|
1. Ngôn ngữ của Thiền:
Ngôn ngữ của
Thiền, không phải là ngôn ngữ mới chính là ngôn
ngữ.
Một tiếng hét vang vọng
đất trời của Ngài Lâm Tế làm bừng
vỡ chân tâm của hành giả; những chiêu gậy
hàng ma tuyệt hảo của Ngài Bách Trượng xua
đi đám mây mù che mắt thế gian; sự im lặng
đến vô t́nh của Ngài Bồ Đề Đạt
Ma hay một đóa sen Đức Phật đưa lên
ở hội Linh Sơn... đó là ngôn ngữ của
Thiền.
Mục đích của
Thiền là đạt ngộ chân tâm, cho nên ngôn ngữ
của Thiền không phải là ngôn ngữ mà chúng ta
thường sử dụng, nó là những phương
tiện để đập vỡ vỏ bọc
cuộc đời, là những nhát búa chém giữa hư
không mà rúng động cả đất trời.
Một cánh tay rớt
xuống vô t́nh của Ngài Huệ Khả chỉ là
lời nói b́nh thường như bao nhiêu anh hùng chí
sĩ, nhưng một lời “điểm huyệt”
của Bồ Đề Đạt Ma c̣n vang vọng ngàn
thu. Lời nói của Bồ Đề Đạt Ma
đă điểm trúng chân tâm của Ngài Huệ Khả,
lời nói mà đời sau không ai có thể nói lời
tương tự.
Mỗi đối
tượng, mỗi hoàn cảnh th́ có một công án
Thiền thích hợp, và ngược lại, một công
án Thiền chỉ khai mỡ cho đúng căn cơ và hoàn
cảnh. Những công án mà ngày xưa các Tổ sư
đă từng dùng nó để khai ngộ cho các
đệ tử nhưng đối với những
người có căn cơ khác th́ dù nói đến ngàn
lần cũng không có tác dụng ǵ.
Bởi vậy, ngôn ngữ
Thiền là làn sóng giao cảm giữa người
truyền và người nhận, là ngôn ngữ mà
người không cùng tần số th́ không thể
hiểu, không thể cảm nhận được.
Như bao nhiêu người đă từng đọc
tụng đến câu “Ưng vô sở trú nhi sanh kỳ
tâm”, vậy tại sao chỉ có một ḿnh Ngài Huệ
Năng chứng ngộ bởi câu này? Cái “Vô sở trú”
trong lời kinh đă tương thích với “Vô sở
trú” trong tâm của Ngài Huệ Năng, chính lời kinh
đă khơi dậy bản tánh “vô sở trú” vậy.
Lại nữa, ngôn
ngữ Thiền không phải là “văn tự”. Văn
tự” ở đây là chỉ cho những khái niệm
ngôn ngữ của thế gian, là những quy định
trong giới hạn con người. Ngôn ngữ của
thế gian là phương tiện truyền tâm. Vậy
ngôn ngữ của tâm là ǵ? Đó chính là ngôn ngữ
vượt ra ngoài ngôn ngữ.
Khi Ngài Lâm Tế hỏi
Ngài Bách Trượng về đại ư của Phật
Pháp, liền bị lănh 3 gậy, đó là câu trả
lời chính xác nhất về Phật Pháp. Mục
đích của Phật Pháp là ǵ? Đó là sự giải
thoát khổ đau cho tất cả chúng sinh. Phật Pháp
là con đường thực tiễn, chứ không
phải là một lư thuyết suông, nếu chúng ta học
Phật Pháp như một học giả, th́ kiến
thức về Phật Pháp đó không đủ
để giúp chúng ta đứng vững giữa vũng
bùn đau khổ của cuộc đời. Bởi
vậy, những ai học Phật pháp để
thỏa măn kiến thức rồi tưởng ḿnh
đă đạt ngộ, đến khi cuộc
đời giáng cho vài gậy lên đầu liền ngă
quỵ.
Ngôn ngữ
Thiền không phải là thứ ngôn ngữ để trao
truyền kiến thức, bởi v́ ngôn ngữ của
kiến thức không đủ để đoạn
trừ khổ đau, không đủ để làm
chiếc bè thoát ly sanh tử.
Các lậu hoặc trong tâm
chúng ta như những viên sỏi cứng nằm lâu trong
nước vẫn không tan, phải dùng những
phương cách để nghiền nát chúng ra thành
bột chúng mới có thể ḥa vào trong nước.
Bởi vậy, mỗi công án là một nhát búa phá tung
những chấp trước tầm thường
của thế gian, nghiền nát những lớp vỏ
vô minh để hiện lộ chân tánh trong tâm.
Ngôn ngữ của
Thiền là ngôn ngữ để khai ngộ, là những
ǵ mà vị Thiền sư dùng để có thể
chỉ thẳng vào tâm của hành giả, ngôn ngữ
Thiền thật biến ảo không cùng, có khi là
những câu thơ đưa người trở về
với thế giới thực tại, có khi là những
thái độ lạnh lùng hoặc là những thoại
đầu hóc búa.
Khi Ngài Huệ Khả
đến cầu phép an tâm, Ngài Bồ Đề
Đạt Ma nói ”Đưa tâm đây ta an cho!” Tâm là ǵ mà
phải đi t́m, vậy câu nói này có phải là Bồ
Đề Đạt Ma tự mâu thuẫn hay không? V́ Ngài
đă từng nói:
“... Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật.”
Tâm là ǵ mà “trực
chỉ”, lấy cái ǵ để trực chỉ. Đó
chính là Thiền. “An tâm” hay “Trực chỉ nhân tâm”,
chỉ là một bước trong quá tŕnh kiến tánh
thành Phật. Bởi vậy, cứu cánh chính là sự
kiến tánh, là thấy được Phật tánh,
chứ không phải là t́m tâm, hay an tâm, hay trực chỉ
nhân tâm! Đây là phương tiện, chúng ta đừng
lầm tưởng đây là cứu cánh.
Bản thể của
vạn pháp thật là thâm diệu, bởi vậy ngôn
ngữ của thế gian không bao giờ diễn tả
hết nghĩa lư sâu xa, chỉ có tự thân thực chứng,
mới có thể thấy sự vắng lặng
nhiệm mầu của pháp. C̣n dùng ngôn ngữ để
biện giải, hoặc dùng đầu óc lư luận
để phân tích th́ không đem lại kết quả ǵ
cho sự tu chứng, v́ càng phân tích, càng lư luận th́ càng
sai lầm.
Ngôn ngữ của
Thiền vượt ra ngoài ngôn ngữ b́nh thường
của thế gian, vượt ra ngoài ư niệm của
con người, nó không có nguyên tắc chung, tùy theo hoàn
cảnh, tùy theo căn cơ mà Thiền sư dùng
từng thứ ngôn ngữ khác nhau, xem đó như
chiếc bè giúp hành giả vượt biển mà thôi.
2. Ngôn ngữ của Thi ca
:
Ngôn ngữ của Thi ca là
ngôn ngữ của cuộc sống tinh thần, êm
đềm như những tiếng ru, trầm thống
như những mảnh đời khắc khoải,
đôi khi lại bàng bạc mênh mang thể hiện
những cuộc viễn mộng kiêu hùng.
Phải dấn thân vào thi
ca mới hiểu được ngôn ngữ của Thi
ca là ǵ. Bởi v́ nó muôn h́nh vạn trạng, đổi
màu tùy theo làn sóng nắng, mà chỉ có những
người đồng cảm mới hiểu nổi.
Ngôn ngữ của Thi ca
không phải là ngôn ngữ tả cảnh b́nh
thường, nó có mặt như “ngôn ngữ hiện
sinh” để diễn tả những thực trạng
của tâm hồn. Một bài thơ, hay một câu ca, là
những ǵ c̣n sót lại nơi tận cùng sâu thẳm
của một con người, là những ǵ c̣n
đọng lại trong kư ức hay trong tàng thức,
để rồi bộc lộ một cách tự nhiên
như dấu chân người đi trên cát.
Như J. P. Sartre từng
viết :
“Những nhà thơ
dừng lại ở chữ, như họa sĩ
dừng lại ở màu sắc và nhạc sĩ dừng
lại ở âm thanh; như thế không có nghĩa là
dưới mắt họ chữ đă mất hết ư
nghĩa; thật ra chỉ có ư nghĩa mới có thể
cho chữ sự thống nhất ngôn ngữ của
chúng; không có ư nghĩa chữ tản mác thành âm thanh hay nét
bút. Chỉ có điều là ư nghĩa, cả nó nữa,
cũng trở thành tự nhiên; nó chẳng phải là cái
đích không bao giờ nắm được và bao
giờ cũng được cái siêu việt tính của
con người nhắm vào; đó là một đặc
tính của từng chữ, cũng tựa như nét
biến của mặt, tựa như cái nghĩa nho
nhỏ vui buồn của các âm thanh và các màu sắc”.
Thật vậy, ngôn
ngữ không phải là chỗ dừng lại cuối
cùng của Thi ca, khi bước vào chỗ tận cùng
của ngôn ngữ th́ nó sẽ chuyển hướng sang
một lănh vực khác, đó là giao cảm của tâm
hồn. Con người bao giờ cũng hướng
đến “siêu việt tính” và đă mượn tất
cả những ǵ đang có để đi đến
đó. Ngôn ngữ trong Thi ca thể hiện một cách
chân thật, không đắn đo do dự khi nói lên
những thực cảnh của cuộc đời và
thực trạng của tâm hồn.
J. P. Sartre lại viết :
“Thi ca là một thứ ngôn
ngữ được sử dụng như một
dụng cụ t́m kiếm chân lư”.
Nhà thơ hướng
đến những ǵ rất thật của cuộc
đời, nhưng mỗi người có một
lăng kính nên Thi ca thật quá nhiều h́nh dạng. Tùy
theo từng góc cạnh nh́n nhận cuộc đời mà
ngôn ngữ Thi ca được phô diễn bằng
một màu sắc khác nhau. Vũ Hoàng Chương nh́n
đời trong “Say”, Hàn Mặc Tử nh́n đời
trong “Điên”, họ chỉ nh́n thấy một cảnh
của cuộc đời, chỉ thấy cuộc
đời là đau khổ. Đúng, cuộc đời
là đau khổ, là thiên lưu, nhưng cuộc
đời không phải là những ǵ tuyệt vọng,
cho nên Thi ca cũng là một lối thoát của cuộc
đời, từ Thi ca có thể mở ra một
lối sống lành mạnh hơn để nuôi
dưỡng những mảnh đời điên dại,
xoa dịu những vết thương đă chất
chứa bao ngày. Từ đó, Thi ca vút lên ngàn không diệu
vợi, mênh mang giữa đất trời, để mà
“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên”.
Thi ca cũng là duyên sinh
như muôn vàn pháp khác, nên Thi ca cũng mờ mờ
ảo ảo, có có không không như bản thể của
đất trời.
Trong Thi ca, trăng không c̣n
là trăng, nước không c̣n là nước và hiện
hữu cũng không c̣n là hiện hữu. V́ trong Thi ca “Lô
sơn chân diện mục” đă được bày
tỏ. Và để cho trang trắng nợ đời.
Lư Bạch đă ôm trăng mà chết, nhưng bao giờ
mới ôm được trăng đây ?
Thi ca có thể là những
tiếng cười của thi sĩ, những tiếng
cười trong thống ẩm cuồng ca, tiếng
cười trong ánh trăng khổ nhục của Lư Bạch,
và cũng có thể là tiếng cười trong đêm dài
lạnh giá để thể hiện ư chí trầm hùng”
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư” của
Không Lộ Thiền Sư. Đứng một ḿnh trên
đỉnh cô phong bạt ngàn sương gió, mỉm
cười trong lẽ sống, chết, thịnh, suy.
Thi nhân thật cô
đơn, nên Thi ca cũng cô đơn như
người sinh ra nó.
“Sầu cô quạnh tung trời lên Bắc đẩu
Dải ngân hà tan tác bụi thu bay”
Những hùng tâm tráng chí bao
giờ cũng cô đơn, muốn đạp tung
trời để mở ra một cái ǵ thật mới.
V́ thấy rằng dải ngân hà đă vàng úa trong bụi
thu mờ, chẳng c̣n ǵ để luyến tiếc hay
bi quan, ư chí thật siêu phàm trác tuyệt.
Nhưng trong Thi ca nhiều
khi c̣m đượm những buồn man mác bởi v́
Ai đem xáo trộn sầu kim cổ ?
Trăng nước Đà Giang mộng Liêu Trai
Vũ Hoàng Chương
đă lạc vào nẻo say của cuộc đời
hư thực, đâu là bến Tầm Dương,
đâu là lầu Hoàng Hạc để cho khách phong
trần dừng chân khi mỏi gối, càng ngây ngất
trong ư thơ, càng lạc lối trong mộng liêu trai.
Thi ca là những nỗi
ḷng hoài mộ gót phiêu du, trải qua bao năm tháng lang
thang trong giấc mộng hải hồ, một hôm
trở về nh́n lại đỉnh Hương Lô,
tất cả tâm sự đều thể hiện qua
thơ, trong đó chất chứa những hoài niệm
đă xa tít mù khơi. Hoài niệm không phải là chân lư,
không phải là thật có, nhưng nó đang hiện
hữu và được bộc lộc thành thơ,
một bức tranh thủy mặc vẽ bằng mây,
nhưng nó vẫn đẹp như sông hồ diễm
ảo. Thi ca là vậy đó, cho nên ai không phải là thi
nhân th́ đừng bao giờ đụng đến
thơ, và đừng bao giờ nói chuyện với thi
nhân, v́ trong hai người sẽ có một người
tỉnh và một người điên.
Thơ có thể là đóa
hoa mà thi nhân cài lên áo, nhưng thơ cũng có thể là
phế phẩm của thi nhân, nhưng nó là tất
cả những ǵ của thi nhân. V́ qua thi ca thể
hiện những quan điểm nh́n đời, phong cách
sống và những điều suy nghiệm khi nh́n
lại bản thân ḿnh.
Thi ca là những bước
chân mềm mại, đă đi vào đời
người, "như từng viên đá cuội,
rớt vào ḷng biển khơi". Thi ca là những
nỗi niềm tâm sự của một đoạn
đời, là những viên đá cuội ngàn năm
phủ rêu xanh nhưng vẫn c̣n khắc lại tên
người...
Thi ca là thiên
đường mộng ảo của thuở ban sơ,
chỉ v́ một chút trần tâm vọng niệm mà
bắt Thi ca phải “Xa vời mây nước, lá vàng
trôi”, Thi ca phải uốn ḿnh theo ḍng chảy của
cuộc đời. Nhưng dù sao đi nữa, Thi ca có
ch́m đắm trong “đọa đày viễn mộng”,
hay Thi ca có bạc màu như “tường rêu lữ thứ”
Thi ca vẫn là Thi ca, vẫn là những ǵ rất
thật của tâm hồn.
3. Sự liên hệ
giữa Thi ca và Thiền học.
Thi ca là những đóa hoa
tô điểm cuộc đời, dù vàng úa hay xanh
tươi, dù tỏa hương phô sắc hay ẩn
ḿnh trong gai góc, vẫn có một giá trị riêng của nó
mà không một ai có thể phủ nhận. Thi ca muôn màu
muôn vẻ, biến ảo như ráng mây chiều,
nhưng khi Thi ca bắt gặp nhịp thở của
Thiên th́ bỗng nhiên trở thành cao thượng và phóng
khoáng.
Cũng như Thiền
học, Thi ca là những ǵ đă “lịch nghiệm
kỳ cùng cuộc lữ” từ đó mới nhận
chân được sự thật của cuộc
đời. Và không ngần ngại khi buông thả
tất cả vào chân không tĩnh lặng.
“Em về đi giữa hằng sa
Giữa vô biên cơi một ṭa Như Lai”
Tuệ Nguyên
Đến đây, Thi ca
đă bước vào cơi uyên nguyên, sắc trời giờ
đây chỉ c̣n một màu bàng bạc giữa vô biên mà
không c̣n phân biệt.
Thiền sư và Thi sĩ,
không chung hướng nhưng đă bước một
đường, cả hai đều gặp nhau trên
nẻo đường sanh tử, cả hai đều
đă gặp những đợt sóng gầm thét hăi hùng,
nhưng ai là người ngă quỵ và ai là người
đứng dậy? Ai là người ngồi lại bên
biển đời chao đảo để làm thơ,
và ai là người dũng mănh bước đi trên
những ngọn ba dào?
Tất cả các triết
gia và các nhà tư tưởng thường suy tư
về thân phận con người và thấy nó thật
là ngắn ngủi. Con người có cái nh́n giới
hạn trong sự sống chết, nên họ cố
hướng đến một cái ǵ vĩnh cửu,
nhưng đó chỉ là giấc mộng, ước
mơ mà không bao giờ trở thành hiện thực.
Chỉ có một sự hiển nhiên là bản tính vô
thường của vạn pháp. Bởi vậy, thơ
Thiền thật là phóng khoáng.
“Y cẩu phù vân biến thái đa
Du du đô phó mộng Nam Kha
Sương dung tẩy hạ hà phương trạm
Phong sắc xuân lai mai dĩ hoa".
Cuộc đời như
đám phù vân luôn luôn thay h́nh đổi dạng, có
nhưng không phải là thực có, nó không tự sinh ra và
cũng không bao giờ hoại diệt, chỉ biến
đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác.
Nếu ai ôm măi đám phù vân bồng bềnh sinh tử
th́ sẽ khổ lụy triền miên. Công danh phú quư
như giấc mộng Nam Kha, bao nhiêu mơ ước
của một đời người, dăi dầu mưa
gió trong con đường gấm lụa, đâu
biết rằng tất cả đều như bèo
dạt mây trôi, một mai chợt tỉnh kiếp mơ
màng lại thấy năm tháng mang theo vạn hộc
sầu. Nhưng không phải đi vào tuyệt
lộ, bởi v́ sương vừa tắm hạ sen
đang nụ, gió kịp vời xuân mai nở hoa.
Giấc mộng tàn để b́nh minh ló dạng,
sương đêm tan để điểm thắm sen
hồng. Thơ Thiền đă thoát ra khỏi màn đen u
tối, sưởi ấm ngọn đông phong
để hoa mai hé nụ giữa cuộc đời.
Nh́n năm tháng xoay
vần, ư niệm về thời gian đă đè nén lên
tâm hồn thi sĩ để nuối tiếc những
mùa hạ êm đềm, những mùa thu kỷ niệm,
để ép nốt ḍng dư lệ, nhỏ xuống
thành thơ... Trăng đă bao lần tṛn rồi lại
khuyết, như Vũ Hoàng Chương vẫn nhớ
măi Trăng của nhà ai, trăng một phương
và nhớ măi Mười hai tháng sáu. Thật ra,
thời gian là ǵ mà phải nuối tiếc? Quá khứ làm
ǵ mà phải đau buồn? Tương lai là ǵ mà
vọng tưởng? Hăy sống trong hiện tại
mới đúng là đang sống:
“Đản tri kim nhật nguyệt,
Hà thức cựu xuân thu”
Những ǵ đang hiện
hữu trong ta và xung quanh ta là sự hiện hữu
nhiệm mầu. Hôm nay cũng có hoa có bướm, có mây
trắng bàng bạc, có lá vàng rơi và vẫn c̣n nhịp
thở. Đâu cần phải t́m lại những cánh
bướm ngày xưa, đâu cần phải nhặt
lại chiếc lá vàng mùa thu ấy, v́ cúng sẽ làm cho
chúng ta ch́m đắm trong dĩ văng mơ màng. Nên thơ
Thiền toát lên từ đời sống an trú trong
thực tại.
Cái nh́n của Thiền
sư và Thi sĩ đối với ngoại cảnh
đôi khi cũng tương tự, nhưng họ
chỉ gặp nhau một điểm là thơ rồi
lại rẽ hai ḍng, trong thi sĩ phong trần c̣n có
những cái nh́n trắc trở. Trên thế gian này, ai
cũng đă từng ngắm trăng, nhưng trăng
trong cái nh́n của Lư Bạch ẩn chứa những hoài
niệm xa vời.
“Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương“.
Đối với Lư
Bạch, trăng hôm nay vẫn sáng nhưng khác hẳn
trăng xưa, ánh trăng ngày xưa là ánh trăng trong
hoàng kim diễm lệ, và ánh trăng bây giờ là ánh
trăng lưu lạc trong hồn thi sĩ.
Cũng vậy, Thiền
sư bây giờ nh́n trăng không phải là trăng, nh́n
nước bây giờ không phải là nước... v́
tất cả đă hiển bày.
“Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự
Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu”
Trần Nhân Tông
Từ cơi thơ
đến cơi mơ, từ cơi thực đến cơi
hư chỉ cách nhau một đoạn đường
phân biệt, và chỉ có Thiền sư mới có thể
xóa hết đoạn đường này, để
nắm ánh trăng trong tay mà không hề động
niệm. Và hăy nh́n trăng đúng là trăng, thật là
oan uổng khi bắt trăng phải xẻ làm đôi.
Những ư tưởng điên cuồng đă bắt
trăng phải lênh đênh. Sự phân biệt
đối với ngoại cảnh sẽ làm cho chúng ta
có cái nh́n sai lạc. Một nửa vầng trăng ch́m
đáy nước, một nửa vầng trăng ở
trên không, Vậy trăng nào mới thật là trăng
đây? Tất cả đều hiện hữu trong trùng
trùng duyên khởi, các pháp hiện hữu trong nhau và ḥa
nhập vào nhau.
Dù cho thế sự
đổi đời, nhưng đối với
Thiền sư th́ đường trở về đă
rơ, nên:
“Ung dung đi giữa đất trời
Đưa tay vỗ đá, đá cười hoát
nhiên"
Tuệ Nguyên
Đá cuội ngàn năm
vẫn mỉm cười theo bước chân kiêu kỳ
của Thiền sư đạp trên sóng cồn sinh
tử. Tiếng hài vô chung đă không c̣n khứ lai,
chơn vọng, v́ giờ đây tất cả
đều nguyên vẹn, mặt nhật không c̣n bị ư
niệm bẻ ra từng mảnh vụn.
Thiền sư và phong
trần khách, ai cũng bước vào cơi thơ, ai cũng
đi qua những năm tháng chênh vênh, và ai cũng đă
từng dừng chân bên quán lạnh đường xa.
Chung lối nhưng chẳng chung t́nh, v́ đă có
người mang nặng niềm tâm sự :
“Thềm vắng, đêm mưa, buồn da diết
Nghẹn ngào cô quạnh khóc ai đây”.
Tô Đông Pha
Một nỗi sầu man
mác rơi xuống trong mưa, ḥa tan những giọt
lệ đau buồn mong bôi xóa những tâm sự
đời người. Nghẹn ngào trong cô quanh, khóc mà
chẳng biết ḿnh đang khóc ai! Khóc cho ḿnh hay khóc cho
người, hay khóc cho cuộc đời hẩm hiu
bạc bẽo?
Chẳng có ǵ để tiếc
nuối hay đau buồn, dù xuân có đến muộn
màng vẫn là xuân, Thiền sư ngồi an nhiên nh́n xuân
đến rồi xuân lại đi, bởi v́ :
“Như kim khám khá đông hoàng diện
Thiền bản đồ hoàn khán trụy
hồng"
Trần Nhân Tông
Hôm nay, diện mạo
thật của mùa xuân đă hiển bày, nên ngồi trên
nệm cỏ nh́n hoa rụng mà chẳng thấy xuân tàn,
nh́n lá vàng rơi mà chẳng thấy mùa thu đến.
Giữa trưa hè nóng bức hay trong đêm đông dài giá
lạnh th́ Thiền sư vẫn nhẹ nhàng dạo gót
cơi phong trần.
Thiền sư là những
nhà thơ siêu việt, là những lăng tử xuất
trần. Bởi v́, Tuệ Trung Thượng Sĩ đă
tiêu dao Vui Thú Giang Hồ, dù cuộc đời nghiêng
ngửa cũng chỉ là cơn gió thoảng qua :
“Tiểu đỉnh trường giang đăng
dạng phù
Du dương trạo bát quá thang đầu
Nhất thanh hà xứ tân lai nhạn
Trắc giác thu phong biến thập châu”
Đời người là
một chiếc thuyền nhỏ lênh đênh trong sóng
cuộc trường giang. Nếu ai buông xuôi sẽ
bị những cơn sóng gió của thất t́nh lục
dục nhận ch́m trong cảnh đời náo diệt.
Đường sanh tử c̣n dài lắm, tuy đă
biết quay đầu nh́n lại, vẫn thấy
rằng bến Giác c̣n xa, nhưng dù đứng
trước thác ghềnh vẫn du dương trạo
bát. Mái chèo vẫn thảnh thơi đến vô t́nh,
mặc dù đang chèo trong sóng thác mà hành giả đă
đến bên bến bờ tự do.
Một tiếng nhạn
trời đâu vẳng đến, bất giác thấy
ngọn gió thu lành lạnh thổi mênh mông. Cảnh
vật sao mà hoang sơ quá! trong thơ như chứa
đựng một cái ǵ man mác nhưng thật là tự
nhiên. “Vui thú giang hồ” cũng là vui thú do cơi tử sinh,
dù đứng trong thác ghềnh sinh tử nhưng
thiền sư thật sự đă đến bờ bên
kia. Đây là chất lăng mạn đến cực
đỉnh của thơ Thiền.
Trong thi ca và Thiền
học, một cánh hoa rơi là một đề tài
lớn cho Thiền sư và Thi sĩ, bao nỗi niềm
tâm sự của Thi sĩ đă gói trọn trong một
cánh hoa rơi để trở thành những vần
thơ nghiệt ngă.
Đạm đạm Trường giang thủy,
Du du viễn khách t́nh,
Lạc hoa tương dữ hận,
Đáo địa nhất vô thanh.
Những mối tâm t́nh
của người viễn khách ngổn ngang như sóng
nước Trường Giang, một đời trôi
nổi trong giấc mộng hải hồ, Vi Thừa
Khánh đâu biết tâm sự cùng ai, để rồi
kết thúc như một đoá hoa rụng xuống vô
t́nh. Đó là những ǵ c̣n lại sau một đoạn
đường phiêu lăng hay sao. Qua đôi mắt của
Thiền sư, một cánh hoa rơi cũng chứa chất
đạo lư nhiệm mầu:
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai
Đừng tưởng
xuân tàn hoa rụng hết, đêm qua sân trước
một cành mai. Mùa xuân đâu có đến có đi, hoa
cũng không có nở và tàn. Từ vọng thức mà sinh
ra vọng niệm, bởi vậy mà chúng ta thấy có
xuân đến rồi xuân lại đi, có hoa nở
rồi hoa lại tàn.
Thật ra, mùa xuân chưa
từng có và mùa xuân cũng là muôn thuở, chưa
từng có đóa hoa cũng là tất cả. V́ tâm hoa
đă nở nên dù vũ trụ xoay vần cũng không
làm ngăn ngại bước tiêu dao.
Vậy đó, Thiền
sư và Thi sĩ đều là những người
đi t́m cuộc sống cho chính bản thân và tâm hồn
ḿnh. Họ gặp nhau trên các thắng cảnh kỳ
diệu của Thi ca, nhưng lái ớ vội chia tay v́
không cùng hứng thú. Thi sĩ th́ chỉ thích cái mờ
mờ ảo ảo của màn sương để che
phủ cuộc đời, v́ chẳng muốn thấy
những vết rạn nứt của thế giới
đang trên đà hủy diệt.
Trong Thiền sư có
chất Thi nhân, nhưng trong Thi sĩ chưa hẳn
đă có chất Thiền. V́ sao? V́ Thiền sư vẫn
làm thơ và sống rất là thơ, nhưng trong thơ
đă phơi bày bản lai diện mục của các pháp
trần sanh diệt, bởi vậy đối với
Thiền sư th́ Vạn sự đô lô nhập nhăn
không. Tất cả đều như bỏ vào thùng
không đáy. Nên Ngộ Ấn Thiền Sư trước
khi viên tịch có nói bài kệ:
Diệu tánh hư vô bất khả phan
Hư vô tâm ngộ đắc hà nan
Ngọc phần sơn thượng sắc
thường nhuận
Liên phát lô trung thấm vị cam.
Bản tánh hư vô của
vạn pháp như hư không, không thể nắm bắt
được. Chỉ có thể lấy cái tâm vô
niệm mà giác ngộ th́ không c̣n là khó nữa. V́ như
ngọc đốt trên núi vẫn không thay đổi màu
sắc, sen nở trong ḷ vẫn tươi màu. Dây là
một hệ thống triết học Tam vi nhất
thể của kinh Pháp Hoa, đồng thời là
triết lư thực mà vị Thiền sư đă kinh qua
và chứng nghiệm.
Đối với
Thiền sư, Thi ca là một nhịp cầu nối
để đi vào nhân thế, và chính đời
sống Thiền đă là một bài thơ bất
hủ. Thiền là những dấu chân siêu việt in trên
bước đường thoát ly sanh tử.
4. Thiền học trong Thi
ca Lư Trần.
Trong Thi ca vốn đă
ẩn chứa những ǵ sâu sắc nhất của tâm
hồn, là những trang nhật kư của cuộc du hành
trong sinh tử. Thi ca là những lăng kính nh́n
đời của tác giả, nhưng khi nh́n đời
bằng đôi mắt của Thiền học th́ tất
cả đều trở nên mầu nhiệm vô cùng,
từ đó Thi ca cũng cất cánh bay lên theo tâm hồn
rộng lớn của những vị Thiền sư.
Thi ca trong Thiền học và Thiền học trong Thi ca,
Thơ và Thiền đă ḥa quyện vào nhau để
trở thành những bản nhạc c̣n vang muôn thuở.
Khác hẳn với khúc Tiêu tương dạ vũ,
Tuệ Trung Thượng Sĩ “xăm xăm một
mạch đi vào đời mà không ngại ngùng e
sợ”. Thơ Thiền phóng khoáng bởi v́ Thiền
sư sống đời sống vô ngại.
Thời đại Lư -
Trần là thời cực thịnh của Thiền
học Việt Nam, thời đại này xuất
hiện nhiều vị Thiền sư nổi tiếng
như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ,
Trần Nhân Tông, Măn Giác Thiền Sư, Không Lộ
Thiền Sư, Huyền Quang, Pháp Loa... các Thiền sư
đồng thời là những nhà thơ. Cho đến
bây giờ vẫn chưa có một giai đoạn nào
văn học được nổi bật hơn
thời Lư- Trần.
Thơ và Thiền đă ḥa
nhập vào nhau tạo nên sự tự tại trong cách
sống và phóng khoáng trong lối sáng tác. Mọi danh
lợi quyền tước đều đă bỏ
lại sau lưng, những bước đi thênh thang
giữa đất trời lồng lộng đa
tạo nên khúc Phóng Cuồng Ngâm.
Thiên địa diêu vọng hề hà mang mang
Trượng sách ưu du hề phương ngoại
phương,
Hoặc cao cao hề vân chi sơn
Hoặc thâm thâm hề thủy chi dương.
Cơ tắc xan hề ḥa la phạn,
Khốn tắc miên hề hà hữu hương
Hứng thời suy hề vô khổng địch,
Tĩnh xứ phần hề giải thoát
hương...
Đất trời không
giới hạn bước tiêu dao của Thiền
sư, vui với non xanh nước biếc khi tâm đă
hoàn toàn tĩnh lặng đối với trần
cảnh. Khác với những khúc thống ẩm
cuồng ca của lữ khách đày đọa kiếp
phong trần, Tuệ Trung Thượng Sĩ đă
thể hiện cuộc sống giải thoát trong
hiện tại, khi đến non cao để
hưởng cảnh thanh u tịch mặc, khi về
biển rộng để cùng ḥa nhịp với sóng
cồn hùng tráng, đói th́ ăn, mệt th́ ngũ. Lúc
hứng th́ thổi sáo vô âm, khúc nhạc của chính tâm
hồn, lúc tĩnh tọa thắp lên nén hương
giải thoát.
Quyện tiểu phại hề hoan hỷ địa
Khát băo xuyết hề tiêu dao thang,
Quy sơn tác lân hề mục thủy cổ
Tạ Tam đồng chu hề ca Thương Lang.
“Nhọc chút chừ nghỉ đất hoan hỷ.
Khát uống no chừ thang tiêu dao.” Sự hoan hỷ
mới đúng là thật địa cho mỗi chúng ta
nghỉ khi những gánh nặng của cuộc
đời đè nén lên tâm thức. Những bước
tiêu dao, hóa giải những nỗi khổ nhọc
của tâm hồn, sự thực tập Thiền quán
nuôi dưỡng con người trong những tháng ngày
mệt lử trên đường vạn lư cơi Ta Bà. Ngài
Quy Sơn Linh Hựu thường lấy h́nh ảnh con
trâu để hướng dẫn Thiền cho chúng
đệ tử, mỗi hành giả là mỗi mục
đồng, tâm là con trâu cần được
điều phục.
Khi Ngài Quy Sơn Linh
Hựu tịch rồi,học tṛ của Ngài là
Đại An nói: “Đại An ở núi Quy ba mươi
năm, ăn cơm núi Quy, đại tiện núi Quy, mà
không học Thiền núi Quy, chỉ coi chừng con trâu.
Nếu nó lạc đường hay vào trong cỏ
liền lôi nó lại. Nếu ăn lúa mạ của
người, liền đánh đập điều
phục nó. Đáng thương đă lâu chịu
người rầy rà, hiện giờ nó đổi thành
con trâu trắng đứng hiện trước mặt,
trọn ngày hiện sờ sờ đuổi cũng chẳng
đi”. Tuệ Trung Thượng Sĩ nói cùng với Quy
Sơn chăn châu, nghĩa là cùng đi trên Thiền
lộ, tuy kẻ trước người sau cách nhau vài
thế kỷ vẫn có thể gặp nhau. Cho nên Tuệ
Trung Thương Sĩ cũng có thể ngồi chung
thuyền với Tạ Tam Lang. Tạ Tam Lang tức là
Tông nhất Thiền sư Pháp danh là Sư Bị ở
Huyền Sa, thường gọi là Huyền Sa Sư
Bị, lúc Ngài tuổi trẻ thường có thú vui câu
cá, đến khi phát tâm xuất gia cầu giải thoát,
liền bỏ thuyền câu, lên núi tu hành. Về sau
ngộ đạo, nổi tiếng là đức
hạnh và trí tuệ. Trong những tháng năm du hóa, Ngài
thường dạo trên sông Hán Thủy. Nên, Tuệ Trung
Thượng Sĩ nói về khúc hát Thương Lang,
tức là một khúc hát của ông chài, nhưng lại
nói lên thú tiêu dao của những người xuất
trần thượng sĩ.
Ngoài ra, Thương lang c̣n
là tên của một đoạn sông Hán Thủy. Những
vị Thiền sư đă tiêu dao trên ḍng sông sinh tử,
và đă cùng nhau hát khúc thương lang, sống thanh
thản trên những đợt sóng ngầm của
cuộc đời.
Đốt đốt phù vân hề phú quư,
Hô hô quá khích hề niên quang
Hồ vi hề quan đồ hiểm trở
Phả nại hề thế thái viên lương.
Thâm tắc lệ hề thiển tắc yết,
Dụng tắc hành hề, xả tắc tàng.
Phóng tứ đại hề mạc bả tróc,
Liễu nhất sinh hề hưu bôn mang
Thích ngă nguyện hề đắc ngă sở,
Sinh tử tương bức hề ư ngă hà
phương.
Phú quư chỉ là đám phù
vân, tháng năm như bóng ngựa qua cửa sổ.
Tất cả đều theo một quy luật ngàn
đời không hề thay đổi, đó là sinh thành
dị diệt, tất cả có tụ rồi sẽ tán,
có thành rồi sẽ hoại.
Biết rơ điều
đó, Thiền sư không c̣n bận tâm đối
với thế sự. Con người cứ măi mê
lặn hụp trong sự tranh giành hơn thua danh
lợi, không biết rằng cuộc đời vô
thường, ba vạn sáu ngàn ngày là mấy mà phải
đồ vương định bá để gây đau
khổ cho chính bản thân ḿnh và những người
xung quanh. Đường danh lợi là con
đường tủi nhục.
“Đi càn chừ, đường quan hiểm trở
Chịu sao chừ ấm lạnh t́nh đời”
Thật gian truân cho
những người c̣n vướng ṿng danh lợi, càng
đi càng nguy hiểm, càng đi càng đau khổ.
Trong sự tranh danh
đoạt lợi, con người không từ chối
một thủ đoạn nào, không bỏ qua một
tội ác nào, và quên đi tất cả những
đạo lư mà Thánh Hiền đă nói. Bởi vậy, mà
Vương Duy, một vị quan thời thịnh
Đường, đỗ tiến sĩ và làm quan
đến chức Thượng Thư Hữu Thừa
cũng than rằng:
“Chước tửu dữ quân, quân tự khoan,
Nhân t́nh phiên phúc tợ ba lan,
Bạch thủ tương tri do án kiếm
Chu môn tiên
đạt tiếu đàn quan”...
Vương Duy rót
rượu cho bạn và khuyên bạn đừng
buồn, ḷng người như sóng nước mà thôi.
Nhân t́nh thế thái là vậy, ḷng người thay
trắng đổi đen là chuyện thường t́nh,
người bạn tâm giao đă bổ kiếm vào
đầu nhau chỉ v́ một chút danh lợi.
Tương tự như vậy, Tuệ Trung
Thượng Sĩ cũng đă cảm thấy ngao ngán
t́nh đời, nên đă sớm từ bỏ con
đường hoa gấm để tiêu dao ngày tháng
với sông nước hải hồ. Nhưng không
phải bi quan, Tuệ Trung Thượng Sĩ vẫn có
một lối nhập thế, đó là tùy duyên hóa
độ. “Sâu th́ xắn, cạn th́ vén. Cần th́ làm,
không th́ ẩn”. Tư tưởng thật khoan dung
phóng khoáng, cứ mặc cho ḷng người đen
bạc, cứ tùy thời mà xử thế, không nên có
thành kiến hoặc câu chấp.
Buông bốn đại, không cần nắm bắt,
Tỉnh một đời, dừng bước bôn ba.
Người đời
đau khổ v́ sự lụi tàn của tứ
đại, cũng như sự mất mát của
những ǵ họ cho là ngă sở. Bởi chấp vào thân
nên mới khổ v́ thân, chấp vào ngă nên phiền năo
không cùng. Nên khi buông bỏ sự chấp trước vào
tứ đại, th́ tâm không c̣n lưu luyến với
sự c̣n, mất, vui, buồn... Dù sống trong cuộc
đời xuôi ngược nhưng vẫn tỉnh táo v́
Thiền sư đă đứng lên trên cuộc
đời.
Thỏa nguyện ta chừ vui sở thích
Sống chết bây giờ có ngại chi
Sống giữa cơi Ta Bà
mấy ai được sở nguyện, chỉ có
những vị Thiền sư, đến v́ bản
nguyện và đi trong bản nguyện, cho nên trong lúc
hành hóa cũng là vui thú dạo chơi trong cơi đời
ô trược nhưng không vướng bụi hồng.
Sống an vui giữa trời cao biển rộng, ra vào
ba cơi nhẹ nhàng tợ mây trôi. Thượng Sĩ đă
làm chủ được sự sống và chết,
nẻo đi về đă mở rộng thênh thang.
Bên bước tiêu dao
ngạo nghễ giữa cuộc thăng trầm của
Tuệ Trung Thượng Sĩ, c̣n có Trần Nhân Tông
trầm tĩnh thanh cao. Ngài là vị Tổ Sư khai sáng
ḍng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, hiệu là Giác Hoàng
Điều Ngự. Ngài là con đầu của Trần
Thánh Tông, lên ngôi năm 1279, niên hiệu là Thiệu
Bảo.
Đối với thế
gian, Ngài là một vị vua tài ba, đă cùng cha (Hoàng
Thượng Trần Thánh Tông) lănh đạo triều
đ́nh đề giữ ǵn đất nước trong
những cuộc xâm lăng của quân Nguyên và đă giành
những chiến công lừng lẫy làm rạng rỡ
đất Đại Việt.
Là người nổi
tiếng khoan ḥa nhân ái nên được mọi
người kính phục và mến mộ. Đối
với sự nghiệp văn hóa, Trần Nhân Tông là
một nhà thơ xuất sắc có phong cách riêng, là
vị Tổ sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm.
Từ sự hành Thiền
sâu sắc đi đến sự phóng khoáng trong
đời sống tâm linh, và tiếp xúc với thế
sự bằng tinh thần lạc quan, điều này
đă giúp Trần Nhân Tông trở thành một nhà nghệ
sĩ đồng thời là một Thiền sư
sống tự tại thảnh thơi. Thơ của
Trần Nhân Tông vừa mang tính cách của một học
giả uyên bác, vừa mang tính dân dă. Cho nên, thơ của
Trần Nhân Tông dễ đi vào cảm xúc của ḷng
người. Bài “Nguyệt” của Trần Nhân Tông nói lên
tính lăng mạn trong thơ.
Bán song đăng ảnh măn sàng thư,
Lộ trích thu đ́nh dạ khí hư,
Thụy khởi châm thanh vô mích xứ,
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ.
Dịch:
Đèn song chếch bóng, sách đầy giường,
Đêm vắng, sân thu lác đác sương,
Thức dậy tiếng chày đâu chẳng biết,
Trên cành hoa quế, nguyệt lồng sương.
Đêm đă về khuya,
người nghệ sĩ thường có những
cảm hứng thi ca, ngồi bên ngọn đèn chếch
bóng, thả hồn theo ánh trăng trong sân thu lác đác
sương. Phải có một tâm hồn hết sức
thư thái mới có thể có được trạng
thái này. Mặc dù ở trong thế gian, hằng ngày lo
việc quốc gia, nhưng bây giờ hăy gác thế
sự lại một bên để thưởng thức
cảnh thái b́nh trong đêm thu thanh vắng. Vẳng nghe tiếng
chày đồng vọng quê hương, không phải
là tiếng chày như tất cả những tiếng
chày b́nh thường mà là tiếng chày tự trong tâm
thức. Trong đêm khuya mới có dịp tiếp xúc
thực sự với quê hương, thấy quê
hương sao mà gần gũi quá, và chính quê hương
mới là nhịp sống của mỗi con
người. Làm sao quên được chùm hoa quế
thơm ngát đầu vườn với mảnh trăng
non mới mọc, một h́nh ảnh thật nên thơ.
Như tất cả các nhà
thơ, Trần Nhân Tông cũng có những hoài niệm xa
xôi qua Thiên Trường Văn Vọng. Ngay từ
đề thơ đă tạo cho chúng ta một cảm
giác thật là thơ. Theo Đại Nam Nhất
Thống Chí, phủ Thiên Trường đời nhà
Lư là phủ Hải Thanh, đến đời Trần
Thánh Tông mới đổi là Thiên Trường, đây là
nơi phát tích họ Trần, Nhà Trần khi lập
được ngôi vua, có xây hành cung ở đó và hàng
năm về thăm để tỏ ư không quên nguồn
gốc. Cũng trong một dịp về quê, Trần
Nhân Tông đă đứng ngắm nh́n quê hương trong
khói lam chiều.
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch dương biên,
Mục đồng địch lư quy ngưu tận
Bạch lộ song song phi hạ điền.
Dịch:
Xóm trước thôn sau tựa khói lồng
Bóng chiều như có lại như không,
Mục đồng thổi sáo, trâu về hết,
C̣ trắng từng đôi liệng xuống
đồng.
Quang cảnh quê
hương mờ ảo trong sương tạo cho ḷng
người biết bao cảm xúc, văn vọng những
nỗi hoài cổ của thời cha ông gây dựng cơ
đồ. Cảnh vật như bức tranh thủy
mặc đă khơi cho tác giả những cảm
hứng vô cùng sâu đậm đối với t́nh
cảm quê hương. Tất cả nửa như có,
nửa như không, ẩn hiện trong không gian ch́m
lắng. Điều đó đă diễn tả một
tâm hồn tĩnh lặng đối với không gian và
thời gian, nếu một tâm hồn xao động theo
thế sự th́ không bao giờ có những cảm
hứng đối với cảnh vật xung quanh, dù
đó là một cảnh thật thơ mộng. Ở
đây, tác giả đă gạt bỏ những nỗi
buồn vui nhân thế để ḥa ḿnh vào sự cô
tịch thanh u của hiện tại. Hoàng hôn buông
xuống theo tiếng sáo mục đồng, từng
đôi c̣ trắng xuống đồng t́m nơi ẩn
trú, vạn vật như trở về chốn cũ
để lại sự yên tĩnh cho ánh tà dương
c̣n đọng lại trên miền hoang dă. Thơ và
Thiền đă gặp nhau trên tâm hồn thanh thoát và
tĩnh lặng.
Thơ của Trần Nhân
Tông thể hiện tính cách của một Thiền sư
hơn là một vị vua hay là một nhà chính trị.
Từ khi c̣n ở ngôi vua, Trần Nhân Tông đă có những
bài thơ nói lên đời sống hướng
đến tâm linh nhiều hơn nói về thế
sự.
Dương liễu hoa thâm điểu ngữ tŕ,
Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi,
Khách lai bất vấn nhân gian sự,
Chỉ bạng lan can khán thúy vi.
Dịch:
Chim nhởn nhơ kêu liễu trổ dày,
Thềm hoa chiều rợp bóng mây bay,
Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế,
Cùng tựa lan can nh́n núi mây.
Xuân trong thơ của
Trần Nhân Tông không khác ǵ xuân trong cửa Thiền.
Tinh thần nhập thế của Trần Nhân Tông
được thể hiện qua bài Cư Trần
Lạc Đạo Phú bằng chữ Nôm, tuy ở
giữa chốn hồng trần nhưng tâm không dính
bụi, ngồi trong phồn hoa phố thị mà vẫn
b́nh thản như nhiên:
“Ḿnh ở thành thị,
Nết dụng sơn lâm,
Muôn nghiệp lặng an
nhàn thể tính,
Nửa ngày rồi tự
tại thân tâm.
Tham ái nguồn dừng,
chẳng c̣n nhớ châu yêu ngọc quư,
Thị phi tiếng
lặng, được dầu nghe yến thốt oanh
ngâm,
Chơi nước
biếc, ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người
đắc ư,
Biết đào hồng, hay
liễu lục, thiên hạ năng mấy chủ tri âm.
Nguyệt bạc vừng
xanh, soi một chỗ Thiền hà lai láng,
Liễu mềm hoa tốt,
ngất quần sinh tuệ nhật sâm lâm.”...
Tâm an nhiên không c̣n bị
vướng mắc trong xa hoa phú quư, ngồi tự
tại nghe yến hót oanh ngâm. Tiêu dao với nước
biếc non xanh, thấy sự hiện hữu nhiệm
mầu, sáng bừng tuệ nhật.
Thơ của Trần Nhân
Tông mang đậm hương vị của Thiền,
những năm chưa xuất gia, Ngài đă là một
người am tường về Thiền học, nên những
khi hành quân ǵn giữ non sông, Ngài vẫn thể hiện
tính trầm tĩnh của một Thiền giả. Khi
xuất gia hành đạo, Trần Nhân Tông đă du hóa
khắp nơi để giảng dạy về Giáo lư
cũng như hướng dẫn mọi người
thực tập Thiền quán, cuối cùng Ngài dừng chân
ở Trúc Lâm Yên Tử và trở thành vị Tổ
thứ nhất của ḍng Thiền Trúc Lâm. Sau khi
Trần Nhân Tông thị tịch, Thiền sư Pháp Loa
đă kế nghiệp Ngài, làm vị Tổ thứ hai
của ḍng Thiền Trúc Lâm.
Thiền sư Pháp Loa là
người uyên thâm Thiền học, đồng
thời có tài tổ chức các hoạt động
Phật giáo thời bấy giờ, Ngài đă có công khai
sáng viện Quỳnh Lâm và tu sửa nhiều tu viện
khác. Ngài thường được vua Trần Anh Tông
mời giảng kinh Pháp Hoa, kinh Viên Giác, Tuyết
Đậu Ngữ Lục, Đại Tuệ Ngữ
Lục và Thượng Sĩ Ngữ Lục của
Tuệ Trung Thượng Sĩ và Thiền Lâm Thiết
Chủy Ngữ Lục của Trần Nhân Tông. Ngài ít sáng
tác thơ, nhưng hiện giờ vẫn c̣n ba bài:
Nhập tục luyến thanh sơn, Thị tịch và
bài Tán Tuệ Trung Thượng Sĩ, tất cả các
thơ và văn của Ngài chủ yếu nói về
Thiền học. Khi Ngài thị tịch đă để
lại bài kệ:
Vạn duyên tuyệt đoạn nhất thân nhàn,
Tứ thập niên dư vọng ảo gian,
Trân trọng chư nhân hưu tá vấn,
Ná biên phong nguyệt cánh hoàn khoan.
Dịch:
Một thân nhàn nhă dứt muôn duyên,
Hơn bốn mươi năm những hăo huyền,
Nhắn bảo các người đừng gạn
gỏi,
Bên kia trăng gió rộng vô biên.
Sợi tơ vương
vấn trong lao tù chấp ngă giờ đây đă cắt
đứt, đi-về trong ba cơi đâu c̣n ngăn
ngại. Thiền sư đă thể nhập đạo
lư mầu nhiệm của sự sống, Ngài đă
dạy các đệ tử của ḿnh rằng hăy
sống và tiếp xúc với thực tại chứ
đừng bao giờ đặt những nghi vấn
về sự mất c̣n, suy thịnh... Vũ trụ
sẵn sàng đón nhận chúng ta, và chúng ta sẽ có
những bước thảnh thơi nếu tất
cả những mối nghi ngờ đều lắng
xuống. Đất trời lồng lộng là nhà, ba cơi
là quê hương và tất cả chúng sanh là bằng
hữu, tất cả các pháp là tṛ ảo hóa, có ǵ
để vướng mắc và khổ lụy.
Thời đại Lư
Trần là thời hoàng kim của văn học Việt Nam và
xuất hiện nhiều cao nhân trong Thiền uyển.
Bởi vậy, văn học Lư Trần khác xa văn
thơ đời Nhà Đường. Văn đời
Lư Trần là lối văn biền ngẫu, lăng mạn
nhưng rất oai hùng và mang đậm màu sắc
của Thiền học. Nền văn học Lư Trần
là nền văn học mới vùng lên từ ách nô
lệ, cho nên mang đủ khí phách của những tâm
hồn hùng tráng, đồng thời Thiền học là
yếu tố quan trọng để nền văn
học đó cất cánh bay cao, vượt lên trên
những lối lăng mạn của khách phong trần
thế tục đời Đường. Lư Bạch tài
ba, sống lăng mạn bất cần thế sự, lăng
mạn đến độ ngông cuồng, cái lăng
mạn đó chỉ đủ can đảm để
lao ḿnh ôm trăng và quên đi những nỗi buồn
thống khổ. Trăng trong thơ của Lư
Bạch nói riêng và Trăng trong thơ
Đường nói chung là một màu trăng ảm
đạm, là ánh trăng phủ kín sương mờ, Trăng
đẹp, nhưng Trăng đắm ch́m trong hoài
cổ, Trăng khát vọng mơ hồ.
Ngược lại, Trăng trong thơ của
Trần Nhân Tông là Trăng vô sự chiếu
người vô sự. Trăng trong thơ
Lư-Trần là ánh trăng Lăng Già chiếu thuyền
Bát Nhă.
Tất cả đều gác lại sau
lưng để mở ra một bầu trời tự
tại.
1
|