Ngôi Chùa Xưa
,tại
Kiến Tường Cổ Tự ...
Ngôi Chùa Xưa hay là Nơi
sanh của Vua Minh Mạng.
Vì câu chuyện nầy khá
dài, chúng tôi không thể nói ngắn
vài câu là trọn ý nghĩa nơi sanh
của Vua Minh Mạng, nên quý bạn đành
đọc một phần câu truyện nầy...
mà chúng tôi có đăng tại vài
tờ báo hải ngoại... Khá lâu rồi..
.
Cách
đây trên 200 năm ...
Một ngôi chùa nghèo
...đêm về khuya ...
Sư cụ Thường Chiếu trở
bệnh nặng mấy ngày nay.
Người bị sốt cách nhật
từ vài tháng trước, nay chuyển
thành sốt thường nhật. Nóng nóng
lạnh lạnh (mà ngày nay gọi là sốt
rét). Mặc dù Người giỏi về
cách bốc thuốc,nhưng với bệnh nầy
thì rất khó rồi Uống thuốc Bắc
thì rất đắt tiền, còn thuốc Nam
thì " phước chủ may thầy ", toàn
là nghe lời đồn toa nầy trị bệnh
rất hay, toa kia không hay lắm.vv.. Uống nào
là đọt lá ớt và là sầu
đâu nhưng càng thêm mệt rũ
người.
Xóm người Miên bên kia
sông giờ đây vắng vẻ đìu hiu.
Người Miên họ bỏ sóc đi lên
thành Lô Bích từ lâu rồi. Họ
nói người " Duồn " không tố,
họ đến quá đông, rồi họ cứ
tự nhiên xem vùng đất nầy là
nhà của họ mà không nghĩ gì
đến những người Miên sống tại
đây hàng chục năm trời có dư.
Người " Duồn " họ lội xuống
sông mà cứ tự nhiên chặt là
dừa nước mà lợp nhà mà không
xin ai hết. Họ nói " đất nầy
thuộc chim trời cá nước mà? Đất
của Trời Đất nào của ai đâu?
". Làm như vậy lần hồi người
Miên họ ghét, và họ lần lựơt
bỏ xóm mà ra đi tay không. Nhà lá
họ cất cao cẳng, và mặt tiền hay cửa
cái thì họ đón ngoài sau từ
đường sông đi lên nhà. Còn
người Việt thì họ làm cửa cái
họ đón từ con đường đất
lộ nhỏ mà vào trong nhà. Hai phương
Trời cách biệt với nhau. Người Việt
ăn cơm họ dùng đũa, còn
người Miên thì tay họ bốc ăn cơm.
Hạt gạo là phẩm vật quý của
Trời Đất mà tại sao dùng đũa
khều khều vậy? Khi người Miên cuối
cùng rời xóm, thì lục cụ (sãi
Miên) N’teak Klong cũng bần thần không
ít. Ngôi chùa Miên " Traklacbưng "
có mặt nơi đây trên 70 năm trời
rồi, tự dưng đến ngày tàn - như
Đế Thiên Đế Thích vậy, như
vậy không làm lục cụ buồn rầu sao
được? Ngài nhớ lại thời vàng
son, nơi dòng sông lớn này, đến
kỳ mừng con nứơc về, mà người
Miên gọi là " Thnâycha Prong "
nước dâng tràn ngập đến tận
chân nhà sàn. Cá nhiều vô số,
rồi kéo theo chim Trời bay đến làm
tổ đầy cây me và cây sao dầu...
như vậy thú rừng về nữa rồi. Người
thợ săn cứ việc vác cung tên và
lứoi bẫy... thế là thịt ăn không
hết quanh năm. Cá quá nhiều ăn không
hết thì phơi làm khô và làm
mắm " bòhốc ", thịt rừng cũng
vậy. Nơi xa là dòng sông to rộng,
dùng đua ghe ngo mừng Thần Mưa rất dễ
dàng. Có nơi thật xa người ta tham dự
đua ghe Ngo bằng cách " ăn nhờ ở
đậu nơi chùa Miên nầy. Họ
đến hàng trăm người, chia làm 10 toán,
mỗi toán 10 người. Mỗi toán là
một chiếc ghe Ngo dài ngoằng, mũi cong vớt
lên. Họ đậu ghe đầy khúc sông,
có người không chịu ngủ trong chùa, họ
nói " ngủ chùa không vui, không ca
hát múa " lầmthôn " với mấy
cô gái trẻ đẹp được - chùa
bắt tụng kinh hoài - còn vui cái
nước gì nữa? ". Trong sóc rộn
rịp hẳn lên... Trái gái nườm
nượp đến chùa, xin phước duyên
và " coi bói luôn "... Mặc dầu
chùa Miên không nhận thực phẩm
để dành, nhưng họ dâng cúng cho
chùa nào vải vóc, cau khô... Cau khô
thì đề dành nhai được, nhai với
lá trầu xanh thì ngon lắm. Lại cò
nhà dẫn đứa con trai vào chùa cho
làm lễ quy y... xì xụp lạy thành
khẩn, đứa con trai được cạo
đầu và tu vài tháng hay vài năm
báo hiếu cho cha mẹ. Cha mẹ vui và sư
lục cụ cũng mừng. Đua ghe thì họ
mời lục cụ ngồi ghế danh dự. Khán
đài dãn dị thôi. Dựng rạp bằng
cây rừng và lớp nóc bằng lá
dừa nứơc. Dãn dị nhưng oai nghiêm.
Sư cụ làm lễ khai quân... Rồi có
tiếng trống nổi lên,... ghe Ngo hàng chục
chiếc đang nằm hậm hực dưới bải
sông. Như một bầy cá sấu đen
lườn chờ chủ leo lên lưng là "
Ùm " xuống nước lập tức. Sư
lục cụ đánh Trống thì tất cả
chuẩn bị trên bầy cá sấu đen
hậm hực đó. Rồi có người
đốt một cây pháo lớn. Pháo nổ
là bầy cá sấu đen đó phóng
Ùm xuống sông, quẩy nước trắng
cả một khúc trời giang sơn... Người
trên bờ la hét khan cổ, bầy ghe Ngo ầm
ầm quẩy sóng chạy hung dữ ra khơi...
Rồi phút chốc bầy ghe nầy từ xa ầm
ầm trở về. Người ta la làng nữa,
đánh trống, dốt pháo... dân làng
có gì khua được cho vang tiếng thì
họ làm ngay. Nên khi hết cuộc đua
thì nồi niêu soong chảo " bầm vập
" hết... Người thua kẻ thắng gì
cũng nhậu tưng bừng... Sau đó sóc
Miên trở về khung cảnh đìu hiu âm
thầm như thường lệ. Chùa lên
đèn và đánh mõ công phu như
thường lệ.. Đàn ông ra đồng
ruộng với bò cày, đàn bà thì
ôm con ru võng kẽo kẹt nơi xa... Bầy chim
trời uể oải bay dài nơi góc trời
rồi đáp lên khu rừng nơi xa xóm.
Dân Miên không bao giờ giết
chim làm thịt. Họ nói chim là của
Ông Trời bà Trời hay thần thánh
dùng cỡi đi chơi. Nhưng từ khi
người Duồn về, từ một nhà, hai
nhà đến chục nhà rồi trăm
nhà... thì họ nói thịt chim ăn ngon
lắm. Rồi họ thả vịt đến phá
cả ruộng non của người Miên đang
trỗ lúa " đòng đòng ". Người
Miên đến gặp lục cụ mà thưa
kiện nhờ phân xử chuyện nầy. Lục
cụ đành phải xuống xóm người
Việt mà gặp trưởng xóm mới
được. Dễ chịu là ông trưởng
xóm biết lẽ phải, ông mời lục
cụ uống nước dừa rồi ông hứa
sẽ nói với chủ vịt đừng cho
đàn vịt đến phá lúa người
Miên nữa. Lục cụ nhìn tướng
người trưởng xóm nầy.. Tướng
người tầm thước, giọng nói hơi
nặng, nhưng ánh mắt thì đôi
lúc hiền đôi lúc cương quyết.
Trưởng Xóm nói họ là người
từ đàng Trong mà vào lập nghiệp
nơi nầy. Nơi đó là xứ nhiều
đất đai khô cằn sỏi đá. Dân
đông nhưng làm không đủ mà
ăn. Mưa nơi đó rất ít và
nạn châu chấu làm thất mùa hoài.
Rồi hạn hán rồi lụt nữa... Còn
nơi nầy là xứ Trời cho, thọt tay
xuống nước là có cá... Lục cụ
N’teak Klong mỉm cừơi vì câu nói
của trưởng Xóm người Việt "
xứ Trời cho "... đâu phải xứ Trời
cho, xứ nầy của người Miên hàng
trăm năm nay rồi. Mồ mả người Miên
có cái tính được trên 200 năm
có hơn... Nhưng bề gì trưởng
Xóm là người biết điều, Ông
ấy nói là ông ấy giữ lời. Ông
tên là Nguyễn Đạt, gốc Quảng
Trị từ xa.
Nay thời vàng son đó trôi
mất tiêu rồi. Người " Duồn "
họ đào thệm kinh rạch nhỏ vào khu
vườn của họ, làm cho mực nước
sông cái ngoài khơi cạn dần theo năm
tháng. Mưa lại ít về nữa. Ít
nước, thì ít cá - mà ít cá
thì ít chim và thú rừng. Dòng
sông cạn kiệt tài nguyên. Dân Miên
họ bỏ đi là đúng, họ về
lại thành La Vích mà người Duồn
gọi là thành
Sư lục cụ N’teak Klong lẩm
nhẩm hồi kinh cầu an trong miệng. Lục cụ
phải quyết định dứt khoát trong ngày
nay. Bỏ chùa hay cho chùa cho một người
Việt nào đó. TRong đầu óc lục
cụ tự nhiên nghĩ đến người
trưởng Xóm Việt. Lục cụ đến
gặp Nguyễn Đạt vào một buổi
chiều...
Sư cụ Thường Chiếu trở
bệnh nặng mấy ngày nay. Người bị
sốt cách nhật từ vài tháng
trước, nay chuyển thành sốt thường
nhật... Từ khi nhận chùa Miên đến nay
cũng thấm thoát hơn chục năm trời
có lẻ... Vì chùa dựng toàn loại cây
tầm thường, nên mối mọt làm sập
lần hồi hết., mưa gió bão bùng.
Lúc trước, khi còn người Miên
thì dân làng rất đông. Trai nhiều
mà gái cũng nhiều nữa.. Nhưng từ khi
người Miên bỏ xứ mà đi lên Cao
Miên thì người Việt cũng bị "
nạn " luôn. Giặc giã khắp nơi,
nào là binh lính triều đình Tây
Sơn, rồi binh lính nhóm Đông Sơn,
rồi thêm tướng quân Tàu Dương ngạn
Địch và Trần thắng Tài hùng
cứ mỗi người một phương. Kình
chống nhau, giết hại lẩn nhau. Mai dốt nhà
xóm nầy, mốt phóng hỏa thiêu rụi
xóm kia.Trai làng bị bắt lính gần
hết. Làng người Việt làn lần
thiếu dân đinh, ruộng không người
cày là chuyện thường. Chùa lâm
vào cảnh túng quẩn lần hồi... Không
còn ai bố thí cúng dường chi nữa.
Bữa đói bữa no là chuyện
thường. Trong Chùa chỉ còn lại có 4
người kể luôn phương trượng
Thường Chiếu. Môt chú tiểu trẻ,
mà ngày xưa ấy, lâu lắm rồi, cha
mẹ đứa trẻ nầy bị giặc bắt
đi người cha, rồi người mẹ bị
giặc hiếp chết khi đứa trẻ vừa
tròn 1 tuổi, bò quanh trong nhà... không cha
không mẹ, đứa bé đói khóc 2
ngày trời. Nếu không nhờ phương
trượng Thường Chiếu chèo ghe đi ngang
qua, nhân dịp đi bốc thuốc cho một gia
đình xóm trên nhờ. Tiếng khóc khàn
khàn của đứa bé lim dần trong không
gian, nhưng văng vẳng làm kinh hoàng
đến phương trượng. Người lật
đật quày nguợc ghe nhỏ về nhà sàn
đứa bé. Mình mẩy đứa bé
bị kiến đỏ bu đầy người, hên
là kiến chừa đôi mắt đứa
bé mà không đốt cắn. Phương
Trượng lật đật cổi áo choàng
bên ngoài mà lau chùi đứa bé.
Rồi người bồng đứa bé xuống ghe,
chèo đến nhà người bệnh mà xin
sữa cho đứa bé... Rồi người
cùng 2 dân làng đến chôn xác
người mẹ mà xác gần thành
ươn rữa. Chôn dưới gốc cây me
kế góc vườn.. Sau đó dân làng
phóng hỏa đốt ngôi nhà xấu số
đó vì không ai dám ở hết. Ma
Quỉ hiện về hàng đêm khóc
đòi con mà.Thầy có đến
đọc kinh Vãng Sanh độ hồn vài
lần, nhưng cũng không xong. Dân làng
đành phải đốt nhà đó ra tro.
Nay đứa bé nầy
được đặt pháp danh là " Ngộ
Đạt "... gần 15 tuổi rồi.
Được Thầy dạy chữ Nho tụng
đọc kinh công phu. Tánh hiền, ít
nói, ít cười, ngoan ngõan dễ
thương. Nhưng một hôm khi ‘ Ngộ
Đạt " hỏi Thầy cha mẹ con đâu
rồi? Thì nước mắt Thầy rơi xuống
lúc nào không hay. Thầy không biết
được đâu con à !...
Người thứ ba trong chùa là
chú Tư Cui. Người tầm thứơc,
thuộc loại củi lục âm thầm, ít
cười, tối ngày lui cui lo trồng rau cho
chùa. Từng bắp cải thật to lớn,
được chú Tư Cui gồng gánh xuống
chợ nơi xa mà đổi gạo đem về
nuôi chùa. Trước đó chú Tư
làm nghề hầm than. Nghề nầy cực
nhiều hơn vui. Lựa từng khúc cây
đước nơi tràm ven rừng, phơi khô
thời gian rồi chất đầy vào lò
hầm. Hầm ngày đệm liên tục,
chú Tư Cui ngửi mùi khói bốc ra từ
cửa lò bịt kín là chú biết than
chín hay chưa. Ngày kia chú Tư bỗng
nổi điên, cầm bó lửa đốt nhà
của mình cháy hừng hực, chú
định đốt thêm vài căn nhà
lối xóm mới vui dạ. Lối xóm
người tay búa tay dao bao vây chú
định xơi tái chú rồi, nhưng
người ta cũng ngại đến gần vì
chú tay cầm bó lửa tay kia cũng cầm
búa chặt củi rừng to lớn lăm lăm.
Sư cụ Thường Chiếu được lối
xóm báo tin dữ. Sư Cụ đến gần,
vừa đến vừa đọc kinh vang trời.
Chú Tư Cui chưa kịp hiểu ý nghĩa kinh
kệ thì thị bị thầy nhập nội,
rồi bị Thầy xô xuống sông gần
đó. Dân làng nhào xuống sông trói
gô chú Tư Cui định giải cho quan xử
tội. Sư cụ Thường Chiếu xin lãnh
chú về chùa nuôi. Từ đó
đến giờ trên chục năm rồi. Tóc
chú Tư giờ đây điểm hoa râm theo
năm tháng ngày.
Vừa rồi chú đến gặp
Thầy: " Thưa Thầy ! tối hôm rồi
Hổ đến rình mình, dấu chân có
lớn bằng cái tô canh vậy đó ".
Thấy Thường Chiếu cười nhẹ: " Con
đừng lo xa, Hổ nó lòng hại mình
thì minh cũng chịu thôi. Con xem chùa
mình tòan ván mõng, Hổ nó xô
nhẹ cũng xập rồi, nếu nó bắt
mình khi mình đang ngủ say thì làm sao
đây? Nếu mình có nghiệp bị Hổ
vồ thì cũng đành chịu nghiệp
mà thôi. Luân hồi không cưỡng
được đâu con ". Thầy định
nói thêm nhưng Thầy im lặng. Thầy sợ
chú Tư nói tin Chùa có Hổ rình
rập thì thập phương bá tánh
nào ai dám lên thăm chùa? Vả lại
nơi xa phố Chợ Thầy Ngạn (Đề Ngạn
= Thầy Ngoồn = SàiGòn) người
người tấp nập mà có lần cọp
về bắt nguyên một con ngựa của quan
nơi đó đem đi mất., huống chi nơi
nầy gần rừng gần sông gần tràm
đước?
Người thứ tư là Dì
năm chột. Dì có đứa con gái
độc nhất, ngày kia lấy chồng. Vợ
chồng mần ăn khá giả, nhưng lại
quên mẹ già nuôi mình tháng ngày
khôn lớn. Họ bỏ bà mẹ chơ vơ
trong nhà chòi nhỏ rồi họ lên phố
Chợ mần ăn. Nghe nói họ rất giàu, nhưng
biệt âm tín từ đó. Bà mẹ
lượm củi mà bán độ nhật quanh
vùng. Bà dùng rựa mà chặt những
cành cây to, để khô rồi chất
lại đem đi bán. Ngày kia một mảnh
cây vụn văng từ khúi củi đâm
vào mắt bà làm bà đui một bên.
Nghề lượm củi hết thời, vì đi
sâu vào rừng thì không được
vì giặc nổi lên tứ phương trời.
Họ cấm rừng.. không cho ai lai vãng vào
đây. Cuối cùng bà gõ cửa
chùa xin chùa nhận nơi nầy làm quê
hương. Từ đó Bà lo nấu ăn
bếp núc cho Chùa. Thầy đặt tên cho bà
là Diệu Nghiệp. Vào chùa tu , nghiệp
báo lần hồi tiên tan . Đó là
tên của nhà Phật rồi . Kinh giảng
nhiều nhưng bà chỉ thuộc nằm lòng
bài Tán Hương Niệm Phật và
vài câu Thủ Lăng Nghiêm, thế thôi.
Vào một đêm hạ ngươn tháng 8...
chú tiểu Ngộ Đạt nghe tiếng người
dộng cửa chùa gấp rút, chú tiều
lật đật cấm đèn dầu đậu
phộng mở cửa ra thì đụng ngay nhóm
quan quân triều đình Tây Sơn đến
khám chùa. Họ đứng chật sân
chùa, sắc khí hừng hừng. Đèn
đuốc sáng choang , tay nách tay đao hùng
hổ vô cùng ...
Chú tiểu vội chạy vaò
hậu liêu báo tin cho Thầy. "- Thưa
Thầy quan quân đến khám chùa gấp
lắm, họ cầm đèn đuốc và
khí giới sáng ngời, họ nói họ
muốn gặp chủ chùa ". Sư Thường
Chiếu vội xả thiền, Ngài tìm
đôi dép cỏ xỏ chân vào
bước ra ngoài .
Ngoài sân độ trên 20
người, tay cầm đuốc cháy phừng
phực, khí giới hung hãn. Một vị quan
võ đến chào Ngài rồi nói "
Xin Thầy cho chúng tôi xét chùa, xin hỏi
Thầy ... chùa có chứa người nào
lạ vào đây hay không? ".- Phương
Trượng Thường Chiếu vội đáp:
" Mô Phật ! bần tăng và chùa
nầy hổm rày không có một người
khác nào vãng lại đến đây
hết. Xin Quan cứ tự tiện vào xét
chùa không sao ".
Viên võ quan cùng vài
tùy tòng cầm đuốc chai cháy phừng
phực khói lửa tiến vào Niệm Phật
Đường, rồi từng người vào
hậu liêu xét từng nơi... Họ đến
nhà bếp, họ mở tung nắp lu đựng
gạo... có tiếng người nói "
chùa gì nghèo dữ vậy không biết,
trong lu còn vài chén gạo làm sao nấu
cơm cho tụi mình đây? ". Rồi quan
quân đi vòng ra sau chùa. Sau chùa là
một hồ nước lớn thả sen , ăn
thông với sông cái..thế thôi. Sau
cùng viên võ quan đến chào Thầy
rồi răn đe:" Chùa không có gì
hôm nay. Nhưng nếu Chùa chứa chấp
người lạ mà không thông báo cho
chúng tôi thì chùa sẽ bị tai họa
khôn lường đó. Thầy nên nhớ
kỹ dùm. Thôi được ngày mai hay
ngày mốt chúng tôi đến lần nữa
và cho người của tụi tôi ngủ
tại đây đó, Thầy nên chuẩn
bị từ đây. "
Đám quan quân hùng hổ
đến, rồi ầm ầm lui. Họ mang danh nghĩa
là quan quân triều đình Tây Sơn,
nhưng họ còn nguy hiểm hơn trăm lần...
họ là nhóm lính Đông Sơn của
thượng tướng Đỗ thành Nhơn.
Chủ bị giết thì đám lính
Đông Sơn nầy chia tam xẻ tứ liền...
nhóm theo chúa Nguyễn, nhóm theo Tây Sơn,
nhóm theo Nghĩa Hòa Đoàn của tàn
quân tướng Tàu Dương ngạn
Địch... Quân lính càng đông
thì dân càng khổ. Ban ngày theo nhóm
màu cờ nầy, trưa theo nhóm màu cờ
kia, chiều theo nhóm màu cờ nọ. Lâu
lâu ngay ngã tư con nước sông hồ
có vài đầu lâu được cắm
sào nhe răng trắng thấy mà ớn oan
hồn. Nhiều xác người trôi sông,
Thầy Thường Chiếu cho ngừơi vớt
lên, chính tay Thầy làm lễ chôn cất
sau bìa rừng, một vài bài kinh kệ
đơn lẻ hòa âm cùng tiếng mõ
chùa bay vào hư vô, bay vào rừng
sâu núi thẵm... Đời người vô thường,
nhưng cái chết thì hữu thường,
đủ cách, đủ loại...
Quan quân đi rồi. Chùa trở
lại không gian im lìm như xưa. Tiếng
dế lại kêu ri rỉ nơi góc cây,
tiếng uềnh oang của ểnh ương kêu
buồn tha thiết từ ao sau chùa vọng về .
Đêm tối đen như mực , sương
lạnh từ từ đổ xuống , trên lá cây
, trên nóc chùa và phả nhè nhẹ
vào hậu liêu . Sư Thường Chiếu
vào phòng, Thầy định cầm chân nhang
mà kéo ngọn bấc nơi dĩa đèn
đậu phụng xuống thấp cho bớt ánh
sáng hầu tiết kiệm dầu thắp
đèn hàng đêm. Thì một tiếng kêu
của con chim ụt , kêu ré bay ngang nóc
chùa. Thầy lẩm bẩm: "Tại sao lại
có chim báo khách vào giờ nầy nữa
cà? "... Thầy vừa chợp mắt chưa bao
lâu thì Thầy nghe chú tiểu Ngộ
Đạt , bà ni cô Diệu Nghiệp và
chú Tư Cui lại đến gõ cửa nói
nhỏ: " Thưa Thầy có khách lạ
vào sân chùa, họ đi đến 5
người nhưng có một phụ nữ...
hình như bà nầy đang bị bệnh đi
đứng khó khăn..Thầy tính sao? "
Sư Thường Chiếu ngồi dậy, cơn chóng
mặt và sốt nóng vì rét rừng
đang hành Thầy mãnh liệt. Thầy nói:
" Con mở cửa sau Chùa cho họ vào,
nhưng con dẫn họ coi chừng vì té
xuống sông thì nguy lắm, con đường
sình rất trơn đó con , coi chừng cá
sấu rình mồi hoài nơi cây gáo sau
chùa đó nghen con! ". Nhóm người
lạ 5 người. Họ hình như mất tinh
thần và đói nữa. Một người
đàn ông trung niên, dáng thấp người.
Gương mặt dài, đặc biệt hai gò má
có hai nốt rồi to và có lông mọc
từ hai nột ruồi đó. Sư Thường
Chiếu nói thầm: " Đây là quý
tướng khác thường, nhưng sát
quân, người nầy chắc là chúa
Nguyễn rồi.. ta nghe đồn bấy hôm nay
là có quân giặc từ xa lai vãng
vào đây ...Ừ ! chắc là họ rồi
" .
Người đàn ông trung
niên đó đến chào sư cụ và
không chịu vái lạy gì hết , nhưng
tiếng nói có uy lực thế nào
đó mà làm người nghe phải
đâm lòng kính trọng .. Người ấy
nói " Bạch Thầy chúng tôi có
một phụ nữ gần sanh, Thầy giúp dùm
". Thường Chiếu gật đầu " Mô
Phật ! cửa chùa rộng mở, nhưng
trước đó có quan quân Tây Sơn
vừa khám chùa, xin quý vị cẩn thận
"... Nghe nói có quan quân Tây Sơn
thì nhóm người lạ nầy hơi biến
sắc. Sư Cụ Thường Chiếu thấy một
phụ nữ đang dựa cửa hậu liêu sau
chùa, hình người như sắp sửa
bất tỉnh nhân sự. Thầy vội nói
với chú Tư Cui : “ Con đưa bà
nầy vào phòng riêng của Thầy “ ...
Chú Tư Cui hơi bất bình,nhưng vâng
lời..Thầy nói theo " Bà nầy sắp
lâm bồn, chùa nghèo không có
giường chiếu chi nhiều, nhưng cứu mạng
là trước hết. Cứ đem bà nầy
vào phòng Thầy... " Chú Tư Cui cùng
với Bà Diệu Nghiệp đở sản phụ
gần đang hôn mê vì ra máu quá nhiều,
lại đi bộ nữa... sản phụ đuối
sức và hôn mê luôn.
Đứa bé ra đời,
điều đặc biệt là đứa bé
chỉ khóc có một tiếng rồi im không
khóc. Đứa bé biết tánh mạng
nhiều người đang nằm trong tay mình
...đó là tùy theo tiếng khóc của
mình, quân địch khắp nơi.
Bé được sư Thường
Chiếu nấu cho chút nước cháo hòa
tan với đừơng thẽ trong đêm khuya
đó. Sư Thường Chiếu chính tay
Ngài đỡ đẻ cho sản phụ đó.
Thầy gọi Bà Diệu Nghiệp dặn nhỏ:
" Con vào trong xóm ráng xin sữa của
bà mẹ nào đang cho con bú, nhưng con
khá cẩn thận. Nếu quan quân biết
được thì Thầy chết không sao,
nhưng còn kéo theo nhiều người nữa
kể luôn đứa bé nầy thì nghiệp
tội này không đời nào tan
được "...
Đứa bé ra đời vào
ngày hạ ngươn tháng tám âm
lịch, năm Tân Hợi (1791). Được
Thầy đặt cho Pháp danh: "Ngộ
Phúc"... Thầy lắc đầu: " Chúa
tướng ra đời trăm sự yên, vạn
sự thịnh... nhưng ngôi chùa này sẽ
không còn nữa vì đã từng
đón chân mạng thiên tử rồi.
Chùa không đủ phước trường
thọ với thời gian... vì luật Trời
đất mà... "
Rồi 13 năm sau, đó là
năm 1804 Cao Hoàng Đế Gia Long nhớ ơn
chùa cưu mang và độ cứu con mình ra
đời trong thuở hàn vi - Con mình là
Hoàng tử Đảm... vì can đảm
khộng khóc đề cứu mạng quan quân
mình... Đảm là can đảm vậy... -
chùa nghèo và mình cũng nghèo
luôn. Cao Hoàng Đế gởi tặng chùa
một tượng Phật bằng gỗ mít, cao
gần bằng đứa bé 5 tuổi. Sơn son
thếp vàng. Cao Hoàng ban chiếu đổi
tên chùa ra là chùa Kiến Tường.
Sư ông mất vài năm sau đó.
Đến năm 1859 Thượng
tướng Nguyễn tri Phương được
lệnh đem quân về miền Nam chống giữ
giặc Pháp. Đồn được lập nơi
ngã tư khúc sông. Vào đêm khuya
(ngày 6 tháng 12 năm 1860) có một toán
quan quân Pháp từ nơi xa kéo về gần đồn.
Quan quân Nguyễn tri Phương đón
đường phục kích đoàn quân
nầy. Bị lọt vào ổ phục kích quan Ba
Barbe bị trúng đạn chết. Qua ngày sau
quân Pháp kéo đông tới, lớp đi
tàu chiến lớp cỡi ngựa và lính
dõng theo sau... Họ không thấy ai hết
ngoài ngôi chùa nghèo Kiến
Tường..họ phóng hỏa ngôi chùa
nầy ra tro không còn nữa... Đúng như
Phương Trượng Thường Chiếu tiên
đoán..chùa không còn nữa... nhưng
tượng Phật thì còn. Ngày nay
tượng Phật bằng gỗ mít của Vua Gia
Long đang ngồi yên lặng hàng trăm năm
tại Viện Khảo Cổ gần Thảo Cầm
Viên Saigon. Tượng Phật còn nhớ gì
ngày xưa đứa bé ra đời trong
ngôi chùa Miên nghèo nầy hay không?
Đứa bé đó là Vua Minh Mạng sau
nầy.. Khi Vua Minh Mạng lên ngôi thì bốn
phương Thái Bình, trăm họ âu ca an
hòa... Chùa được trùng tu và phong
sắc nhiều lần bởi vua Minh Mạng... nhưng
chục năm sau thì... cát bụi trở về
với cát bụi... chùa Miên... rồi
chùa Việt... rồi chùa Kiến Tường...
Nay không còn nữa... cát bụi trở vế
cát bụi... lời sư Thường Chiếu
nói trúng cho chục năm sau nầy.
Năm 67-68-69 tại Saigon là những năm
sôi động. Sinh viên biểu tình liên
miên, phong trào nhạc phản chiến bùng
nổ khắp nơi. Tại phòng trà, tại
vũ trường, tại câu lạc bộ sinh
viên, tại các quán cà phê lộ
thiên... nhạc phản chiến hay nhạc ngao
ngán chiến tranh được nghe, được
uống vào tâm can từng lời.
Nào Trịnh công Sơn, nào
Trương Thìn, nào Miên đức
Thắng... phong trào Du ca Sinh Viên... ngần ngần
đốt cháy tâm can thanh niên thiếu nữ
Saigon.
Trên bục gỗ quán cà
phê Văn, rồi sau đó lan đến sân
khấu lớp SPCN thuộc Khoa Học Đại Học
Đường mà Khoa trưởng là Giáo
sư Nguyễn chung Tú đồng ý ngầm...
nhạc họ Trịnh như nước vỡ bờ...
ca sĩ Khánh Ly một giọng ca xa lạ, đến
từ ĐàLạt được chấp cánh
bay lên không gian sâu thẳm. Cô ngự
trị nơi đó mà không có
đối thủ -
Bài hay nhất trọn đời
nhạc họ Trịnh là " Gia Tài của
Mẹ "... nghe thật nhức nhối vạn phần..
.. 1000 năm đô hộ giặc Tàu... 100 năm
đô hộ giặc Tây... 20 năm nội
chiến từng ngày... Gia Tài của mẹ...
một bọn lai căng..Gia Tài của Mẹ một
lũ bội tình... Dạy cho con tiếng nói
thật thà... dạy cho con chớ quên màu
da... con chớ quên màu da... nước Việt...
Khánh Ly gào lên tiếng
hát ma-hời xoáy động tấm lòng trai
trẻ bốn phương trời. Ai mà không
rúng động khi nghe lời nhạc tiên tri
nầy... Giờ đây di dân nước Việt
đến bốn phương Trời... Đông
Tây Nam Bắc... họ còn nhớ màu da
vàng của họ hay không? Từ quán cà
phê Văn trong khuôn viên Đại Học
Văn Khoa... kế nơi đó là
đường Lê quý Đôn... kế xa xa
là trtường Pháp là Chasseloup-Laubat, nay
là Trường Lê quý Đôn... gần
ngã tư đèn xanh đèn đỏ...
cách gốc cây me mà thân cây sơn
màu trắng độ chừng 25 mét, thụt
vào sâu... một gò đất nồng hơi
cao hơn mặt đường một tí.
Vâng nơi đó là di
chỉ của chùa Khải Tường. Nơi
mà hoàng tử Đảm ra đời trong
ngôi chùa nghèo nàn, mà phương
trượng là sư Thường Chiếu. Con
đường Lê quý Đôn nối dài
mà xưa đó là một con sông
rộng... trăm năm trước chùa Miên
đang đua ghe Ngo khi mùa nước nổi. sư lục
cụ cầm dùi trống đánh tiếng
trống vang trời, sau đó là pháo nổ
thì đoàn ghe lứot sóng ra khơi tranh
tài... Rồi có tiếng Cọp đêm khuya
về hống vài tiếng kêu văng vẳng,
làm muôn thú vội vàng nín thở
lặng im... Không gian chìm lần... vật
đổi sao dời... Nay chùa Khải Tường
không còn nữa, chỉ còn một dấu
tích là gò đất hơi cao hơn mặt
đường lộ tráng nhựa, nơi xa là nơi
ngã tư đèn xanh đèn đỏ,
gần đó là đường Lê quý
Đôn., người ta tấp nập xe gắn
máy , xe hơi , tiếng kèn kêu inh ỏi ,
ngày đêm ..... Thế thôi... Saigon hoa
lệ...Saigon mau quên chuyện xưa tích cũ ...
Hơn 200 năm rồi còn gì ?
SagantPhan
_________________
Góp từ muôn phương
hướng. Tung ra vạn nẻo đường .
Cùng nhau ta chia sẻ. Kiến thức
khắp mọi nơi .