Bộ “Nghi quỹ nhập
Đạo tràng Trì chú Chuẩn
Đề” nầy do Thầy Thích Viên
Đức lúc còn sanh tiền, đã
soạn ra và rộng truyền cho toàn thể
các Phật tử hoặc những
hành giả hành trì Pháp Chuẩn
Đề và chọn Ngài làm Bổn
tôn của mình. Vì thấy Nghi quỹ
nầy vẫn còn hữu ích cho tất
cả những ai muốn chọn Tông
giáo của Như Lai Đại Nhật làm
con đường đi trên cuộc
đời vô thường, lấy
Hữu vào Vô- để
lợi ích cho mình và mọi
người. Chúng tôi đánh
máy lại nguyên văn theo bản chánh mà
Thầy đã trao cho tại Chùa Thiền
Tịnh, Thủ Thiêm ( Thủ Đức ) và
xin được phép phổ biến Bộ
Nghi nầy. Cầu xin rằng Bộ Nghi quỹ
nầy được truyền tay cho
những ai hữu duyên,vì lợi
ích “sanh tử đại sự”
có thể download và
in ra để hành trì mỗi ngày.
Kính
bạch Giác Linh Thầy! Để
tưởng nhớ đến công
hạnh của Thầy lúc còn tại
thế đã cố công truyền bá
Mật giáo tại Việt Nam, con- một Phật
tử đã hữu duyên cầu
Pháp với Thầy, đã và
đang đem hết tâm lực của
một hành giả để góp một
bàn tay nhỏ nho trong việc phổ biến tâm
mật nầy- xin được đốt
nén hương và đảnh lễ
Thầy.
Nhật Minh (Cư sĩ Liên Hoa)
DẤU
CHÂN LƯU LẠI MẬT

DI ẢNH GIÁC LINH
DU GIÀ SƯ:
SA MƠN THÍCH VIÊN ĐỨC
HÌNH CHỤP NGÀY 18.06.1975
NGHI QUỸ NHẬP ĐẠO TRÀNG
TRÌ CHÚ CHUẨN ĐỀ
Sa mơn
Thích Viên Đức soạn và truyền
lại
I.- NGHI
THỨC CHUẨN BỊ VÀO ĐẠO TRÀNG :
1- Tắm : Khi tắm, đọc
kệ và Thần chú sau :
Rửa sạch thân thể.
Nguyện cho chúng sanh.
Thân tâm đều sạch.
Trong ngoài thanh tịnh
Om- Bạt chiết ra não ca tra xoa ha ( 3 lần )
2- Rửa tay :
Lấy nước rửa tay.
Xin nguyện chúng sanh
Có bàn tay sạch. Giữ
gìn Pháp Phật
3- Rửa
chân : Khi rữa chân, trước
đọc kệ và chú như vầy :
Khi đang
rữa chân. Xin nguyện chúng sanh
Đầy
đủ thần lực. Mọi việc không
ngại
4- Rửa
mặt : Khi lấy nước rửa mặt,
tụng như sau :
Lấy
nước rửa mặt. Xin nguyệân
chúng sanh
Đượcï
pháp môn tịnh. Lìa khỏi cấu
nhiễm
5- Súc
miêng : Khi lấy nước súc miệng,
tụng như sau :
Rửa
miệng, lưỡi trong sạch. Nước
dơ thành hương hoa
Ba nghiệp
luôn thanh tịnh. Về phương Tây
cùng Phật
6- Tổng tẩy
uế : Khi làm pháp Tổng tẩy uế,
dùng Giải Uế Pháp Ấn Chú
Ôsô-sa-ma.
Ấn : Lấy 2 ngón tay câu nhau trong
lòng bàn tay, 2 ngón vô danh, ngón
giữa, ngón trỏ đứng
thẳng. Lấy 2 ngón tay cái mở
rộng để trong lòng bàn tay trên 2
ngón tay út, chắp cổ tay lại.
Tụng Thần chú :
Om- Tu rị ma rị, ma ma ri ma rị, tu
tu rị xoa-ha ( 7 lần )
Để Ấn Chú
nầy gia trì trong nước 7 lần
rồi rửa mặt, nhiên hậu mới
trì các Thần Chú Pháp
v.v…Người tu hành Chú Pháp,
nếu thấy tử thi hoặc đàn
bà sanh sản, hoặc chỗ lục súc sanh
sản, hoặc chỗ máu mủ dơ chảy.
Khi thấy những thứ do uế như
vậy, tức kết khế Ấn, tụng
ngoại uế chú, liền được
thành tựu. Chỗ tu hành các
Pháp thảy đều có hiệu nghiệm.
Nếu không như vậy, khiến
người mất linh nghiệm, và bị
ương hại, trên mặt sanh ghẻ. Do
đó, ngoại uế Thần chú
quyết không được quên vậy.
II- Phần
lập Đạo Tràng :
1- Đăng Đạo tràng :
Khi lên
Đạo tràng, đứng
trước Tôn Tượng, tụng như
sau :
Khi nhìn Đức Phật. Nguyện cho chúng
sanh
Được mắt không ngại. Thấy
được chư Phật
Om- A
Mật Lật Đế Hồng Phấn Tra ( 3 lần )
2- Tán Phật :
Tiếp theo,
tán thán công đức của
chư Phật, tụng Kệ Chú như sau :
Tán Phật tướng
đẹp. Nguyện cho chúng sanh
Được như thân
Phật. Đắùc pháp Vô
tướng
Om- Mâu Ni Mâu Ni Tam Mâu Ni Xoa Ha ( 3 lần )
3- Tịnh Pháp giới :
Om- Lam Xoa Ha
Để tịnh
Đàn tràng, làm pháp sái
tịnh như sau: Trì chú trong chén
nước 21 biến, rước sái
trên Đàn cho dược thanh tịnh .
4- Tịnh Khẩu nghiệp :
Để thanh
tịnh các ác nghiệp của miệng,
tụng Thần chú sau :
Om- Tu Rị Tu Rị Ma Ha Tu Rị Tu Tu
Rị Xoa Ha ( 3 lần )
5- Tịnh Tam Nghiệp :
Tiếp theo
tụng Thần chú dưới đây
để thanh tịnh 3 nghiệp: Thân –
Miệng – YÙ :
Om- Ta Phạ Bà Phạ Thuật
Bà Ta Phạ Đạt Ma Ta Phạ Bà Phạ
Thuật Độ Hám ( 3 lần )
6- Phổ cúng dường :
Tiếp theo
đọc Chân ngôn cúng dường
hết thẩy hoa, hương, ẩm thực
lên Chư Phật như sau :
Om- Nga Nga Nẳng Tam Bà Phạ
Phiệt Nhựt Ra Hồng ( 3 lầnn )
7- Phổ Lễ :
Tụng Chân
ngôn Phổ Lễ Chư Phật như sau :
Om- Phạ Nhựt Ra Vật ( 3 lần )
8- Kiết giới :
Nếu
vào Đàn Chuẩn Đề thì
dùng Chú Chuẩn Đề (Ngũ Bộ).
Om- Lam. Om- Xỉ Lâm. Om- Mani pát
mê hùm.
9- Độc nghiệm hoán
đảnh :
Sau khi kiết
giới đã xong, thì làm Pháp
Quán đảnh như sau để khiến
đọc tụng Thần chú
được linh nghiệm. Lấy 1 lọ
nước tịnh thủy, kiết ấn tụng
Chú 21 biến, xong rải trên đỉnh
đầu.
Ấn : Hai
ngón tay cái co nơi trong lòng bàn tay,
xoa vịn giáp tiết giữa lóng
ngón vô danh, đầu 2 ngón út
đứng thẳng, 2 ngón giữa
đầu cũng đứng thẳng, 2
ngón trỏ co đứng vịn xoe lưng
ngón giữa tiết trên.
10- Tốc tật thành tựu :
Nếu
muốn thành tựu hết thảy chân
ngôn, trước tụng chú nầy 21
biến, tất cả thần chú mau
được thành tưụ. Chân
ngôn như sau :
Om- tra tra tra ô, trí trí
trí trí tra ô, tra ô, tra ô, tra ô,
phạ nhật ra tát đát phạ, nhã
hồng vãm hộc hật-rị hạc hồng
phấn tra, hồng ( 21 biến )
11- Lễ Phật :
Trưóc
tụng Thần chú sau đây :
Na mô đạt xa na hồng
bồ đà câu trí na hồng ô
hồng hộ rô hộ rô tất
đà lô dã nể ta ra bà ra tha ta
đạt nễ ta bà ha.
Tụng xong,
lạy Phật 3 lạy.
(Thần
chú nầy chép từ trong Kinh Bảo
Tràng Thắng, do 10 ức Bồ tát
đã nói. Nếu tụng chú 1
biến, lễ Phật 1 bái thời thu
hoạch được công đức
bằng lễ ngàn vạn ức
Đức Phật )
12- Phụng thỉnh
Đức Chuẩn Đề :
Lễ xong,
kiết Ấn Chuẩn Đề triệu thỉnh
Chuẩn Đề Bổn Tôn giáng lâm
Đạo tràng.
Nam mô tát đa nẩm tam
miệu tam bồ đề cu chi nẫm
đát điệt tha: Om- Chiết lệ chủ
lệ Chuẩn Đề phụng thỉnh Chuẩn
Đề Bổn tôn giáng lâm Đạo
tràng chứng minh công đức Ta
bà ha, Bộ lâm.
13- Cúng dường hương :
Nam mô bà ra bá bồ
đà đà ra ma tăng già tả na,
ma ha lị đa, bá lô chỉ đế
thưóc bá ra tả bồ đề ta
đá bà tả, ma ha ta đá bà
tả, ma ha ca rô nễ ca tả, đát
điệt tha :
Đổ tỷ đổâ tỷ dà dạ
đổ tỷ, bề ra bề ra ni, ta bà ha ( 3 lần )
Tụng 1
biến chú nầy bằng lấy tất
cả các thứ hương hoa cúng
dường 10 vạn ức chư Phật.
14- Nguyện hương sám hối :
Thần
chú sám hối như sau :
Nam mô hắc ra đá na,
đá ra dạ da. Na ma a rị da bá lô
chỉ đê, thước bá ra dạ,
bồ đề ta đá bà dạ, ma ha ta
đá bà dạ, ma ha ca lô nĩ ca
dã, đát điệt tha: Đổ
rô đổ rô, a tây ma tây ma ha ma rị ni đỗ ba
ma rị ni, đổ
bề đổ bề
na mồ na ma, ta bà ha .
Trước
tượng Phật hoặc tượng Bồ
tát Quán thế Âm, thiêu hương
phát lồ sám hối, chí tâm
tụng 3 biến tức diệt tất cả
tội từ vô thỉ cho đến nay.
Các việc mong cầu quyết định
kết quả.
Khi vào
Đàn trì chú Chuẩn Đề
nên sám hối.
Quỳ
gối chắp tay, chuyên tâm định
ý, tay bưng lư hương, đọc bài
nguyện rằng :
Nguyện mây hương hoa nầy
Biến khắp mười
phương cõi
Tất cả các Phật
độ
Vô lượng hương trang
nghiêm
Đầy đủ Bồ
tát đạo
Thành tựu hương Như
Lai
*
Cúng dường hương hoa rồi,
đứng dậy lễ kính Tam Bảo:
- Nhất tâm
đảnh lễ Lơ Giá Na Mâu Ni Thế Tơn (1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ A Súc Thế Tơn (1
lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Bảo Sanh Thế Tơn
(1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Quán Tự Tại Vương Thế
Tơn
(1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Bất Khơng Thành Tựu Thế
Tơn
(1
lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Cực Lạc Thế Giới A Di Đà
Thế Tơn
(1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Thập Phương Pháp giới chư
Phật Thế Tơn
(1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Thất Câu chi Phật Mẫu Sở
thuyết Đại Chuẩn Đề Đà La Ni (1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Thập phương Pháp giới Tu
Da La Tạng Nhất thiết Đà la ni mơn (1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Tỳ Lơ Giá Na Cung điện
trung Thất Câu chi Chuẩn Đề Phật Mẫu
Bồ Tát Ma-ha-tát
(1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Quán Tự Tại Bồ Tát Ma
Ha tát
(1 lễ
)
- Nhất tâm
đảnh lễ Di Lặc Bồ Tát Ma Ha tát
(1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Hư Khơng Tạng Bồ Tát Ma
Ha tát
(1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha tát
(1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha tát
(1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
Ma Ha tát
(1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Trừ Cái Chướng Bồ Tát
Ma Ha tát
(1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha tát
(1
lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Vơ Năng Thắng Bồ Tát Ma
Ha tát
(1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Đại Thế Chí Bồ Tát
Ma Ha tát
(1
lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Thập phương Pháp giới Nhất
thiết Bồ Tát Ma Ha tát
(1 lễ )
- Nhất tâm
đảnh lễ Ma ha ca Diếp Tơn giả
- Nhất tâm
đảnh lễ Thập phương Pháp giới Nhất
thiết Tam thưà Hiền Thánh Tăng (1 lễ
)
Con- Đệ
tử …………………..chí
tâm sám hối những tội từ
vô thỉ sanh tử đến giờ,
theo ác lưu chuyển, cùng chung các
chúng sanh, tạo nghiệp chướng tội,
bởi tham sân si trói buộc, do thân
khẩu ý tạo 5 tội vô gián và
10 nghiệp ác, tự làm, bảo
người khác làm, thấy kẻ
khác làm sanh lòng vui mừng, hoặc
vật của tháp, vật của Tăng,
tự tại phí dụng. Đối
với các người sanh lòng
hủy báng, thấy các bậc tu học Thanh
văn, Duyên giác, Đại thừa, con
ưa sanh lòng mắng chửi, khiến cho
các người tu hành tâm sanh
buồn phiền, thấy có kẻ nào
hơn mình sinh lòng ganh ghét. Đối
với pháp thí tài thí
thường sanh keo kiệt, bị vô minh che
lấp hoặc tâm tà kiến. Không tu
nhân lành, khiến ác tăng
trưởng. Ở chỗ các Phật
mà khởi lên phỉ báng,
những tội như vậy, Phật đều
thấy biết. Con nay qui mạng, đối
trước chư Phật, Bồ tát,
Thánh chúng, thảy đều trình
bày tội lỗi, không dám che dấu.
Tội chưa làm, con không dám gây
tạo, những tội đã làm, con
đều xin sám hối. Nghiệp
chướng đã tạo đáng
đoạ tam đồ và ở chỗ
tám nạn. Con nguyện đời nầy
có bao nhiêu nghiệp chướng
đều được tiêu diệt,
đã có ác báo, đời
sau không thọ. Cũng như quá khứ,
hiện tại, vị lai tu bồ-đề hạnh,
đã có nghiệp chướng thảy
đều sám hối. Nghiệp
chướng của con, nay cũng sám
hối., hết thảy phát lồ, không
dám che dấu. Tội đã làm,
nguyện được trừ diệt,
tội ác vị lai không dám tạo
nữa.
* ( Sám hối rồi, quy
mạng lễ Tam Bảo )
Con- Đệ
tử…………….hết lòng vui
mừng tuỳ hỷ, quá khứ hiện
tại vị lai tất cả chúng sanh, tu
hành bố thí trì giới, tâm
huệ đã có căn lành. Con nay
thảy đều tâm sanh tuỳ hỷ, do
làm phước tuỳ hỷ như vậy,
cho nên chắc chắn sẽ thu hoạch
được quả tôn trọng vô
thượng thù thắng, vô thượng
vô đẳng. Lại ở quá
khứ vị lai hiện tại, tất cả
chư Phật Bồ tát, Thanh văn, Duyên
giác đã chứa nhóm vô
lượng công đức, con nay chí
tâm thảy đều tùy theo mà vui
mừng khen ngợi.
* ( Tùy hỷ rồi, quy
mạng lễ Tam Bảo )
Con- Đệ
tử……………chí tâm
khuyến thỉnh Mười phưong tất
cả chư Phật Thế Tôn, nguyện
được Vô thương Bồ
đề. Chưa chuyển Pháp luân, con
đều chí thành khuyến thỉnh chuyển
Đại Pháp
luân, an vui hữu tình.
Mười phương chư Phật Thế
Tôn muốn xả báo thân vào
cõi Niết bàn, con nay cúi đầu
đảnh lễ, hết lòng khuyến
thỉnh trụ ở đời lâu,
độ thoát và an vui hết thảy
chúng sanh.
* ( Khuyến thỉnh rồi, quy
mạng lễ Tam Bảo )
Con- Đệ
tử …..hết lòng hồi
hướng từ vô thỉ đến
ngày nay, đối với ngôi Tam
Bảo thành tựu các căn lành,
cho đến bố thí cho chúng sanh một
bát cơm. Lại nữa, đem hết
công đức trì tụng bí mật,
sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ,
các căn lành ấy thảy đều
thu nhiếp đem hồi thí cho tất cả
chúng sanh, không tâm hói tiếc,
là phần giải thoát căn lành
đã nhiếp. Như chư Phật Thế
Tôn đã thấy đã biết,
không thể tính lường vô
ngại thanh tịnh. Những công
đức căn lành đã có
như vậy, thảy đem hồi thí tất
cả chúng sanh, không trụ tâm tướng,
không xả tướng tâm. Con cũng
như vậy, công đức căn
lành, thảy đều hồi thí tất
cả chúng sanh, cùng các chúng sanh
đồng chứng Vô Thượng
Bồ đề, được tất
cả trí. Nhân căn lành nầy,
lại còn xuất sanh vô lương pháp
lành, cũng đều hồi
hướng Vô Thượng Bồ Đề.
Lại như quá khứ vị lai hiện
tại chư Đại Bồ Tát, khi tu hành
các căn lành, công đức
thảy đều hồi hướng tất
cả Chủng trí. Vậy, con đã có
công đức căn lành, cũng
đều hồi hướng Vô
Thượng Bồ Đề, các căn lành
ấy nguyện cùng tất cả chúng sanh
đều thành Chánh Giác. Như chư
Phật ngồi nơi Đạo tràng,
dưới cội Bồ Đề, không
thể nghỉ bàn, vô ngại thanh tịnh, an
trụ nơi Vô Tận Pháp tạng
Đà-la-ni, Thủ Lăng Nghiêm
Định, phá Ma Ba tuần, vô luợng
binh chúng, trong một sát na thảy
đều thấu rõ, nơi khoảng
nữa đêm được Cam-lồ
Pháp, chứng Cam lồ nghiã. Con và
chúng sanh nguyện đều đồng
chứng Diệu giác như vậy, cũng
như chư Phật thị hiện ứng
hoá, đắc Vô Thượng Bồ
Đề, chuyển Diệu Pháp Luân,
độ các chúng sanh.
( Hồi hướng rồi quy mạng
lễ Tam Bảo )
Con- Đệ
tử…………..chí tâm phát
nguyện; nguyện các chúng sanh hết
thảy phát tâm Vô Thương Bồ
Đề, thường nhớ nghĩ
công đức trí tuệ của
Mười phương chư Phật. Lại
nguyện tất cả chúng sanh phá
dứt vô minh, được thấy
Phật tánh, cũng như các Đại
Bồ tát, tất cả Thiên Long Bát
Bộ tăng ích oai quang, ủng hộ quốc
độ và nơi Đạo tràng, dẹp
các ma oán, khiến con đã tu Pháp
yếu bí mật của chư Phật mau
được thành tựu.
III- PHẦN NHẬP
ĐÀN :
1- Tụng 21 biến chân ngôn sau
đây :
Nam mô tất hí lị da,
trụy vĩ đà nẫm, đát tha
dà đa nẫm.
Úm- vĩ la thời vĩ la
thời, ma ha chước yết la, phạt
chiết lê phạt chiết la, tát
đá tát đá, ta la đế ta la
đế, đát la duệ đát la
duệ, tỳ đa mạt nễ, tam bàn thệ
nễ, đa la mạt để, tất
đà a yết lị để, lị
diễm, toá ha.
Khi tụng
chú nầy, liền kết Ấn như sau : Hai tay bên trong tréo nhau,
đứng thẳng 2 ngón tay trỏ,
khít nhau, lấy 2 ngón tay giữa quấn
vào 2 ngón tay trỏ ở
trước lóng thứ nhất,
mỗi ngón trỏ đứng vịn nhau,
hai ngón cái giáp thẳng nhau. Kiết
Ấn để ngang ngực, niệm tụng
Mật ngữ. Nếu chưa nhập
Đàn, không cho làm các pháp.
Nên dùng chân ngôn nầy, tức
sẽ được nhập vào
Đàn, thì khi làm các pháp
tắc không thành tội trộm Pháp.
2- Trì Ngũ Bộ chú :
Ngồi
thế Kim cang toạ (nghiã là lấy
bàn chân mặt gát lên trên vế
chân trái) hoặc tuỳ ý ngồi
cũng được. Hai tay kiết Ấn tam
Muội (nghiã là lấy tay mặt duỗi
ngay ra, để ngữa lên bàn tay
trái, rồi 2 ngón tay cái giáp
móng với nhau). Để ngang
dưới rún, thân cho tề chỉnh,
tâm cho an tịnh. Rồi tưởng trên
đỉnh đầu ta có chữ LAM (
) rất tròn sáng như ngọc minh
châu hay như mặt trăng rằm. Khi
tưởng như vậy rồi thì xả
Ấn Tam Muội lên trên đảnh, tay trái
kiết Ấn Kim Cang Quyền (Nghiã là
lấy ngón tay cái bấm vaò ngón
áp út ở giáp bàn tay, rồi
4 ngón kia nắm chặt lại hình như tay
cầm cú)
Rồi
tay mặt lần chuổi mà tụng như sau :
1-
Chú Tịnh Pháp giới : ÚM- LAM
2-
Chú Hộ Thân :
ÚM- XỈ LAM
3- Chú Lục
Tự Đại Minh : ÚM- MA NI BÁT NẠP MINH HỒNG
Tụng mỗi
chú 08 biến. Khi tụng xong chú nói
trên, thì xả Ấn Kim Cang Quyền lên
trên đảnh, rồi quỳ xuống
tụng bài kệ Chú Chuẩn Đề :
Chuẩn
Đề công đức tụ
Tịch
tịnh tâm thường niệm
Nhất
thiết chư đại nạn
Vô
năng xâm thị nhơn
Thiên
thượng cập nhơn gian
Thọ
phước như Phật đẳng
Ngộ
thử Như ý châu
Định
hoạch vô đẳng đẳng
Lúc
lạy xong, ngồi kiết Toàn già và
kiết Ấn Chuẩn Đề: Lấy
ngón áp út và ngón út
bên mặt cùng bên trái xỏ lộn
nhau vào trong 2 lòng bàn tay, dựng 2
ngón tay giữa thẳng lên, rồi co 2
ngón tay trỏ mà vịn vào lóng đầu
của 2 ngón tay giữa, còn 2 ngón tay
cái thì đè trên lóng
giữa của ngón tay áp út bên
mặt, rồi để lên ngang ngực.
Chí tâm
tụng 108 lần Chú Chuẩn Đề
và Chú Đại Luân Nhất Tự
như sau :
Muốn
trì tụng nữa hoặc tùy lòng,
nên tụng từ chữ ÚM
trở xuống ( Úm-
Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề
ta-bà-ha, bộ lâm ) tụng ký số
làm chừng như trên hoặc trì
nhiều hơn nữa càng tốt. Khi
niệm đủ rồi, muốn nghỉ thì
xả Ấn lên trên đảnh. Kế
dùng tay mặt kiết Ấn Kim Cang Quyền
mà ấn theo thứ tự 5 chỗ sau
đây :
1- Trên đảnh 2- Nơi vai trái 3- Ở vai bên mặt 4- Tại ngang ngực 5- Nơi yết hầu
Trong
lúc tay ấn vào 5 chỗ ấy, thì
miệng đọc Thần chú HỒNG HỒNG
liên tục, chừng nào đủ 5
chỗ rồi, thôi tụng, xả Ấn
trên đảnh.
3- Phụng tống :
Sau
khi trì tụng xong, bấy giờ phải
phụng tống Đức Chuẩn Đề
Bổn Tôn hoàn bổn xứ. Kiết
Ấn Chuẩn Đề tụng Chú như sau :
Tiếp
trì tụng :
Ngã
kim trì tụng Đại Chuẩn Đề
Tức
phát Bồ Đề quảng đại
nguyện
Nguyện
ngã Định Huệ tốc viên minh
Nguyện
ngã công đức giai thành
tựu
Nguyện
ngã thắng phước biến trang
nghiêm
Nguyện
cộng chúng sanh thành Phật đạo
Ngã tích
sở tạo chư ác nghiệp
Giai do vô
thỉ tham sân si
Tùng
thân ngữ ý chi sở sinh
Nhất
thiết ngã kim giai sám hối
A-di-đà
Phật thân kim sắc
Tướng
hảo quang minh vô đẳng luân
Bạch
hào uyển chuyễn ngũ Tu di
Hám
mục trừng thanh tứ đại hải
Quang
trung hoá Phật vô số ức
Hoá
Bồ Tát chúng diệc vô biên
Tứ
thập bát nguyện độ chúng sanh
Cửu
phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn
Nguyện
ngã lâm dục mạng chung thời
Tận
trừ nhất thiết chư chướng
ngại
Diện
kiến bỉ Phật A Di Đà
Tức
đắc vãng sinh Cực Lạc quốc
-
Tự quy y Phật, đương
nguyện chúng sinh, thể giải đại
đạo, phát vô thượng tâm.
-
Tự quy y Pháp,
đương nguyện chúng sanh, thâm nhập
Kinh tạng, trí tuệ như hải.
-
Tự quy y Tăng, đương
nguyện chúng sanh, thống lý đại
chúng, nhất thiết vô ngại.
Nguyện dĩ thử công
đức
Phổ cập ư nhất thiết
Ngã đảng dữ
chúng sanh
Giai cộng thành Phật
đạo