Thai tạng giới Mạn-đà-la (tiếng Phạn: garbhadhātumaṇḍala)
Nghệ thuật Phật giáo – nhất là các lĩnh vực kiến trúc, điêu khắc và hội hoạ có liên quan đến Phật, Pháp và Tăng – bắt đầu từ thời ban sơ trước đây 2.500 năm đă phát triển một hệ thống đồ tượng biểu trưng đa dạng và phức tạp. Nghệ thuật Phật giáo bắt nguồn từ tiểu lục địa Ấn Độ, ngay sau khi Phật Thích-ca Mâu-ni (≈563–483 TCN) viên tịch.
Trong thời ḱ tối sơ, nghệ thuật Phật giáo thuộc loại phi thánh tượng (tiếng Anh: aniconic), như vậy là chưa thể hiện h́nh tượng Phật dưới h́nh người. Thời ḱ hưng thịnh của nghệ thuật Phật giáo đầu tiên có lẽ là thời vua A-dục trị v́ (≈268–232 TCN), ông đă đóng góp rất nhiều cho việc truyền bá Phật giáo tại Ấn Độ cũng như phổ biến đến các khu vực khác như Trung Á, Tích Lan, và ngay cả khu vực Đông Nam Á như các ghi nhận trong lịch sử.
Những h́nh tượng đầu tiên, đặc
biệt là các tượng tạc h́nh Phật, xuất
hiện vào khoảng thế
kỉ thứ 1 CN ở các vùng Càn-đà-la
(Gandhāra) và Ma-thâu-la (
Đại tháp tại Kiến-chí (Ấn Độ, tk. 3 TCN)
Pháp luân (Tây Tạng)
Người ta không thể xác định rơ ràng nguồn gốc của nghệ thuật Phật giáo. Những tác phẩm nghệ thuật đầu tiên được xem là thuộc về Phật giáo xuất phát từ lĩnh vực kiến trúc. Đó là những Tháp-bà (zh. 塔婆, sa. stūpa, pi. thūpa), thường được gọi tắt là "tháp", ban đầu có cấu trúc ṿm và là nơi chứa Xá-lợi (sa. śarīra) của Phật. Ở các tháp này, người ta cũng t́m thấy những minh hoạ nghệ thuật cổ nhất dưới dạng chạm trổ (relief sculpture). Tuy nhiên, các tác phẩm này không có những nội dung đặc thù Phật giáo – có nhiều cảnh được miêu tả rất có thể có nguồn trước Phật giáo, ví dụ như h́nh của một phụ nữ đang sầu muộn, lơa thể với búi tóc xơa, hoặc các loại La-sát, những thần linh đă có trong truyền thống Ấn Độ giáo. Nhiều h́nh chạm trổ mang những nét đặc thù Phật giáo xuất hiện trong thế kỉ thứ 2 TCN.
Mặc dù nghệ thuật Ấn Độ đă có truyền thống điêu khắc h́nh người trước đó rất lâu, nhưng Phật ban đầu không được tŕnh bày dưới h́nh người. Thường th́ Phật và giáo lí của ngài được thể hiện bằng những biểu trưng khác nhau và chúng đă trở thành những thành phần chính trong nghệ thuật Phật giáo đến ngày nay.
Pháp
luân (zh. 法輪, sa. dharmacakra) - bánh xe (cakra)
pháp (dharma), tượng
trưng cho Tứ thánh đế và Bát chính đạo. Nhưng
Pháp luân cũng nhắc đến lần Phật
thuyết pháp đầu tiên tại Lộc Dă uyển,
được gọi là lần đầu tiên "quay
bánh xe pháp" (zh. 轉法輪, sa. dharmacakrapravartana)
và qua đó, phổ biến Phật pháp khắp nơi
trên thế gian. Pháp luân vừa được thể
hiện qua những h́nh điêu khắc nổi, vừa
được chạm trổ trên đỉnh các
cột trụ mà vua A-dục
đă dựng trên khắp vương quốc của
ông (xem thêm A-dục
vương thạch khắc văn).Trong thế kỉ thứ 2 và đầu thế kỉ 1 TCN, các tác phẩm h́nh tượng, điêu khắc, và hội hoạ dưới nhiều dạng như đai viền trang trí (en. frieze), bài vị thờ cúng (en. votive tablet) miêu tả các giai đoạn trong cuộc đời đức Phật, ngày càng quan trọng và phổ biến v́ chúng được xem là những tác phẩm nghệ thuật minh hoạ Phật pháp cho người không biết đọc. Mặc dù h́nh người được tŕnh bày trong các tác phẩm này nhưng Phật vẫn được miêu tả bằng những biểu tượng nêu trên. Nguyên nhân ở đây có thể là một lời nói của Phật trong Trường bộ kinh và theo đó, Phật không tán thành việc tŕnh bày ngài trong tranh tượng sau khi ngài nhập Niết-bàn. Theo các nhà sử học tôn giáo th́ có lẽ các nghệ nhân, tăng sĩ thời đó thấy việc miêu tả một nhân vật đă vượt ra khỏi ṿng sống chết, đă ĺa xa tất cả những việc đời thường cũng như vật chất, tâm thức,... bằng h́nh tượng là một việc không thể thực hiện.
Càn-đà-la, thế kỉ 1. Bồ Tát Di-lặc, Ma-thâu-la, thế kỉ 2.
Tại
Tại khu vực Càn-đà-la (vị trí hiện nay là miền Đông Afghanistan, miền Tây Bắc Pakistan và có thời ḱ lấn sâu vào Punjab) và Ma-thâu-la (phía nam thủ đô Delhi của Ấn Độ ngày nay), các trào lưu nghệ thuật tŕnh bày Phật dưới h́nh người xuất hiện gần như cùng lúc và ảnh hưởng lẫn nhau. Nhưng người ta vẫn chưa xác định được việc tŕnh bày Phật dưới h́nh người thực sự có trước ở miền nào. Trong mọi trường hợp, phong cách của các nghệ nhân Ma-thâu-la chịu ảnh hưởng Ấn Độ giáo truyền thống trong khi nghệ thuật Càn-đà-la lại phản ánh ảnh hưởng của nghệ thuật Hi Lạp vốn đă có mặt ở đó hơn vài thế kỉ. Trong cuộc viễn chinh cuối Alexander Đại đế (356 – 323 TCN) đă chiếm đóng được Taxila (gần Peshawar), là thủ đô kể từ thời vua người Achaemenid là Darius I (549 - 486 TCN). Càn-đà-la trở thành một phần của khu vực cai trị rộng lớn của Alexander Đại đế và tiếp tục là khu vực cai trị của Hi Lạp sau khi ông qua đời. Do vậy, ở nơi này, tín ngưỡng Phật giáo và truyền thống nghệ thuật cũng như mĩ học Cổ Hi Lạp và sau đó mĩ học địa phương La Mă đă hoà hợp nhau. Trong thế kỉ 1, cả Càn-đà-la và Ma-thâu-la đều bị vương triều Quư Sương (zh. 貴霜王朝, Kuṣāṇa) chiếm đóng và chịu ảnh hưởng của nó nhiều thế kỉ (tk. thứ 5 vương triều mới rơi vào tay quân Bạch Hung - Hephthalite). Trong thời gian này, vua Ca-nị-sắc-ca (zh. 迦膩色迦, sa. Kaniṣka) giữ một vai tṛ quan trọng với việc ủng hộ Phật giáo nói chung và nghệ thuật Phật giáo nói riêng.
Càn-đà-la, thế kỉ 1-2
Sự hoà hợp và ảnh hưởng lẫn nhau của nghệ thuật mang đậm sắc thái Ấn Độ tại Ma-thâu-la và của nghệ thuật mang dấu ấn Hi Lạp tại Càn-đà-la đă tạo ra một dạng nghệ thuật căn bản cho tất cả các trường phái nghệ thuật Phật giáo sau này, đó là Phật giáo Hy Lạp.
Mặc dù không xác định được những đồ tượng miêu tả Phật dưới nhân dạng xuất phát từ nơi nào, nhưng trong các tượng được tạc, người ta vẫn thấy được những dấu tích của hai truyền thống nguyên thuỷ: tóc xoắn, pháp y che hai vai, giầy hoặc những nét trang trí với những chiếc lá Acanthus được xếp theo trật tự Ca-lâm-đa (Corinthian order) được xem là bắt nguồn từ Càn-đà-la. Ngược lại, pháp y với những nét tinh tế hơn và chỉ che bên vai trái, đài hoa sen làm chỗ ngồi của Phật cũng như Pháp luân trong bàn tay của ngài được xem có nguồn từ Ma-thâu-la.
Tại Ấn Độ, nghệ thuật Phật giáo tiếp tục phát triển trong các thế kỉ tiếp theo trên cơ sở này. Đáng kể là nghệ thuật của các nhà tạc tượng tại Ma-thâu-la, đặc biệt là việc sử dụng sa thạch đỏ làm chất liệu trong thời ḱ vương triều Cấp-đa (Gupta, tk 4-6). Nơi đây, các sắc thái nghệ thuật chính được kết tụ trong thế kỉ thứ 7-8, được xem là tiêu chuẩn cho hầu hết tất cả những nước ở châu Á có truyền thống Phật giáo sau này: thân và tứ chi của Phật thanh nhă và cân xứng, lỗ tai dài có lỗ bấm nhắc đến thời ḱ ngài c̣n là thái tử Tất-đạt-đa, búi tóc trên đầu gợi nhớ lại thời Phật tu khổ hạnh như một Du-già sư (sa. yogin) và cuối cùng, cặp mắt chỉ hé mở, không nh́n người đối diện mà chỉ hướng nội thiền định. Từ đó về sau, cách tŕnh bày Phật đều mang những nét hiện thực được lí tưởng hoá.
Tượng Phật đứng, Ba-mễ-dương (Bāmiyān, thế kỉ 6)
Tại Ấn Độ, từ thế kỉ thứ 10 trở đi, Phật giáo và nền nghệ thuật hệ thuộc dần dần bị Ấn Độ giáo trong lúc đang phục hưng lấn át. Sau đó, Ấn Độ bị Hồi giáo từ phương Tây xâm chiếm, Phật giáo gần như hoàn toàn bị mai một ở xứ Ấn.
Cùng với sự phổ biến Phật giáo, nhiều
trường phái nghệ thuật Phật giáo xuất
hiện song song với các trường phái giáo lí Phật
giáo lớn như là Tiểu
thừa, Đại thừa và Kim cương thừa. Các
trường phái này có nhiều điểm giống nhau,
nhưng mặt khác cũng phát triển những nét rất
đặc thù. Thông thường, người ta phân
biệt giữa hai nhánh chính, đó là Nghệ thuật
Phật giáo Bắc truyền (Đại thừa) và
Nghệ thuật Phật giáo
Phật Thích-ca Mâu-ni (nhà Nguỵ, Trung Quốc, tk. 6)
Phật A-di-đà tại Long Môn (Trung Quốc, nhà Đường, tk 7-9)
Bồ Tát Di-lặc (Lạc Sơn, Trung Quốc, tk. 8)
Bồ Tát Quán Thế Âm với tượng Phật A-di-đà trên đỉnh đầu (nhà Tống, Trung Quốc, tk. 13)
Nhà Minh (Trung Quốc, tk. 16)
Phật giáo Bắc truyền dưới dạng Đại thừa được truyền bá có gốc xuất phát là Càn-đà-la, trước hết xuyên Con đường tơ lụa đến Trung Á và Trung Quốc, sau đó tiếp tục đến Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Một cung cách riêng với hệ thống đồ tượng rất đa dạng và đặc thù được t́m thấy trong Kim cương thừa tại Tây Tạng. Phật giáo Bắc truyền, như trường hợp Đại thừa nói chung, được đánh dấu bằng một hệ thống đồ tượng phức tạp với rất nhiều vị Phật và Bồ Tát khác nhau.
Khu vực ảnh hưởng Phật giáo Càn-đà-la tồn tại đến thế kỉ thứ 7, khi Hồi giáo bắt đầu chiếm lĩnh phần lớn khu vực Trung Á. Song song với những tác phẩm xác lập phong cách của các nhà điêu khắc, các tượng Phật tại Ba-mễ-dương (Bāmiyān) cũng thuộc vào những di sản của nền văn hoá Phật giáo đầu mùa này.
V́ địa thế đặc biệt nên Trung Á luôn là một địa điểm hội tụ của các nền văn minh cổ - văn minh Trung Hoa bên phía Đông, văn minh Ấn Độ và Ba Tư ở miền Nam, sau đó là các nước dưới quyền Alexander Đại đế, vương triều Tắc-lưu-tây (en. seleucid), và cuối cùng là văn minh La Mă từ miền Tây. Người Hán đă tiếp xúc với văn minh Hy Lạp trong thế kỉ thứ 2 TCN trong thời ḱ bành trướng sang hướng Tây. Những mối quan hệ ngoại giao được thành lập và cuối cùng, các tuyến lộ thương mại xuất hiện, được biết đến ngày nay dưới tên "Con đường tơ lụa". Phật giáo được phổ biến dọc theo con đường này. Tháp, tự viện, và một số vương quốc Phật giáo nhỏ được kiến lập trong những ốc đảo bên cạnh Con đường tơ lụa. Rất nhiều công tŕnh kiến trúc và đồ tượng của thời ḱ này c̣n được t́m thấy tại nhiều vùng phía đông của Trung Á, miền Tây Bắc Trung Quốc hiện nay (Thổ Nhĩ Ḱ Tư Thản - Turkestan - Bồn địa Tháp-lí-mộc - Tarim Basin - và Tân Cương), chẳng hạn như những bức hoạ và chạm trổ trên tường trong một loạt tự viện được xây trong hang đá, những bức tranh được vẽ trên vải, tượng đá và những khí cụ được dùng trong nghi lễ. Đặc biệt là những tác phẩm cổ nhất ở đây cho thấy rơ ảnh hưởng của nghệ thuật Càn-đà-la. Ngay cả văn bản được viết bằng chữ Kharoṣṭhī của vùng Càn-đà-la cũng được t́m thấy ở những ốc đảo. Với sự phát triển quan hệ thương mại, ảnh hưởng của Trung Quốc tăng trưởng rất nhanh, văn hoá và nghệ thuật của những dân tộc sống dọc theo Con đường tơ lụa sau cũng biến đổi theo.
Truyền thuyết cho rằng, thời vua A-dục trị v́ (thế kỉ thứ 3 TCN) đă cử nhiều vị tăng đến Trung Quốc truyền đạo. Việc truyền bá Phật giáo đến Trung Quốc được ghi nhận rơ ràng bắt đầu vào thế kỉ thứ 1 CN. Từ thế kỉ thứ 4 trở đi, người ta có thể t́m thấy một nghệ thuật Phật giáo tự lập và đa dạng, đặc biệt trong lĩnh vực tạc tượng, vẽ tranh trên tường và sau đó, dưới dạng tranh cuốn (Thangka). Ngoài vị Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni, tranh tượng c̣n tŕnh bày Phật A-di-đà, Đại Nhật và các vị Bồ Tát khác (Quán Thế Âm,...).
Các vương triều miền Bắc - Bao gồm khu vực cai trị của các vương triều (Bắc Nguỵ 北魏, Đông Nguỵ 東魏, Tây Nguỵ 西魏, Bắc Tề 北齊, Bắc Chu 北周) về mặt địa lí đều rất xa nguồn gốc Phật giáo tại Ấn Độ. Trong thế kỉ thứ 5-6, một phong cách nghệ thuật rất đặc thù được h́nh thành, bao gồm những thành phần biểu đạt trừu tượng có tính chất sơ đồ. Ban đầu, cách tŕnh bày c̣n mang những đặc điểm được t́m thấy trong các h́nh tượng thần linh truyền thống bản địa: trán rộng, sống mũi thon, sắc nét và miệng nhỏ cười mỉm. Hào quang không tṛn với mũi nhọn đưa lên tương tự một chiếc lá. Chỗ thờ cúng và tưởng niệm thường được tŕnh bày trong hang động theo truyền thống Ấn Độ (xem A-chiên-đà). Các h́nh tượng thường được biểu hiện dưới dạng chạm trổ, đục từ vách đá ra. Những di tích quan trọng và nổi tiếng nhất được t́m thấy trong những hang đá tại Long Môn (Long Môn thạch quật, bắt đầu từ thế kỉ thứ 5 nhà Bắc Nguỵ, nhà Đường; gần Lạc Dương, tỉnh Hà Nam). Đến thế kỉ thứ 6 người ta c̣n t́m thấy nhiều h́nh tượng được làm bằng đất nung, sau đó tượng đồng ngày càng xuất hiện nhiều hơn và cũng được truyền đến Hàn Quốc.
Nhà Đường - Hai vương triều kế đến là nhà Tuỳ và nhà Đường lại chú tâm đến các tài liệu gốc Ấn Độ hơn. Nhiều cao tăng Trung Quốc đă sang Ấn Độ trong thời gian giữa thế kỉ thứ 4 và 11. Một trong những cao tăng du học trong thế kỉ thứ 7 được nhắc đến là Huyền Trang và nhờ vị này mà người ta có được một bài tường thuật về các tượng Phật tại Ba-mễ-dương. Cuộc giao lưu văn hoá giữa Trung Quốc và Ấn Độ dưới vương triều Cấp-đa đă dẫn đến sự một kiện quan trọng là: từ lúc này, nghệ thuật Phật giáo Trung Quốc ngày càng có xu hướng đi sát với nghệ thuật Ấn Độ; Nếu tranh tượng của các vị Phật và Bồ Tát trước đây thon gầy và theo truyền thống Càn-đà-la, mang pháp y có nhiều nếp pli phủ từ cổ xuống chân, th́ giờ đây, thân thể của chư vị có vẻ "mập" hơn và cũng có một phần thân không được che phủ (vai bên phải, bán thân phía trên). Cổ của chư vị có ba "ngấn thẩm mĩ", mô típ hoa sen ngày càng được dùng như một thành phần trang trí, hào quang giờ đây có h́nh tṛn. Mặc dù tư thế được tŕnh bày vẫn c̣n cứng và không tự nhiên, nhưng gương mặt lại mang những nét dễ gần và tự nhiên hơn. Kể từ thế kỉ thứ 7 người ta lại thấy một phong cách nghệ thuật mới: gương mặt tṛn trịa, bộ tóc được trang điểm phức tạp hơn với nhiều trang vật khác nhau. Song song với nghệ thuật tạc tượng, ban đầu hội hoạ trên vách của các tự viện và thạch động là chủ yếu. Nhưng đến cuối đời nhà Đường th́ một phong cách hội hoạ đặc thù được phát triển trên những bức tranh cuốn. Các nghệ nhân thời đó thường lấy h́nh tượng các vị Bồ Tát hoặc chư thiên, hộ thần đă được thuyết phục ủng hộ Phật pháp - vốn được trang trí rực rỡ hơn - làm mô típ thay v́ lấy h́nh tượng giản dị của Phật Thích-ca Mâu-ni. Nhà Đường rất rộng mở cho những ảnh hưởng bên ngoài. Trong thế kỉ thứ 9, vào khoảng cuối nhà Đường, sự phóng khoáng nghệ thuật này cuối cùng đă chuyển biến thành cực biên khác. Vào năm 845, Đường Vũ Tông (武宗 814–846, tức Lí Viêm 李炎) ra lệnh đàn áp tất cả những "tôn giáo ngoại lai" như Cảnh giáo (景教, Nestorianism), Toả-la-á-tư-đức giáo (瑣羅亞斯德教, Zoroastrianism) và Phật giáo. Tự viện Phật giáo bị đóng cửa và Phật tử giờ đây bị đàn áp, buộc phải ẩn náu tu hành. Phần lớn những thành tích nghệ thuật đời Đường chỉ trong vài năm đă bị phá huỷ. Qua Pháp nạn này, sự phát triển của nghệ thuật Phật giáo tại Trung Quốc cũng bị đ́nh chỉ gần như hoàn toàn.
Thiền tông - Là một trong những tông phái Phật giáo sống sót sau Pháp nạn 845, Thiền tông đă được chấn hưng vào đời nhà Tống (1126-1279). Các thiền viện lúc này cũng được xem là trung tâm của văn hoá và giáo dục. Từ thế kỉ 13 trở đi, Thiền tông chính thức được truyền sang Nhật Bản.
Xem thêm Phật giáo Trung Quốc
Hàn Quốc, thế kỉ 8-9
Tượng Phật Thích-ca tại Minh Nhật Hương Thôn (明日香村, ja. asuka-mura, Nhật Bản, 609). Đây là tượng Phật cổ nhất tại Nhật có ghi chính xác thời điểm hoàn tất.
Ngũ Trùng tháp (五重塔) tại Hưng Phúc tự (興福寺), Nại Lương, Nhật Bản, tk. 8
Liêm Thương Đại Phật (鐮倉大佛, ja. Kamakura Daibutsu) tại Cao Đức viện (高徳院), Nhật Bản, thế kỉ 13
Nghi thức dùng trà
Phật giáo được truyền sang Hàn Quốc trong thế kỉ thứ 6 từ Trung Quốc qua sự tiếp xúc với những bộ tộc thảo nguyên tại Trung Á và Bắc Á. Ban đầu, nghệ thuật Phật giáo Hàn Quốc chịu ảnh hưởng Trung Quốc cũng như ảnh hưởng của nghệ thuật truyền thống bản xứ: h́nh dạng trừu tượng nhưng đồng thời mang nhiều trang vật truyền thống. Tuy nhiên, khác với những những h́nh tượng mang nhiều trang vật sặc sỡ của nghệ nhân Trung Quốc, người Hàn chuộng phong cách đơn giản, rơ ràng hơn như có thể thấy được ở phong cách biểu hiện các vị Phật siêu việt như Đại Nhật Phật. Truyền thống nghệ thuật này sau cũng có ảnh hưởng lớn tới nền Phật giáo Nhật Bản.
Phật giáo cũng được truyền sang Nhật Bản vào thế kỉ thứ 6 qua các tăng sĩ Hàn Quốc và Trung Quốc và đă được phổ biến trong thế kỉ 7. V́ địa thế ốc đảo đặc biệt, là miền cực Đông của Con đường tơ lụa nên nhiều truyền thống Phật giáo cũng như nghệ thuật Phật giáo vẫn được lưu tồn ở đây trong khi bị đàn áp và suy tàn ở những khu vực phương Tây khác như Ấn Độ, Trung Á và Trung Quốc. Trong lĩnh vực nghệ thuật th́ ban đầu, phong cách Hàn Quốc được tiếp nối và có phần bị ảnh hưởng bởi phong cách nghệ thuật truyền thống Nhật Bản thời Minh Nhật (明日, ja. asuka, 593-710).
Thời đại Nại Lương (奈良,
ja.
Thời đại B́nh An (平安, ja. heian, 794–1185) được đánh dấu bởi sự chuyên chú vào các nhánh Mật giáo với nhiều vị Phật siêu việt (Đại Nhật Phật, A-di-đà Phật, Di-lặc v.v...) và các vị Bồ Tát. Cùng với khuynh hướng này, một phong cách thoát li ảnh hưởng cũ (Đường, Cấp-đa) xuất hiện. Thời đại B́nh An được xem là thời vàng son của nghệ thuật Phật giáo tại Nhật. Vật liệu điêu khắc được chuộng nhất là gỗ, thường được mạ vàng hoặc được sơn. Chỉ gỗ có hương mới được để nguyên không xử lí. Trong lĩnh vực hội hoạ, nhiều Mạn-đà-la xuất hiện, được các thế hệ sau xem là tiêu chuẩn và được sao lại rất nhiều. Kể từ thế kỉ 12, nghệ thuật tạo h́nh Nhật Bản tập trung vào cách tŕnh bày này những mô típ thuộc trường phái tôn xưng Phật A-di-đà, tức là Tịnh độ tông hoặc Tịnh độ chân tông.
Nghệ thuật Phật giáo Nhật đạt
đến đỉnh cao tột độ trong thời
đại Liêm Thương (鐮倉, ja.
Kể từ thế kỉ 12 và 13, một dạng Phật giáo rất đặc thù phát triển song song với các trường phái Tịnh độ tại Nhật, đó là Thiền tông. Thiền sư Minh Am Vinh Tây (明菴栄西, ja. myōan eisai) đă học Thiền tại Trung Quốc và sau đó khai sáng Lâm Tế tông tại Nhật. Đạo Nguyên Hi Huyền (道元希玄, ja. dōgen kigen) - một thời cũng là đệ tử của Vinh Tây - trở thành tổ khai sáng Tào Động tông sau đó. Nghệ thuật Thiền phát triển một loạt phong cách, h́nh thức rất đặc biệt, chẳng hạn như: Thư đạo (書道, ja. shodō), Nghệ thuật vườn Nhật (Nhật Bản đ́nh viên 日本庭園), tranh mực tàu (mặc hội 墨絵, ja. sumi-e) hoặc thơ Bài cú (俳句, ja. haiku). Đặc điểm chung của tất cả các nghệ thuật trên là sự cố gắng thể hiện "bản chất" của các hiện tượng trên thế gian theo chủ nghĩa ấn tượng, không màu mè và nguyên lí bất nhị. Quá tŕnh "tạo" một sản phẩm nghệ thuật ở đây không chỉ là một hành động sáng tạo đơn thuần, mà hơn nữa, được xem như một tiến tŕnh tu tập, là biểu thị của tâm thức nỗ lực tiến đến giác ngộ "lập tức". Chính từ cơ sở này mà xuất phát nhiều nhánh nghệ thuật khác như Nghệ thuật cắm hoa (生け花, ikebana), Trà đạo (茶道, ja. sadō) hoặc nghệ thuật bắn cung, Cung đạo (弓道, ja. kyūdō). Cuối cùng th́, theo quan điểm nhà Thiền, mỗi hành động đều có thể được xem là một nghệ thuật hàm dung ư nghĩa thẩm mĩ và ư nghĩa tâm linh.
Ngày nay, tính về mặt dân số th́ Nhật Bản là một trong những quốc gia Phật giáo lớn nhất. Người ta liệt kê được ở Nhật khoảng 80.000 ngôi chùa, trong đó có nhiều tự viện rất cổ, được kiến tạo bằng gỗ và được trùng tu đều đặn.
Tượng Kim Cương Tát-đoá (sa. vajrasattva) mạ vàng, Tây Tạng
Hữu
luân (sa. bhavacakra),
Dạ-ma (Tây Tạng, tk. 17-18)
Phật giáo Kim cương thừa - thường được các nhà Phật học châu Âu cho là một dạng Phật giáo "bí mật", dùng "huyền thuật" - là sự phối hợp giữa truyền thống Bà-la-môn/Ấn Độ giáo (dùng Chân ngôn, các phép Du-già, tế lễ), cũng được gọi là Đát-đặc-la giáo (sa. tantrayāna), và giáo lí truyền thống của đức Phật. Trong thế kỉ thứ 8-9, Kim cương thừa được Đại sư Liên Hoa Sinh (sa. padmasambhava), vốn xuất thân từ khu vực Càn-đà-la, truyền sang Tây Tạng. Ban đầu, nghệ thuật Phật giáo Kim vương thừa Tây Tạng chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Phật giáo Hy Lạp cũng như ảnh hưởng của Bengal và Trung Quốc.
Một trong những phát triển nghệ thuật quan trọng nhất của Phật giáo Tây Tạng là các Mạn-đà-la (sa. maṇḍala). Mạn-đà-la là việc miêu tả một cách rất chính xác và rơ ràng các "cung điện của thiên giới" với trung tâm là một h́nh vuông được bao bọc bằng một h́nh tṛn tŕnh bày một vị Phật hoặc Bồ Tát. Khu vực vây quanh - thường là một h́nh tṛn - được một số h́nh tượng chiếm giữ tuỳ theo mô típ (các vị Phật, Bồ Tát, chư thiên, Hộ Pháp, La-sát... hoặc Cao tăng) hoặc các biểu tượng khác (khí cụ được dùng trong lúc thực hiện nghi lễ, toà kiến trúc, các mẫu h́nh trừu tượng). Phong cách của các Mạn-đà-la thường được bắt chước nghệ thuật Ấn Độ thời Cấp-đa và nghệ thuật Ấn Độ giáo. Mạn-đà-la xưa nay được dùng làm đối tượng thiền quán, giúp thiền giả tập trung vào mô típ nhất định và qua đó, tập trung vào nội dung giáo lí gắn liền với nó.
Tăng sĩ Tây Tạng đang tạo một Mạn-đà-la bằng cát
Song song với các Mạn-đà-la dưới dạng h́nh cuốn (xem thêm Thăng-ca) và tranh treo tường, một dạng đặc biệt khác cũng được phát triển, đó là Mạn-đà-la cát. Một Mạn-đà-la cát được nhiều tăng sĩ cùng nhau tạo trong phạm vi của một nghi lễ lớn nhất định nào đó. Thông thường, họ cần nhiều ngày liên tục để tạo Mạn-đà-la và sau khi hoàn tất th́ nó bị phá huỷ ngay - cát được gom lại và rắc xuống sông.
Mạn-đà-la cũng được dùng như một sơ đồ mặt bằng cho các cấu trúc trong một tự viện. Các cổng vào, chỗ ở, chỗ thắp hương niệm Phật và chính điện được sắp xếp như trong một Mạn-đà-la và người ta quả thực đă tạo nhiều sản phẩm nghệ thuật, đền thờ, tự viện không gian ba chiều theo những Mạn-đà-la mặt phẳng hai chiều.
H́nh tượng tại Tây Tạng thường
được tạo bằng gỗ hoặc kim loại,
ít khi bằng đá. Sau thế kỉ 16, ảnh
hưởng nghệ thuật Phật giáo Trung Quốc
tăng dần.
Tượng Phật tại chùa Long Sơn, Nha Trang, thế kỉ 20
Thiên Thủ Thiên Nhăn Quán Thế Âm tại chùa Bút Tháp, 1656
Tuy nằm trong khu vực Đông Nam Á cũng như thuộc về những nước Phật giáo Nam truyền về mặt địa lí, nhưng Việt Nam được xếp vào những nước theo Phật giáo Đại thừa, nghĩa là Phật giáo Bắc truyền. Từ thế kỉ thứ nhất đến thế kỉ thứ 9, Bắc Việt trực thuộc Trung Quốc và đă thừa kế truyền thống Nho giáo và Phật giáo Đại thừa từ xứ này - và cùng với Phật giáo, nghệ thuật Phật giáo cũng được truyền bá tại Việt Nam.
Tại miền Nam Việt
Phong cách nghệ thuật "Ấn Độ hoá"
tại miền
Đời nhà Mạc (1527-1592) và nhà Hậu Lê (1533-1788) được
xem là thời ḱ vàng son của nghệ thuật Phật giáo.
Tượng Quán Thế Âm ngh́n tay ngh́n mắt
tại chùa Bút Tháp được nghệ nhân Trương
Thọ Nam đúc vào năm 1656 là một trong những tác
phẩm nghệ thuật Phật giáo quan trọng nhất
của Việt Nam. Tuy có khác chút ít về chi tiết,
nhưng tượng Quán Thế Âm tại chùa Bút Tháp có
thể được xem là được đúc theo
một mô h́nh Ấn Độ. Đây là bức
tượng được triều đ́nh cung tiến cho
chùa, nên có sự đầu tư lớn và là bức
tượng duy nhất trong hệ thống tượng
cổ Việt Nam có ghi niên đại năm tạc, danh
tính người tạc. Trên tượng có ghi: "Tuế
thứ Bính Thân niên, thu nguyệt, cốc nhật doanh
tạo.
Nhà điêu khắc Lê Đ́nh Quỳ viết như sau về pho tượng này [1]:
Tác giả Trương Thọ Nam đă tiếp thu và nâng nghệ thuật của pho tượng này lên đỉnh cao bởi giao lưu với nền nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ, và điêu khắc Chăm, nhất là những cánh tay của Phật như những cánh tay vũ nữ thanh khiết của người Chăm. Trang phục của Quan Âm được tác giả chuyển sang h́nh khối, bố cục đường nét rất lăng mạn theo phong cách Việt Nam mà ông đă tiếp thu được từ nền nghệ thuật Lư-Trần qua cách miêu tả sen. Sen thời Lư được chạm rồng trên các cánh hoa, sen thời Lê được chạm khắc theo những nét lửa Lê - ngọn lửa của truyền thống chống ngoại xâm.
Châu Á là nơi đạo Phật khởi nguồn nên chủ đề "Quan Âm ngh́n mắt ngh́n tay" được tạc ở nhiều nước, nhưng tác phẩm do nhà điêu khắc thiên tài Trương Thọ Nam sáng tác có nội dung hoàn chỉnh bậc nhất về thế giới quan và nhân sinh quan theo quan điểm Phật giáo truyền thống, có h́nh thức nghệ thuật đạt được sự hoàn mỹ tuyệt vời. Pho tượng này đă đạt giải đặc biệt khi tham gia triển lăm nghệ thuật Phật giáo Quốc tế tại Ấn Độ năm 1958.
Phật giáo được truyền sang Tích Lan vào thế kỉ thứ 3 TCN, và trong thiên niên kỉ đầu đă được truyền từ Ấn Độ đến các nước Đông Nam Á khác dọc theo đường biển từ Ấn Độ đến Trung Quốc. Đại thừa - ban đầu là tông phái chủ yếu ở đó - cũng như Thượng toạ bộ và Ấn Độ giáo đều có tín đồ ở Pagan (Miến Điện), Thái Lan hiện nay, Campuchia trước đây (Vương quốc Phù Nam), Việt Nam (Champa) và Indonesia. Trong khi Hồi giáo chiếm chỗ Phật giáo tại Indonesia và bán đảo Mă Lai th́ khoảng giữa thiên niên kỉ thứ hai, Thượng toạ bộ có gốc từ Tích Lan trở thành tông phái chính tại Đông Nam Á. Cùng với những hệ thống tôn giáo Ấn Độ, ngôn ngữ và chữ viết (tiếng Phạn, tiếng Pali, chữ Thiên thành,...) cũng như các sắc thái nghệ thuật của tiểu lục địa Ấn Độ đă được phổ biến tại Đông Nam Á. Mối quan hệ trực tiếp với các thương gia và học giả từ các khu vực Ấn Độ sau hơn 1.000 năm đă gây ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển văn hoá tại Đông Nam Á, nhưng mặt khác, các nền văn hoá tại đây cũng đă phát triển những phong cách, những truyền thống rất đặc thù để lưu lại đời sau.
Thế kỉ 1 đến thế kỉ 8: Trong thời gian này, các vương quốc lớn đầu tiên xuất hiện tại Đông Nam Á. Vương quốc Phù Nam được thành lập trên khu vực miền Nam Việt Nam và miền Đông Nam Campuchia. Về hướng Tây, khu vực Miến Điện bây giờ và vùng đất phía sau là vương quốc Môn. Các vương quốc này chịu ảnh hưởng của vương triều Cấp-đa. Ngoài những đồ tượng được t́m thấy (tượng Phật, bài vị thờ cúng) và những bia văn được viết bằng tiếng Phạn, người ta c̣n t́m thấy nhiều tranh tượng của các thần thể Ấn Độ giáo trong khu vực này.
Thế kỉ 9 đến thế kỉ 13: Vào
khoảng thế kỉ thứ 9, trên các đảo miền
Tây của
Từ thế kỉ 14: Trong khi Hồi giáo chiếm chỗ Phật giáo và Ấn Độ giáo gần như toàn vẹn ở những miền phía Nam của Malaysia, ở Indonesia và Philippines th́ Phật giáo Thượng toạ bộ trên châu lục vẫn là tôn giáo chủ yếu, ngày càng được phát triển và phổ biến (Campuchia, Lào, Thái Lan, Miến Điện).
Dagoba tại
Khi ảnh hưởng Phật giáo tại Ấn Độ giảm dần, vào khoảng cuối vương triều Cấp-đa, th́ Thượng toạ bộ đă đạt vị trí vững chắc tại Tích Lan từ nhiều thế kỉ và cũng đă ảnh hưởng lớn đến nền văn hoá và nghệ thuật xứ này. Nơi đây, Xá-lợi đóng một vai tṛ đặc biệt trong truyền thống tín ngưỡng, ví dụ như một chiếc răng của Phật được bảo tồn trong tại Dalada Maligava, "Chùa Răng Phật", hoặc cây Bồ-đề trong một tự viện ở cố đô Anuradhapura, được xem là phát sinh từ một nhánh của cây bồ-đề mẹ tại Bồ-đề đạo trường (bodhgayā), nơi Phật Thích-ca thành đạo. Một thành phần mới xuất hiện trong lĩnh vực kiến trúc Phật giáo Tích Lan: Bodhighara, "đền thờ cây bồ-đề" và Āsanaghara, "đền thờ chỗ ngồi của Phật". Thay v́ tôn xưng cây bồ-đề một cách trừu tượng như tại Ấn Độ th́ giờ đây, một cây bồ-đề sống được tôn thờ ngay giữa Bodhi-Ghara.
Một trong những phát triển quan trọng nhất của nghệ thuật tôn giáo Ấn Độ là việc tiếp tục phát triển kiến trúc tháp-bà. Nguyên có dạng ṿm cung bán nguyệt, giờ đây các bảo tháp được kéo dài lên trên, có h́nh chuông và được gọi là Dāgäba (thường được phát âm như Dagoba; nguyên là từ gốc Tích Lan, xuất phát bởi hai từ tiếng Phạn là dhātu, garbha). Các nghệ nhân không chạm trổ bên ngoài và trang trí các cổng đi vào như người Ấn, qua đó họ đề cao cao vẻ đẹp tổng thể giản dị của bảo tháp. Cùng với Thượng toạ bộ, kiến trúc bảo tháp của Tích Lan được phổ biến khắp Đông Nam Á và được xem là mô h́nh kiến trúc cho các Chedi tại Thái Lan và That tại Lào.
Người ta có thể t́m thấy những nét điêu khắc rất tinh tế trên những "nguyệt thạch", là các viên đá mỏng h́nh bán nguyệt được xếp đặt theo h́nh ṿng cung trước ngưỡng cửa ra vào của các tự viện. Chúng cho thấy nhiều mô típ được chạm trổ rất đẹp và công phu như hoa, thực vật (sen, chùm nho, hoa, lá...) và thú vật (ḅ, voi, sư tử, ngan...). Ư nghĩa của chúng là cho người bước lên cảm nhận được sự biến chuyển trọng đại khi họ bước qua ngưỡng cửa vào chùa, đi vào một cơi nội tâm thanh tịnh sau khi gác qua thế giới hiện hữu với tất cả những ǵ hệ thuộc.
Tượng Phật tại Tích Lan chịu ảnh hưởng của nghệ thuật A-ma-la-bà-đề và Cấp-đa; Phật thường được tŕnh bày dưới dạng ngồi thiền (thế ngồi Kết già phu toạ, hai tai xếp lại dưới rốn), nhưng cũng có lúc ngài nằm bên phải, miêu tả thời điểm ngài nhập Niết-bàn
Là láng giềng của Ấn Độ nên các khu vực của Miến Điện hiện nay đă sớm chịu ảnh hưởng của xứ này. Theo truyền thuyết th́ người Môn, vốn cư trú từ khu vực biển Andaman phía Nam cho đến miền Bắc lấn tới vùng núi thuộc Thái Lan hiện nay, đă tiếp xúc với Phật giáo trong thế kỉ thứ 3 TCN qua sứ giả truyền giáo của vua A-dục. Các ngôi chùa cổ nhất ở đây được kiến lập từ thế kỉ 1-5. Nghệ thuật Phật giáo của người Môn chịu ảnh hưởng của phong cách Cấp-đa và những thời đại kế thừa. Cùng với việc di cư khắp vùng Đông Nam Á của người Môn th́ phong cách nghệ thuật Môn cũng đă ảnh hưởng trực tiếp đến truyền thống của những nơi họ đến. Có hàng ngh́n bảo tháp và tự viện đă được kiến tạo tại vương quốc Pagan từ thế kỉ 11 đến 13 và trong đó, trên 2000 di tích vẫn c̣n tồn tại đến ngày nay. Các viện bảo tàng tại Yangoon và Mandalay vẫn c̣n bảo tồn nhiều bức tượng được trang trí và mạ vàng rất tinh vi được kiến tạo trong thời ḱ này hoặc thậm chí trễ hơn nữa, sau khi Pagan bị quân Mông Cổ xâm chiếm (1287).
Từ thế kỉ 1, các nền văn minh Indonesia đă chịu ảnh hưởng của văn hoá Phật giáo Ấn Độ (đặc biệt là hai đảo lớn Java và Bali) và chúng sau này cũng ảnh hưởng đến nghệ thuật tạo h́nh của Đông Nam Á đại lục (kiến trúc, điêu khắc).
Trong khi các vương quốc tại Đông Nam Á lục địa như như Phù Nam và Angkor theo Ấn Độ giáo th́ tại Indonesia, trung tâm Bali, vương quốc Phật giáo Sri Vijaya (~tk. 8 đến tk. 13) được h́nh thành. Vương quốc biển với khu vực cai trị lan rộng đến bán đảo Mă Lai này đă tiếp thụ truyền thống Đại thừa và Kim cương thừa dưới triều đại Sailendra. Những di tích quan trọng nhất của nghệ thuật Phật giáo Indonesia là hệ thống tự viện Phật giáo lớn nhất thế giới, được kiến lập trên một ḥn núi tại Borobudur, và một bức tượng tŕnh bày Bồ Tát Bát-nhă-ba-la-mật-đa rất đặc sắc.
Gương mặt của Quán Thế Âm
Bồ Tát được tạc trên các tháp tại
đền Bayon
tại
Đền Bayon tại
Vào khoảng thế kỉ 1, một trong những
vương quốc tồn tại sớm nhất tại
Đông Nam Á đă ra đời trên khu vực Nam Việt Nam
hiện nay và Campuchia, đó là Phù Nam. Vào thời hưng
thịnh, biên giới phía Tây vương quốc này là
Miến Điện và phía
Tháp Vàng,
Sukhothai, tk. 14
Trong những vương quốc cổ trên địa phận Thái Lan hiện nay, đặc biệt là các vương quốc được dân tộc Môn sáng lập, đă có sự giao lưu văn hoá với Ấn Độ trên cơ sở thương mại. Tương tự trường hợp Miến Điện, nghệ thuật nơi đây chịu ảnh hưởng của thời đại Cấp-đa tại Ấn Độ. Một số h́nh tượng và kiến trúc đặc sắc được kiến tạo, ví dụ như bảo tháp (Chedi) của Nakhon Pathom, cao 127m, được xem là kiến trúc Phật giáo cao nhất thế giới.
Từ thế kỉ thứ 9 trở đi th́ các
truyền thống nghệ thuật Thái chịu ảnh
hưởng của các vương quốc láng giềng
như Angkor miền Đông và Sri Vijaya ở miền
Đầu thế kỉ 13, Thượng toạ bộ gốc Tích Lan lại được phổ biến và dần dần nắm ưu thế, tương tự như ở một số quốc gia khác thuộc khu vực Đông Nam Á. Đồng thời, vương quốc Sukhothai được kiến lập. Về mặt nghệ thuật th́ người ta thấy được một sự chuyển biến từ phong cách giống nghệ thuật Khmer đến một phong cách biểu đạt rơ ràng, ít rườm rà, thậm chí có tính chất h́nh học trừu tượng. Các tượng Phật được biểu hiện với những sắc thái thanh nhă, trôi chảy, với pháp y trông như trong suốt và đầu h́nh oval với đỉnh đầu là một ngọn lửa (sa. ketumālā). Trong triều đại kế đến là Ayutthaya (tk. 14-18) th́ mô típ này càng được trau chuốt tinh tế hơn, nhiều h́nh tượng thường được mạ vàng và được chạm gắn với đá quư. Thời ḱ này được xem là thời ḱ kiến lập phong cách và gây ảnh hưởng đến ngày nay. Một điểm đặc biệt của nghệ thuật Phật giáo Thái Lan là miêu tả Phật đang đi trong tranh tượng.
Sự xuất hiện và phát triển của nghệ thuật Phật giáo tại Lào có mối tương quan mật thiết với các vương quốc Thái láng giềng. Vật liệu được dùng cho các công tŕnh kiến trúc và điêu khắc là gỗ, thường được sơn và vẽ. Đến thế kỉ thứ 15 th́ các tác phẩm nghệ thuật ở đây rất giống các tác phẩm của Sukhothai. Nhưng kể từ thế kỉ 16 trở đi th́ một phong cách đặc thù được xác lập: tượng Phật ngày càng thon dần với tay chân rất dài.
Tây Tạng, tk. 20
Nh́n chung việc sáng tạo chân dung, tranh, đồ tế lễ hoặc công tŕnh kiến trúc ở các nước châu Á, nơi phần lớn có hơn ngàn năm văn hóa phật giáo, thường mang đậm dấu ấn truyền thống. Những đặc điểm chân dung của Đức Phật như tư thế cơ thể và các thủ ấn (sa. mudrā), một số chi tiết nhỏ như đôi tai và kiểu tóc cũng như các biểu tượng (bồ-đề thụ, liên hoa, pháp luân…) đều mang ư nghĩa tôn giáo thiêng liêng và h́nh thức biểu đạt không thay đổi. Các tác phẩm tranh tượng mới đều tuân theo những khuôn mẫu truyền thống, trong đó những yếu tố mang tính tượng trưng vốn đă có sẵn đóng vai tṛ chủ đạo chứ không phải là sự biểu đạt nghệ thuật mang dấu ấn cá nhân của người nghệ sĩ.
Bên cạnh nền nghệ thuật truyền thống này, nhiều phương thức biểu đạt hiện đại cũng đă phát sinh thông qua sự tiếp xúc với nền văn hóa Tây phương. Đặc biệt ở các nước như Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc hay Indonesia (Bali), nơi có sự giao lưu mạnh mẽ với các nền văn hoá Tây phương, các nghệ nhân lấy những mô típ có gốc từ hệ thống đồ giải Phật giáo, kết hợp nó một phần với các phương thức biểu đạt nghệ thuật Tây phương, một phần với sự phát triển kế thừa của phong cách nghệ thuật của địa phương. Qua đó, h́nh thái nghệ thuật này đă tạo nên được những tác phẩm nghệ thuật Phật giáo mới mẻ và hiện đại. Tuy nhiên, những tác phẩm mới này gần như luôn luôn chỉ là "nghệ thuật thuần túy", dĩ nhiên có nền tảng tôn giáo nhưng thường là để "trang trí" chứ không phải được tạo ra để phục vụ thực hành tín ngưỡng. Trong các tác phẩm nghệ thuật này, ở cả mảng điêu khắc lẫn hội họa, chân dung của Đức Phật, các biểu trưng Phật giáo hoặc các bức tượng được vẽ lại nhưng khuynh hướng sáng tác vị nghệ thuật cao hơn mục đích tôn giáo.
Phật giáo từ thế kỷ thứ 12 đă biến mất khỏi Ấn Độ, ngoại trừ một số khu vực trong dăy Himalaya. Măi cho đến khi chính quyền thực dân Anh quan tâm đến các ngôi chùa phần lớn đă đổ nát hoang tàn này, người ta đă phát hiện và bắt đầu công việc trùng tu các chùa (tại Kiến-chí (kāñcī), A-chiên-đà (ajantā), chùa Đại Bồ-đề tại Bồ-đề đạo trường (bodhgayā)). Giữa thế kỷ 20 những người ủng hộ nhà cải cách Bhimrao Ramji Ambedkar (Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của đất nước Ấn Độ độc lập - người đă tuyên truyền rằng việc cải đạo sang Phật giáo là con đường giải thoát cho tầng lớp khốn cùng - Dalit - hay c̣n gọi là những người không được xếp vào tầng lớp nào trong xă hội) đă làm hồi sinh lại truyền thống đă và đang tiếp tục bị lăng quên. Cùng với phong trào này là sự bắt đầu các phương thức nhân bản và ghi lại các chân dung cổ của Đức Phật phục vụ cho mục đích thực hành tín ngưỡng. Tương tự, tại một số nước Phật giáo khác, đặc biệt là Nhật, Tây Tạng, Tích Lan (śrīlaṅkā) và Thái Lan, các phật tử dùng tranh tượng cúng dường để trang trí các chùa chiền mới được dựng theo mô h́nh kiến trúc cũ. Bên cạnh đó, ngay chính ở Ấn Độ việc vẽ các chân dung Phật cũng được bắt đầu khôi phục trở lại. V́ nền văn hóa Phật giáo mới của Ấn Độ c̣n tương đối non trẻ nên chưa có chuẩn tắc đồ giải (Ikonographie) đậm nét nào h́nh thành. Do đó, phong cách và các đặc trưng truyền thống được pha lẫn với phương thức biểu đạt đầy màu sắc của nghệ thuật thường nhật của Ấn Độ giáo tại đất nước này.
|
Bảng các
chữ viết tắt |
|
bo.: Bod
skad བོད་སྐད་,
tiếng Tây Tạng | ja.:
日本語 tiếng Nhật | ko.: 한국어, tiếng Hàn Quốc | |