1. Chuẩn bị: Trước khi ngồi thiền, cần
hoàn tất các công việc thường nhật trong ngày để tư
tưởng khỏi vướng bận; Tắm rửa sạch sẽ, nới lỏng quần áo;
Chọn một nơi yên tĩnh, thoáng mát, không có ruồi muỗi.
2. Tư thế: Có thể chọn tư thế ngồi xếp
bằng thông thường, ngồi bán già hoặc ngồi kiết già. Lưng
thẳng, cằm hơi đưa vào để cột sống được thẳng. Đầu lưỡi
chạm nhẹ nướu răng trên. Hai bàn tay buông lỏng đặt trên
hai đùi hoặc đan chéo nhau để trước bụng, miễn sao hai
tay cảm thấy thoải mái, dễ giãn mềm cơ bắp là được.
Tư thế kiết già (thế hoa sen), đặc biệt thích hợp cho
việc ngồi thiền: Ngồi xếp bằng tự nhiên, dùng hai bàn
tay nắm bàn chân phải từ từ gấp chân lại và đặt bàn chân
lên đùi trái, gót chân ép sát bụng, lòng bàn chân ngửa
lên trời. Kế tiếp dùng hai bàn tay nắm bàn chân trái gấp
lại, đặt bàn chân trái lên đùi phải, kéo nhẹ gót chân
vào sát bụng, bàn chân ngửa lên trời.
Các đạo sư Yoga cho rằng vị thế khóa nhau của hai
chân trong tư thế kiết già sẽ tạo sức ép lên hai luân xa
ở dưới cùng của cơ thể, khiến dòng năng lượng có khuynh
hướng đi lên để nuôi dưỡng các trung tâm lực dọc theo
cột sống và kiểm soát toàn bộ hệ thần kinh. Những thí
nghiệm khoa học về Yoga cho thấy chỉ cần ngồi tư thế hoa
sen, dù ta không cố gắng tập trung tư tưởng, vẫn có một
sự thay đổi ở sóng não từ nhịp Beta khoảng 20 chu kỳ mỗi
giây xuống nhịp Alpha khoảng 8 chu kỳ mỗi giây. Nhịp
Alpha là tình trạng sóng não của một người đang trầm
tĩnh và minh mẫn. Điều nầy có nghĩa là tự thân tư thế
kiết già đã có công năng làm êm dịu thần kinh chưa kể
đến những cố gắng khác của việc ngồi thiền.
Kết quả trên cũng phù hợp với những lý luận của y học cổ
truyền khi biết rằng ở thế kiết già, xương mác ở cẳng
chân trái đã tạo một sức ép khá mạnh lên đúng vị trí
huyệt Tam âm giao ở chân phải (huyệt Tam âm giao ở chỗ
lõm bờ sau xương chày, trên mắt cá chân trong khoảng
6cm). Như vậy, trong suốt thời gian ngồi kiết già, huyệt
Tam âm giao sẽ được kích thích liên tục. Tam âm giao là
huyệt giao hội của 3 đường kinh âm: Tỳ, Can và Thận nên
tác động kích thích này sẽ có tác dụng "thông khí trệ",
"sơ tiết vùng hạ tiêu" và điều chỉnh những rối loạn nếu
có ở những kinh và tạng có liên quan, đặc biệt là tác
dụng "Dưỡng âm kiện Tỳ" và "Sơ Can ích Thận" mà các thầy
thuốc châm cứu đều biết khi tác động vào huyệt này.
Những người có dấu hiệu căng thẳng thần kinh, những bệnh
nhân "Âm hư hỏa vượng" hay gặp các cơn bốc hỏa về chiều
và những phụ nữ đang ở tuổi mãn kinh sẽ dễ dàng cảm nhận
được hiệu quả khi ngồi vào thế kiết già.
3. Giảm các kích thích giác quan: Một
trong những yếu tố quan trọng để dễ nhập tĩnh là không
bị các kích thích bên ngoài quấy nhiễu. Người xưa gọi là
"bế ngũ quan".
Trên thực tế, những quan sát qua điện não đồ cho thấy
chỉ cần nhắm mắt để loại bỏ thị giác là đã giảm được 50%
các kích thích từ bên ngoài. Do đó, nên nhắm mắt lúc
ngồi thiền. Khi nhắm mắt chỉ cần khép hờ để bảo đảm
không có sự căng cơ ở vùng mặt.
4. Giãn mềm cơ bắp: Ngày nay, khoa học
đã biết rất rõ tác động qua lại giữa 2 yếu tố thần kinh
và cơ. Khi thần kinh căng thẳng, trương lực cơ bắp cũng
gia tăng. Ngược lại, nếu điều hòa trương lực cơ bắp ở
mức thư giãn thì thần kinh cũng sẽ được ổn định. Chúng
ta dễ dàng nhận thấy điều này khi quan sát một người
đang giận dữ. Khi tức giận, gân cổ nổi lên, cơ bắp căng
cứng, bàn tay nắm chặt...; đó là lúc thần kinh quá căng
thẳng. Ngược lại, hãy nhìn một người đang ngồi ngủ gật
trên xe. Lúc người này thiếp đi là lúc thần kinh ở mức
thư giãn, tâm không còn ghi nhận ý niệm gì cụ thể và cơ
bắp cũng giãn mềm nên đầu dễ dàng ngoẹo sang một bên. Vì
vậy, trong quá trình hành thiền, việc chủ động giãn mềm
cơ bắp sẽ thúc đẩy nhanh quá trình thư giãn, nhập tĩnh.
Trên thực tế, chỉ cần quan tâm giãn mềm cơ mặt và cơ
bàn tay là đủ. Điều này căn cứ vào hai quy luật: Thứ
nhất, mặt và hai bàn tay là những vùng phản chiếu có các
điểm tương ứng với toàn bộ cơ thể, do đó nếu thư giãn
được vùng mặt hay hai bàn tay sẽ thư giãn được toàn thân.
Thứ hai, theo học thuyết Paplop, khi tập trung gây ức
chế thần kinh một vùng hoặc một điểm ở vỏ não (qua hiệu
ứng thư giãn) thì sự ức chế này sẽ lan tỏa gây ức chế
toàn bộ vỏ não.
5. Tập trung tâm ý: Đây là giai đoạn
chính của buổi hành thiền. Như đã nói ở phần trên, thiền
chính là sự tập trung tư tưởng vào một điểm hoặc một đề
mục duy nhất để dần dần đạt đến tình trạng trống rỗng,
không còn vướng mắc vào bất cứ một ý niệm nào. Để thư
giãn thần kinh hoặc để chữa bệnh, chỉ cần duy trì tình
trạng tập trung vào điểm hoặc vào đề mục tập trung trong
một thời gian nhất định là đủ. Điều quan trọng là nên
tập đều đặn hàng ngày, mỗi ngày một hoặc hai lần. Lúc
đầu, ngồi khoảng 15 phút mỗi lần, dần dần tăng lên. Sau
một thời gian, khi não bộ đã ghi nhận thói quen thiền
thì việc ngồi vào tư thế, nhắm mắt, việc đầu lưỡi chạm
nhẹ nướu răng trên hoặc ám thị giãn mềm cơ bắp sẽ hình
thành nên những phản xạ có điều kiện để đưa người tập
vào trạng thái thiền định.
Về điểm để tập trung tư tưởng, một vị trí ở vùng bụng
dưới mà nhiều trường phái thường chọn làm điểm tập trung
khi ngồi thiền là huyệt Đan điền, cách dưới rốn khoảng
3cm. Nên tập trung vào điểm này vì nhiều lẽ.
Theo y học cổ truyền, "thần đâu khí đó". Do đó, khi
tập trung vào một điểm ở vùng dưới cơ thể thì khí và
huyết sẽ lưu chuyển về phía dưới, làm nhẹ áp lực ở vùng
đầu, dễ dẫn đến nhập tĩnh.
Đan điền còn gọi là Khí hải hay Khí huyệt, ngụ ý là
nơi "luyện thuốc", là "bể chứa khí". Đan điền là một
huyệt quan trọng trong việc luyện dưỡng sinh của các đạo
sĩ, các nhà khí công. Có nhiều trường phái khác nhau và
việc tu luyện rất phức tạp. Tuy nhiên, các công phu của
đạo gia nói chung và việc phát sinh nội khí để chửa bệnh
nói riêng đều dựa vào bí quyết "hồi quang nội thị"
hoặc "ngưng thần nhập khí huyệt". Tâm không duyên
ra ngoài, hướng đôi mắt vào trong gọi là hồi quang,
tập trung thần vào bên trong cơ thể gọi là nội thị.
Ngưng thần nhập khí huyệt chính là tập trung tâm
ý tại Đan điền để phát sinh nội khí. Lâu dần chân khí
được sung mãn sẽ khai thông các kinh lạc bế tắt hoặc bồi
bổ cho ngủ tạng để tăng cường sức khoẻ.
Một số người tâm dễ xao động có thể cần một phương
pháp kiểm soát tâm chặt chẽ hơn. Trường hợp này, nên kết
hợp quan sát hơi thở với việc tập trung tại Đan điền
bằng cách quan sát sự phồng lên và xẹp xuống tại bụng
dưới. Lúc hít vào bụng dưới hơi phồng lên, lúc thở ra
bụng dưới hơi xẹp xuống. Chỉ cần thở bình thường. Không
cần quan tâm đến thở sâu hay thở cạn, đều hay không đều.
Điều quan trọng ở đây là tập trung quan sát để biết rõ
ta đang hít vào hay đang thở ra thông qua chuyển động
phồng lên hay xẹp xuống ở bụng dưới. Sở dĩ chọn quan sát
hơi thở ở bụng dưới mà không phải ở đầu mũi hoặc ở ngực
là nhằm tạo quán tính thở sâu kết hợp với việc phát sinh
nội khí ở Đan điền như đã dẫn ở phần trên. Thỉnh thoảng
sẽ có những lúc tâm bị phân tán, các tạp niệm xen vào.
Điều này là bình thường. Chỉ cần khi nhớ ra hãy tập
trung trở lại Đan điền hoặc tiếp tục quan sát hơi thở
vào ra là đủ. Lâu dần, những tạp niệm sẽ bớt đi, thời
gian tập trung sẽ dài hơn, hơi thở sẽ đều, chậm và nhẹ
hơn, cho đến lúc không còn ý niệm và quên luôn cả hơi
thở. Nếu thường xuyên đạt đến tình trạng này, có nghĩa
người tập đã tiến được một bước rất dài. Không chỉ là
không bệnh tật mà còn là sự tự tin, cảm thông và hoà hợp
để dần dần đạt đến điều mà người xưa gọi là thiên
nhân hợp nhất.
6. Xả thiền: Sau khi ngồi thiền, trước
khi đứng dậy cần làm một số động tác để cơ thể hết tê
mỏi và khí huyết lưu thông bình thường. Từ từ buông
thõng hai chân, xoay người qua lại nhiều lần, xoay ở
vùng hông và vùng cổ. Dùng hai tay vuốt nhẹ hai bên sóng
mũi từ đầu mũi xuống chót cằm, vuốt ấm vành tai. Xoa hai
lòng bàn tay vào nhau cho ấm rồi áp vào mắt. Dùng hai
bàn tay xoa bóp dọc theo hai chân, từ đùi dài xuống bàn
chân. Xoa ấm hai lòng bàn chân.
Việc xả thiền tùy thuộc vào mỗi buổi thiền. Nếu chỉ
thiền khoảng 15 phút hoặc khi có công việc cần đứng lên
gấp thì chỉ cần co duỗi hai chân và xoay người, hoặc lắc
cổ qua lại nhiều lần là đủ.