Thöa baïn,

 

Nghiệp và nghiệp báo

 

Trích : Đàm thoại Phật Pháp

Tác giả: Vạn Thuận

Ngày gửi: 20/12/2005

 

Nhà thơ Bùi Giáng đă từng nói:

“Ta cứ ngỡ xuống trần chơi một tí .
Nào ngờ ở đâu măi đến hôm nay”.

Chúng ta có thể băn khoăn: “Ta đến trần gian này như thế nào? Tại sao ta sinh ra đời? Ta là ai và tại sao có một số việc chỉ xảy đến cho ta mà không xảy đến cho người khác? Và tại sao người này sống trong cảnh giàu sang phú quư, người kia lại sống cảnh màng trời chiếu đất.v.v…” c̣n nhiều vấn đề đối nghịch nhau nữa nhưng ở đây chỉ đơn cử thế thôi.

Để t́m ra lời giải đáp, chúng ta hăy phóng tầm nhận thức ra khỏi kiếp sống này để có cái nh́n tổng thể rồi t́m ra giải pháp cho những điều bất như ư của chúng ta trong cách quan sát toàn cục và bao biện hơn. Trong kinh Tăng Nhất A Hàm, đức Phật day: “Này các Tỳ-kheo, Như Lai chấp nhận rằng chính tác ư là nghiệp. Do có ư muốn nên mới có hành động bằng thân, khẩu, ư”. Do chính ḍng Nghiệp cảm ấy đă tạo nên muôn trùng sai biệt của kiếp nhân sinh này.

Vậy Nghiệp là ǵ? Chúng ta hăy cùng tiến hành một cuộc khảo sát về chúng.

I/ Bối cảnh xă hội học thuyết Nghiệp ra đời:

1/ Nguyên nhân ra đời của các tôn giáo:

Do con người yếu đuối trước những hiện tượng tự nhiên như mưa băo bất ngờ xảy đến làm tiêu tan mọi vật chất mà con người đă từ lâu trích trữ, và có thể cướp đi mạng sống của họ; hoặc sấm chớp nổ vang làm họ chết đứng giữa trời… và khi ấy khoa học chưa phát triển, nên tất cả những ǵ mà họ không thể giải lư được th́ họ đều cho rằng thần linh an bài, Thượng đế mặc khải không bao giờ thay đổi được, nên họ h́nh thành:

- Tự nhiên thần giáo (Đa thần giáo): những việc xảy ra làm mất mạng hay đem lại những điều không may như: họ vào rừng bỗng dưng con rắn cắn khiến mất mạng, họ liền lập hương áng thờ thần rắn; mưa to gió lớn làm mất trắng mùa màn, họ liền cho đó là do thần mưa, thần gió… Họ cho rằng mọi sự mọi việc đều do thần tạo…

- Giao thế thần giáo (Nhị thần giáo): Họ chủ trương như một triều đại: cũng có trung thần, cũng có nịnh quan. Cho nên họ thành lập ra hai hệ phái, những vị thần nào giúp đỡ họ vượt qua bao gian nan, thống khổ… là những vị thiện thần. C̣n mang lại cho họ những điều bất trắc, không may… là những vị ác thần. Nhưng dù thiện hay ác họ đều tôn thờ. Tại sao vậy? V́ thờ thiện thần để tạ ơn và thờ ác thần để khỏi bị phá phách…

- Duy nhất thần giáo (Vũ trụ sáng tạo luận): là vua của vạn pháp, là vạn năng, là chủ thể  thế giới sinh ra thiện và ác thần. Cũng như vị vua cai trị cả trung thần và nịnh thần.

2/ Vũ trụ sáng tạo luận (học thuyết Phạm thiên sanh ra vạn pháp):

Học thuyết kiến tạo (Tạo nhất thiết thần): Họ cho rằng có một vị thần vạn năng sinh ra tất cả các vị thần khác như: thần sông, thần núi, thần biển, thần cây, thần mưa, thần gió… Nhưng họ cảm nhận giống Nhất thần giáo nên lại lập ra học thuyết mới.

- Học thuyết Hoàn Kim Thai: vị thần này giống như một người mẹ có thể sinh ra các vị thần khác mà không cần nguyên liệu. Học thuyết này đă khiến mọi người phát sinh nhưng tư tưởng như: chỉ có một phía làm sao có thể sinh được? Sao kỳ vậy? Cùng một mẹ mà sao lại chẳng giống nhau có ác thần, có thiện thần; có vô t́nh có hữu t́nh? Họ vẫn chưa thể giải quyết những vấn đề đặt ra đó. Nhưng họ vẫn chưa chấp nhận dừng lại ở đó; bèn sáng tạo ra học thuyết khác.

- Học thuyết nguyên nhân giải thể: vị thần Puusa: thần sáng tạo vũ trụ. Được gọi là Phạm ngă nhất như, họ cho rằng: một hôm thân thể của vị thần ấy nóng lên và nổ tung ra và h́nh thành thế giới, hai phần ba thân thể của vị thần này biến thành vô t́nh (sông núi, cỏ cây, đại địa). C̣n một phần ba thân thể th́ biến thành hữu t́nh (những loài t́nh thức, tứ sinh).

3/ Các triết học phản đối về Phạm thiên và thần sáng tạo của Bà La Môn:

- Thuận thế phái: Họ cho rằng con người chết là hết; họ chủ trương Duy vật luận làm nền tảng. Nghĩa là sống đời này hưởng tất cả dục lạc thân thể không hề có tội phước ǵ cả. Đức Phật gọi phái này là “Đoạn diệt luận”.

- Thuận mệnh phái: Họ cho rằng bao khổ, vui, họa, phúc; hạnh phúc hay khổ đau của con người đều do định mệnh đă an bài không bao giờ có thể thay đổi được, nên cho dù sống ra sao đi chăng nữa con người vẫn không thoát ra cái ṿng kiềm toả ấy. Đức Phật gọi phái này là “Tà mạng ngoại đạo”.

- Ly hệ phái: Họ lấy tư tưởng của Kỳ Na giáo làm tư tưởng điển h́nh. Bao khổ vui, họa phúc và thân thể của con người đều do tạo nghiệp từ trước, cho nên muốn thoát ra sự ràng buột của nghiệp lực th́ phải tu khổ hạnh.

II/ Sự căn cứ của học thuyết Nghiệp:

* Thập Nhị Xứ:

Trong Đại chánh tạng (quyển 2 trang 9 kinh Tạp A Hàm) ghi: Một hôm Sanh Văn Bà la môn hỏi đức Thế Tôn: Tất cả vậy thế nào là tất cả? Đức Phật dạy: Tất cả nghĩa là chỉ cho mười hai xứ (mắt đối với sắc, tai đối vối thinh, mũi đối với hương, lưỡi đối với vị, thân đối với pháp).

Tất cả ở đây: vào thời bấy giờ nghĩa là đồng với thế giới, vũ trụ, vạn pháp). Vạn pháp là mười hai xứ: Lục căn (chủ thể nhận thức) tiếp xúc với Lục trần (đối tượng nhận thức) sanh ra Vạn pháp.

Sanh Văn hỏi tiếp: Nếu có người cho rằng chẳng phải Tất cả mà Sa môn Cù Đàm nói là tất cả? Đức Phật dạy: Người ta bỏ tất cả mà lập ra tất cả khác th́ người này chỉ nói trên ngôn luận. Nếu họ được hỏi đến th́ người này không biết và chỉ tăng thêm nghi hoặc.V́ sao? V́ chẳng phải là cảnh giới vậy!

Trong kinh A Hàm, có vị Bà la môn hỏi: Các vị bà la môn (thông tam minh) đều nói rằng con đường nào con đi cũng trở về với Phạm thiên.

Đức Phật hỏi: Các bậc thông tam minh đă thấy Phạm thiên chưa?

Bà la môn trả lời: Chưa!

- Vậy bậc thầy của bậc thông tam minh đă thấy Phạm thiên chưa?

Bà la môn: chưa!

Đức Phật nói tiếp: Ví như ta nói ta quan hệ với một người. Nhưng khi mọi người hỏi tên của người ấy, tuổi người ấy, gia đinh người ấy mà ta đều không trả lời được vậy các ngươi nói ta có quan hệ với người đó không?

Thưa: Không!

Cũng vậy! Bậc thông tam minh tin Phạm thiên mà không biết Phạm thiên thật không có.

*Tam pháp ấn:

Pháp ấn là đặc tính của pháp hay nói khác hơn là thật tướng của các pháp, tức là nói rơ về vạn hữu.
-  Nhất thiết vô thường: Vạn pháp đều vô thường, các pháp đều phải đi qua bốn tướng Hữu t́nh: sanh, lăo, bệnh, tử; Vô t́nh: sanh, trụ, dị, diệt. Vạn pháp không có chủ thể thường hằng đó gọi là Vô thường.
- Nhất thiết khổ: Trong tam pháp ấn, nói về khổ là nói về nguyên lư tự nhiên đối với nhứt thiết vô thường. Từ vô thường đó mà dẫn đến khổ. V́ bất cứ một pháp nào nếu đă vô thường th́ tất nhiên phải khổ.

Do chấp ngă nên đệ lục ư thức đối với sự biến hóa thay đổi khôn lường của căn và cảnh th́ rất khó chấp nhận sự thật ấy nên cảm thấy lo lắng khó chịu mà sanh ra khổ.

- Nhất thiết vô ngă: Tất cả là vô thường, vô thường là khổ, cho nên tất cả những ǵ do con người (chủ thể nhận thức) đối với thế giới (đối tượng khách thể) tất cả đều vô ngă. Nghĩa là không có cái ngă thật sự. V́ nếu có cái ngă thật sự th́ không có khổ. Vô thường nghĩa là phủ nhận sự tồn tại của thật ngă (atman). Ngă thường được quan niệm là: Thường Hằng và Chủ Thể.

- Tam pháp ấn theo Phật giáo nguyên thuỷ là: Nhất thiết vô thường, Nhất thiết giai không và Nhất thiết vô ngă.
Qua bước thứ nhất cho thấy rằng: quan hệ của mười hai xứ tuy đơn giản nhưng đă minh chứng một cách có y cứ cụ thể. Các pháp là vô thường, khổ, vô ngă. Do vậy mà khẳng định vạn pháp trong vũ trụ đều do duyên sanh và đă phủ nhận bốn h́nh thức tư duy sai lầm về thuyết sáng lập vũ trụ của các phái triết học thời bấy giờ.

III/ NỘI DUNG CỦA NGHIỆP:

1/ Định nghĩa: Chữ Nghiệp dịch từ Kama hay Kamam (pali), nghĩa là hành động có tác ư của thân khẩu ư.

Vào thời cổ Ấn Độ, lúc đức Phật chưa ra đời. Lúc bấy giờ Nghiệp được lư giải là “việc làm”. V́ họ cho rằng tất cả chúng sanh có ḷng tham dục mà đưa đến phương hướng phát triển ḷng tham và h́nh thành sự dục vọng. Cho nên đức Phật dạy: Tất cả chúng sanh đều mang theo cái nghiệp của chính ḿnh như một di sản, như một vật gia truyền, như người chí thiện, như chỗ nương tựa. Chính v́ cái nghiệp nhân của mỗi người mỗi khác mới có cảnh dị đồng giữa chúng sanh.

Nghiệp thường được nói đủ là Nghiệp báo, tức là chỉ cho quá tŕnh từ nhân đến quả.

a - Nghiệp nhân: Là những việc làm, những suy nghĩ, những lời nói của chúng ta hôm nay nó chưa đến thời chín muồi.

b - Nghiệp lực: Là sự trợ lực của các duyên. Ví như: ta gieo lúa th́ nhân chính là hạt lúa; c̣n các duyên là đất, nước, phân, ánh sáng… làm duyên trợ lực cho hạt lúa phát triển.

c - Nghiệp quả: Là sự chín muồi của các hành động tạo tác; đưa đến kết quả. Ví như ta gieo lúa trải qua thời gian ba tháng hoặc bốn tháng chúng ta sẽ gặt được hạt lúa. Phàm phu chúng ta chỉ thấy và quan tâm đến quả trước mắt chứ không quan tâm đến cái nhân chúng ta đă tạo. Nhưng Bồ-tát th́ ngược lại, họ chỉ quan tâm tới nhân mà thôi.

d - Thiện nhân lạc quả, ác nhân khổ quả: Tác dụng của ư chí (năng lực tác dụng) đối với đối tượng khách thể (giới tự nhiên) tất nhiên sinh ra sự phản ứng. Đây chính là luật nhân quả Phật giáo hay nói đầy đủ hơn đây chính là những điều cơ bản để h́nh thành “Nghiệp nhân, Quả báo” của Phật giáo. Ư chí tác động lên đối tượng khách thể tự nhiên là “Nhân”. Sự phản ứng tất nhiên của khách thể tự nhiên là “Báo” và cũng là “Quả”. Do vậy mà thường gọi là “Nghiệp Nhân Quả Báo”.

- Khái niệm về thiện ác: Ví dụ hành động của A gây ra hoặc làm gia tăng sự đau khổ cho B. B sẽ kết luận là A ác. Hoặc hành động của A làm giảm sự đau khổ của B th́ B sẽ kết luận là A thiện.

Vậy Thiện là ǵ? Là những hành động tạo tác làm an lạc cho ḿnh và người trong quá khứ, hiện tại cũng như vị lai. Ác là ǵ? Là những hành động tạo tác khiến đau khổ cho ḿnh và người trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Vậy chúng ta gieo nhân thiện sẽ gặt quả thiện, trồng nhân ác sẽ gặt quả ác.

e - Tam thế nhân quả: Trong kinh Trung A Hàm quyển 3, đức Phật dạy: “Nếu đă tạo nghiệp, ta nói rằng người đó trong đời này hoặc đời sau phải thọ lấy quả báo. Nếu không tạo nghiệp, ta nói người đó không thọ quả”.

Đây chính là “Nghiệp nhân quả báo” trong ba đời. Chúng ta hăy thể nghiệm qua câu nói sau: 
“Dục tri tiền thế nhân

Kim sanh thọ quả thị

Yếu tri lai thế quả.

Kim sanh tác giả thị.”

Ở đây, đức Thế Tôn dạy rằng: “Nếu như không tác nghiệp th́ chắc chắn không thọ lấy quả báo”. Do đó, ư nghĩa quan trọng trong học thuyết nghiệp của Phật giáo là chủ yếu lấy ư chí con người làm trọng tâm. Cũng từ đó mà nêu lên quan điểm về đạo lư nhân sinh. Nội dung của của học thuyết nghiệp là nói về Thiện nhân lạc quả, ác nhân khổ quả. Do đó con người muốn đạt được hạnh phúc th́ cần phải làm việc thiện và giúp mọi người làm thiện như ḿnh.

 

2/ Sự phân loại của Nghiệp:

a - Tính chất của Nghiệp:

- Thiện nghiệp: Là hành động tạo tác đem lại an lạc cho ḿnh và người trong hiện tại đến vị lai. Ví dụ: thành tâm bố thí một người nghèo nào đó hay tận lực giúp đỡ một người hoạn nạn nào đó khiến họ được an vui và chính ḿnh cũng được an vui.

- Ác nghiệp: Là hành động tạo tác mang lại an lạc cho ḿnh mà khiến người khác đau khổ; hoặc ḿnh và người đều đau khổ trong hiện tại cũng như tương lai.

- Vô kư nghiệp: Là hành động tạo tác không xác định được thiện nghiệp hay ác nghiệp.

b - Cộng nghiệp và Bất cộng nghiệp:

- Cộng nghiệp: Nghiệp chung của một tập thể. Ví dụ: sóng thần vừa qua đă gây bao đau thương, mất mát và cướp đi bao sinh linh đang tràn trề sức sống. Cộng trung cộng nghiệp: như núi, sông, đất, không khí. Nhiều người thọ dụng. Cộng trung bất cộng: như nhà cữa, ruộng, vườn, do cá nhân tự thọ dụng.

- Bất cộng: C̣n gọi Biệt nghiệp là nghiệp cảm thọ riêng của từng cá nhân. Ví dụ: chúng ta đang ở trong pḥng máy lạnh; có người cảm nhận rất lạnh, có người cảm thấy mát mẻ.

+ Bất cộng trung cộng: như thân người, tuy do cá nhân ḿnh sử dụng nhưng cũng có những người khác nương tựa vào như con cái nương tựa cha mẹ.

+ Bất cộng trung bất cộng: như tai, mắt trên thân người, th́ chỉ có người đương sự mới thọ dụng được thôi.

c - Định nghiệp và Bất định nghiệp:

- Định nghiệp: Là các nghiệp nhất định sẽ đưa đến kết quả.

- Bất định nghiệp: Nghiệp không dẫn đến kết quả, hay kết quả xuất hiện ở một thời điểm rất xa không định được.

d - Dẫn nghiệp và Măn nghiệp:

- Dẫn nghiệp: Nghiệp quyết định nơi thác sinh th́ gọi là dẫn nghiệp; Dẫn nghiệp có khi được cắt nghĩa là nghiệp rơ rệt trong cuộc sống.

- Măn nghiệp: chúng sanh tuy sanh cùng một cảnh giới, nhưng vận mệnh có nhiều loại, đây là măn nghiệp, có khi gọi măn nghiệp này là các nghiệp c̣n lại ngoài dẫn nghiệp.

3/ Phân loại nghiệp:

a - Phân loại theo công tác:

- Sanh nghiệp: là nghiệp chi phối sự sanh trưởng cho đời sau (như sanh năm uẩn). Chết chỉ là hiện tượng tạm thời, kết liễu tạm thời. Chính sát na sau cùng định đoạt nơi thọ sanh.
-Tŕ nghiệp: là nghiệp đi theo sanh nghiệp và duy tŕ, nâng đỡ nghiệp này cho đến khi mạng chung.
- Chướng nghiệp: là nghiệp làm yếu ớt, chậm trỡ hay dừng lại sự kết thành của sanh nghiệp, trái với tŕ nghiệp.
- Đoạn nghiệp: là nghiệp tiêu diệt năng lực của sanh nghiệp; như một mũi tên đang bay bị một sức mạnh cản lại khiến rơi xuống. Sức mạnh ấy gọi là đoạn nghiệp.

b - Phân loại theo sức mạnh:

- Cực trọng nghiệp: như tội ngũ nghịch giết cha, me, A la hán, phá hoà hợp Tăng và làm thân Phật chảy máu. Nghiệp này c̣n gọi là Vô gián nghiệp.

- Cận tử nghiệp: là nghiệp tạo ra hay nhớ nghĩ lúc lâm chung. Nghiệp này rất quan trọng v́ nó chi phối đến việc tái sanh.

- Tập quán nghiệp: chính là những hành động trở thành tập quán, cá tính của con người

- Tích luỹ nghiệp: là các nghiệp c̣n lại, ngoài ba nghiệp trên được gọi là tích lũy nghiệp.

c - Phân loại khác:

- Hiện báo: là đời này tạo nghiệp đời này thọ quả.

- Sanh báo: là đời này tạo nghiệp đời sau thọ quả

- Hậu báo: là đời này tạo nghiệp nhiều đời sau thọ quả.

- Vô hiệu nghiệp: là nghiệp mà quả báo không thành tựu ở đời này hay đời sau.

d - Phạm vi hoạt động của nghiệp: Hành động hôm nay chúng ta tạo tác th́ có măi măi trong hiện tại và nối tiếp tương lai.

e - Ai là tác giả tạo nghiệp và ai là người thọ quả: chính ư chí (Tâm) tạo nghiệp và Thọ là người lănh nghiệp.
f - Sự đ́nh chỉ của nghiệp: Chỉ có liễu ngộ mới đ́nh chỉ sự hoạt động của nghiệp.

g - Tự tánh của nghiệp: Các triết gia của Ấn Độ thời bấy giờ phát hiện ra nghiệp, nhưng  không rơ nghiệp là “không trường tồn” mà lại cho là “hằng thường bất biến”. C̣n Phật giáo cho rằng nghiệp cũng là một pháp nên nó không trường tồn, không có tự ngă và có thể thay đổi.

Tóm lại, như trong kinh Thập thiện đức Phật dạy: “Nhĩ thời Thế Tôn cáo Long vương ngôn: nhất thiết chúng sanh tâm tưởng dị cố, tạo nghiệp diệt dị do thị cố hữu tư thú luân chuyển. Long vương nhữ kiến thử hội cập đại hải trung h́nh sắc chủng loại các biệt phủ da? Như thị nhứt thiết mị bất do tâm, tạo thiện bất thiện, thân nghiệp, ngữ nghiệp ư nghiệp sở tác”.

Như vậy trong thế giới muôn vẻ sai biệt này: có người sống lâu, có người chết yểu, có người xấu xí, có người mạnh khỏe… đều do nghiệp lực của họ khác nhau; tất cả chúng sanh đều thừa hưởng di sản do nghiệp đời trước truyền lại, từ nghiệp mà sanh ra, là quyến thuộc của nghiệp. Nghiệp che chở cho chúng sanh và quyết định cho chúng sanh là bần tiện hay phú quư. V́ thế chúng ta luôn hướng thiện và an trú trong giới - định - tuệ để giải thoát.

Các sách tham khảo:
- Phật thuyết thập thiện nghiệp đạo kinh, HT.Thích Hoàn Quan
- Thuyết Tứ Đế, GS. Minh Chi
- Phật học khái luận, HT. Thích Chơn Thiện
- Phật học Tinh Hoa, HT. Thích Đức Nhuận