NGHI THỨC SÁM HỐI
và TỤNG GIỚI
Hoà Thượng Thích Thanh Từ
Phật Lịch 2539- 1996
Thư viện Hoa sen
SÁM HỐI LỤC CĂN
KỆ
NGUYỆN HƯƠNG
(Quỳ nguyện hương)
Trầm
thuỷ, rừng thiền hương sực nức,
Chiên đàn vườn tuệ
đã vun trồng.
Ðao từ bi vót hình non
thẳm,
Nguyện đốt lò tâm
mãi cúng dâng.
Nam Mô Bồ Tát Hương
cúng dường.
(3 lần), (đứng lên)
TÁN
PHẬT
Ðại
từ, đại bi thương chúng sanh,
Ðại hỷ, đại xả cứu
hàm thức.
Tướng đẹp sáng ngời
dùng trang nghiêm,
Chúng con chí tâm thành
đảnh lễ:
-
Chí tâm đảnh lễ: Tất cả chư
Phật ba đời, tột hư không khắp
pháp giới. (1 lạy)
- Chí tâm đảnh lễ:
Tất cả chánh pháp ba đời, tột
hư không khắp pháp giới. (1 lạy)
- Chí tâm đảnh lễ:
Tất cả Tăng, bậc Hiền thánh ba
đời, tột hư không khắp pháp
giới. (1 lạy)
TÁN
PHÁP
Pháp
Phật sâu mầu chẳng gì hơn,
Trăm ngàn muôn kiếp khó
được gặp.
Nay con nghe thấy vâng gìn
giữ,
Nguyện hiểu nghĩa chơn
đức Thế Tôn.
Qui kính Phật, Bồ Tát
trên hội Bát Nhã.
(3 lần)
TÂM
KINH TRÍ TUỆ CỨU CÁNH RỘNG LỚN
Khi
Bồ tát Quán Tự Tại hành sâu
Bát Nhã Ba la mật đa, ngài soi thấy
năm uẩn đều không, liền qua hết
thảy khổ ách. (1 chuông)
Này
Xá Lợi Phất! Sắc chẳng khác không,
không chẳng khác sắc. Sắc tức là
không, không tức là sắc, thọ,
tưởng, hành, thức cũng lại như
thế. (1chuông)
Này
Xá Lợi Phất! Tướng không của
các pháp không sanh, không diệt, không
dơ, không sạch, không thêm, không bớt.
Cho nên trong tướng không, không có
sắc, không có thọ, tưởng, hành,
thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý; không có sắc, thinh, hương,
vị, xúc, pháp; không có nhãn giới
cho đến không có ý thức giới;
không có vô minh cũng không có hết
vô minh cho đến không có già chết
cũng không có hết già chết; không
có khổ, tập, diệt, đạo; không
có trí huệ, cũng không có chứng
đắc. (1 chuông)
Vì
không có chỗ được, nên Bồ
tát y theo Bát Nhã Ba la mật đa, tâm
không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại
nên không sợ hãi, xa lìa hẳn
điên đảo mộng tưởng, đạt
đến cứu cánh Niết bàn. Chư Phật
trong ba đời cũng nương Bát Nhã Ba la
mật đa, được đạo quả Vô
thượng Chánh đẳng chánh giác. Nên
biết Bát Nhã Ba la mật đa là
đại thần chú, là đại minh chú,
là vô thượng chú, là vô
đẳng đẳng chú, hay trừ được
hết thảy khổ, chơn thật không dối.
Vì
vậy, nói chú Bát Nhã Ba la mật đa,
liền nói chú rằng:
"Yết
đế, yết đế, Ba la yết đế, ba la
tăng yết đế, Bồ đề tát bà
ha". (3 lần)
LỄ
PHẬT TỔ
Chí
tâm đảnh lễ Quá Khứ Phật Tỳ
Bà Thi
Chí tâm đảnh lễ Hiện
Tại Phật Thích Ca Mâu Ni
Chí tâm đảnh lễ Vị
Lai Phật Di Lặc Tôn
Chí tâm đảnh lễ Tổ
Sư Đại Ca Diếp
Chí tâm đảnh lễ Tổ
Sư A Nan
Chí tâm đảnh lễ Tổ
Sư Bồ Đề Đạt Ma
Chí tâm đảnh lễ Tổ
Sư Huệ Khả
Chí tâm đảnh lễ Tổ
Sư Huệ Năng
Chí tâm đảnh lễ Tổ
Sư Trúc Lâm Đại Đầu Đà
Chí tâm đảnh lễ Tổ
Sư Pháp Loa
Chí tâm đảnh lễ Tổ
Sư Huyền Quang
Chí tâm đảnh lễ tất
cả chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa,
Việt Nam.
BÀI
SÁM HỐI SÁU CĂN
(Quỳ tụng)
-
Chí tâm sám hối:
Chúng con từ vô thủy kiếp
đến nay,
Bỏ mất bản tâm không
biết chánh đạo.
Rơi ba đường khổ, bởi
sáu căn lầm;
Không sám lỗi trước
khó tránh lỗi sau.
1.-
Nghiệp căn Mắt là:
Nhân
ác xem kỹ, nghiệp thiện coi khinh,
Lầm nhận hoa giả, quên ngắm
trăng thật.
Yêu ghét nổi dậy, đẹp
xấu tranh dành,
Chợp mắt dối sanh, mờ
đường chánh kiến.
Trắng qua xanh lại, tía phải
vàng sai,
Nhìn lệch các thứ, nào
khác kẻ mù.
Gặp người sắc đẹp,
liếc trộm nhìn ngang,
Lòa mắt chưa sanh, bản lai
diện mục.
Thấy ai giàu có, giương
mắt mãi nhìn,
Gặp kẻ bần cùng, lờ
đi chẳng đoái.
Người dưng chết chóc,
nước mắt ráo khô,
Thân quyến qua đời, đầm
đìa lệ máu.
Hoặc đến Tam bảo, hoặc
vào chùa chiền,
Gần tượng, thấy kinh mắt
không thèm ngó.
Phòng Tăng, điện Phật
gặp gở gái trai,
Mắt liếc mày đưa, đam
mê sắc dục.
Không ngại Hộ pháp, chẳng
sợ Long thần,
Trố mắt ham vui, đầu chưa
từng cúi.
Những tội như thế, vô
lượng vô biên,
Ðều từ mắt sanh, phải sa địa
ngục.
Trải hằng sa kiếp, mới
được làm người,
Dù được làm
người, lại bị mù chột.
2.-
Nghiệp căn Tai là:
Ghét
nghe chánh pháp, thích lắng lời
tà,
Mê mất gốc chơn, đuổi
theo ngoại vọng.
Sáo đàn inh ỏi, Bảo
khúc Long ngâm,
Văng vẳng mõ chuông,coi như
ếch nhái.
Câu ví bài vè, bỗng
nhiên để dạ,
Lời kinh câu kệ, không
chút lắng tai.
Thoảng nghe khen hảo, khấp khởi
mong cầu,
Biết rõ lời lành,
đâu từng ưng nhận.
Vài ba bạn rượu, dăm
bảy khách chơi,
Tán ngắn bàn dài, châu
đầu nghe thích.
Hoặc gặp thầy bạn, dạy
bảo đinh ninh,
Những điều hiếu trung, che tai
bỏ mặc.
Hoặc nghe tiếng xuyến, bỗng
nảy lòng dâm,
Nghe nửa câu kinh, liền như tai
ngựa.
Những tội như thế, vô
lượng vô biên,
Ðầy ắp bụi trần, kể sao
cho xiết.
Sau khi mạng chung, rơi ba
đường ác
Hết nghiệp thọ sanh, lại
làm người điếc.
3.-
Nghiệp căn Mũi là:
Thường
tham mùi lạ, trăm thứ ngạt ngào,
Chẳng thích chơn hương,
năm phần thanh tịnh.
Lan xông xạ ướp, chỉ
thích tìm tòi,
Giới định huân hương,
chưa từng để mũi.
Trầm đàn thiêu đốt,
đặt trước Phật đài,
Nghểnh cổ hít hơi, trộm
hương phẩy khói.
Theo dõi hương trần, Long
thần chẳng nể,
Chỉ thích mùi xằng, trọn
không chán mỏi.
Mặt đào má hạnh, lôi
kéo chẳng lìa,
Cây giác hoa tâm, xoay đi
không đoái.
Hoặc ra phố chợ, hoặc vào
bếp sau,
Thấy bẩn thèm ăn, ưa
nhơ kiếm nuốt.
Chẳng ngại tanh hôi, không
kiên hành tỏi,
Mê mãi không thôi, như
lợn nằm ổ.
Hoặc chảy nước mũi,
hoặc hỉ đàm vàng,
Bôi cột quẹt thềm, làm
nhơ đất sạch.
Hoặc say nằm ngủ, điện Phật
phòng Tăng,
Hai mũi thở hơi, xông kinh nhơ
tượng.
Ngửi sen thành trộm, nghe mùi
thành dâm,
Không biết không hay, đều do
nghiệp mũi,
Những tội như thế, vô
lượng vô biên,
Sau khi mạng chung, đọa ba
đường khổ.
Trải ngàn muôn kiếp, mới
được làm người,
Dù được làm
người, quả báo bệnh mũi
4.-
Nghiệp căn Lưỡi là:
Tham
đủ mọi thứ, thích xét ngon dở,
Nếm hết các thứ, rõ
biết béo gầy.
Sát sanh hại vật, nuôi
dưỡng thân mình,
Quay rán cá chim, nấu hầm
cầm thú.
Thịt tanh béo miệng, hành
tỏi ruột xông.
Ăn rồi đòi nữa, nào
thấy no lâu.
Hoặc đến đàn chay, cầu
thần lễ Phật,
Cố cam bụng đói, đợi
lúc việc xong.
Sáng sớm ăn chay, cơm ít
nước nhiều,
Giống hệt người đau,
gắng nuốt thuốc cháo.
Mắt đầy mỡ thịt,
cười nói hân hoan,
Rượu chuốc cơm mời,
nóng thay nguội đổi.
Bày tiệc đãi khách,
cưới gả cho con,
Giết hại chúng sanh, vì ba
tấc lưỡi.
Nói dối bày điều,
thêu dệt bịa thêm,
Hai lưỡi bỗng sanh, ác khẩu
dấy khởi.
Chửi mắng Tam bảo, nguyền
rủa mẹ cha,
Khinh khi Hiền thánh, lừa dối
mọi người.
Chê bai người khác, che dấu
lỗi mình,
Bàn luận cổ kim, khen chê
này nọ.
Khoe khoang giàu có, lăng nhục
người nghèo,
Xua đuổi Tăng Ni, chửi mắng
tôi tớ.
Lời dèm thuốc độc,
nói khéo tiếng đàn,
Tô vẽ điều sai, nói
không thành có.
Oán hờn nóng lạnh, phỉ
nhổ non sông,
Tán dóc Tăng phòng, ba hoa
điện Phật.
Những tội như thế, vô
lượng vô biên,
Ví như cát bụi, đếm
không thể cùng.
Sau khi mạng chung, vào ngục Bạt
thiệt
Cày sắt kéo dài,
nước đồng rót mãi.
Quả báo hết rồi, muôn
kiếp mới sanh,
Dù được làm
người, lại bị câm bặt.
5.- Nghiệp căn Thân là:
Tinh cha huyết mẹ, chung hợp nên
hình,
Năm tạng trăm hài, cùng
nhau kết hợp.
Chấp cho là thật, quên mất
pháp thân,
Sanh dâm, sát, trộm, bèn
thành ba nghiệp:
a.-
Nghiệp Sát Sanh là:
Luôn
làm bạo ngược, chẳng khởi nhân
từ,
Giết hại bốn loài,
đâu biết một thể.
Lầm hại cố giết, tự
làm dạy người,
Hoặc tìm thầy bùa, đem
về ếm đối.
Hoặc làm thuốc độc,
để hại sanh linh,
Chỉ cốt hại người,
không hề thương vật.
Hoặc đốt núi rừng,
lấp cạn khe suối,
Buông chài bủa lưới,
huýt chó thả chim,
Thấy nghe tùy hỷ, niệm dấy
tưởng làm,
Cử động vận hành,
đều là tội lỗi.
b.-
Nghiệp Trộm Cắp là:
Thấy
tài bảo người, thầm khởi tâm
tà,
Phá khóa cạy then, sờ bao
mò túi.
Thấy của thường trụ,
lòng dấy khởi tham,
Trộm của nhà chùa, không
sợ Thần giận.
Không những vàng ngọc, mới
mắc tội to,
Ngọn cỏ cây kim, đều
thành nghiệp trộm.
c.-
Nghiệp Tà Dâm là:
Lòng
mê nhan sắc, mắt đắm phấn son,
Chẳng đoái liêm trinh,
riêng sanh lòng dục.
Hoặc nơi đất Phật,
chánh điện phòng Tăng,
Cư sĩ gái trai, đụng
chạm đùa giỡn.
Tung hoa ném quả, đạp cẳng
kề vai,
Khoét ngạch trèo tường,
đều là dâm nghiệp.
Những tội như thế, vô
lượng vô biên,
Ðến lúc mạng chung, đều
vào địa ngục.
Gái nằm giường sắt, trai
ôm cột đồng,
Muôn kiếp tái sanh, lại
chịu tội báo.
6.-
Nghiệp căn Ý là:
Nghĩ
vơ, nghĩ vẩn, không lúc nào
dừng,
Mắc mưu tình trần, kẹt
tâm chấp tướng.
Như tầm kéo kén, càng
buộc càng bền,
Như bướm lao đèn, tự
thiêu tự đốt.
Hôn mê chẳng tỉnh,
điên đảo dối sinh
Não loạn tâm thần,
đều do ba độc.
a.-
Tội keo tham là:
Âm
mưu ghen ghét, keo cú vét vơ,
Mười vốn ngàn lời,
còn cho chưa đủ.
Của chứ tợ sông, lòng
như hũ chảy,
Rót vàolại hết, nên
nói chưa đầy.
Tiền mục lúa hư, không
cứu đói rét,
Lụa là chất đống,
nào có giúp ai,
Ðược người mấy trăm,
chưa cho là nhiều,
Mất mình một đồng,
tưởng như hao lớn.
Trên từ châu báu,
dưới đến tơ gai,
Kho đụn chất đầy, chưa
từng bố thí.
Bao nhiêu sự việc, ngày
tính đêm lo,
Khổ tứ lao thần, đều
từ tham nghiệp.
b.-
Tội nóng giận là:
Do
tham làm gốc, lửa giận tự thiêu,
Quắc mắt quát to, tiêu tan
hòa khí.
Không riêng người tục,
cả đến thầy tu,
Kinh luận tranh dành, cùng nhau
công kích.
Chê cả sư trưởng, nhiếc
đến mẹ cha,
Cỏ nhẫn héo vàng, lửa
độc rực cháy.
Buông lời hại vật, cất
tiếng hại người,
Không nhớ từ bi, chẳng theo
luật cấm.
Bàn thiền tợ Thánh,
trước cảnh như ngu,
Dù ở cửa Không, chưa
thành vô ngã.
Như cây sanh lửa, lửa cháy
đốt cây,
Những tội trên đây,
đều do nghiệp giận.
c.-
Tội ngu si là:
Căn
tánh dần độn, ý thức tối
tăm,
Chẳng hiểu tôn ty, không
phân thiện ác.
Chặt cây hại mạng, giết
gấu gãy tay,
Mắng Phật chuốc ương, phun
Trời ướt mặt.
Quên ơn quên đức, bội
nghĩa bội nhân,
Không tỉnh không xét,
đều do si nghiệp.
Những tội như thế, rất
nặng rất sâu,
Ðến lúc mạng chung, rơi
vào địa ngục.
Trải trăm ngàn kiếp, mới
được thọ sanh,
Dù được thọ sanh, lại
mắc ngu báo.
Nếu không sám hối,
đâu được tiêu trừ,
Nay trước Phật đài,
thành tâm sám hối .
TỤNG TAM QUY, NGŨ
GIỚI:
1.-
TAM QUY:
Chúng
con nguyện suốt đời quy y Phật, quy y Pháp,
quy y Tăng. (1 chuông, 1 lạy)
-
Quy y Phật: Chúng con trọn đời tôn
thờ kính trọng, tu theo đức Phật
Thích Ca Mâu Ni, là bậc thầy giác
ngộ sáng suốt của chúng con.
-
Quy y Pháp: Chúng con trọn đời tôn
thờ kính trọng, tu theo chánh pháp từ
kim khẩu đức Phật nói ra.
-
Quy y Tăng: Chúng con trọn đời tôn
thờ kính trọng, tu theo những Tăng sĩ tu
hành đúng chánh pháp của Như Lai.
*
Quy y Phật rồi, chúng con không kính
trọng tu theo Trời, thần, quỷ, vật.
*
Quy y Pháp rồi, chúng con không kính
trọng tu theo ngoại đạo, tà giáo.
*
Quy y Tăng rồi, chúng con không kính
trọng, làm thân với bạn dữ, nhóm
ác.
(1 chuông, 1 lạy).
2.-
NGŨ GIỚI:
Chúng
con nguyện trọn đời giữ giới không
sát sanh. Nghĩa là chúng con không
giết người bằng mọi cách, không sai
bảo kẻ khác giết người, không vui
thích thấy nghe kẻ khác giết người.
Cho đến những con vật lớn, chúng con
cũng không nhẫn tâm giết hại; mà
hằng bảo vệ sanh mạng chúng sanh.
Chúng
con nguyện trọn đời giữ giới không
trộm cướp. Nghĩa là chúng con
thấy tài sản, vật dụng của
người, không khởi lòng tham, lén lấy
hay giựt lấy; mà luôn luôn bảo vệ
tài sản của người như tài sản
mình.
Chúng
con nguyện trọn đời giữ giới không
tà dâm. Nghĩa là chúng con chỉ
một vợ một chồng, chớ không có
lòng mê hoa đắm sắc, làm điều
tà vạy, gây đau khổ cho gia đình
mình và gia đình người; mà
hằng tán thán ca ngợi đời sống trinh
bạch.
Chúng
con nguyện trọn đời giữ giới không
nói dối. Nghĩa là chúng con không do
lòng tham nói lời dối trá lừa bịp
người, không do lòng nóng giận nói
lời hung dữ khiến người buồn rầu,
không do lòng hiểm ác nói lời vu oan, vu
cáo khiến người bị khó khăn tù
tội; mà hằng nói lời chân thật ngay
thẳng.
Chúng
con nguyện trọn đời giữ giới không
uống rượu. Nghĩa là chúng con
không uống các thứ ruợu mạnh và
nhẹ khiến tâm trí rối loạn mờ
tối, thân thể sanh nhiều bệnh hoạn,
chuốc lỗi lầm với thân nhân quyến
thuộc; cho đến các thứ á phiện,
xì ke, ma túy thảy đều tránh xa.
Cúi
xin Tam bảo hộ trì khiến chúng con
đầy đủ nghị lực, giữ gìn
năm giới trong sạch để được
làm người tốt trong đời này và
đời sau.
CHÍ
TÂM PHÁT NGUYỆN
Một
nguyện nguồn linh thường trong lặng.
Hai nguyện tạng thức dứt
lăng xăng.
Ba nguyện khối nghi đều tan
nát.
Bốn nguyện trăng định
mãi tròn đầy.
Năm nguyện pháp trần không
khởi diệt.
Sáu nguyện lưới ái
lìa buộc ráng.
Bảy nguyện suy nghĩ hành
Thập địa.
Tám nguyện nghe suốt bỏ tam
thiên.
Chín nguyện tâm vượn
thôi nhảy nhót.
Mười nguyện ý ngựa
dứt cương yên.
Mười một nguyện mở
lòng nghe Phật dạy.
Mười hai nguyện mến thích
Tổ sư Thiền.
CHÍ
TÂM HỒI HƯỚNG
Chúng
con hồi tâm về Thánh chúng,
Ân cần đầu cúi lễ
Từ tôn.
Thềm thang Thập địa nguyện
sớm lên,
Chơn tâm Bồ đề không
thối chuyển.
PHỤC
NGUYỆN
(Chủ lễ đọc)
Cửa
Thiền thường nghiêm tịnh,
Toàn chúng mãi thuận
hòa.
Phật huệ chiếu sáng
ngời,
Mưa pháp hằng nhuần
gội.
Phật tử lòng tin sâu,
Ruộng phước càng tăng
trưởng.
Chúng sanh sống an lạc,
Vui hưởng cảnh thái bình.
Nơi nơi dứt đao binh,
Mỗi mỗi đều thành
Phật.
(Ðứng dậy lễ Phật).
Chí
tâm quy mạng lễ, mười phương vô
thượng Tam Bảo. (3 lạy)