|
Ngó về quê mẹ
Hạnh
Hà
Ngó về quê mẹ
- Năm nay mẹ bảo: "Tết này về quê ăn tết với mẹ. Đưa bọn trẻ con
về cho chúng nó biết Tết nhà quê." Dung xin phép chồng đưa con
về quê ngoại. Chồng Dung đồng ý. Lại gọi thuê cho Dung một xe
Toyota bóng loáng đưa ba mẹ con về nhà ông bà ngoại.
Đã mười năm nay, từ
ngày lấy chồng, Dung không ăn tết ở nhà mẹ. Ngày mồng một Tết ở
thành phố cũng giống như ngày chủ nhật. Loanh quanh trong nhà.
Ăn rồi lại ngủ. Ngày mồng hai Dung theo chồng đi lễ chùa lễ phủ.
Lên Tây Hồ hoặc vào Bia Bà. Dung chỉ cắp tráp theo hầu chứ không
hương khói cầu cúng gì. Chồng Dung nhắc: "Em lễ đi chứ!". Dung
lắc đầu. Biết xin gì mà lễ? Chẳng lẽ lại xin được chồng yêu hơn?
Chồng Dung là giám đốc một công ty xuất nhập khẩu, làm ăn lớn
nên phải lễ bái luôn. Mỗi khi có phi vụ gì thì kiêng kỹ lắm.
Kiêng ăn thịt vịt thịt chó. Kiêng ra ngõ gặp đàn bà. Kiêng bước
chân trái lúc xuất hành. Kiêng cả chăn gối với vợ. Bảo rằng hễ
dính vào chuyện ấy là y như rằng làm ăn xúi quẩy, đen đủi hết
chỗ nói.
Nhưng làm ăn thắng đậm, trúng quả rồi thì xả láng. Thịt chó thịt
mèo thịt gì cũng ăn được tuốt. Hễ chồng Dung trở về nhà mặt mày
hớn hở thông báo vừa quyết toán hợp đồng là Dung biết ngay hôm
ấy không phải kiêng kỵ gì hết. Dung sợ mình đem vận đen cho
chồng nên cũng học cách kiêng khem cẩn thận. Đang bẩn mình thì
không được thắp hương cầu cúng gì. Không bén mảng đến ban thờ.
Rủi cái cứ ngày mồng một tết nào Dung cũng thấy kinh nên chẳng
dám bước chân qua ngưỡng cửa nhà chùa. Chỉ đứng ngoài ngắm cảnh,
cắn hạt dưa hạt bí hay đi ăn bún ốc.
Năm nay mẹ bảo: "Tết này về quê ăn tết với mẹ. Đưa bọn trẻ con
về cho chúng nó biết Tết nhà quê." Dung xin phép chồng đưa con
về quê ngoại. Chồng Dung đồng ý. Lại gọi thuê cho Dung một xe
Toyota bóng loáng đưa ba mẹ con về nhà ông bà ngoại.
Chiều ba mươi mẹ đốt một đống rấm ở góc vườn nướng cá. Cá trắm
đen úp trong chảo gang to, dưới lót lá chuối đặt ngay trên nền
đất. Đốt bằng rơm thơm và trấu mới. Trở đi trở lại hai lần là
miếng cá khô vàng, thơm phức. Năm nào mẹ cũng nướng cá gửi cho
vợ chồng Dung ăn tết. Lại còn cả một nồi cá kho khô trong niêu
đất để ăn bánh chưng.
Mùi khói ấm quẩn khắp sân vườn. Trong ngôi nhà thờ cổ khói nhang
dìu dịu cháy. Mẹ đun nồi nước lá mùi già tắm cho mấy đứa cháu
nhỏ, lại giục Dung gội đầu cho thơm. Hương lá bưởi và hoa mùi
già xông lên nồng đượm trong ngôi nhà nhỏ. Dung cúi xuống thả
tóc vào nồi nước lá thơm. Thấy như mình trở lại hồi mười sáu
tuổi. Hồi còn con gái tết nào Dung cũng được mẹ đun cho một nồi
nước ngát hương để tắm gội. Còn mẹ chỉ tắm nước sái.
Hồi ấy nhà còn nghèo lắm.Tết đến mẹ ngậm ngùi thương các con
không có được manh áo mới. Mẹ cố nuôi một con lợn để dành cuối
năm. Gói dăm đồng bánh đặt lên bàn thờ. Mâm ngũ quả là trái cây
trong vườn. Chẳng có bánh kẹo bia rượu giò chả ê hề. Nhưng cũng
đủ cho một cái Tết ấm cúng. Đói ngày giỗ cha, no ba ngày tết. Mẹ
thường bảo thế...
Ngày mồng hai tết Dung đưa mẹ về quê ngoại. Mười mấy năm nay
Dung mới đi trên con đường băng qua cánh bãi về cái làng nhỏ ven
sông Châu. Qua bãi ngô bãi dâu là vào đến xóm Đồng. Những cành
táo trĩu trịt quả vàng sà xuống mái nhà nhỏ. Qua cầu ao đá ngày
xưa Dung hay ngồi ngóng mẹ hồi còn ở với ông ngoại... Ông ngoại
mất rồi. Nhà xưa giờ đã bán. Không còn giàn đậu ván tím ngát.
Không còn mùi thuốc bắc thơm thơm hăng hắc thoảng trong ngõ nhỏ.
Không còn những chiếc mẹt nhỏ phơi thuốc trên giàn hoa...
Dung đưa mẹ vào thăm nhà dì Nguyệt trước. Dì ở một mình. Dì là
người thân gần nhất ở quê mẹ. Dì mừng lắm khi nhìn thấy cả hai
mẹ con. Mẹ thì năm nào cũng về vài ba lần còn Dung có đến mười
mấy năm không gặp dì. Từ hồi đi học trên thành phố rồi lấy chồng
xa... Dì lập cập rót nước. Gương mặt héo quắt như tàu lá khô.
Đôi mắt đục mờ có một màn sương lạnh bao phủ. Chỉ có nụ cười là
còn thoảng chút ấm áp gần gũi.
Mẹ đi chúc tết mấy nhà bà con. Dì Nguyệt dặn: "Chị nhớ qua nhà
dì Sương trước. Em vào trong đó từ hôm ba mươi rồi. Dì nhắc chị
luôn đấy." Bà Sương là dì ruột của hai chị em. Bà không có con
cái. ở với các cháu đằng nhà chồng trong xóm Chùa. Hồi trước khi
Dung ở với ông ngoại bà cũng hay ra xóm Đồng đón Dung vào chơi.
Dung theo dì xuống bếp làm cơm. Hai dì cháu rì rầm trò chuyện.
Như thể không có mười mấy năm xa cách. Ngày xưa dì cũng thường
đun nước thơm tắm gội cho Dung. Dì trồng một rẻo rau hẹ ngay
trước sân vì Dung thích ăn canh hẹ nấu bún với cá rô. Nhìn ra
sân, Dung vẫn thấy có một rẻo rau hẹ ở chỗ cũ đang nhú lên mươn
mướt dưới mưa xuân...
Tóc dì bây giờ chỉ còn một búi củ hành sau gáy. Hồi trước dì
phải đứng trên một cái ghế con để chải đầu. Dung thích vùi mặt
mình vào mái tóc ấy. Mái tóc có mùi nắng vườn ngan ngát mà lại
mát rượi hơi gió hơi mưa xa xăm tận cuối đồng cuối bãi... Vừa
nhặt những ngó cần trắng xanh non mướt cho dì nấu bát canh trong
mâm cơm cúng gia tiên Dung vừa nghĩ lan man về những chuyện ngày
xưa. Ngày xưa... Những chuyện Dung chỉ cảm thấy lờ mờ giờ đây
hiện về rõ rệt hơn bao giờ hết.
* *
*
Ngày ấy mỗi lần từ
ngoài bãi về dì Nguyệt thường cắp cái rổ con rẽ ngay xuống cầu
ao đá khoả nước rửa chân. Dung ngồi đợi dì trên phiến đá xanh
sát khóm tre nhỏ và cây lộc vừng. Mẹ thì chỉ đến chủ nhật mới về
thăm Dung nên ngày thường người Dung mong nhất là dì Nguyệt. "Mày
cứ ra cầu ao ngồi nhỡ con ma lam nó lôi đi thì sao?". Dì doạ,
bảo không được ngồi đợi ở cầu ao đá. Con ma lam như thế nào Dung
chẳng biết. Nhưng Dung thấy làn nước ao xanh xanh dưới những bậc
đá phủ rêu trơn kia một có một cái gì thật âm u khó tả. Dung
không sợ con ma lam. Dung sợ cái cảm giác trống trải khi thiếu
bóng dì Nguyệt trong nhà.
Ông ngoại Dung làm thuốc. Ông cắt thuốc làm phúc là chính nên
nhà nghèo. Bà ngoại Dung mất từ năm năm ba hồi cả nhà tản cư
trong Thanh Hoá. Khi ấy mẹ Dung mười sáu. Dì Nguyệt kém mẹ hai
tuổi. Hai chị em theo cha về quê sau hoà bình lập lại. Mẹ lấy
chồng cách một con sông, dạy học ngay ở quê chồng. Dì Nguyệt ở
nhà với ông ngoại thêm mấy năm nữa rồi cũng lấy chồng ngay trong
xóm. Cha Dung và dượng Quảng chồng dì Nguyệt cùng lên đường nhập
ngũ một đợt. Khi ấy Dung mới lên ba. Mẹ lại mới có em trai nên
gửi Dung về ở với ông ngoại. Ông bận cắt thuốc, sấy thuốc rồi
lại đi thăm bệnh nên dì Nguyệt tuy ở nhà chồng nhưng ngày nào
cũng qua lại tắm gội cho Dung và cơm nước cho hai ông cháu.
Dượng Quảng là con một. Dì Nguyệt làm dâu nhưng không phải chịu
cảnh điều ong tiếng ve với nhà chồng. Dì đảm đang tháo vát lại
rất mực hiền thảo nên ông bà Lành, bố mẹ chồng của dì rất hài
lòng. Ông ngoại Dung được mát mặt với thông gia. Một mình dì
Nguyệt chăm lo việc đồng áng và nội trợ của cả nhà đẻ lẫn nhà
chồng. Ngày cha và dượng Quảng đi Bê, mẹ con Dung, dì Nguyệt và
ông ngoại đưa hai người lên tận ga tàu. Dì Nguyệt ngồi sau xe
dượng Quảng. Mẹ sau xe của cha. Còn ông ngoại chở Dung trên cái
ghế mây nhỏ. Dì Nguyệt áo lon trắng. Mẹ áo xanh trứng sáo loang
lổ những vệt sữa trên ngực. Cha và dượng Quảng đều mặc quân phục
màu xanh lá mới cứng. Ông ngoại bận bộ đồ nâu cũ kỹ sực nức mùi
thuốc bắc. Cái nón trắng của dì Nguyệt loá lên dưới nắng. Lúc
qua đò sang sông gió hất tung cái nón buộc nhôi đỏ và quai bằng
lụa tím. Dì Nguyệt chao người giữ lại nhưng gió đã đưa chiếc nón
quay tròn trên mặt sông. Một cái bè nứa lướt qua nhấn chìm vành
nón trắng... Tóc dì Nguyệt xổ xuống chảy trong lòng con đò...
Phải khó khăn lắm dì mới búi lại được.
Trước khi lên tàu cha mua cho Dung một quả hồng. Dung cầm mãi
quả hồng cho đến khi nó nóng rực lên trong lòng bàn tay nhỏ bé.
Tàu chạy. Cả mẹ cả dì Nguyệt và ông ngoại đều khóc. Chỉ có Dung
cứ đứng ngẩn tò te ra. Quả hồng cầm trên tay đã nhũn nhè nhưng
Dung nhất định không ăn. Con tàu chỉ để lại đằng sau hồi còi u u
trong tiếng gió rền...
Cái tin cha bị thương nặng phải chuyển ra Bắc là một tin mừng
với cả nhà. Nhưng liền đó một tin dữ lại đến. Dượng Quảng đã hy
sinh ở Quảng Trị. Mẹ bối rối như chính mình là người có lỗi. Cho
đến tận năm bảy sáu...
Những người làng lên tỉnh thường kháo nhau về một người đàn ông
mặc bộ quân phục cũ dở điên dở dại lang thang ở bến tàu bến xe
và những xưởng cưa ngoài thị xã Phủ Lý. Có người lại bảo anh ta
người xóm Đồng. Hình như anh ta biết ông bà Lành. Trông người
này nhang nhác chú Quảng chồng dì Nguyệt... Bao nhiêu năm đã
trôi qua, trai làng cùng lứa với chú Quảng hầu như chẳng ai trở
về. Người đã hy sinh. Người may mắn còn sống cũng đang ở trong
trại điều dưỡng. Các ông già bà cả đã gần đất xa trời. Người
làng chẳng mấy ai còn nhớ rõ mặt mũi dáng vóc chú Quảng ra sao.
Nhưng những lời đồn thổi đó cũng làm nhen nhúm lên một niềm hy
vọng trong lòng dì Nguyệt. Ông bà Lành đã già yếu lắm rồi, chỉ
mong được nhìn mặt đứa con trai độc nhất. Hai cụ cứ thúc giục dì
Nguyệt lên tỉnh tìm người đàn ông đó cho rõ thực hư.
Thế là dì Nguyệt khăn gói lên tỉnh lang thang mấy ngày trời ở ga
tàu bến xe và những xưởng cưa để tìm người đàn ông dở điên dở
dại ấy. Dì trở về phờ phạc cả người. Không trả lời được những
câu hỏi của bố mẹ chồng. Hai ông bà già cùng mấy người nhà lại
lặn lội lên Phủ Lý. Cũng chẳng ai biết chắc đó có phải là dượng
Quảng hay không. Người đàn ông dở điên dở dại kia có nhắc tới
xóm Đồng, nhắc tới cả tên ông ngoại Dung nhưng hỏi gì thêm cũng
chỉ cười với lắc. Dỗ dành mãi anh ta cũng chẳng chịu về theo.
Nhưng cuối cùng dì Nguyệt và ông bà Lành nhất quyết lên đón
người ấy. Một buổi chiều cuối năm muộn màng rét cắt da cắt thịt
dì Nguyệt trở về với một cái cáng che kín mít. Người trong xóm
Đồng đổ đến tíu tít hỏi han: " Đã đón được anh Quảng về rồi đấy
à?" "Thôi, nhờ trời, thế là cũng may mắn lắm rồi!" "Thật như
trong mơ. Ai mà dám tin chú ấy còn có ngày trở về. Đã nhận giấy
báo tử rồi cơ mà!". Dì Nguyệt phân trần: "Nhà con yếu lắm. Chẳng
nhớ được gì cả. Đến bố mẹ với vợ cũng không nhận ra. Con dỗ mãi
cũng chẳng chịu về...". Nhưng người xóm Đồng ai cũng mừng cho dì
Nguyệt và ông bà Lành.
Dì Nguyệt đưa dượng Quảng về căn buồng nhỏ của hai vợ chồng.
Suốt ngày dượng nằm quay mặt vào trong vách. Bà con xóm Đồng đến
chia vui chỉ được nhìn thấy cái lưng của dượng sau tấm màn gió
mờ mờ. Ông bà Lành và dì Nguyệt nói dượng mệt lại ngẩn ngơ nên
không tiếp chuyện được. Tuy vậy ngôi nhà nhỏ cũng ấm cúng hẳn
lên. Hai cụ già suốt ngày tíu tít đun nước pha trà mời khách. Dì
Nguyệt thoăn thoắt ngoài đồng ngoài bãi rồi lại đảo ra chợ mua
thức ăn tươi, cơm nước chăm sóc chồng. Dì đẹp hẳn ra. Dì hay hái
lá sả lá bưởi và cắt cây mùi già về đun nước gội đầu. Dung thấy
tóc dì đẹp hơn. Thơm nức như một cánh bãi trồng toàn rau mùi
trong một ngày nắng ấm cuối đông.
Nghe tin dượng Quảng trở về cha mẹ Dung vội sang thăm dì dượng
và ông ngoại. Dung đang học lớp sáu. Mẹ để Dung ở với ông đỡ đần
những lúc bận bịu, phòng khi trái gió trở trời. Dung không còn
ngồi ngóng ở cầu ao đá nữa mà theo dì ra bãi tỉa cải, vun ngô,
vun mía. Có hôm lại còn đi chợ Sông bán rau, đi chợ Bầu mua quần
áo cho dượng.
Gặp ông ngoại mẹ mừng rỡ hỏi han chuyện dì dượng. Cha Dung chỉ
ngồi yên chẳng nói gì. Một chân cha hơi bị lệch, sau khi điều
trị về vẫn còn đi lại rất khó khăn. Ông ngoại nghe mẹ hỏi mãi
chẳng trả lời, đôi mắt u uẩn thêm. Hồi lâu mới bảo: "Cha có qua
thăm nó rồi. Nghĩ thương con Nguyệt quá mà chẳng biết làm thế
nào." Mẹ hỏi gặng:"Chú ấy ốm lắm phải không? Thôi, con nghĩ còn
người là may rồi." "Cha mới cắt cho nó một ít thuốc bổ. Bảo con
Nguyệt sắc hết lại qua lấy. Các con có qua thăm em cũng đừng nói
gì. Khổ thêm cho nó." Mẹ hoang mang nhìn ông ngoại rồi lại nhìn
cha. Cha quay đi tránh cái nhìn của mẹ.
Lúc ở nhà dì dượng về mẹ ngồi phịch xuống giường thở dài đánh
thượt. Ông đang tán thuốc trong cái thuyền tán ngẩng lên nhìn
rồi lại cúi xuống. Mẹ ngập ngừng bảo: 'Con thấy hình như không
phải chú Quảng nhà mình. Chú ấy cao lớn. Mặt mũi sáng láng cơ.
Người này thấp một mẩu mà mặt mũi lại chẳng giống tí nào..." Ông
ngoại thở dài: "Cha biết điều đó từ hôm nó mới về. Nhưng không
dám nói. Ông bà Lành chẳng hiểu có nhận ra không mà cứ nằng nặc
đi đón người ta về. Con Nguyệt có vẻ vui lắm. Cha nghĩ mà đau
lòng quá. Chỉ sợ rằng ngày vui ngắn chẳng tày gang..." Mẹ quay
sang cha: "Sao anh không nói với dì ấy? Sao anh kể với em rằng
chính tay anh đã chôn chú Quảng? Em chẳng hiểu ra thế nào nữa..."
Cha đang đứng với Dung ở ngoài thềm. Một bên người vẫn lệch hẳn
đi. Dung vô ý vịn vào vai làm cha suýt ngã. Cha không trả lời
được câu hỏi của mẹ. Hai cha con đi ra cầu ao đá. Dung lội xuống
khoả nước nghịch, té vào mấy cánh bèo tây bập bềnh. Cha ngồi yên
trên tảng đá xanh to nhất mà Dung hay ngồi đợi mẹ và dì Nguyệt.
Mấy tháng trôi qua. Câu chuyện về dượng Quảng đã lắng xuống rồi
lại ồn lên ở cái xóm Đồng bé nhỏ chỉ có vài chục nóc nhà. Chính
quyền xã xuống thăm hỏi nhưng cũng yêu cầu dì Nguyệt và ông bà
Lành phải làm rõ lai lịch của dượng Quảng. Không ai có thể làm
được điều đó. Câu chuyện về người đàn ông mặc bộ quân phục lang
thang ở bến xe bến tàu và những xưởng gỗ bây giờ trở thành một
đầu mối đáng ngờ. Người ta lại đồn rằng người đàn ông đang ở nhà
dì Nguyệt là một tên gián điệp nằm vùng. Chính hắn đã chỉ điểm
cho máy bay ném bom những cơ sở sản xuất và nhà ga bến xe ở Phủ
Lý. Bây giờ hắn đang tạo một vỏ bọc mới. Thật là một tên gián
điệp xảo quyệt, nguy hiểm! Một làn sóng phẫn nộ lan tràn khắp
xóm Đồng.
Ông ngoại tôi buồn lắm. Người lắc đầu: "Gián điệp gì nó.
Nó là con
ông lang Sinh ở ngoài Phủ Lý. Nó vốn lơ ngơ từ bé. Hồi năm sáu
bảy ông bà ấy chết bom cả nên nó đi hoang. Ai cho bộ quần áo bộ
đội cũ thì mặc vào. Ngơ ngẩn thế nên mới không phải đi lính. Hồi
trước người ta đã nghi nó giả điên giả dại để trốn lính nên bắt
đi khám. Khám mấy lần chán lại trả về." Dung sững sờ: "Sao ông
biết?" "Ông là bạn hàng của ông bà ấy từ xưa. Nó biết ông, vì
ông hay lên trên đó lấy thuốc... Ông bà lang Sinh cũng là người
xóm Đồng nhưng ra tỉnh làm ăn từ hồi trước năm năm tư, ở đây ít
người còn nhớ. Với lại chiến tranh, loạn lạc... Bao nhiêu người
làm gì còn tung tích!". "Sao ông không nói?". Dung gặng hỏi
nhưng ông chẳng trả lời. Ông bắc ghế đảo mẹt thuốc trên giàn đậu
ván tím hoa. Dung thấy lưng ông còng gập xuống. Người ông nhỏ
quắt lại trong bộ quần áo nâu rộng lùng thùng.
Một buổi sớm tháng ba ẩm ướt hoa lộc vừng tím đỏ buông từng chùm
trên cầu ao đá. Du vừa thức dậy định đun nước pha trà cho ông
thì dì Nguyệt hớt hải từ ngoài ngõ đi vào. Nhìn thấy dì ông hỏi
ngay: "Nó đi rồi phải không?" Dì Nguyệt nằm vật xuống giường
khóc nức lên. Tóc dì xổ tung ra. Đôi vai nhỏ rung lên bần bật...
Người đàn ông ngẩn ngơ ấy đã bỏ đi. Không ai biết đi đâu. Sau
chuyện này, ông bà Lành ốm nặng rồi lần lượt qua đời. Thế là dì
Nguyệt lại chỉ có một mình. Tóc dì trút dần xuống. Đến bây giờ
chỉ còn lại một mớ lơ thơ xơ xác. Năm tháng qua đi... Người xưa
giờ vắng bóng. Chẳng mấy ai nhớ chuyện dì Nguyệt nữa...
* *
*
Mẹ đã đi
chúc tết về. Dì Nguyệt hỏi: "Dì Sương có nhà không?" Mẹ bảo: "Dì
còn khoẻ lắm. Năm nay cụ đã chín mươi rồi mà tóc vẫn đen mới lạ
chứ. Còn tỉnh táo lắm. Các cháu giục cụ đi lễ chùa thì cụ bảo:
Tôi còn lắm tội lắm. Chẳng đi chùa được. Lúc chị sang vẫn thấy
đang bế chắt cho ăn bột. Ngày trước làm gì cụ cũng đường lối
khắt khe lắm mà bây giờ lại nhẹ tính thế. Cháu gái lấy chồng tôi
hỏi thế dì không bày đặt cho chúng nó phải sửa lễ gia tiên như
thế nào à? Cụ bảo con cháu nhà mình có tuổi rồi, chúng nó lấy
nhau, sống được với nhau là mừng, bày đặt làm gì. Mình có sống
cho nó được đâu. " Dì Nguyệt thở dài: "Ai mà được như cụ. Mình
chưa già mà đã lẫn cẫn." Mẹ bảo: "Hồi trước khi mẹ mất bà ngoại
cứ muốn xe duyên cho dì Sương với cha mình. Nhưng dì không chịu.
Đập đầu vào thành giường khóc vật khóc vã lại còn hờ chị thảm
thiết. Thế là chẳng ai dám vun vào nữa. Không có con thì dì đội
gạo nuôi hết cháu này đến cháu khác. Năm năm tư dượng Thuần bỏ
đi Nam dì mới có ngoài hai mươi tuổi cùng ba người bạn thề độc
là sẽ không lấy chồng nữa. Sau ba cô kia đều tái giá hết. Còn
mỗi dì Sương nhà mình. "Sau năm bảy lăm ông ấy gửi thư về xin
đón nhưng cụ cũng không chịu đi. Mà đố ai xui được cụ đi lễ...".
Mẹ hỏi: "Em có đi lễ không? Đi đi cho nó thanh thản em ạ..." Dì
Nguyệt cười, lắc đầu: "Chẳng Phật nào độ được em đâu. Sống còn
chẳng lo được, chết thì cũng vậy thôi!" Mẹ gạt đi: "Sao dì cứ
nói năng lẩn thẩn thế! Cái gì cũng vận vào mình...!"
Lúc hai dì cháu dọn dẹp mâm bát dì Nguyệt mới trách khẽ: "Sao
không cho con xuống đây chơi?" Dung bối rối: "Trời lạnh. Cháu sợ
chúng nó ốm..." Dì Nguyệt lấy cái rổ dặn: "ở nhà, dì đi ra bãi
một lúc." Dung định ngăn nhưng lại thôi. Thấy câu dặn sao mà
giống ngày xưa. Hồi Dung còn ngồi bên cầu ao đá ngong ngóng chờ
bóng dì Nguyệt trở về từ cánh bãi mờ sương mỗi buổi chiều.
Khi Dung lên xe dì Nguyệt gửi theo một xách nặng ngô nếp tươi
cho lũ trẻ. Lại có cả một bó tướng cây mùi già đầy hoa thơm ngát.
Xe chạy trên triền đê đi xa xóm Đồng. Du vẫn nhìn thấy dì Nguyệt
đứng ở chỗ cầu ao đá đầu làng ngó theo. Bóng dì nhỏ bé liêu xiêu
trong ánh chiều chạng vạng. Đồng bãi xa xăm mờ mờ sương khói...
* *
*
Hết ngày mồng hai Tết chồng Dung gọi điện về nhắn em phải lên
ngay để anh đi lễ. Chuẩn bị một phi vụ làm ăn đầu năm mới. Cả
năm trông vào cái lộc của tháng giêng. Mẹ gửi theo cả một làn
trứng gà ri cho các cháu. Lại cả mấy khúc cá nướng và niêu cá
kho như mọi năm. Không quên cả bó rau hẹ non mướt cắt ngoài vườn
với mớ rô đồng sống trong vại sành từ trước Tết, vẫn giãy đành
đạch, dặn dò con gái: "Nấu canh cá rô rau hẹ với bún cho bố nó
ăn. Tết này phải xa vợ xa con nghĩ cũng tội. Vắng đàn ông quạnh
nhà vắng đàn bà quạnh bếp." Dung lặng thinh, nghĩ vẩn vơ. Tết
này theo chồng đi lễ cũng chẳng biết xin gì. Nhà cửa con cái đề
huề rồi. Còn mong gì nữa? Chẳng lẽ lại xin lấy một chữ Tình.
Chồng Dung bảo đi Bắc Kinh thấy người ta bày bán một bức thư hoạ
lớn có một chữ Tình cách điệu hình đôi trai gái ôm nhau định mua
về cho em nhưng sợ không mang được vì nó to bằng cả một cánh
phản. Dung nghĩ ai mà có thể mua được chữ Tình? Mẹ lúc nào cũng
tâm niệm một chữ nhẫn, chữ tình gửi đâu? Bà Sương suốt đời ở vậy
không chịu lấy ai có phải vì cái tình đã mất hay không? Dì
Nguyệt chờ chồng mà lại cố ôm lấy một người đàn ông xa lạ phải
chăng vì tình quá nặng? Biết cho ai mà cũng biết xin ai? Sao
Dung cứ ngong ngóng một điều gì như thể ngày xưa chiều chiều ra
cầu ao đá trông về cuối đồng cuối bãi...
•
Hạnh Hà
|