết năng đoạn Bát Nhă Ba La
Mật kinh". Ngài có đi Ấn Độ mang
chữ Phạn về .
Sáu
nhà dịch cùng một bản kinh, nhưng về sau
được chú ư nhất là các bản của các
Cưu Ma La Thập, Huyền Trang và Nghĩa Tịnh.
Về
phần dịch từ tiếng Trung Hoa sang tiếng
Việt Nam
th́ gồm có:
-
Thượng Tọa Trí Tịnh dịch trong bộ
Tam Bảo tụng hằng ngày.
- Ḥa Thượng Thiện Hoa, dịch trong bộ
Phật Học Phổ Thông (tức 12 nấc thang giáo
lư).
- Thượng Tọa Huệ Hưng dịch
quyển "Kim Cang Giảng Lục" của ngài
Thái Hư.
- Cư sĩ Đồ Nam dịch bản
của ông Giang Vị Nông.
Trong các chùa và các thiền viện, bộ kinh này
được xem như bộ kinh nhật tụng,
và kinh Kim Cang Bát Nhă được xem như tâm ấn
trong nhà Thiền.
Trong Kinh Kim Cang Giảng Giải, thiền sư Thích
Thanh Từ đă cố gắng đơn gỉan hoá
và đưa ra nhiều thí dụ để
người đọc hiểu và nắm vững
được ư chính của kinh. Tuy nhiên, v́ những
từ ngữ chuyên môn đặc biệt và trừu
tượng của kinh điển Phật giáo,
sự hiểu biết và nhận thức về
những ư nghĩa cao thâm của kinh vẫn c̣n bị
rất nhiều hạn chế đối với
đại đa số quần chúng.
Ông đă tóm tắt kinh Kim Cang như sau:
1. Lấy Trí Tuệ Bát Nhă quán xét tất cả pháp
hữu vi đều không có tự tánh,vô thường
sinh diệt.
2. Nhờ quán xét vững chắc nên hàng phục tâm
dễ dàng, đưa các vọng tưởng vào Vô
Dư Niết Bàn.
3. V́ buông xả các pháp và vọng tưởng nên tâm
được an trụ.
4, Tâm an trụ không dính mắc sáu trần nên Như
Như bất động.
5. Muốn trụ tâm phải buông xả đừng
dính sáu trần (bố thí không chấp tướng).
6. Muốn hàng phục tâm phải đưa vọng
niệm vào chỗ Vô Sanh .
Người thường như tôi mà bàn về kinh
Kim Cang th́ cũng giống như là kẻ đứng
xa ngoài Nam Hải mà nh́n rặng Trường Sơn
ẩn hiện trong mây chiều ngũ sắc. Càng
cố diễn tả bằng ngôn ngư, vốn là
phương tiện giới hạn và tương
đối của con người, càng có cơ đi
xa nguồn tinh túy của tâm kinh..
Hai trăm năm trước, Nguyễn Du đă
đọc kinh Kim Cương hàng ngàn lần trong
những năm c̣n ở ẩn nơi quê nhà, thế
mà nhà thiên tài thi ca của chúng ta vẫn phải thú
nhận là không hiểu hết. Cho đến khi
đi sứ bên Tàu, ông đến hành hương
ở Phân Kinh Thạch Đài, lúc đó đă hơn
một ngh́n năm rêu phong sương phủ, mới
chợt hiểu rằng:
... Minh kính diệc phi đài,
Bồ đề bản vô thụ.
Ngă độc Kim Cương thiên biến linh,
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh;
Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ,
Chung tri: vô tự thị chân kinh.
... Tấm gương trong không phải thật có
đài gương,
Cây Bồ Đề cũng không phải cây thật.
Ta đọc kinh Kim Cương có hơn ngàn lần,
Ư nghĩa uyên thâm trong ấy phần nhiều không
hiểu;
Tới nay đến dưới đài Phân Kinh này,
Mới biết rằng kinh không chữ mới
thật là chân kinh.
(Nguyễn Đăng Thục dịch)
Có lẽ là đọc đến lần thứ
hơn 1000, khi gấp kinh lại, Nguyễn Du nh́n sâu
trong dấu tích phôi pha hư ảo của Thạch
Đài, bấy giờ tâm tư ḥa với cái hồn
hư không của vũ trụ; không chữ, không
lời; không chia t́nh xẻ lư, không vọng
tưởng mông lung, mà an nhiên tự tại... Lúc
đó, ông mới hiểu thấu chân kinh.
Nội dung kinh Bát nhă có 2 chữ "sắc" và
"không" là bị hiểu lầm nhiều
nhất. Sắc và không ở đây không thể
hiểu đơn giản như là hữu h́nh và vô
h́nh như nhiều người vẫn cho như
vậy.
Kinh nầy mở đầu, thuật lại ư
niệm về duyên khởi như sau:
"Khi ngài Quán Tự Tại đi sâu vào trí tuệ
cứu cánh th́ thấy các pháp đều là chân không,
chẳng dính ǵ đến mọi sự khổ ách,
nên nói với ngài Xá lợi tử như thế này:
Ông Xá lợi tử ơi! Các pháp không khác chân không, chân
không chẳng khác các pháp. V́ không có sự khác biệt,
nên các pháp tức là chân không và chân không tức là các
pháp".
Tại sao lại không có sự phân biệt ấy?
Là v́ các pháp tuy có, nhưng cái có ấy xét theo tính cách
không gian th́ vô ngă (không có tính cách biệt lập) và xét
theo tính cách thời gian th́ vô thường (không có tính
cách cố định). Đă là vô thường và vô
ngă th́ chẳng có ǵ để mà trụ vào cả nên
có cũng như không. Vậy ra cái có ấy có tức
là không. Cho nên có = không và không = có.
Phải đến một khúc quanh nào đó trong
cuộc đời con người mới thấy
mệt mề, chồn chân, mỏi gối. Khi đó
phản ứng của mỗi người khác nhau
nhưng chung quy cũng chỉ có ba thái độ:
Đương đầu, trốn chạy hay
tĩnh táo nh́n lại chính ḿnh. Chính khi nh́n lại chính
ḿnh mới thấy cái "TÔI ĐÁNG GHÉT" nó to
sừng sững, đứng lù lù ra đó, chiếm ngự
hết cả lối đi về. Tu là một quá
tŕnh gian nan chiến đấu để thoát ra
được sự chỉ huy đầy tham lam,
ích kỷ, độc tài, quân phiệt hay... vô số
h́nh dung từ nữa, của cái tôi đáng ghét đó.
Tuy đỗ tam trường thi Hương khi
mới 19 tuổi, nhưng Nguyễn Du chỉ làm
một chức quan nhỏ ở Thái Nguyên. Sau đó,
v́ thời thế loạn lạc nên suốt những
năm từ 1786 đến 1795, Nguyễn Du phải
lui về ẩn cư tại quê nhà ở Tiên
Điền, Hà Tĩnh. Đây là những năm tháng
nguyễn Du sống trong nghèo khó nhưng lại
rất an nhiên tự tại, học kinh Phật, tu
học thiền để giải thoát cho cái tôi
đầy phiền năo. Nguyễn Du đă cho chúng ta
thấy là tiên sinh đă chán ngán việc học hành,
kiến thức thế gian tầm thường "Suốt
đời thơ phú ṛng vô bổ, Đầy giá sách
đàn chất măi ngu." trong bài thơ sau:
Mạn Hứng
Long Vĩ châu biên đa bạch âu,
Lam Giang đường thượng hữu hàn nho.
Nhất sinh từ phú tri vô ích,
Măn giá cầm thư đồ tự ngu.
Bách tuế vi nhân b́ thuấn tức,
Mộ niên hành lạc tích tu du.
Ninh tri dị nhật tây lăng hạ,
Năng ẩm trùng dương nhất trích vô.
.
Long Vĩ bờ bên một đám c̣,
Sông Lam trên bến bác hàn nho.
Suốt đời thơ phú ṛng vô bổ,
Đầy giá sách đàn chất măi ngu.
Cuộc sống trăm năm coi mấy chốc,
Chuyện vui tuổi cả tiếc từng giờ.
Phiá tây băi cỏ khi nằm xuống,
Chén rượu trùng dương ai tưới cho
(Nguyễn Vũ My và Trần Thanh Mại dịch)
Chính từ trong cái "không" của một
cuộc sống đă vượt ra ngoài những
hệ lụy đầy bon chen vật chất,
Nguyễn Du mới t́m thấy cái "có"
đầy nhẹ nhàng thinh không. Khi cái "tôi"
nhỏ bé mờ nhạt, cũng chính là lúc cái
"tôi" thiêng liêng đầy đại ngă
trở về. Cũng cùng với ánh nh́n và đôi
mắt cũ, thế nhưng khi cánh cửa tâm
hồn và tri thức đă mở ra nh́n cái mới th́
con người và thiên nhiên lại được
sống chan hoà. Sợi dây xích trói buộc con
người tàn bạo nhất không ở đâu xa mà
chính ngay ở ḷng ḿnh:
Tạp Thi II
Hồng Sơn nhất sắc lâm b́nh cừ
Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư.
Thiên lư bạch vân sinh kỷ tịch,
Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư.
Tiếu đề tuẩn tục can qua tế,
Giam mặc tàng sinh lăo bệnh dư.
Diệp lạc hoa khai nhăn tiền sự,
Tứ thời tâm kính tự như như.
Trên giải non Hồng dưới làn nước
Nho nghèo ở đó cũng thanh nhàn
Ngh́n tầm mây bạc quanh giường chiếu,
Một mảnh trăng trong giọi sách đàn.
Cười khóc theo đời qua buổi loạn,
Trầm tiềm giữ miệng dưỡng thân tàn.
Lá rơi hoa nở việc trước mắt,
Tâm trạng quanh năm vẫn nhẹ nhàng.
Tạp Ngâm II
Long
Vĩ giang đầu ốc nhất gian,
U cư sầu cực hốt tri hoan.
Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt,
Xử sĩ môn tiền thanh giả san.
Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt,
Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan.
Táo đầu chung nhật vô yên hỏa
Song ngoại hoàng hoa tú khả xan.
Đầu sông Long Vĩ một gian nhà,
Ở ẩn buồn teo bỗng thú a !
Đạt sĩ, cơi ḷng trăng sáng tỏ,
Cao nhân, trước cửa núi bao la.
Sách chồng cạnh gối đỡ thân mệt,
Rượu nhắp bên đèn đổi sắc da.
Trong bếp suốt ngày không khói lửa,
Ngoài song no với khóm hoàng hoa.
(Nguyễn
Vũ My và Trần Thanh Mại dịch)
Nhờ thực hành sâu xa Trí Tuệ Bát Nhă của kinh
Kim Cương, Nguyễn Du quán xét tất cả các
pháp hữu vi đều không có tự tánh, vô
thường sinh diệt. V́ buông xả các pháp và
vọng tưởng nên Nguyễn Du cho chúng ta thấy
tiên sinh đă "hàng phục vọng tâm và an trụ
chân tâm" của ḿnh qua bài thơ " Đạo
Ư" sau đây:
Đạo Ư
Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh,
Tỉnh thủy vô ba đào.
Bất bị nhân khiên xả
Thử tâm chung bất dao
Túng bị nhân khiên xả
Nhất dao hoàn phục chỉ.
Trạm trạm nhất phiến tâm,
Minh nguyệt cổ tỉnh thủy.
Trăng sáng giọi giếng xưa,
Nước giếng không gợn sóng.
Không ai người khuấy lên
Ḷng này không xao động.
Dù ai người khuấy lên
Động qua lặng rất chóng.
Trong vắt một tấm ḷng,
Giếng xưa trăng giọi bóng.
Khi tâm an trụ không dính mắc 6 trần cảnh
(sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) th́ tâm
sẽ an nhiên thanh thoát. Bài thơ "Đề Tam
Thanh Động" của Nguyễn Du đă nói lên
cái tâm của người không chấp ngă. V́ đă
đọc và hiểu kinh Kim Cang nên Tố Như không
c̣n chấp vào "ngă tướng", "nhân
tướng", "chúng sinh tướng" và
"thọ giả tướng" nên nh́n
được tất cả các cảnh giới
đều không có tướng (vô tướng). Đă
vô tướng th́ làm ǵ c̣n sắc tướng:
Đề Tam Thanh Động
Vạn ban thủy thạch thiện đại
xảo,
Nhất lạp kiền khôn khai tiểu thiên,
Măn cảnh giai không hà hữu tướng,
Thử tâm thường định bất ly
thiền.
Ngàn muôn thứ nào đá,nào nước, xếp
đặt tự nhiên,nghệ thuật rất khéo,
Một hạt nhỏ trời đất mở ra
một thế giới nhỏ nữa,
Khắp cảnh giới đều trống rỗng
th́ làm ǵ c̣n sắc tướng,
Ḷng này thường định không rời cảnh
thiền.
(Nguyễn Đăng Thục dịch)
Tinh thần vô ngă là cánh cửa không khóa đi vào
động thiền sư. Nhưng thường
người ta đă vào cửa rồi mà t́m lối
không ra chỉ v́ cửa thiền rộng mở
nhưng ḷng họ đă khoá chặt bằng những
ổ khóa càn khôn của háo danh trục lợi,
định kiến thấp hèn.
Xưa Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma)
rời nước Quốc Hương, nam Thiên Trúc
(Dekhan) để đi đến Việt Nam
đầu tiên và có lẽ ngài ở đây một
thời gian khá lâu, v́ Việt Nam khi đó
được coi là trung tâm giao tiếp Ấn Hoa,
nơi người ta có thể t́m được
những người biết cả tiếng Trung Hoa
lẫn tiếng Thiên Trúc. Bồ Đề Đạt
Ma trước đến Việt Nam sau
vượt sông qua Ngụy đến Quảng
Châu,Trung Hoa, vào khoảng thập niên 470. Thứ
sử tỉnh này lấy lễ nghinh tiếp và dâng
biểu về triều báo tin lên vua Lương Vơ
Đế. Vua sai sứ thỉnh mời Tổ Bồ
Đề Đạt Ma về Kim Lăng để
thưa hỏi Tổ về Phật pháp. Truyền
Đăng Lục ghi lại cuộc đối
đáp này như sau:
-Trẫm
từ khi lên ngôi đến nay, xây chùa, in kinh,
độ tăng rất nhiều. Vậy có công
đức ǵ chăng?
Tổ Đạt Ma đáp:
- Chẳng có công đức ǵ cả!
Vua hỏi:
- Tại sao không có công đức?
Đạt Ma trả lời:
- Bởi v́ đó chỉ là những tiểu quả
của cơi người, cơi trời mà thôi, là cái nhân
hữu lậu như bóng theo h́nh, tuy có mà chẳng
thật.
Vua thắc mắc:
- Vậy thế nào mới là thiệt công đức?
Đạt Ma lại nói:
- Trí hoàn toàn trong sạch, thể phải tự nhiên
trống vắng, như thế mới là Công
Đức. Công Đức là nơi bổn tánh
chứ chẳng phải do nơi công nghiệp
thế gian (xây chùa, chép kinh...) mà cầu đổi cho
được.
Vua lại hỏi:
- Chân lư tối cao của bậc thánh là ǵ?
Đạt Ma thản nhiên:
- Khi tỉnh rơ thông suốt rồi th́ không có ǵ
gọi là thánh cả.
Vua ngỡ ngàng hỏi vặn:
- Thế đối diện với trẫm là ai?
Đạt Ma lắc đầu:
- Không biết.
Vua Lương Vơ Đế không lănh hội
được, lui về nghỉ. Tổ Đạt
Ma biết căn cơ không hợp v́ cái tôi ngự
trị của nhà vua bao trùm tất cả. Đạt
Ma lưu lại vài hôm rồi qua Giang Bắc, lên núi
Tung Sơn, ở chùa Thiếu Lâm trọn ngày ngồi
thiền đối vách im lặng trong chín năm (Cửu
niên diện bích).
Tổ Bồ Đề Đạt Ma là Sơ tổ
của Thiền tông Trung Hoa, đă ấn chứng và
truyền y bát cho Huệ Khả là vị Tổ
Thiền Tông thứ hai, rồi truyền xuống ngài
Tăng Xáng, vị Tổ thứ ba, ngài Đạo
Tín, Tổ thứ tư, ngài Hoằng Nhẫn, Tổ
thứ năm và sau cùng truyền đến Huệ
Năng là Tổ thứ sáu.
Nguyễn Du đă đọc kinh điển Phật
để rồi quán sát thông suốt và nhận ra
rằng lời kinh Phật nói ra đều là
những pháp môn phương tiện dắt dẫn
chúng sinh vào Đạo; như nước dùng
để rửa bụi, như thuốc dùng để
chữa bệnh.
Nay chứng được "thân không", "tâm
không", "tánh không" th́ tất cả các pháp
đều không, kể cả Phật pháp trong đó
có Kinh Kim Cang. Bệnh khỏi th́ thuốc cũng
trừ, gọi là chứng ngộ "Pháp không".
Chùa chiền, đền miếu, kinh sách...
đều là phương tiện tu tŕ đi đến
cơi tâm không giải thoát. Trụ vào phương
tiện mà cứ tưởng là cứu cánh th́ có khác
ǵ tọa thiền mà tâm loạn, ngồi dưới
mái chùa mà tâm loạn tứ tán như đang giàng
giật giữa chốn chợ đời.
Đức Phật khuyên: "Này các Tỳ Kheo, các
ông nên biết ta nói pháp ví dụ như chiếc bè;
pháp c̣n nên bỏ, huống là phi pháp". (Như Lai
thường thuyết: Nhữ đẳng Tỳ Kheo
tri ngă thuyết pháp như phiệt dụ giả, pháp
thượng ưng xả, hà huống phi pháp.)
Ngă độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ
Chung tri: vô tự thị chân kinh.
Kim Cương đọc đến ngàn lần
Mà trong mờ ảo như gần như xa
Thạch Đài t́m đến hiểu ra
Chân kinh thật nghĩa chẳng qua không lời
(Phan Quang Việt dịch)
Tư tưởng Phật giáo đă in đậm nét
trong hầu hết các tác phẩm thi ca của thi hào
Nguyễn Du mà Đoạn Trường Tân Thanh
phản ánh đậm nét nhất. Theo tôi thiển
nghĩ bằng tâm cảm, triết lư xương
sống của truyện Kiều không phải là
"Tài mệnh tương đố" như các
sách giáo khoa văn chương thường phân tích,
mà là "Tứ diệu đế". Mở
đầu truyện Kiều:
Trăm năm trong cơi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn
ḷng...
chính là "Khổ đế" của thân phận
làm người "Đă mang lấy nghiệp vào
thân".
Xác thân tứ đại của Thúy Kiều chỉ là
phương tiện. Phương tiện đó có
thể bị ch́m nỗi, dập vùi trong bể
khổ, nhưng cái tâm của Kiều vẫn
đượm nét tinh anh sau cuối một cuộc
đời luân lạc. Bởi vậy, xưa kia Chu
Mạnh Trinh có thể cười cợt "Mà
bướm chán ong chường cho đến
thế!", trong khi Thúy Kiều vẫn hănh
diện nói với "Người Yêu Một
Thuở và Một Đời" là Kim Trọng trong
ngày tái hợp":
"Chữ trinh c̣n một chút nầy"
Tiếng nói như một lời tự t́nh mà kêu than
trầm thống. Nếu đứng trên quan
điểm Phật giáo th́ đây là tiếng ḷng nhân
hậu thủy chung giữa cơn xoáy trùng trùng
của duyên-nghiệp.
Bởi vậy, cầu Phật thật dễ,
nhưng thấy Phật thật khó khi mà tâm ta c̣n
trụ vào h́nh tướng, thanh sắc. Cụ Phan
Bội Châu đă t́m đến kinh Kim Cang để
thấy "pháp thân phi tướng" (pháp thân
chẳng phải là tướng):
Nhược dĩ sắc kiến ngă
Dĩ âm thanh cầu ngă
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai
Nếu do sắc thấy ta
Do âm thanh cầu ta
Người ấy hành đạo tà
Không thể thấy Như Lai.
Chung tri: vô tự thi chân kinh - Chân kinh thật nghĩa
chẳng qua không lời.
Cớ sao lại không im lặng nơi đây
để nghe kinh?!