Thöa baïn,

Ngôi Chùa Xưa ,tại Saigon ...Vua Minh Mạng .
Kiến Tường Cổ Tự ...



Ngôi Chùa Xưa hay là Nơi sanh của Vua Minh Mạng.



Vì câu chuyện nầy khá dài, chúng tôi không thể nói ngắn vài câu là trọn ý nghĩa nơi sanh của Vua Minh Mạng, nên quý bạn đành đọc một phần câu truyện nầy... mà chúng tôi có đăng tại vài tờ báo hải ngoại... Khá lâu rồi..
.
Cách đây trên 200 năm ...

Một ngôi chùa nghèo ...đêm về khuya ...


Sư cụ Thường Chiếu trở bệnh nặng mấy ngày nay.
Người bị sốt cách nhật từ vài tháng trước, nay chuyển thành sốt thường nhật. Nóng nóng lạnh lạnh (mà ngày nay gọi là sốt rét). Mặc dù Người giỏi về cách bốc thuốc,nhưng với bệnh nầy thì rất khó rồi Uống thuốc Bắc thì rất đắt tiền, còn thuốc Nam thì " phước chủ may thầy ", toàn là nghe lời đồn toa nầy trị bệnh rất hay, toa kia không hay lắm.vv.. Uống nào là đọt lá ớt và là sầu đâu nhưng càng thêm mệt rũ người.
Xóm người Miên bên kia sông giờ đây vắng vẻ đìu hiu. Người Miên họ bỏ sóc đi lên thành Lô Bích từ lâu rồi. Họ nói người " Duồn " không tố, họ đến quá đông, rồi họ cứ tự nhiên xem vùng đất nầy là nhà của họ mà không nghĩ gì đến những người Miên sống tại đây hàng chục năm trời có dư. Người " Duồn " họ lội xuống sông mà cứ tự nhiên chặt là dừa nước mà lợp nhà mà không xin ai hết. Họ nói " đất nầy thuộc chim trời cá nước mà? Đất của Trời Đất nào của ai đâu? ". Làm như vậy lần hồi người Miên họ ghét, và họ lần lựơt bỏ xóm mà ra đi tay không. Nhà lá họ cất cao cẳng, và mặt tiền hay cửa cái thì họ đón ngoài sau từ đường sông đi lên nhà. Còn người Việt thì họ làm cửa cái họ đón từ con đường đất lộ nhỏ mà vào trong nhà. Hai phương Trời cách biệt với nhau. Người Việt ăn cơm họ dùng đũa, còn người Miên thì tay họ bốc ăn cơm. Hạt gạo là phẩm vật quý của Trời Đất mà tại sao dùng đũa khều khều vậy? Khi người Miên cuối cùng rời xóm, thì lục cụ (sãi Miên) N’teak Klong cũng bần thần không ít. Ngôi chùa Miên " Traklacbưng " có mặt nơi đây trên 70 năm trời rồi, tự dưng đến ngày tàn - như Đế Thiên Đế Thích vậy, như vậy không làm lục cụ buồn rầu sao được? Ngài nhớ lại thời vàng son, nơi dòng sông lớn này, đến kỳ mừng con nứơc về, mà người Miên gọi là " Thnâycha Prong " nước dâng tràn ngập đến tận chân nhà sàn. Cá nhiều vô số, rồi kéo theo chim Trời bay đến làm tổ đầy cây me và cây sao dầu... như vậy thú rừng về nữa rồi. Người thợ săn cứ việc vác cung tên và lứoi bẫy... thế là thịt ăn không hết quanh năm. Cá quá nhiều ăn không hết thì phơi làm khô và làm mắm " bòhốc ", thịt rừng cũng vậy. Nơi xa là dòng sông to rộng, dùng đua ghe ngo mừng Thần Mưa rất dễ dàng. Có nơi thật xa người ta tham dự đua ghe Ngo bằng cách " ăn nhờ ở đậu nơi chùa Miên nầy. Họ đến hàng trăm người, chia làm 10 toán, mỗi toán 10 người. Mỗi toán là một chiếc ghe Ngo dài ngoằng, mũi cong vớt lên. Họ đậu ghe đầy khúc sông, có người không chịu ngủ trong chùa, họ nói " ngủ chùa không vui, không ca hát múa " lầmthôn " với mấy cô gái trẻ đẹp được - chùa bắt tụng kinh hoài - còn vui cái nước gì nữa? ". Trong sóc rộn rịp hẳn lên... Trái gái nườm nượp đến chùa, xin phước duyên và " coi bói luôn "... Mặc dầu chùa Miên không nhận thực phẩm để dành, nhưng họ dâng cúng cho chùa nào vải vóc, cau khô... Cau khô thì đề dành nhai được, nhai với lá trầu xanh thì ngon lắm. Lại cò nhà dẫn đứa con trai vào chùa cho làm lễ quy y... xì xụp lạy thành khẩn, đứa con trai được cạo đầu và tu vài tháng hay vài năm báo hiếu cho cha mẹ. Cha mẹ vui và sư lục cụ cũng mừng. Đua ghe thì họ mời lục cụ ngồi ghế danh dự. Khán đài dãn dị thôi. Dựng rạp bằng cây rừng và lớp nóc bằng lá dừa nứơc. Dãn dị nhưng oai nghiêm. Sư cụ làm lễ khai quân... Rồi có tiếng trống nổi lên,... ghe Ngo hàng chục chiếc đang nằm hậm hực dưới bải sông. Như một bầy cá sấu đen lườn chờ chủ leo lên lưng là " Ùm " xuống nước lập tức. Sư lục cụ đánh Trống thì tất cả chuẩn bị trên bầy cá sấu đen hậm hực đó. Rồi có người đốt một cây pháo lớn. Pháo nổ là bầy cá sấu đen đó phóng Ùm xuống sông, quẩy nước trắng cả một khúc trời giang sơn... Người trên bờ la hét khan cổ, bầy ghe Ngo ầm ầm quẩy sóng chạy hung dữ ra khơi... Rồi phút chốc bầy ghe nầy từ xa ầm ầm trở về. Người ta la làng nữa, đánh trống, dốt pháo... dân làng có gì khua được cho vang tiếng thì họ làm ngay. Nên khi hết cuộc đua thì nồi niêu soong chảo " bầm vập " hết... Người thua kẻ thắng gì cũng nhậu tưng bừng... Sau đó sóc Miên trở về khung cảnh đìu hiu âm thầm như thường lệ. Chùa lên đèn và đánh mõ công phu như thường lệ.. Đàn ông ra đồng ruộng với bò cày, đàn bà thì ôm con ru võng kẽo kẹt nơi xa... Bầy chim trời uể oải bay dài nơi góc trời rồi đáp lên khu rừng nơi xa xóm.
Dân Miên không bao giờ giết chim làm thịt. Họ nói chim là của Ông Trời bà Trời hay thần thánh dùng cỡi đi chơi. Nhưng từ khi người Duồn về, từ một nhà, hai nhà đến chục nhà rồi trăm nhà... thì họ nói thịt chim ăn ngon lắm. Rồi họ thả vịt đến phá cả ruộng non của người Miên đang trỗ lúa " đòng đòng ". Người Miên đến gặp lục cụ mà thưa kiện nhờ phân xử chuyện nầy. Lục cụ đành phải xuống xóm người Việt mà gặp trưởng xóm mới được. Dễ chịu là ông trưởng xóm biết lẽ phải, ông mời lục cụ uống nước dừa rồi ông hứa sẽ nói với chủ vịt đừng cho đàn vịt đến phá lúa người Miên nữa. Lục cụ nhìn tướng người trưởng xóm nầy.. Tướng người tầm thước, giọng nói hơi nặng, nhưng ánh mắt thì đôi lúc hiền đôi lúc cương quyết. Trưởng Xóm nói họ là người từ đàng Trong mà vào lập nghiệp nơi nầy. Nơi đó là xứ nhiều đất đai khô cằn sỏi đá. Dân đông nhưng làm không đủ mà ăn. Mưa nơi đó rất ít và nạn châu chấu làm thất mùa hoài. Rồi hạn hán rồi lụt nữa... Còn nơi nầy là xứ Trời cho, thọt tay xuống nước là có cá... Lục cụ N’teak Klong mỉm cừơi vì câu nói của trưởng Xóm người Việt " xứ Trời cho "... đâu phải xứ Trời cho, xứ nầy của người Miên hàng trăm năm nay rồi. Mồ mả người Miên có cái tính được trên 200 năm có hơn... Nhưng bề gì trưởng Xóm là người biết điều, Ông ấy nói là ông ấy giữ lời. Ông tên là Nguyễn Đạt, gốc Quảng Trị từ xa.
Nay thời vàng son đó trôi mất tiêu rồi. Người " Duồn " họ đào thệm kinh rạch nhỏ vào khu vườn của họ, làm cho mực nước sông cái ngoài khơi cạn dần theo năm tháng. Mưa lại ít về nữa. Ít nước, thì ít cá - mà ít cá thì ít chim và thú rừng. Dòng sông cạn kiệt tài nguyên. Dân Miên họ bỏ đi là đúng, họ về lại thành La Vích mà người Duồn gọi là thành Nam Vang... Nơi đó họ gặp lại Vua của họ.
Sư lục cụ N’teak Klong lẩm nhẩm hồi kinh cầu an trong miệng. Lục cụ phải quyết định dứt khoát trong ngày nay. Bỏ chùa hay cho chùa cho một người Việt nào đó. TRong đầu óc lục cụ tự nhiên nghĩ đến người trưởng Xóm Việt. Lục cụ đến gặp Nguyễn Đạt vào một buổi chiều...
Sư cụ Thường Chiếu trở bệnh nặng mấy ngày nay. Người bị sốt cách nhật từ vài tháng trước, nay chuyển thành sốt thường nhật... Từ khi nhận chùa Miên đến nay cũng thấm thoát hơn chục năm trời có lẻ... Vì chùa dựng toàn loại cây tầm thường, nên mối mọt làm sập lần hồi hết., mưa gió bão bùng. Lúc trước, khi còn người Miên thì dân làng rất đông. Trai nhiều mà gái cũng nhiều nữa.. Nhưng từ khi người Miên bỏ xứ mà đi lên Cao Miên thì người Việt cũng bị " nạn " luôn. Giặc giã khắp nơi, nào là binh lính triều đình Tây Sơn, rồi binh lính nhóm Đông Sơn, rồi thêm tướng quân Tàu Dương ngạn Địch và Trần thắng Tài hùng cứ mỗi người một phương. Kình chống nhau, giết hại lẩn nhau. Mai dốt nhà xóm nầy, mốt phóng hỏa thiêu rụi xóm kia.Trai làng bị bắt lính gần hết. Làng người Việt làn lần thiếu dân đinh, ruộng không người cày là chuyện thường. Chùa lâm vào cảnh túng quẩn lần hồi... Không còn ai bố thí cúng dường chi nữa. Bữa đói bữa no là chuyện thường. Trong Chùa chỉ còn lại có 4 người kể luôn phương trượng Thường Chiếu. Môt chú tiểu trẻ, mà ngày xưa ấy, lâu lắm rồi, cha mẹ đứa trẻ nầy bị giặc bắt đi người cha, rồi người mẹ bị giặc hiếp chết khi đứa trẻ vừa tròn 1 tuổi, bò quanh trong nhà... không cha không mẹ, đứa bé đói khóc 2 ngày trời. Nếu không nhờ phương trượng Thường Chiếu chèo ghe đi ngang qua, nhân dịp đi bốc thuốc cho một gia đình xóm trên nhờ. Tiếng khóc khàn khàn của đứa bé lim dần trong không gian, nhưng văng vẳng làm kinh hoàng đến phương trượng. Người lật đật quày nguợc ghe nhỏ về nhà sàn đứa bé. Mình mẩy đứa bé bị kiến đỏ bu đầy người, hên là kiến chừa đôi mắt đứa bé mà không đốt cắn. Phương Trượng lật đật cổi áo choàng bên ngoài mà lau chùi đứa bé. Rồi người bồng đứa bé xuống ghe, chèo đến nhà người bệnh mà xin sữa cho đứa bé... Rồi người cùng 2 dân làng đến chôn xác người mẹ mà xác gần thành ươn rữa. Chôn dưới gốc cây me kế góc vườn.. Sau đó dân làng phóng hỏa đốt ngôi nhà xấu số đó vì không ai dám ở hết. Ma Quỉ hiện về hàng đêm khóc đòi con mà.Thầy có đến đọc kinh Vãng Sanh độ hồn vài lần, nhưng cũng không xong. Dân làng đành phải đốt nhà đó ra tro.
Nay đứa bé nầy được đặt pháp danh là " Ngộ Đạt "... gần 15 tuổi rồi. Được Thầy dạy chữ Nho tụng đọc kinh công phu. Tánh hiền, ít nói, ít cười, ngoan ngõan dễ thương. Nhưng một hôm khi ‘ Ngộ Đạt " hỏi Thầy cha mẹ con đâu rồi? Thì nước mắt Thầy rơi xuống lúc nào không hay. Thầy không biết được đâu con à !...
Người thứ ba trong chùa là chú Tư Cui. Người tầm thứơc, thuộc loại củi lục âm thầm, ít cười, tối ngày lui cui lo trồng rau cho chùa. Từng bắp cải thật to lớn, được chú Tư Cui gồng gánh xuống chợ nơi xa mà đổi gạo đem về nuôi chùa. Trước đó chú Tư làm nghề hầm than. Nghề nầy cực nhiều hơn vui. Lựa từng khúc cây đước nơi tràm ven rừng, phơi khô thời gian rồi chất đầy vào lò hầm. Hầm ngày đệm liên tục, chú Tư Cui ngửi mùi khói bốc ra từ cửa lò bịt kín là chú biết than chín hay chưa. Ngày kia chú Tư bỗng nổi điên, cầm bó lửa đốt nhà của mình cháy hừng hực, chú định đốt thêm vài căn nhà lối xóm mới vui dạ. Lối xóm người tay búa tay dao bao vây chú định xơi tái chú rồi, nhưng người ta cũng ngại đến gần vì chú tay cầm bó lửa tay kia cũng cầm búa chặt củi rừng to lớn lăm lăm. Sư cụ Thường Chiếu được lối xóm báo tin dữ. Sư Cụ đến gần, vừa đến vừa đọc kinh vang trời. Chú Tư Cui chưa kịp hiểu ý nghĩa kinh kệ thì thị bị thầy nhập nội, rồi bị Thầy xô xuống sông gần đó. Dân làng nhào xuống sông trói gô chú Tư Cui định giải cho quan xử tội. Sư cụ Thường Chiếu xin lãnh chú về chùa nuôi. Từ đó đến giờ trên chục năm rồi. Tóc chú Tư giờ đây điểm hoa râm theo năm tháng ngày.
Vừa rồi chú đến gặp Thầy: " Thưa Thầy ! tối hôm rồi Hổ đến rình mình, dấu chân có lớn bằng cái tô canh vậy đó ". Thấy Thường Chiếu cười nhẹ: " Con đừng lo xa, Hổ nó lòng hại mình thì minh cũng chịu thôi. Con xem chùa mình tòan ván mõng, Hổ nó xô nhẹ cũng xập rồi, nếu nó bắt mình khi mình đang ngủ say thì làm sao đây? Nếu mình có nghiệp bị Hổ vồ thì cũng đành chịu nghiệp mà thôi. Luân hồi không cưỡng được đâu con ". Thầy định nói thêm nhưng Thầy im lặng. Thầy sợ chú Tư nói tin Chùa có Hổ rình rập thì thập phương bá tánh nào ai dám lên thăm chùa? Vả lại nơi xa phố Chợ Thầy Ngạn (Đề Ngạn = Thầy Ngoồn = SàiGòn) người người tấp nập mà có lần cọp về bắt nguyên một con ngựa của quan nơi đó đem đi mất., huống chi nơi nầy gần rừng gần sông gần tràm đước?
Người thứ tư là Dì năm chột. Dì có đứa con gái độc nhất, ngày kia lấy chồng. Vợ chồng mần ăn khá giả, nhưng lại quên mẹ già nuôi mình tháng ngày khôn lớn. Họ bỏ bà mẹ chơ vơ trong nhà chòi nhỏ rồi họ lên phố Chợ mần ăn. Nghe nói họ rất giàu, nhưng biệt âm tín từ đó. Bà mẹ lượm củi mà bán độ nhật quanh vùng. Bà dùng rựa mà chặt những cành cây to, để khô rồi chất lại đem đi bán. Ngày kia một mảnh cây vụn văng từ khúi củi đâm vào mắt bà làm bà đui một bên. Nghề lượm củi hết thời, vì đi sâu vào rừng thì không được vì giặc nổi lên tứ phương trời. Họ cấm rừng.. không cho ai lai vãng vào đây. Cuối cùng bà gõ cửa chùa xin chùa nhận nơi nầy làm quê hương. Từ đó Bà lo nấu ăn bếp núc cho Chùa. Thầy đặt tên cho bà là Diệu Nghiệp. Vào chùa tu , nghiệp báo lần hồi tiên tan . Đó là tên của nhà Phật rồi . Kinh giảng nhiều nhưng bà chỉ thuộc nằm lòng bài Tán Hương Niệm Phật và vài câu Thủ Lăng Nghiêm, thế thôi. Vào một đêm hạ ngươn tháng 8... chú tiểu Ngộ Đạt nghe tiếng người dộng cửa chùa gấp rút, chú tiều lật đật cấm đèn dầu đậu phộng mở cửa ra thì đụng ngay nhóm quan quân triều đình Tây Sơn đến khám chùa. Họ đứng chật sân chùa, sắc khí hừng hừng. Đèn đuốc sáng choang , tay nách tay đao hùng hổ vô cùng ...
Chú tiểu vội chạy vaò hậu liêu báo tin cho Thầy. "- Thưa Thầy quan quân đến khám chùa gấp lắm, họ cầm đèn đuốc và khí giới sáng ngời, họ nói họ muốn gặp chủ chùa ". Sư Thường Chiếu vội xả thiền, Ngài tìm đôi dép cỏ xỏ chân vào bước ra ngoài .
Ngoài sân độ trên 20 người, tay cầm đuốc cháy phừng phực, khí giới hung hãn. Một vị quan võ đến chào Ngài rồi nói " Xin Thầy cho chúng tôi xét chùa, xin hỏi Thầy ... chùa có chứa người nào lạ vào đây hay không? ".- Phương Trượng Thường Chiếu vội đáp: " Mô Phật ! bần tăng và chùa nầy hổm rày không có một người khác nào vãng lại đến đây hết. Xin Quan cứ tự tiện vào xét chùa không sao ".
Viên võ quan cùng vài tùy tòng cầm đuốc chai cháy phừng phực khói lửa tiến vào Niệm Phật Đường, rồi từng người vào hậu liêu xét từng nơi... Họ đến nhà bếp, họ mở tung nắp lu đựng gạo... có tiếng người nói " chùa gì nghèo dữ vậy không biết, trong lu còn vài chén gạo làm sao nấu cơm cho tụi mình đây? ". Rồi quan quân đi vòng ra sau chùa. Sau chùa là một hồ nước lớn thả sen , ăn thông với sông cái..thế thôi. Sau cùng viên võ quan đến chào Thầy rồi răn đe:" Chùa không có gì hôm nay. Nhưng nếu Chùa chứa chấp người lạ mà không thông báo cho chúng tôi thì chùa sẽ bị tai họa khôn lường đó. Thầy nên nhớ kỹ dùm. Thôi được ngày mai hay ngày mốt chúng tôi đến lần nữa và cho người của tụi tôi ngủ tại đây đó, Thầy nên chuẩn bị từ đây. "
Đám quan quân hùng hổ đến, rồi ầm ầm lui. Họ mang danh nghĩa là quan quân triều đình Tây Sơn, nhưng họ còn nguy hiểm hơn trăm lần... họ là nhóm lính Đông Sơn của thượng tướng Đỗ thành Nhơn. Chủ bị giết thì đám lính Đông Sơn nầy chia tam xẻ tứ liền... nhóm theo chúa Nguyễn, nhóm theo Tây Sơn, nhóm theo Nghĩa Hòa Đoàn của tàn quân tướng Tàu Dương ngạn Địch... Quân lính càng đông thì dân càng khổ. Ban ngày theo nhóm màu cờ nầy, trưa theo nhóm màu cờ kia, chiều theo nhóm màu cờ nọ. Lâu lâu ngay ngã tư con nước sông hồ có vài đầu lâu được cắm sào nhe răng trắng thấy mà ớn oan hồn. Nhiều xác người trôi sông, Thầy Thường Chiếu cho ngừơi vớt lên, chính tay Thầy làm lễ chôn cất sau bìa rừng, một vài bài kinh kệ đơn lẻ hòa âm cùng tiếng mõ chùa bay vào hư vô, bay vào rừng sâu núi thẵm... Đời người vô thường, nhưng cái chết thì hữu thường, đủ cách, đủ loại...
Quan quân đi rồi. Chùa trở lại không gian im lìm như xưa. Tiếng dế lại kêu ri rỉ nơi góc cây, tiếng uềnh oang của ểnh ương kêu buồn tha thiết từ ao sau chùa vọng về . Đêm tối đen như mực , sương lạnh từ từ đổ xuống , trên lá cây , trên nóc chùa và phả nhè nhẹ vào hậu liêu . Sư Thường Chiếu vào phòng, Thầy định cầm chân nhang mà kéo ngọn bấc nơi dĩa đèn đậu phụng xuống thấp cho bớt ánh sáng hầu tiết kiệm dầu thắp đèn hàng đêm. Thì một tiếng kêu của con chim ụt , kêu ré bay ngang nóc chùa. Thầy lẩm bẩm: "Tại sao lại có chim báo khách vào giờ nầy nữa cà? "... Thầy vừa chợp mắt chưa bao lâu thì Thầy nghe chú tiểu Ngộ Đạt , bà ni cô Diệu Nghiệp và chú Tư Cui lại đến gõ cửa nói nhỏ: " Thưa Thầy có khách lạ vào sân chùa, họ đi đến 5 người nhưng có một phụ nữ... hình như bà nầy đang bị bệnh đi đứng khó khăn..Thầy tính sao? " Sư Thường Chiếu ngồi dậy, cơn chóng mặt và sốt nóng vì rét rừng đang hành Thầy mãnh liệt. Thầy nói: " Con mở cửa sau Chùa cho họ vào, nhưng con dẫn họ coi chừng vì té xuống sông thì nguy lắm, con đường sình rất trơn đó con , coi chừng cá sấu rình mồi hoài nơi cây gáo sau chùa đó nghen con! ". Nhóm người lạ 5 người. Họ hình như mất tinh thần và đói nữa. Một người đàn ông trung niên, dáng thấp người. Gương mặt dài, đặc biệt hai gò má có hai nốt rồi to và có lông mọc từ hai nột ruồi đó. Sư Thường Chiếu nói thầm: " Đây là quý tướng khác thường, nhưng sát quân, người nầy chắc là chúa Nguyễn rồi.. ta nghe đồn bấy hôm nay là có quân giặc từ xa lai vãng vào đây ...Ừ ! chắc là họ rồi " .
Người đàn ông trung niên đó đến chào sư cụ và không chịu vái lạy gì hết , nhưng tiếng nói có uy lực thế nào đó mà làm người nghe phải đâm lòng kính trọng .. Người ấy nói " Bạch Thầy chúng tôi có một phụ nữ gần sanh, Thầy giúp dùm ". Thường Chiếu gật đầu " Mô Phật ! cửa chùa rộng mở, nhưng trước đó có quan quân Tây Sơn vừa khám chùa, xin quý vị cẩn thận "... Nghe nói có quan quân Tây Sơn thì nhóm người lạ nầy hơi biến sắc. Sư Cụ Thường Chiếu thấy một phụ nữ đang dựa cửa hậu liêu sau chùa, hình người như sắp sửa bất tỉnh nhân sự. Thầy vội nói với chú Tư Cui : “ Con đưa bà nầy vào phòng riêng của Thầy “ ... Chú Tư Cui hơi bất bình,nhưng vâng lời..Thầy nói theo " Bà nầy sắp lâm bồn, chùa nghèo không có giường chiếu chi nhiều, nhưng cứu mạng là trước hết. Cứ đem bà nầy vào phòng Thầy... " Chú Tư Cui cùng với Bà Diệu Nghiệp đở sản phụ gần đang hôn mê vì ra máu quá nhiều, lại đi bộ nữa... sản phụ đuối sức và hôn mê luôn.

Đứa bé ra đời, điều đặc biệt là đứa bé chỉ khóc có một tiếng rồi im không khóc. Đứa bé biết tánh mạng nhiều người đang nằm trong tay mình ...đó là tùy theo tiếng khóc của mình, quân địch khắp nơi.
Bé được sư Thường Chiếu nấu cho chút nước cháo hòa tan với đừơng thẽ trong đêm khuya đó. Sư Thường Chiếu chính tay Ngài đỡ đẻ cho sản phụ đó. Thầy gọi Bà Diệu Nghiệp dặn nhỏ: " Con vào trong xóm ráng xin sữa của bà mẹ nào đang cho con bú, nhưng con khá cẩn thận. Nếu quan quân biết được thì Thầy chết không sao, nhưng còn kéo theo nhiều người nữa kể luôn đứa bé nầy thì nghiệp tội này không đời nào tan được "...
Đứa bé ra đời vào ngày hạ ngươn tháng tám âm lịch, năm Tân Hợi (1791). Được Thầy đặt cho Pháp danh: "Ngộ Phúc"... Thầy lắc đầu: " Chúa tướng ra đời trăm sự yên, vạn sự thịnh... nhưng ngôi chùa này sẽ không còn nữa vì đã từng đón chân mạng thiên tử rồi. Chùa không đủ phước trường thọ với thời gian... vì luật Trời đất mà... "
Rồi 13 năm sau, đó là năm 1804 Cao Hoàng Đế Gia Long nhớ ơn chùa cưu mang và độ cứu con mình ra đời trong thuở hàn vi - Con mình là Hoàng tử Đảm... vì can đảm khộng khóc đề cứu mạng quan quân mình... Đảm là can đảm vậy... - chùa nghèo và mình cũng nghèo luôn. Cao Hoàng Đế gởi tặng chùa một tượng Phật bằng gỗ mít, cao gần bằng đứa bé 5 tuổi. Sơn son thếp vàng. Cao Hoàng ban chiếu đổi tên chùa ra là chùa Kiến Tường. Sư ông mất vài năm sau đó.
Đến năm 1859 Thượng tướng Nguyễn tri Phương được lệnh đem quân về miền Nam chống giữ giặc Pháp. Đồn được lập nơi ngã tư khúc sông. Vào đêm khuya (ngày 6 tháng 12 năm 1860) có một toán quan quân Pháp từ nơi xa kéo về gần đồn. Quan quân Nguyễn tri Phương đón đường phục kích đoàn quân nầy. Bị lọt vào ổ phục kích quan Ba Barbe bị trúng đạn chết. Qua ngày sau quân Pháp kéo đông tới, lớp đi tàu chiến lớp cỡi ngựa và lính dõng theo sau... Họ không thấy ai hết ngoài ngôi chùa nghèo Kiến Tường..họ phóng hỏa ngôi chùa nầy ra tro không còn nữa... Đúng như Phương Trượng Thường Chiếu tiên đoán..chùa không còn nữa... nhưng tượng Phật thì còn. Ngày nay tượng Phật bằng gỗ mít của Vua Gia Long đang ngồi yên lặng hàng trăm năm tại Viện Khảo Cổ gần Thảo Cầm Viên Saigon. Tượng Phật còn nhớ gì ngày xưa đứa bé ra đời trong ngôi chùa Miên nghèo nầy hay không? Đứa bé đó là Vua Minh Mạng sau nầy.. Khi Vua Minh Mạng lên ngôi thì bốn phương Thái Bình, trăm họ âu ca an hòa... Chùa được trùng tu và phong sắc nhiều lần bởi vua Minh Mạng... nhưng chục năm sau thì... cát bụi trở về với cát bụi... chùa Miên... rồi chùa Việt... rồi chùa Kiến Tường... Nay không còn nữa... cát bụi trở vế cát bụi... lời sư Thường Chiếu nói trúng cho chục năm sau nầy.
Năm 67-68-69 tại Saigon là những năm sôi động. Sinh viên biểu tình liên miên, phong trào nhạc phản chiến bùng nổ khắp nơi. Tại phòng trà, tại vũ trường, tại câu lạc bộ sinh viên, tại các quán cà phê lộ thiên... nhạc phản chiến hay nhạc ngao ngán chiến tranh được nghe, được uống vào tâm can từng lời.
Nào Trịnh công Sơn, nào Trương Thìn, nào Miên đức Thắng... phong trào Du ca Sinh Viên... ngần ngần đốt cháy tâm can thanh niên thiếu nữ Saigon.
Trên bục gỗ quán cà phê Văn, rồi sau đó lan đến sân khấu lớp SPCN thuộc Khoa Học Đại Học Đường mà Khoa trưởng là Giáo sư Nguyễn chung Tú đồng ý ngầm... nhạc họ Trịnh như nước vỡ bờ... ca sĩ Khánh Ly một giọng ca xa lạ, đến từ ĐàLạt được chấp cánh bay lên không gian sâu thẳm. Cô ngự trị nơi đó mà không có đối thủ -
Bài hay nhất trọn đời nhạc họ Trịnh là " Gia Tài của Mẹ "... nghe thật nhức nhối vạn phần.. .. 1000 năm đô hộ giặc Tàu... 100 năm đô hộ giặc Tây... 20 năm nội chiến từng ngày... Gia Tài của mẹ... một bọn lai căng..Gia Tài của Mẹ một lũ bội tình... Dạy cho con tiếng nói thật thà... dạy cho con chớ quên màu da... con chớ quên màu da... nước Việt...
Khánh Ly gào lên tiếng hát ma-hời xoáy động tấm lòng trai trẻ bốn phương trời. Ai mà không rúng động khi nghe lời nhạc tiên tri nầy... Giờ đây di dân nước Việt đến bốn phương Trời... Đông Tây Nam Bắc... họ còn nhớ màu da vàng của họ hay không? Từ quán cà phê Văn trong khuôn viên Đại Học Văn Khoa... kế nơi đó là đường Lê quý Đôn... kế xa xa là trtường Pháp là Chasseloup-Laubat, nay là Trường Lê quý Đôn... gần ngã tư đèn xanh đèn đỏ... cách gốc cây me mà thân cây sơn màu trắng độ chừng 25 mét, thụt vào sâu... một gò đất nồng hơi cao hơn mặt đường một tí.
Vâng nơi đó là di chỉ của chùa Khải Tường. Nơi mà hoàng tử Đảm ra đời trong ngôi chùa nghèo nàn, mà phương trượng là sư Thường Chiếu. Con đường Lê quý Đôn nối dài mà xưa đó là một con sông rộng... trăm năm trước chùa Miên đang đua ghe Ngo khi mùa nước nổi. sư lục cụ cầm dùi trống đánh tiếng trống vang trời, sau đó là pháo nổ thì đoàn ghe lứot sóng ra khơi tranh tài... Rồi có tiếng Cọp đêm khuya về hống vài tiếng kêu văng vẳng, làm muôn thú vội vàng nín thở lặng im... Không gian chìm lần... vật đổi sao dời... Nay chùa Khải Tường không còn nữa, chỉ còn một dấu tích là gò đất hơi cao hơn mặt đường lộ tráng nhựa, nơi xa là nơi ngã tư đèn xanh đèn đỏ, gần đó là đường Lê quý Đôn., người ta tấp nập xe gắn máy , xe hơi , tiếng kèn kêu inh ỏi , ngày đêm ..... Thế thôi... Saigon hoa lệ...Saigon mau quên chuyện xưa tích cũ ...
Hơn 200 năm rồi còn gì ?


SagantPhan
_________________
Góp từ muôn phương hướng. Tung ra vạn nẻo đường .
Cùng nhau ta chia sẻ. Kiến thức khắp mọi nơi .