Năng
Lực Trí Tuệ
Những lời dậy căn
bản của Phật giáo

Nguyên tác:
WISDOM ENERGY
BASIC BUDDHIST TEACHINGS
Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche
Wisdom Publications xuất
bản
Vô Huệ Nguyên dịch
Mục Lục
Giới
Thiệu
Chương
một :
Bước vào con đường
tâm linh
1.
Mục
đích của thiền định
2.
Để
tiến tới việc nghiên cứu Phật
Pháp
3.
Tìm hiểu
nguyên nhân của bất hạnh
4.
Vọng
tâm phát sinh như thế nào
5.
Tìm
hiểu đau khổ và kiểm soát
tâm
Chương
hai : Thiền
định
1.
Ba khía
cạnh chính của con đường
dẫn đến giác ngộ
2.
Áp
dụng Đạo Pháp vào đời
sống thường ngày
Phụ
Lục của người dịch: Thơ của Milarepa
Giới Thiệu
Tôi
rất vui vì nhà xuất bản Wisdom
đã quyết định đánh
dấu 25 năm kỷ niệm quyển sách Năng Lực Trí Tuệ
của Lama Thubten Yeshe và Lama Zopa Rinpoche bằng
cách cho tái bản quyển này, một
quyển sách quan trọng giới thiệu quan
điểm và cách thực hành Phật
giáo. Đã có rất nhiều thay
đổi trong một phần tư thế kỷ qua
từ khi quyển sách này ra
đời, nhưng những nhu cầu
căn bản của con người về
chiều hướng khai phá vẫn
không thay đổi, nói lên sự quan
tâm bây giờ vẫn như ngày
xưa.
Vào
cuối thập niên sáu mươi
đầu thập niên bảy mươi
ở Nepal và Ấn độ, hai thầy
bắt đầu dạy người Tây
phương, một số học trò của
các ngài là những người
đã rời bỏ xã hội nơi
họ đã sinh trưởng. Có
rất nhiều nguyên nhân, nguyên nhân
chính là vì chiến tranh Đông
Dương, đã làm cho họ chán
ghét quyền lực xã hội, chính
trị và tôn giáo. Những phong trào
híp-pi đã hướng về Kathmandu,
Dharamsala và những nơi tương
tự, họ được kích thích
bởi những tư tưởng của
Ram Dass Ở Đây
Bây Giờ, Hermann Hesse Hành Trình về Phương
Đông, Đức
Phật (Câu
chuyện dòng sông, DG) và
đặc biệt là cuốn chuyện tâng
bốc người Tây Tạng của Lobsang
Rampa. Một số không nhỏ trong thành
phần này đã kinh nghiệm
được thế nào là ảnh
hưởng của ma túy. Bị vỡ
mộng về những huyền thoại xa xưa
giầu có và chủ nghĩa duy vật,
họ muốn đi tìm cái gì chân
thật sâu xa hơn.
Bằng
nhiều cách, một số phần tử
trong nhóm này đã làm những
cuộc hành trình qua Hy Mã Lạp Sơn,
tại đây họ đã chạm trán
với hai người khác
thường. Mặc dầu mang một truyền
thống hoàn toàn khác biệt với
những người trẻ mới
tới, Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche – một
là người Tây Tạng một là
người Sherpa (vùng biên giới
Tây Tạng)- đã
tiếp đón họ rất thân thiện
và chứng tỏ một khả năng
đặc biệt với nhóm
người đa dạng đi tìm tâm
linh này. Mặc dù với một khả
năng Anh ngữ nghèo nàn – như
Lama thường nói- hai ngài đã
tiếp xúc trực tiếp với
họ một cách rất thân thiện, bỏ
qua mọi khác biệt văn hóa, ngôn
ngữ và những lời dậy
bảo của các ngài đã
đánh thức tận thâm sâu
trái tim họ.
Một
cá tính nổi bật trong sự thân
thiết của các ngài – bên cạnh
những đức tính nhiệt tình
và cởi mở - là không khinh thường,
không coi họ như những người
xa lạ, người ngoại quốc
tới tham khảo, học hỏi về tâm
linh. Các ngài không đòi hỏi
họ phải tôn kính các ngài như
những vị đạo sư, thánh sư,
và thường nhắc đệ
tử bỏ đi cái khuynh hướng
tôn sùng các ngài như những
nguồn giải thoát không thể sai
lầm. Lama Yeshe đặc biệt nhắc đi
nhắc lại rằng tất cả những
câu trả lời, tất cả giải
đáp cho những gì chúng ta
đang tìm kiếm đã có sẵn
trong mỗi người chúng ta; chúng ta
chỉ cần tự giải thoát chính
mình khỏi những thói quen vọng
tưởng, những ham muốn điên
khùng vô nghĩa trong đời và
hãy lắng nghe tiếng nói trí tuệ sâu
thẳm ở bên trong.
Dĩ
nhiên các vị lạt ma đã tin
tưởng sâu xa, vững chắc
vào những phương pháp toàn
thiện mà các ngài đã
thực tập từ rất nhỏ, nhưng
thay vì đòi hỏi họ phải chấp
nhận Phật pháp như những chân
lý không thể bắt bẻ, không
được thắc mắc thì các
ngài lại khuyến khích những người
nghe nên thực tế và hãy khám
nghiệm thái độ của họ về
sự bất mãn, về sự chỉ
trích phê bình của họ. Do đó,
thay vì cảm thấy bị truyền
đạo, bị thúc giục chấp nhận
một tín ngưỡng mới thay
thế tín ngưỡng cũ, họ cảm
thấy đang đứng bên cạnh
một người bạn tâm linh nói
những lời thông minh chân thật
và sẵn sàng hướng dẫn họ
trên cuộc hành trình tâm linh cá
biệt.
Lama Yeshe
thường nhấn mạnh, một trong
những trở ngại lớn nhất ngăn
cản chúng ta không tiếp xúc
được với nguồn trí
tuệ nội tâm là thái độ
tự thương thân trách phận của
chúng ta, quan niệm sai lầm rằng chúng ta
là những người bất
toàn, tội lỗi, không đáng
được hưởng hạnh phúc
lâu dài. Ngài nhận định
đây là căn bệnh trầm trọng
của hầu hết những học trò
mới đến, nên ngài đã
dồn cả năng lực vào việc
hướng dẫn họ giải thoát
khỏi tình trạng tâm linh rối
bời này. Như tôi đã
viết trong lời giới thiệu
quyển sách Đưa
Vào Mật Tông của Lama Yeshe (Ni Sư
Trí Hải đã dịch, DG) xuất bản năm
1987, ba năm sau khi ngài qua đời:
Lama Yeshe
có một năng lực kỳ diệu khi
tiếp xúc với những
người đến gặp ngài là,
kích động
được trung tâm của sự
bình an, trí tuệ và phúc lạc nơi
họ, những điều này rất
lờ mờ với họ
trước đây. Có lẽ
lời dậy sâu sắc nhất của
ngài là, trong tâm mỗi người
chúng ta đều đã có sẵn
những câu giải đáp cho vấn
đề của chính mình mà còn
có tiềm năng sống một cuộc
đời cao cả hơn mình
tưởng. Không những Lama Yeshe đã
đạt đến tiềm năng ấy cho
chính bản thân ngài mà ngài
còn có khả năng làm một
nguồn cảm hứng cho tất cả
những người đến nghe
ngài, đem lại cho họ niềm tin
vững chắc vào chính họ cũng
có cái tiềm năng vô giới
hạn đang chờ đợi
được khai mở.
Tự bản thân
Lama Yeshe và Zopa Rinpoche là những vị
thầy đầy năng lực và
rất cao thâm. Nhưng các ngài lại làm
việc chung với nhau cho chúng ta một
cảm tưởng rất đặc biệt. Các
ngài đã kết hợp diễn
giảng rõ ràng tự nhiên trong
những buổi thuyết giảng chính của
khóa tu tháng 11 hàng năm tại
đồi Kopan ở thung lũng
Sau chín năm, vì số
học trò Tây phương tăng lên
ở Nepal và Ấn độ, Lama Yeshe
và Zopa quyết định làm một
cuộc hành trình qua Tây phương
vào năm 1974 để thấy tận mắt
lý do tại sao lại có những người
đi tìm các ngài. Quyển sách Năng Lực Trí
Tuệ là kết quả của chuyến du
hành đầu tiên này (đề tài Vọng Tâm Phát Sinh
Như Thế Nào được thêm
vào trong lần xuất bản 1982.) Cuộc
hành trình đầu tiên ở Hoa
Kỳ rồi sau đó là Úc châu
và Tân Tây Lan vào năm 1975
đã gieo những hạt giống mà
sau này đã lớn mạnh trong
toàn cầu với hơn 100 trung tâm Phật
giáo ở hơn 25 quốc gia. Vì Lama Yeshe
qua đời năm 1984 rồi
được khám phá ra sự
tái sinh của ngài ngay năm sau đó,
nên người đệ tử tâm
huyết của ngài là Lama Thubten Zopa Rinpoche
đã trông coi, phát triển và sinh hoạt
thường xuyên trong những trung
tâm này.
Hai mươi lăm
năm trước đây những
quyển sách về Phật giáo Tây
Tạng bằng Anh ngữ rất hiếm so
với bây giờ và những
hành giả Tây phương ngộ đạo
viết sách cũng rất hiếm.
Thường chỉ là những quyển
sách viết về Phật giáo Tây
tạng dưới hình thức lịch
sử hoặc nhân chủng học. Quyển Năng Lực Trí
Tuệ xuất hiện theo một căn bản
hoàn toàn khác biệt. Như Lama Yeshe
đã từng giải thích nhiều
lần, khi chúng ta nghiên cứu Phật
giáo là thật sự chúng ta tìm
hiểu chính mình. Có nghĩa là
chúng ta xử dụng những phương
pháp phân tích và thiền
định mà Đức Phật
đã dậy từ hơn 2500 năm
trước, được các vị thầy
Ân độ và Tây Tạng thảo luận
tỉ mỉ sau đó, về quán tâm
của chính mình rồi sẽ khám
phá ra chúng ta đã bị cầm
tù và sẽ được giải
thoát như thế nào. Ngoài Phật
giáo ra không một phương pháp
thực hành nào có thể giúp
chúng ta tìm hiểu tâm của chính mình
và những cảm thọ của chính
mình.
Sự quán tâm
như thế - không làm an tâm như
đã được chứng minh -
có một giá trị rất cao vì
rất nhiều người đã chân
thành tìm đọc quyển Năng Lực Trí Tuệ trong 25 năm
qua, và bây giờ vẫn còn
tiếp tục. Mặc dù trong một phần
tư thế kỷ qua kỹ thuật đã
tiến một cách vượt bực,
đáng ngạc nhiên, ảnh hưởng
sâu xa đến đời sống
thường ngày của chúng ta –
với những giàn máy vi tính
tinh vi siêu tốc độ trong mỗi nhà,
mỗi văn phòng, mang những sinh hoạt
trên thế giới gần lại với
nhau – nhưng chúng cũng không thể
giải đáp được những
vấn nạn thâm sâu: làm thế
nào cho cuộc đời của chúng ta
có ý nghĩa hơn? Hình như khi
truyền thông tin tức đi nhanh thì
sự giao tế giữa con người với
nhau, đây là điều quan trọng, lại đi chậm lại.
Sự phát triển kỹ thuật và
tiến bộ vật chất chỉ giải quyết,
chỉ thỏa mãn cấp thời
những mục tiêu đòi hỏi
lâu dài trong đời sống của
chúng ta, chúng không thể giải
quyết, càng không thể thỏa mãn
những nhu cầu sâu thẳm trong tâm ta.
Tôi hy vọng rằng quyển Năng Lực Trí Tuệ xuất
bản lần thứ 25 sẽ đem lại
nguồn cảm hứng và hy vọng cho
những ai còn quan tâm đến
vấn đề này trong thiên niên
kỷ mới.
Jonathan
Landau
7/2000
Chương một:
BƯỚC VÀO CON
ĐƯỜNG TÂM LINH
-------------------------------------------------------------------
1. MỤC ĐÍCH CỦA THIỀN
ĐỊNH
Tôi muốn nói
vài lời giới thiệu về
sự thực hành thiền. Rất
nhiều người trên thế giới
này, Đông phương cũng như
Tây phương, thích thiền. Họ bị
lôi cuốn vào sự thực hành
thiền và họ thực sự tha
thiết với nó. Nhưng, gia nhập
thì nhiều mà thực sự hiểu
nó thì quá ít.
Mỗi người trong chúng ta
ở đây đều có một
thân xác được cấu tạo
bởi xương, thịt, máu huyết
...vân vân...Ngay hiện tại, chúng ta
không thể hoàn toàn kiểm soát
tất cả thân xác của chúng ta
như ý muốn, chúng ta luôn luôn
có những vấn đề. Một
nhà tỷ phú có thể sở
hữu rất nhiều tài sản trên
thế giới, nhưng, hãy tạm quên
sự giầu sang của ông ta đi, nếu
tâm của ông ta bị nhốt trong một
thân xác không thể kiểm soát
được thì chắc chắn ông ta
sẽ đau khổ lắm lắm. Dù
giầu hay nghèo, không một người
nào trong chúng ta có thể trốn
thoát được những vấn
đề. Cho dù có cố gắng
bằng nhiều cách, chúng ta cũng không
bao giờ có thể ngăn cản
được những điều khó
khăn hay những vấn đề xẩy ra
cho chúng ta. Nếu chúng ta thanh toán
được vấn đề này,
vấn đề khác đã tự
động đến thay thế. Những
bất mãn và đau khổ tràn
ngập thân xác của chúng ta ở
bất cứ nơi nào chúng ta
đến. Nếu chúng ta dùng trí
tuệ để nhìn thật sâu vào trong
trái tim của chúng ta về những
vấn đề này và hiểu
tường tận đường đi
nước bước của chúng
thì chúng ta sẽ nhanh chóng phát giác
được những tình trạng
bất mãn khủng khiếp này. Một
điều cũng rất rõ và cần
biết là nếu chúng ta không có
một thân xác không được
kiểm soát như thế thì chúng ta
cũng sẽ không có một cách
nào để kinh nghiệm được những
sự đau khổ liên hệ đến
nó.
Vấn đề căn bản
mà tất cả chúng ta đều có
là chúng ta đã không đạt
được những gì chúng ta
ước muốn nên chúng ta đau
khổ. Đó là những gì
chúng ta cần cho đời sống
vật chất như cơm ăn áo mặc
nhưng chúng ta lại muốn tự hào
hoặc thích thú về chúng, chúng ta
lại muốn có những lời khen
tặng và được tâng bốc.
Có nhiều cảnh khổ chúng ta có
thể nhìn thấy ngay, như một
người đói rách vô cùng
nghèo túng. Nhưng một cách nào
đó, tất cả chúng ta đều
là những kẻ đói khát và
không thể kiểm soát được
những gì chúng ta ước
muốn.
Hãy lấy một thí dụ,
có những người tốt
phước được sinh ra trong một
gia đình giầu có. Trong cả cuộc
đời của anh ta, có thể anh ta
sẽ không kinh nghiệm được
một chút gì về sự thiếu
thốn vật chất. Anh ta có thể mua
được bất cứ gì anh ta
muốn và được tự do đi
du lịch ở bất cứ nơi nào
anh ta thích để hưởng
được tất cả những thú
vui mà các nền văn hóa khác nhau
đem đến. Rồi khi mà không
còn một nơi nào để đi,
không còn một cái gì để
sở hữu, không còn một
thú vui nào để hưởng, anh ta
vẫn cảm thấy thiếu, vẫn cảm
thấy không thỏa mãn nên anh ta vẫn
than khổ. Trong trạng thái bất an như
vậy, trong tâm trạng bất mãn như
vậy, nhiều người đâm ra
điên loạn, họ không còn kiểm
soát được tình trạng này
và bắt đầu thấm mùi tê
tái của khổ đau.
Như vậy, một đời
sống hoàn toàn sung túc, tràn
đầy thú vui thì đau khổ vẫn
có ở đó, vẫn hiện diện
ngay ở đóù. Sự thật
là càng sở hữu vật chất
bao nhiêu thì tâm bất mãn càng
tăng lên bấy nhiêu, bởi vì
sự sở hữu vật chất
không có một chút khả năng
nào ảnh hưởng đến hoặc
cắt đứt được cái
mầm mống căn để của khổ đau.
Một dòng liên tục của bất
mãn, lầm lạc, lo lắng và
những liên hệ với chúng
vẫn còn đó. Nếu sự
tích tụ tất cả những tiện nghi
vật chất ở bên ngoài mà
thực sự có khả năng loại
bỏ được khổ đau thì
khổ đau phải chấm dứt và
bất mãn phải ngưng đọng
mới được. Nhưng cho
đến khi nào tâm của chúng ta
còn bị ràng buộc với cái
thân xác, vẫn còn liên hệ
với cái thân xác không thể
kiểm soát này thì đau khổ
vẫn còn liên tục tiếp diễn.
Thí dụ, để bảo vệ
đôi chân khỏi giẫm phải
đá nhọn trên đường
chúng ta phải mang giầy dép. Nhưng
sự kiện này không hoàn toàn
chấm dứt vấn đề. Chính
đôi giầy cũng thường mang
lại cái đau. Chúng có thể
làm đau những ngón chân hoặc
cho chúng ta những lúc không thoải
mái. Đây hoàn toàn không
phải lỗi lầm của những bác
thợ giầy. Nếu chân của chúng
ta không dài quá, lớn quá,
nhậy cảm quá thì những
đôi giầy thời trang kia phải
hoàn toàn thoải mái cho chúng
mới đúng. Như vậy, nếu
chúng ta nhìn sâu vào vấn
đề chúng ta sẽ khám phá ra cái
nguồn gốc không thoải mái này
không phải tại những lý do
ở bên ngoài mà thực
sự những nguyên nhân đang
nằm sâu trong cơ thể và tinh thần
của chúng ta, chính cơ thể và
tâm thần của chúng ta tạo ra tình
trạng không thoải mái này.
Đây chỉ là một thí
dụ về kinh nghiệm đau khổ qua thân
xác của chúng ta. Từ khi sinh ra
đến khi lìa cõi đời
này, chúng ta đã phải dùng biết
bao nhiêu sức lực để bảo
vệ cái thân xác này khỏi đau
khổ. Thật ra, tất cả mọi
người chúng ta chỉ dùng
thời giờ để bảo vệ
cái thân xác này một cách
vô ích, không hữu hiệu, hoàn
toàn không mang lại một kết quả
nào. Mục
đích của thiền không phải
để bảo vệ cái thân xác
này. Không bao giờ nên nghĩ như vậy.
Nó có một mục đích cao hơn,
giá trị hơn. Dùng thiền để
chữa bệnh thân xác hay mưu cầu
lợi ích bề ngoài thì thật
là vô nghĩa lý và làm mất
đi sự diệu dụng của một
phương tiện thiện xảo, dùng như
vậy nó chỉ cho chúng ta một giá
trị nhất thời giống như dùng
thuốc aspirin để chữa bệnh
nhức đầu. Bệnh nhức
đầu có thể hết nhưng không
có nghĩa là chúng ta
được bảo đảm hoàn
toàn. Một thời gian sau nó sẽ
trở lại bởi vì phương
pháp điều trị này không có
khả năng chấm dứt tận gốc
rễ của vấn đề, vì thế
sự giải quyết chỉ có tính
cách tạm thời. Vì sự dễ
chịu nhất thời và sự
giảm đau tạm có thể dùng
những phương tiện bên ngoài,
nên không cần phải dùng đến
thiền định hay bất cứ một
sự thực hành tâm linh nào cho
mục đích đó. Chúng ta không
nên phung phí sức mạnh của
thiền định cho những mục
đích hạn hẹp như vậy.
Mục đích chính của
thiền là trị bệnh tâm. Mặc
dầu thân xác và tâm của
chúng ta có những liên hệ nội
tại nhưng chính chúng cũng có
những hiện tượng hoàn toàn
khác nhau. Thân xác của chúng ta
là một đối tượng mà
mắt của chúng ta có thể nhìn
thấy được, nhưng tâm thì
không như vậy. Những thành phần
trong một gia đình có thể có
những nét giống nhau, nhưng mỗi
một đứa trẻ lại có một
cá tính khác nhau, đức tính
khác nhau, sở thích khác nhau...vân
vân... Mặc dầu cùng học chung một
trường nhưng sự thông minh,
sự hấp thụ bài học của
mỗi học sinh lại hoàn toàn khác
nhau, vì chúng ảnh hưởng
từ cha mẹ hay ông bà chúng. Sự
khác biệt tinh thần không thể giải
thích bằng những phương pháp
vật lý.
Một điều cũng cần
nói đến ở đây, có
những đứa trẻ nhớ
rất rõ và chính xác những
gì xẩy ra trong kiếp trước của
chúng. Chúng có thể nói nơi
nào chúng đã sinh ra, chúng sinh
sống như thế nào ...vân vân...
chúng còn có thể nhận diện được
người và sự vật trong kiếp
trước của chúng. Những
sự kiện này có thể kiểm
chứng được, đây là
những bằng chứng hiển nhiên
và xác thực cho bất cứ
người nào muốn nghiên
cứu lãnh vực này với một
tâm vô tư không thiên kiến.
Trong bất cứ trường
hợp nào cũng đều có
một lý do ẩn sâu khác biệt
ở tính bẩm sinh của mỗi thành
phần trong gia đình, ở mỗi
người và đặc biệt ở
một số trẻ chúng nhớ
được những kiếp trước
của chúng, tất cả những
sự kiện này cho chúng ta biết
một sự thật: tâm của chúng ta
không có một chỗ bắt đầu
nhất định. Kiếp trước
thật sự có. Chúng ta không đi
sâu vào vấn đề huyền bí
ở đây về sự tiếp
nối của kiếp này và kiếp
khác, một điều quan trọng cần nhớ
là: tâm của chúng ta liên tục
từ kiếp này qua kiếp khác,
vậy thì nó có thể mang những
gì ở hiện tại qua tương lai.
Đời sống của chúng ta trong
hiện tại là kết quả từ
những hành động, của cả tinh
thần lẫn thể xác, mà chúng ta
đã tạo ra trong kiếp trước.
Cũng như thế, những hành
động của chúng ta đang làm trong kiếp
này sẽ xác định đời
sống cho kiếp sau của chúng ta. Vì
thế, trách nhiệm hình thành tất
cả những gì trong cuộc sống
đang nằm trong tay của chính chúng ta.
Thật là vô cùng quan trọng khi nhận ra
được vấn đề này
nếu chúng ta muốn đi tìm
những ý nghĩa đích thực
cho việc cắt đứt toàn diện
những đau khổ tinh thần lẫn
thể xác.
Mỗi một người chúng
ta đã từng sinh ra làm
người. Như vậy, chúng ta có
cơ hội đem lại cho đời
sống của chính chúng ta một ý
nghĩa và mục đích. Để
chiếm lấy tất cả những
lợi ích này, chúng ta cần
phải đi ngược lại những
gì mà loài thú thấp hơn có
thể làm được. Nhờ
hiểu biết về sự tái sinh và
nhờ kiểm soát được
tâm của chính mình, chúng ta có thể
kiếm tìm được căn nguyên
của tất cả mọi đau khổ. Chúng
ta có thể giải thoát khỏi vòng
luân hồi chết và tái sinh chỉ
trong một vài kiếp sống. Chúng ta
cứ phải trôi lăn vào vòng
sinh tử mà không có một sự
lựa chọn hay kiểm soát nào, nó
là như vậy, chúng ta đã kinh
nghiệm biết bao nhiêu là đau khổ
về một cái thân xác không
thể kiểm soát được. Nhưng
với một ý chí quyết tâm
thực hành, cái vòng luân hồi
này sẽ bị phá hủy hoàn
toàn, chúng ta sẽ được
giải thoát khỏi đau khổ và
bất mãn một cách trọn vẹn viên
mãn.
Tuy nhiên, chỉ chạy trốn
khỏi luân hồi sinh tử cho chúng ta
thôi thì không được, chưa
đủ. Đây không phải là
một cách áp dụng khôn ngoan cho
đời sống làm người
của chúng ta. Không phải chỉ một
mình chúng ta bị đau khổ và bất
mãn mà tất cả những chúng
sinh khác cũng đang chịu như chúng
ta. Nhưng, hầu như họ thiếu trí
tuệ -con mắt Đạo pháp- để
tìm con đường đúng mà
chấm dứt hoàn toàn đau khổ.
Không trừ một ai, tất cả mọi
chúng sinh trên mặt đất này
đều dành trọn vẹn cả cuộc
đời để tìm cách thoát
khỏi khổ đau, tìm kiếm hạnh
phúc và an lạc. Nhưng tâm của họ
tràn đầy u minh tăm tối, sự
kiếm tìm của họ rơi vào hão
huyền lạc lõng. Tâm vô minh, thay vì
hướng dẫn họ đi tới
mục tiêu phúc lạc, nó lại dẫn
họ từ khổ đau này đến
bất mãn khác. Họ cố gắng
loại bỏ những nguyên nhân của
khổ đau, nhưng bất hạnh thay mỗi
ngày họ lại đi xa niết bàn
hơn.
Tất cả chúng sinh đều
bị khổ và đều mong muốn
thoát khổ như chính chúng ta. Nếu
chúng ta nhận thức được
điều này, chúng ta sẽ hiểu
được sự ích kỷ của
chúng ta khi chúng ta chỉ mong giải thoát,
vào niết bàn một mình. Tốt
hơn chúng ta hãy cầu mong cho tất
cả đều được giải
thoát. Nhưng trước khi có thể
dẫn dắt người khác vào con
đường chấm dứt khổ
đau, chính chúng ta phải là
người giác ngộ trước.
Nói khác đi, chính chúng ta cần
phải tinh tiến trên con đường
tu tập giải thoát để có thể
hướng dẫn người khác.
Vấn đề này có
thể cắt nghĩa như sau: gỉa sử
chúng ta muốn đem một người
bạn đi ngắm cảnh ở một
công viên nào đó, nếu
chúng ta bị mù thì không có
cách chi chúng ta có thể dẫn cô
ta đến đó được, mặc
dầu chúng ta muốn lắm. Điều
kiện tiên quyết là chúng ta phải
có một cặp mắt tốt và phải
biết đường đi đến
công viên. Cũng giống như vậy,
chúng ta phải có kinh nghiệm về con
đường giác ngộ trước
khi chúng ta có thể chỉ cho
người khác, mỗi người
sinh ra khác nhau, từ tính tình cho
đến đời sống, nên con
đường dẫn đến giải
thoát cũng khác nhau.
Vậy, mỗi khi nói về mục
đích của thiền định là
chúng ta nói về sự đạt
giác ngộ, một sự thành đạt
chẳúng những cho chính chúng ta
mà còn cho tất cả những
người khác nữa. Đây
là mục đích và cũng là lý
do chính yếu khi chúng ta bước
chân vào con đường thiền
định. Tất cả các vị
đạo sư du gìa cũng như tất
cả các bậc thầy về thiền
định trong qúa khứ đều
đã thực hành Đạo pháp
theo tâm nguyện đó. Giống như
vậy, khi chúng ta bước chân vào
con đường thiền định - theo
Đức Phật, có hàng ngàn
hàng ngàn phương pháp thực
tập thiền định khác nhau, tùy theo
căn cơ của mỗi người -
chúng ta nên có những động
năng thúc đẩy này.
Sự thực hành tâm linh
thật là cần thiết. Chúng ta không
thiền chỉ vì bắt chước
một phe nhóm nào, một người
nào hay ngay cả vì Thượng
đế. Nhưng chỉ vì trách nhiệm
của chúng ta đối với chính
sự đau khổ của chúng ta, chính
chúng ta chịu trách nhiệm bảo vệ
chúng ta. Chúng ta tự đứng
lên đi tìm hiểu chính mình và
cũng chính chúng ta tạo ra hoàn
cảnh cho mình để tự giải
thoát. Do đó, vì đau khổ
đã dày vò cuộc đời
chúng ta, nên chính chúng ta phải
làm một cái gì cho cuộc sống
hàng ngày của chúng ta. “Một
cái gì” này chính là sự
thực hành tâm linh, hay nói một
cách khác, chính là thiền
định. Nếu chúng ta không quay
trở vào bên trong để huấn
luyện tâm ta mà cứ dồn hết
năng lực vào việc sắp xếp
rồi lại sắp xếp những
chương trình cho cuộc đời
vật chất hiện tại này thì khổ
đau vẫn còn đó, cứ
mãi mãi tiếp tục. Khổ đau
không có chỗ bắt đầu, nếu
không thực hành một phương
pháp tâm linh hữu hiệu thì khổ
đau cũng không có chỗ chấm
dứt.
Nói một cách tổng quát,
thật là khó thực hành Đạo
pháp trong một môi trường sống
tràn đầy vật chất như ngày
nay. Vì có qúa nhiều trở
ngại, có qúa nhiều điều
hấp dẫn hơn sự tu tập thiền
định. Tuy nhiên, căn bản của
những điều cản trở này
lại không phải là nguyên nhân
và môi trường của chính
nó. Khổ đau không tại những nhà
máy trong khu kỹ nghệ, nó không
phải tại đồ ăn thức
uống của chúng ta, cũng không phải
tại bất cứ cái gì khác.
Nó đang nằm ngay trong tâm của
chính chúng ta. Đây là điểm
rất ngạc nhiên cho tôi trong thời
gian này, chuyến thăm viếng đầu
tiên của tôi qua Tây phương,
để thấy tận mắt bên cạnh
sự tiến bộ vật chất là
sự thích thú thực hành
Đạo pháp và thiền định trong
nhiều chiều hướng khác nhau
của người Tây phương. Có
rất nhiều người chân thành
đi tìm một ý nghĩa cao cả hơn
cho cuộc đời của con
người, họ cố gắng chuyển
hóa mỗi ngày. Với lòng
ngưỡng mộ đặc biệt, tôi
nghĩ rằng
đây là một việc làm rất
khôn ngoan khi con người biết cố
gắng hoà hợp đời sống
vật chất và đời sống tinh
thần, có một đời sống
sâu xa về nội tâm cũng như một
đời sống đầy đủ
tiện nghi cho thể xác. Với
những người như vậy
đời sống chắc chắn không
phải là một sự hứa hẹn
trống rỗng.
Món ăn mà được
chế tạo bởi nhiều thực
phẩm khác nhau thì chắc chắn phải
ngon. Cũng vậy, nếu chúng ta có
những công việc làm, có
những hoạt động và cố
gắng thật nhiều cho việc kiện toàn
con đường tâm linh theo Đạo
pháp thì đời sống của
chúng ta thật là phong phú. Sự
lợi lạc, ơn ích mà chúng ta
có được nhờ biết
kết hợp hai lãnh vực này
thì thực là vĩ đại bao la.
Có một sự khác biệt
rất lớn giữa tâm, xúc
cảm và những kinh nghiệm của một
người biết áp dụng Đạo
pháp vào cuộc đời của
họ và một người không
biết áp dụng. Trong lúc phải
đương đầu với những
khó khăn của cuộc sống tràn
đầy vật chất này, người
biết áp dụng Đạo pháp sẽ
ít lầm lẫn hơn và kinh nghiệm
cuộc đời ít đau khổ hơn.
Họ biết kiểm soát tâm và
biết phải làm gì ở bên trong
tâm của họ để sẵn sàng
giải quyết những vấn đề
xẩy ra một cách thành thạo, khôn
ngoan. Sự áp dụng này không phải
chỉ cần cho đời sống
thường ngày của họ mà
đặc biệt ngay cả trong lúc họ
chết.
Nếu chúng ta không bao
giờ thực hành đời
sống tâm linh thì chúng ta sẽ
không bao giờ huấn luyện được
tâm của chúng ta qua kỷ luật thiền
định, rồi khi sự chết
đến, chúng ta sẽ phải chiến
đấu rất gay go. Sự lợi ích
quan trọng nhất mà một người
thực hành Đạo pháp có
được là họ coi cái chết
như là một cuộc hành trình
đầy vui thú trở về nhà.
Nó giống như là đi đến
dạo chơi trong một công viên tuyệt
đẹp. Và ngay cho cả những
người chưa đạt giác ngộ
trong thiền định thì cái chết
đối với họ cũng nhẹ
nhàng, không đáng sợ hãi.
Có những người đối
diện sự chết --chúng ta không
thể tránh được -- với
một cái tâm thật bình thản. Họ
không sợ hãi chút nào, không
lo âu về những điều mà họ
sẽ gặp hay về những người
thân yêu, về của cải và ngay
cả về chính thân xác của họ.
Trong cuộc đời này chúng ta
đã kinh nghiệm sự sinh ra và bây
giờ chúng ta đang kinh nghiệm về
tiến trình gìa. Chỉ duy nhất có
một sự kiện mà tất cả
chúng ta đang phải đi đến
chính là sự chết. Vì thế,
sự thực hành tâm linh sẽ
giúp chúng ta đối diện với
một sự kiện không thể tránh
được một cách bình thản an
nhiên, như vậy sự thực hành
thiền định mới có ích
lợi -- mặc dầu nó còn có
những mục đích cao hơn nữa
mà chúng ta có thể áp dụng.
Để tóm tắt, không
còn một sự kiện bên ngoài
nào của thiền định có vẻ
quan trọng hơn nữa. Mặc dù chúng
ta ngồi xếp tay theo kiểu này hay xếp
chân theo kiểu kia thì cũng chỉ có
một chút ảnh hưởng mà
thôi. Điều vô cùng quan trọng trong
con đường tu tập là kiểm soát
xem, theo dõi xem phương pháp thiền
định mà chúng ta đang áp
dụng có thực sự giải thoát
chúng ta ra khỏi đau khổ hay không.
Nó có chấm dứt những
sự kiện hão huyền, huyễn ảo
đang diễn ra ở trong tâm của
chúng ta không? Nó có chấm
dứt được tham sân si không?
Nếu nó thực sự giúp chúng
ta giảm được những thái
độ tiêu cực của tâm thì
đó là sự thiền định
hoàn hảo, sự thực hành
đúng và có giá trị. Nhưng,
nói một cách khác, nếu nó
chỉ làm tăng thêm những thái
độ tiêu cực, xấu (như tăng
lòng kiêu mạn,) thì đó lại
là một nguyên nhân khác đem
lại đau khổ. Trong trường
hợp này, dù chúng ta có nói
là chúng ta đang thiền, đang tham dự
những khóa tu tập, thì đó
chẳng phải là thực hành tâm
linh hay thực hành Đạo pháp một
chút nào.
Đạo pháp hướng
dẫn chúng ta ra khỏi khổ đau, ra
khỏi những sự rắc rối.
Nếu sự thực hành không dẫn
chúng ta theo đường hướng
này thì đã có một cái
gì sai lầm trong đó mà chúng ta
cần phải khám xét lại. Thực ra,
cốt tủy của việc thực hành
Đạo pháp của tất cả các
vị hành gỉa là khám phá xem
những hành động nào của
họ mang lại khổ đau và những
hành động nào của họ là
nguyên nhân của hạnh phúc. Từ
đó, họ áp dụng sự thực
hành vào việc tránh khổ đau và
tạo thêm hạnh phúc càng nhiều
càng tốt. Đây mới là
cốt tủy của thiền định,
đây mới là tinh yếu của
Đạo pháp.
Tóm lại, tất cả chúng ta
là những người bắt
đầu bước chân vào con
đường thực hành Đạo --
bắt đầu thiền định và
thực tập kiểm soát tâm -- chúng
ta cần phải tin tưởng vào
những nguồn giáo lý, những
sự dậy bảo. Chúng ta nên
đọc những cuốn sách có
giá trị, khi có sự nghi ngờ hay
thắc mắc, chúng ta nên hỏi
những bậc thầy, những bậc
đã thực sự tu tập, chuyên
cần thực hành và đã
có những chứng nghiệm trên con
đường tâm linh mà họ đi.
Đây là một điều vô
cùng quan trọng. Nếu chúng ta chỉ theo
sự chỉ dẫn của sách vở
thì đây là một việc vô
cùng nguy hiểm cho con đường tu
tập của chúng ta. Ngay cả việc chọn
lựa một vị thầy, một vị
đạo sư hay một vị lạt ma. Hãy
chọn cho đúng. Họ phải là
những người có thực
chứng, đã từng thực
hành và sống trong Đạo pháp.
Sự thực hành thiền
định của chúng ta, sự thực
hành con đường tâm linh của
chúng ta không thể tiêu cực,
không thể có những thái độ
thụ động được. Chúng ta
không thể nào phá vỡ
được sự kiên cố của
đau khổ bằng một sự mù
quáng, nhẹ dạ khi đặt niềm tin
vào một vị nào đó --ngay cả
một đại sư -- bảo chúng ta làm
điều này, việc kia. Tốt hơn
chúng ta nên sử dụng sự
thông minh nội tâm của chính chúng ta
để xác nhận, để tìm
kiếm những phương pháp thích
hợp hầu mang lại nhiều kết qủa
hơn. Nếu chúng ta đã có
đầy đủ những lý do
tốt lành để tin tưởng
rằng sự dậy bảo này có
giá trị và hữu ích thì
chúng ta nên thực sự thiết tha
và chân thành theo đuổi nó.
Giống như việc chọn thuốc, một khi
chúng ta đã chọn được
đúng loại thuốc chữa lành
căn bệnh của chúng ta thì chúng ta
phải dùng ngay lập tức. Nếu
không, chúng ta cứ uống đại
bất cứ loại thuốc nào mà
chúng ta có thì chúng ta chẳng
những không khỏi bệnh mà còn
mang thêm bệnh vào người.
Đây là lời khuyên
cuối cùng của tôi cho những
người nào muốn bước
chân vào con đường thiền
định và tu tập Đạo pháp. Con
đường tâm linh rất là
thâm diệu bao la, nếu chúng ta không
thể thực hành Đạo pháp
mà chỉ học hỏi tìm hiểu nó
thôi thì nó cũng hữu ích cho
cuộc đời của chúng ta rất
nhiều. Đó là tất cả
những gì tôi muốn chia sẻ.
Cám ơn qúy vị rất
nhiều.
2. ĐỂ
TIẾN TỚI VIỆC NGHIÊN CỨU
PHẬT PHÁP
Tôi rất hân
hạnh được gặp Trungpa Rinpoche (Rinpoche là danh từ
Tây tạng chỉ những bậc thầy
đáng tôn qúi, thường
là những vị tái sinh -Dg) và tất cả
qúy vị ở đây. Tôi
được Trungpa Rinpoche cho biết qúy
vị rất mong muốn tìm hiểu con đường
dẫn đến giải thoát, sự
giải thoát nội tâm. Tôi rất
thích khi được biết như vậy.
Thực ra, tôi không có ý thuyết
giảng cho qúy vị ngày hôm nay. Tôi
chỉ đến đây để thăm
viếng tu viện Naropa và như qúy vị
đã biết người đi du
lịch thường hay nói những gì!
Tất cả qúy vị ở
đây thật có phước. Qúy
vị đến với trí tuệ của
Phật và chắc chắn qúy vị
sẽ có cơ hội để thực
hành trí tuệ này. Rất nhiều
người đã không hiểu
được những cơ duyên
và những cơ hội hiếm có khi
được tiếp xúc với
Phật Pháp. Họ cho rằng đây chỉ
là một sự tình cờ có
được một tư tưởng hay
được gặp một người.
Nhưng không phải như vậy. Không có
gì xẩy ra mà không có nguyên
nhân, cái gì cũng có nhân
và qủa. Vì thế qúy vị
đừng nên nghĩ và đón
nhận Phật Pháp như là một món
qùa tặng. Bởi vì rất khó
và rất hiếm mà có
được, nên qúy vị hãy đón
nhận nó bằng tất cả tấm
lòng chân thành và trân qúi
của qúy vị.
Cũng có thể có
những sự hiểu lầm về
những kết qủa khi tiếp xúc với
Phật Pháp. Như nghĩ: “Hôm nay tôi
được dậy bảo nhưng phải
đợi đến một năm nữa
tôi mới thực sự nhận ra
nó, mới chứng nghiệm
được nó.” Họ thất
vọng vì con đường đạt
giác ngộ qúa xa. Người
thời nay không nhận ra được cái
gì đang ở ngay trước mắt
của họ! Mỗi khi chúng ta đến
với Phật Pháp, nếu chúng ta
mở hết tâm hồn của chúng ta
ra bằng một tấm lòng thực
sự chân thành thì chúng ta sẽ
nhận được sự đáp
ứng ngay lập tức. Chúng ta sẽ nhận
ra một cái gì mới lạ và
sâu đậm về chính chúng ta,
về thế giới chung quanh chúng ta
và về hiệu qủa của những
gì chúng ta đang suy niệm. Nếu
chúng ta suy gẫm những lời dậy
bảo vào buổi sáng, có thể
buổi chiều chúng ta đã nhận ra
kết qủa. Không cần phải
đợi đến tương lai
mới nhận ra nó.
Qúy vị là những
người thực sự có diễm
phúc được đến với
Phật Pháp qua vị Rinpoche khả ái của
qúy vị nên qúy vị không nên
chậm trễ trong việc thực hành.
Nếu qúy vị chỉ lo sưu tầm tích
trữ Đạo Pháp thì qúy vị
đã tạo thêm rắc rối cho qúy
vị rồi đó. Nếu như vậy
thì những lời dậy bảo
đầy minh triết và đầy lý
luận cũng sẽ chỉ là sự
thông minh và lý luận mà thôi. Chúng
ta thường bị quyến dũ
bởi những triết thuyết uyên
thâm của Đạo Phật và bởi
những danh từ chuyên môn huyền
bí phức tạp của nó, phần
đông chúng ta hăng say đón
nhận những lời giải thích
về Đạo pháp theo chiều
hướng này. Những kiểu
thông minh như vậy, những lối
đón nhận Đạo Pháp mà
không thực hành Đạo Pháp thì
chỉ tích tụ thêm những nguyên
nhân tạo thêm rắc rối, tạo
thêm bất mãn trong tâm mà thôi.
Rất dễ có loại hiểu
lầm này khi đến với Phật
Pháp. Chúng ta thường quan tâm hay
thường chỉ để ý
đến những danh từ và
sự diễn dịch của nó mỗi khi
chúng ta học hỏi một vấn đề
gì. Nhưng trong một Đạo viện, như
Đạo viện Naropa này, thì vấn
đề từ ngữ không nên
qúa coi trọng. Chúng thuần túy chỉ
là những tấm bảng chỉ
đường đi đến trí
tuệ mà thôi, chúng không phải
là trí tuệ. Mục đích chính
trong việc học tập ở đây
là có được những
chứng nghiệm Đạo Pháp ở
nội tâm. Qúy vị phải tự
chứng nghiệm những lời dậy
bảo trong tâm của qúy vị thay vì
đợi Đạo Pháp mang ơn ích
lại cho tâm của qúy vị. Nếu
qúy vị ý thức sâu xa
được vấn đề này
và chân thành mở thật rộng
tâm hồn ra thì sự giải thoát
sẽ đến một cách dễ dàng.
Hoàn toàn tùy thuộc vào sự
ý thức và tỉnh thức của
qúy vị. Chiếc chìa khóa để
thâu thập kết qủa trong Đạo
Pháp là luôn luôn cố gắng
tìm hiểu xem làm thế nào những
lời dậy bảo có thể đem
áp dụng thích hợp cho mọi sinh
hoạt trong đời sống
thường ngày của chúng ta.
Nếu chúng ta đón nhận
Đạo Pháp chỉ bằng trí thông
minh khô cằn thì những triết
giáo chúng ta học hỏi được
cũng chỉ mang lại cho chúng ta những
cảm nghĩ mâu thuẫn và những
cảm thọ xung khắc mà thôi. Vì
thế, thay vì tinh tấn trong tinh thần thì
lại bị bệnh tâm thần. Kết quả
này không phải tại giáo pháp.
Nó cũng không có nghĩa là
có một cái gì đó sai quấy
trong sự trong sáng và minh triết của
tư tưởng, nó chỉ là sự
khác biệt của loại trí thông minh
khô cằn. Nguồn gốc của vấn
đề là thái độ thu nhận
Đạo Pháp. Nếu chúng ta thực
sự chân thành tiếp nhận
những lời dậy bảo bằng
cả tâm hồn mở rộng của
chúng ta để tự chứng nghiệm
những gì đã học hỏi
được thì giáo pháp và
những triết thuyết sẽ ơn ích
vô cùng. Càng học hỏi, càng
có nhiều ơn ích. Không có gì
phức tạp khó hiểu cả. Nhưng,
nếu chúng ta đọc vội vàng,
ngấu nghiến những lời dậy
bảo mà không chịu ngừng lại
để tiêu hóa chúng thì chúng
ta chỉ kinh nghiệm được khổ
đau trong một tinh thần chất đầy
bất mãn mà thôi. Thí dụ,
quý vị có thể hãnh diện về
những tài liệu, sách vở
và sự hiểu biết mà quý
vị tích trữ, thâu thập
được; một cách không cần
tiêu hóa chúng, quý vị tuyên
bố rằng qúy vị biết nhiều
về Đạo Phật, quan niệm của quý
vị tốt hơn, vượt xa những
người khác. Quan niệm này sẽ
chẳng hướng dẫn quý vị
đến đâu cả mà chỉ gây
thêm rắc rối cho chính quý vị
và cho những người khác.
Tại sao những loại thông minh
này lại đang gây rắc rối cho
thời buổi này? Có thể một
vấn đề nào đó đang
hoành hành ở thời đại
phát triển vật chất ngày nay.
Người ta vẫn tiếp tục ham muốn
những cái gì mới lạ, mà
không bao giờ bằng lòng với
những sản phẩm mà kỹ thuật
tân tiến đang cung cấp cho. Vì
thế, người ta thích chạy theo
những tư tưởng khích
động lòng ham muốn của họ rồi
họ bị mê mệt bởi những
mục tiêu không giới hạn mà
họ nghĩ rằng họ có thể chiếm
đoạt được. Họ cảm
thấy không có gì là nguy hiểm khi
buồn bực và khó chịu,
bởi vì sự học hỏi thì
cứ tiến tới không giới
hạn và không ngừng. Với
một thái độ như vậy mà
hướng về một cái tâm có
khả năng bất tận thì cũng
chẳng có giá trị gì với
trí tuệ -sự thông minh chân thật.
Nó chỉ mang lại những mê tín
về chân tính mà thôi. Loại
thông minh vồ chụp này chỉ phản
ảnh những gì đang nằm sâu
trong sự mê tín mà nó
đã được tích trữ
từ lâu để mang lại những
niềm vui, sự an toàn và ngay cả
sự giải thoát tạm thời.
Đừng coi những
lời nói của tôi như là
một sự khủng hoảng. Điểm
mà tôi muốn nhấn mạnh là
chúng ta nên kiểm điểm tâm ta
một cách vô cùng khôn ngoan và
sâu thẳm.Tại sao chúng ta lại muốn
tìm hiểu học hỏi những
lời dậy bảo của Đức
Phật, và chúng thực sự có
ý nghĩa gì trong những sinh hoạt
hàng ngày của chúng ta? Chúng ta
có thể nghĩ rằng chúng ta đang
theo đuổi con đường dẫn
đến giác ngộ, nhưng khi thực
sự đi vào vấn đề thì
chúng ta thực hành nó ra sao? Nếu
chúng ta thực tình đi sâu vào
vấn đề, có thể chúng ta
sẽ nhận ra được những
gì chúng ta đã thực hiện.
Nhưng nếu chúng ta đã kiểm
soát kỹ rồi mà chúng ta vẫn
không nhận thấy chúng quan trọng,
chúng chỉ là những khía cạnh
của cuộc đời, thì có
lẽ chúng ta đã không tiêu
hoá những lời dậy bảo
mà chúng ta đã nhận
được.
Chúng ta đang nghiên cứu
học hỏi và thực hành Phật
pháp, nhưng chúng ta đã chẳng bao
giờ tự hỏi chúng ta cái
ý nghĩa chân thực của qui y Phật,
Pháp và Tăng là gì? Nếu
chúng ta đã suy nghĩ về
những điều này và đã
có ngay một câu trả lời -
như chúng ta
đang viết một bài khảo luận-
thì có lẽ cũng chẳng có
gì xảy ra nơi tâm của chúng ta. Rồi
chúng ta vội vàng đi đến
kết luận là qui y chẳng có ý
nghĩa gì hết. Đây là một sai
lầm đáng buồn. Mặc dầu
chúng ta có thể có hàng chuỗi
dài những định nghĩa bóng
bảy đi nữa, sự qui y cũng
vẫn chẳng có ý nghĩa gì
với chúng ta nếu chúng ta không
qui y bằng cả trái tim chân thành
mở rộng của chúng ta. Như vậy,
sự tìm hiểu chân thật sẽ cho
chúng ta hiểu được rằng
chúng ta đã không tiêu hoá
cái gì mới thực sự
là qui y. Chúng ta đã tự loại
bỏ chúng ta ra khỏi sự độ
trì và an bình của Tam Bảo.
Nếu chúng ta nghiên cứu
Phật Pháp bằng một cái tâm
hoàn toàn cởi mở và
chân thành, cố gắng đi tìm
những câu trả lời cho
những vấn đề hàng ngày
của chúng ta, thì qui y thực sự
đem lại rất nhiều ý nghĩa.
Từ những kinh nghiệm riêng của
chúng ta, chúng ta đã biết
được những gía trị
thăng tiến vượt bực của
Đức Phật về một tâm toàn
giác. Chúng ta sẽ nhìn thấy một
cách vô cùng trong sáng thế nào
là lòng từ bi giác ngộ, nó
vượt xa những gì gọi là
ràng buộc và ham muốn thường
tình, nó cho
chúng ta những khả năng đem lại
hạnh phúc cho chính mình và cho
những người khác. Bằng
cách này, câu trả lời cho câu
hỏi qui y sẽ đến ngay từ
trái tim của chúng ta chứ không
phải bằng môi miệng.
Điều này không có
nghĩa là chúng ta nên chấp nhận
một cách mù quáng, đơn giản
vì nó là những lời dạy
bảo của lạt ma. Đây là một
sự sai lầm trầm trọng như chính
những sự thông minh hoá.
Điều vô cùng quan trọng là
chúng ta nên hiểu những lời
dậy bảo bằng chính sự tỉnh
thức sâu xa của chúng ta. Chúng ta
phải kiểm chứng những sự
thật mà chúng ta đã và đang
được dậy bảo, không nên
chấp nhận nó chỉ vì nó
được nói ra bởi những
người mặc chiếc áo thầy tu,
hay hoàn toàn ôm giữ nó
bằng trí thông minh của chúng ta.
Không có một chỗ nào trong Phật
giáo dành cho những kiểu mơ mộng
hão huyền của loại tâm linh siêu
thị. (Đệ
nhất nguyên nhân gây khổ đau cho
chúng sinh là vô minh, ý nghĩa
đơn giản của vô minh là không
sáng suốt, không biết, không hiểu
mọi hiện tượng xẩy ra. Vì
thế, chiếc chìa khóa đầu
tiên và duy nhất để đối
trị căn bệnh này chính là trí
tuệ, ý nghĩa đơn giản của
trí tuệ là hiểu mọi hiện
tượng như nó là. Trí tuệ
chỉ đến sau khi chính mình -không
phải ai khác- thành tâm thực
hành Đạo Pháp, trí tuệ không
đến qua kinh sách, lạt ma, đền
chùa hoặc bất cứ sự kiện
bên ngoài nào; nếu có thì
đây chỉ là trí thông minh bình
thường mà thôi, không phải
trí tuệ -Trí
Bát Nhã - trí thông minh cũng
chỉ đem lại khổ đau, một loại
vô-minh-thông- minh. -
Dg)
Khi chúng ta đã nghiên
cứu học hỏi lâu rồi mà
vẫn còn trở ngại với
những kinh nghiệm cảm thọ thường
tình, chúng ta có khuynh hướng
đi khiển trách vị lạt ma hay vị
thầy của chúng ta. Trong lúc này chúng
ta nên tự vấn chính mình xem
chúng ta có làm một điều gì
hơn sự đòi hỏi của tri
kiến hay không. Thái độ của
chúng ta có hoàn toàn thay đổi
không? Trong trường hợp này
có thể chúng ta đã đầu
độc tâm ta. Để tránh sự
ô nhiễm này, Đạo Pháp
đặc biệt chú trọng đến
vấn đề học tập và thực
hành không được xa rời
nhau.
Cái gì chúng ta đã
thực hiện qua thân khẩu và ý
của chúng ta thì quan trọng hơn
những gì chúng ta đã sưu
tập được từ sách vở
rất nhiều, hay ngay cả từ
những điều học hỏi
được ở những vị
lạt ma, những vị thầy, những
vị đạo sư hoặc từ bất
cứ ai. Trách nhiệm về sự
giải thoát và giác ngộ nằm ngay trong
ta, không phải ở một vị lạt ma
hay ở bất cứ một vị thầy
nào. Sự
đạt đạo được
lớn mạnh từ cá tính và
khả năng của chính ta chứ không
phải từ bất cứ ai. Thật
là sai lầm khi chúng ta khấn xin,
“Lạy lạt ma, con có thể làm gì
đây?” Đây là một sự
thật, hãy làm
với tất cả những gì
chúng ta có -bằng chính khả năng
của chúng ta - điều này xác
định hiệu qủa của sự
thực hành tâm linh.
Theo ý nghĩa thâm sâu của
Đạo Pháp, chẳng những chúng
ta phải chịu trách nhiệm về
những bối rối lầm lẫn và
đau khổ của chúng ta mà chúng ta
còn phải chịu trách nhiệm cho cả
những sự buông xả của
chúng ta nữa. Nếu sự học
hỏi Phật Pháp mang lại những
phẫn uất cho tâm của chúng ta thì
đó chính là chúng ta đã
thất bại trong việc phát triển sự
học hỏi đó ra trong ý nghĩ
và hành động của chúng ta. Tuy
nhiên, nếu chúng ta biết làm thế
nào tiêu hoá được
những gì chúng ta đã học, ngay
cả một điều nhỏ mọn, thì nó
cũng mang lại rất nhiều ơn ích cho
tâm chúng ta. Giống như một miếng
chocolate hay một miếng bánh rất ngon;
sự hiểu biết tầm thường
không thể so sánh được
với nó. Sự hiểu biết
tầm thường không thể cho một
hình ảnh nào về sự chân
thực, về thực tướng, vì
thiếu trực giác.
Như tôi đã nói,
nếu chúng ta đem thực hành
những gì chúng ta đã học
hỏi được thì chúng ta
không cần đợi kết qủa.
Ơn ích sẽ đến ngay. Tôi qủa
quyết rằng những người
nào trong qúy vị ở đây
đã có kinh nghiệm về thiền
định đều nhìn nhận tất
cả những khó khăn xảy ra
thường ngày đều được
giải quyết một cách tốt đẹp,
nhanh chóng. Sự thật đã xảy ra
như vậy, mặc dầu chỉ có một thời
gian thiền định ngắn thôi cũng
mang lại sự bình an lâu dài, qúy
vị đã có những kinh nghiệm
này, phải không? Mỗi khi chúng ta
có sự an tĩnh tại nội tâm,
mỗi khi chúng ta đem áp dụng sự
bình an nộâi tại này là chúng
ta thực sự tu tập, vì thế
chúng ta sẽ dễ dàng giải quyết được
những vấn đề. Không có
sự an bình này, việc tu tập chỉ
đem đến cho chúng ta những xung
động mà thôi. Vì nội tâm
luôn bận rộn với những ý
tưởng xung đột nên nó
không còn một chỗ nào cho Đạo
Pháp.
Những lời dạy bảo
của Đức Phật rất đơn
giản và ngay thẳng. Nếu chúng ta
thấy nó phức tạp chỉ vì
chúng ta đã tạo ra như vậy. Có
thể chúng ta nghĩ, “ Tôi có
bằng tiến sĩ, tôi hiểu tất
cả những tư tưởng này,
nhưng tôi vẫn không tìm ra
được một phương pháp
nào để thực hành Đạo
Pháp.” Liều
thuốc để chữa căn bệnh
này là hãy tự nhìn sâu
hơn vào nội tâm của chính
chúng ta. Hãy cố gắng quan sát
những ý niệm tâm linh bệnh hoạn
của chúng ta và hãy khám nghiệm
những nguồn năng lượng thân
khẩu và ý của chúng ta xem có
chỗ nào bị tắc nghẽn và
bị hướng dẫn sai lầm không.
Để làm công việc này có
kết qủa, chúng ta cần có một
chút kinh nghiệm về sự kiểm
soát tâm. Chúng ta cần có tinh
thần kỷ luật, luật tâm linh để
giúp chúng ta thực hành một
cách sống động linh hoạt hơn.
Nếu chúng ta không bắt
đầu có hoặc bắt đầu
phát triển ngay bây giờ một kỷ
luật tâm linh thì chúng ta sẽ mất,
sẽ hoang phí rất nhiều thời
giờ trong cuộc đời cho một
cái tâm vô kỷ luật. Không có
chánh kiến từ khởi đầu
nên lực vô minh cứ dẫn
chúng ta tái sinh vào vòng luân
hồi hết kiếp này đến
kiếp khác mà không có quyền
lựa chọn. Chúng ta đã mở
cửa để tất cả những
ảnh hưởng xấu tự do thấm
nhập vào cả trong tâm hồn lẫn
ngoài thân xác của chúng ta.
Động từ “MỞ” ở
đây mang một ý nghĩa thụ
động. Tuy nhiên, với một sự
áp dụng đúng đắn luật
tâm linh, với một tinh thần kỷ
luật cao độ, chúng ta có thể
“MỞ” trong ý nghĩa tích
cực.
Tinh thần kỷ luật không
phải là sự siết chặt thần kinh
như chúng ta nghĩ. Nó hoàn toàn
không có nghĩa là chúng ta nhốt
chúng ta vào một nhà tù mất
hết sự tự nhiên và không
còn sáng tạo. Nó chỉ có
nghĩa là chúng ta nên tỉnh
thức trong tất cả mọi hành
động của chúng ta. Một cách
từ từ và kiên nhẫn,
chúng ta nên cởi bỏ, tháo
gỡ tất cả những nút
thắt về những ý niệm sai lầm
của chúng ta, từ đó chúng ta
giải phóng chúng ta khỏi tất cả những
năng lượng thụ động mà
nó đã cột chặt chúng ta
từ muôn kiếp. Những lý
thuyết phức tạp không cần
thiết cho tiến trình tinh tiến này.
Điều vô cùng quan trọng là
chúng ta phải chấm dứt ngay tình
trạng vô ý thức, tình trạng
không thức tỉnh trên tất cả
những thói quen thường ngày
của chúng ta.
Một số người nghĩ
rằng giữ kỷ luật sẽ làm chúng
ta mất hết sự cởi mở
và tính tự nhiên. Họ cho rằng
chúng ta nên thoải mái và hãy
để cho mọi thứ trôi chảy
một cách tự do. Hành động
như vậy chẳng có gì ngược
lại với kỷ luật. Nhưng thực
ra, giữ kỷ luật lại giúp chúng
ta cởi mở một cách chân
thật hơn. Nhiều khi chúng ta phải dẹp
bỏ ý thức để
được tự nhiên và
nhiều lúc chúng ta lại phải liều
lĩnh để hành động. Khi chúng
ta sống trong kỷ luật trí tuệ của
Đạïo pháp, chúng ta sẽ không
còn bị ảnh hưởng của vọng
tưởng và vô minh nữa. Nếu
chúng ta cố gắng hành động
một cách tự do không cần kỷ
luật thì thay vì cởi mở
với hoàn cảnh đang đối
diện, chúng ta lại bị bưng bít
bởi những sự lầm lẫn,
bối rối của chính chúng ta. Vì
thế, để được tự
nhiên chúng ta phải có một tinh
thần kỷ luật từ sự
thức tỉnh và trí tuệ.
Rất nhiều người
phàn nàn rằng nếu liên tục
chú ý vào những hành
động của thân khẩu và ý
thì khó qúa. Nhưng thực ra nó
chỉ khó khi nào họ không chú
ý đến luật nhân qủa. Tất
cả những thói quen của chúng ta
ở hiện tại sẽ trực tiếp
ảnh hưởng đến những
gì sẽ xẩy ra trong tương lai. Cũng
giống như vậy, những gì chúng ta
đang gặp phải bây giờ
đều là kết qủa của tất
cả những gì chúng ta đã
làm trong qúa khứ. Nếu chúng ta
nhận thức được điều
này, chúng ta sẽ thận trọng
với những hành động hiện
tại của chúng ta một cách sâu xa
hơn vì đây là trách nhiệm
của chính chúng ta chứ không
phải của bất cứ ai khác.
Chúng ta sẽ nhận thức được
hạnh phúc hay đau khổ là do quyết
định của chính chúng ta. Nếu
chúng ta là người tử tế,
dễ thương và cởi mở trong
tinh thần kỷ luật thì kết qủa
là chúng ta sẽ có hạnh phúc
thật . Nếu chúng ta là người
độc ác, ích kỷ và hẹp
hòi, chúng ta sẽ chỉ gặp những
khó khăn và đau khổ. Do đó,
kỷ luật chỉ khó khăn đối
với người nào không
biết hoặc
không sợ luật nhân qủa, nên
họ cũng chẳng có một sự
thúc đẩy nào đến với
con đường tâm linh. Nếu chúng
ta hiểu được sự liên hệ
tự nhiên giữa những hành
động và những ảnh
hưởng của nó đối
với chúng ta và những người
khác thì chúng ta sẽ tự
động phải ý thức và cẩn
trọng trong mọi hành vi của chúng ta.
Đây là lý do tại sao chúng ta
phải thức tỉnh.
Mỗi khi chúng ta tỉnh thức
trong từng hành động của chúng
ta là chúng ta phát triển thêm trí
tuệ. Từ đó chúng ta kiểm
soát được luật nhân qủa.
Nói cách khác, khi đó chúng ta có
thể thanh tẩy được nghiệp
của chúng ta. Vì thế, với
sự tỉnh thức, chúng ta sẽ
có những ý thức chân
thực khởi phát chứ không
phải do vô minh mà ra. Mật chú
thường được dùng
để khai mở những buổi
pháp đàm, như Om
muni muni maha muniye svaha, ý nghĩa sâu xa
của ba lần lặp lại Muni là để “kiểm
soát.” Muni đầu
tiên để kiểm soát tam độc
ở tâm - tham, sân, si - ba thứ
này mang lại đau khổ cho cuộc
đời. Muni thứ
hai để thanh tẩy ô nhiễm và
nghiệp, kể cả những hạnh nghiệp
tốt mang lại niềm vui cho nhân loại,
vì những thứ này cũng
làm cho tâm không thanh tịnh (nghiệp có nghiệp
xấu và nghiệp tốt, nghiệp nào
cũng làm cho tâm không còn cân
bằng thanh tịnh, Phật và chúng sinh
tính thường rỗng lặng, rỗng
lặng thì không có tốt không
có xấu, tâm rỗng lặng chỉ
nhìn sự vật như thị, như nó
là, không có kiểu,” A, cái
này tốt tôi nên giữ; ô
cái kia xấu quá, bỏ đi.” --Dg)
Với sự kiểm soát như
vậy, giúp chúng ta thoát khỏi luân
hồi. Nhưng chúng ta không thể phát
triển sức mạnh này hay niềm an
lạc này trong một khoảng khắc mà
nó sẽ đến từ từ,
từ từ, rất chậm trong tiềm
thức của chúng ta để rồi một
ngày nào đó sẽ trở
nên hoàn hảo. Maha
muniye, đại thanh tẩy, sự kiểm
soát toàn diện, thanh tẩy tất cả
những dấu ấn của ảo vọng
và nghiệp lực nằm rất sâu trong
thể vi tế nhị nguyên của tâm ta.
Trong sự phát triển cao độ này,
trong sự giác ngộ này, chúng ta
có khả năng tỉnh thức trọn
vẹn (toàn giác) để mang lại ơn
ích cho muôn loài chúng sinh.
Nhưng trước nhất
chúng ta phải bắt đầu, từ
từ, tinh tấn đều đều,
đều đều, không hấp tấp,
không vội vàng. Đừng làm
những bước nhảy vọt. Hãy
áp dụng, hãy thực hành một
cách vững chắc. Nếu chúng ta
bắt đầu tiến hành từ
từ như vậy, chúng ta sẽ có
khả năng tiếp tục lâu dài một
cách rất dễ dàng và rất
thoải mái. Chúng ta sẽ thức
tỉnh và kiểm chứng
được tất cả những gì
chúng ta đang thực hành trong
từng giây phút. Nếu chúng ta
nhảy vọt ngay từ lúc bắt
đầu chúng ta sẽ bị gẫy
chân; lúc đó nếu có lạt ma
đến để chia sẻ với
chúng ta về sự tiến bộ, về
những chứng nghiệm Đạo
pháp thì chúng ta đã bị
què mất rồi, chẳng còn chia sẻ
gì được. Trách nhiệm về
sự thực tập lời dạy bảo
này chẳng phải ở ông thầy
mà tại chính chúng ta.
Khi chúng ta qui y Phật, Pháp
và Tăng là chúng ta quyết liệt
với nghiệp của chúng ta. Có
nghĩa là chúng ta sẵn sàng canh
giữ ba cửa ngõ thân khẩu
ý của chúng ta và chúng ta tiếp
tục tỉnh thức trong từng hành
động của chúng ta. Phương pháp
để hoàn thành công việc này
là thiền định. Nếu chúng ta
đã quyết định và đã
có một phương pháp thích
hợp thì sự học hỏi triết
lý và giáo pháp mới có
ích lợi. Lúc đó càng
học hỏi về thiền định và
biết thiền định trên những
vấn đề gì, thì sự
thực hành càng có kết qủa.
Đời sống của chúng ta và
sự thực hành tâm linh của
chúng ta sẽ dẫn chúng ta đến
những bước cao hơn, do chính
sức mạnh và kết qủa của
sự cố gắng này.
Để chứng nghiệm
Đạo Pháp, cần hai điều kiện:
học hỏi và thực hành. Không
áp dụng hai điều kiện này thì
sự nguy hiểm nằm ngay trong phương
pháp đó. Nếu chúng ta đến
với Đạo và học Đạo
bằng cái “tôi” của
chúng ta thì chúng ta sẽ chẳng
thâu thập được gì mà
lại còn chuốc thêm đau khổ
bởi chính sự ô nhiễm tinh
thần này. Thí dụ, chúng ta sẽ
chỉ trở nên một người
rất tinh thông về những danh
từ và ý niệm mà thôi.
Nếu chúng ta học và thực hành
không trọn vẹn, sự kiện này
sẽ là nguyên nhân gây đau
khổ cho cái bản ngã kiêu mạn
của chúng ta. Vì thế, mặc dầu
Đức Phật có xuất hiện ngay
trước mặt chúng ta mà giảng
dạy Đạo Pháp cho chúng ta, chúng ta
cũng nhún vai mà nói với
Ngài rằng: “ Tôi biết rồi,
ông không phải nói với “Tôi”
những điều này
nữa.”
Thay đổi thái độ
tâm linh này rất khó. Sức mạnh
tinh thần của chúng ta có thể cấu
tạo một hàng rào hoài nghi rất
vững chắc để bảo vệ chặt
chẽ những ý niệm sai lầm “dễ
thương” của chúng ta. Cái thái
độ sắt thép này chẳng
những ngăn cản chúng ta tiếp
xúc với người khác mà
nó còn phá hủy hoàn toàn
những gía trị căn bản của
một con người. Bởi vì
chúng ta cho rằng chúng ta biết tất
cả mọi thứ nên chúng ta bị
cầm giữ trong vô minh, như vậy
chúng ta sẽ chẳng còn một cơ
hội nào đánh thức tâm ta
để trốn thoát khỏi khổ đau.
Do đó, chúng ta cần
nhiều cố gắng để thực
hành những gì chúng ta đã
học hỏi được. Thực hành
những gì chúng ta đã nghe,
đã đọc và đã làm,
đã nghĩ bằng tất cả năng
lực của chúng ta. Đó là
tất cả những gì tôi muốn
nói. Hãy coi chừng nghiệp của
chúng ta. Nghiệp là một danh từ
Phật giáo, tiếng Phạn là Karma,
đây là một danh từ Aán
độ, ý nghĩa rất phức
tạp. Hàng ngày chúng ta ăn, uống,
ngủ, đi và nói chuyện với
người khác. Tất cả những
hành động ấy tạo ra nghiệp, là
nghiệp. Nói một cách đơn giản,
tất cả những năng lượng
phát ra từ thân khẩu và ý
đều là nghiệp. Tất cả nghiệp
lực đều có phản ứng,
rồi nó lại tạo ra những phản
ứng khác nữa, khác nữa,
khác nữa.... Chúng ta không cần
đi sâu xa, phức tạp hơn
nữa. Như vậy cũng đã qúa
đủ để xác định khi vui
sướng là nghiệp qủa của những
động lực lành mạnh đã
được tạo ra từ trước,
khổ đau là kết qủa của
những hành động bất thiện.
Để nói về nghiệp, có khi
phải cần cả một ngày, một
tuần, một tháng hoặc cả năm
mới luận bàn hết
được. Tuy nhiên, lời dậy bảo
đơn giản bao giờ cũng thấm
hơn là những bài thuyết trình
cầu kỳ bóng bảy, toàn là
những lời trống rỗng, trò
chơi của chữ nghĩa.
Từ khi sinh ra đến bây
giờ, những gì chúng ta
đã nói, đã nghĩ, đã
làm đều là những cơ hội
tạo ra nghiệp cho tương lai. Không có
một giây phút nào mà chúng ta
không tạo ra nghiệp, chúng ta tạo nghiệp
trong từng giây từng phút. Có
thể chúng ta không tin nghiệp và luật
nhân qủa. Nhưng dù tin hay không tin,
nó vẫn ở đó, như chiếc
kim đồng hồ không ngừng di
chuyển. Cho tới khi nào chúng ta
hiểu được tiến trình tạo
nghiệp này, chúng ta mới tỉnh
thức về tất cả những
hành động xấu mà chúng ta
đã tạo ra do thói quen, lúc
đó chúng ta mới dễ dàng
nhận ra bao nhiêu là rắc rối mà
chính chúng ta đã mang lại cho
chúng ta.
Mỗi một phút chúng ta tạo
ra hàng trăm thứ nghiệp, có
nghiệp chúng ta đã cố tình
tạo ra. Trong sự yên tịnh của
thiền định, chúng ta có thể nghe
được tâm ta, đây là
nguồn gốc và nơi chốn của
tất cả mọi hoạt động. Ở
đây chúng ta có thể học hỏi,
kinh nghiệm và nhận diện được
mọi hành động của chúng ta
từ rất xa, sâu thẳm mà
chúng ta không hề biết trước kia.
Công việc tự tỉnh thức này dẫn
đến việc tự kiểm soát,
đây là khả năng làm chủ
nghiệp lực của chúng ta thay vì
để nó điều khiển chúng ta.
Phật giáo Đại thừa
dậy rất rõ ràng minh bạch về con
đường chuyển hoá tất cả
những sinh hoạt hàng ngày thành
những phương tiện thiện xảo
đưa đến giác ngộ. Ngay cả
những năng lượng tiêu
cực cũng có thể chuyển thành
những kết qủa tích cực.
Điều này có thể thực
hiện được bởi vì tất
cả những năng lượng này
đều là sự diễn dịch của
những thái độ tinh thần,
những thái độ này có
thể dẫn đến mục đích
đạo đức hoặc không
đạo đức. Tất cả
đều đòi hỏi một sự
tỉnh thức cao độ.
Vì hiểu và sinh hoạt
với những nguồn năng
lượng của chúng ta mỗi ngày
nên chúng ta có khả năng tạo
được những bước
rất dài trên con đường
tâm linh. Không cần chúng ta phải
cắt bỏ những hoạt động
hàng ngày của con người
để đi đến một nơi nào đó
tu dưỡng tâm linh. Chúng ta có
thể học hỏi ở mọi nơi mọi
lúc. Phật giáo là con
đường trung đạo, nó
tránh tất cả những gì gọi
là cực đoan. Vì thế, nếu
chúng ta thực sự chân thành
muốn thực hành Đạo pháp trong
đời sống hàng ngày của
chúng ta, chúng ta thực sự cần
một đời sống quân bình.
Đừng thẩm định qúa
thấp hoặc quá cao công việc gì
mà chúng ta muốn hoàn thành,
hãy cố gắng làm việc ở trong
nội tâm càng nhiều càng tốt.
Nếu thực sự chân
thành thực hành Đạo pháp trong
đời sống hàng ngày, chúng
ta sẽ được đổ đầy
lòng nhiệt tâm. Nếu chúng ta là
những người có tuổi thì
tâm hồn chúng ta sẽ trở nên
trẻ trung và tươi mát như một
thiếu niên 15 tuổi. Còn không, thân
xác và tâm hồn chúng ta sẽ
bị gìa đi và suy nhược chung
với nhau. Chúng ta sẽ chẳng có
trí tuệ, chúng ta sẽ sống quãng
đời còn lại rồi chết
đi trong sự sợ hãi và ngu
muội.
Vậy, chúng ta hãy cố
gắng sống trong sự bình an của
tâm hồn càng nhiều càng tốt.
Hãy cố gắng sống vui vẻ. Có
qúa nhiều cơ hội sống tốt
đẹp ở xã hội này, vậy hãy
dùng nó cho khôn ngoan. Hãy nhớ
rằng mục đích chính của một
xã hội đầy máy móc là
để tiết kiệm thời gian. Vậy
hãy tổ chức đời sống
sao cho có thật nhiều giờ dành cho
thiền định. Rồi, khi nào bắt
đầu biết để ý đến
nghiệp lực được tạo như
thế nào qua thân khẩu và ý
thì lúc đó là lúc chúng
ta mới thực sự thực hành
Phật Pháp. Ngoài ra, mỗi khi chúng ta
cố gắng ngồi thiền chúng ta chỉ
ngồi đó mà chẳng thực
hiện được một kết qủa
hữu dụng nào.
Ngồi, tự nó chẳng
phải là thực hành.Tinh tấn và
chuyển hoá mới thực sự
là thực hành. Khi tinh tấn, chúng ta
cảm nhận được. Không cần
phải hô hoán lên, “Ô Lạt ma,
con đang học Phật Pháp, con có tiến
bộ không?” Sự cảm nhận chỉ
có thể được chứng
nghiệm bởi chính anh, không phải
Lạt ma hay bất cứ người
nào khác. Chúng ta mỗi người
đều có khả năng nhận ra
sự tinh tấn này.
Tôi nghĩ rằng tôi
đã nói quá nhiều, nhưng tôi
cũng nghĩ rằng tôi đã nhấn
mạnh một điều gì đó.
Bây giờ chẳng còn gì
để nói với quý vị
nữa. Ước mong rằng sự
gặp gỡ hôm nay sẽ mang lại một
nghiệp qủa tốt và tạo nhiều ơn
ích. Nếu được như vậy, xin
đừng phí phạm. Hãy hồi hướng
tất cả những thành qủa này
cho muôn loài chúng sinh. Cám ơn
qúy vị.
Tôi rất sung sướng
vì ở Hoa kỳ có rất nhiều
người mong muốn đi tìm sự
bình an trường cửu để
đạt giác ngộ. Thật là may mắn
cho qúy vị được chia sẻ
nghiệp qủa với Trungpa Rinpoche. Mong rằng
sự cố gắng của ngài và
sự thực hành liên tục của
qúy vị sẽ mang lại hạnh phúc
và sự an lành cho tất cả mọi
người.
Cám ơn qúy vị nhiều
lắm.
3. TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN CỦA BẤT HẠNH
Sự thấu hiểu
bản tính thật hay chân tính của
những hiện tượng ở nội
tâm có sức mạnh cắt đứt
tất cả những tình trạng mê
mờ ảo vọng của tâm. Giống
như một lưỡi kiếm cắt
đứt những vọng tưởng.
Lưỡi kim cương sắc bén
này có khả năng phá hủy trọn
vẹn những nguồn năng lượng
tiêu cực. Với sự hiểu
biết sâu xa của trí tuệ, tâm
chúng ta sẽ tự nhiên đi vào
trạng thái trong sáng thanh tịnh, khi
đó cảnh bình an chân thật của
nội tâm sẽ được thành
lập. Chính vì lý do này mà
Phật Pháp không chấp nhận một
tình trạng hiểu biết mù quáng. Điều
vô cùng quan trọng là chính cá
nhân chúng ta phải tự thẩm
định và tự chứng nghiệm
sự thật về những lời
dậy bảo ở trong chính tâm hồn
của chúng ta, chứ không phải
nhắm mắt tin vào giáo điều.
Sự thành đạt trí tuệ như
vậy mới mang lại kết qủa
thực sự cho việc huấn luyện
tâm để đạt tới mục
tiêu. Chúng ta sẽ chẳng có tinh
tấn trên con đường học
đạo nếu trí tuệ của chúng ta
không làm việc một cách sắc
bén. Điều này đi ngược
lại với sự nhận xét của
một số người về tôn
giáo -- theo họ, tôn giáo có
những tín điều không thể thay
đổi hoặc không được
chống lại vì nó ở bên
ngoài tất cả những lý lẽ,
thắc mắc, bàn luận và nghiên cứu
khoa học. Đáng tiếc thay, những
tư tưởng suy đồi trong hệ
thống tín lý của tôn giáo
lại làm vững mạnh thêm cho
những quan niệm độc đoán
một chiều này. Ở đây
tôi không đề cập tới
những hình thức thoái hóa
của tôn giáo vì thực ra nó
chỉ là những mê tín dị
đoan. Đúng ra, tôi chỉ muốn
nhấn mạnh đến khả năng kỷ
luật của nội tâm, nó có thể
tạo được sự bình an thật
cho chính tâm mình và người
khác.
Thật là sai lầm khi nghĩ
rằng người có đạo nên
tránh những điều mới lạ
và những cơ hội có thể
làm lay chuyển đức tin của họ.
Một tôn giáo đúng nghĩa thì
tràn đầy trí sáng suốt, tại
sao tín đồ lại phải sợ
bóng tối? Aùnh sáng thực sẽ
không bao giờ bị ảnh hưởng
bởi bóng tối. Giống như thế,
tâm trong sáng của trí tuệ không
hề bị quấy nhiễu bởi một
cái tâm mù mờ và lầm
lẫn. Cũng như sự nghiên cứu
theo đúng tinh thần khoa học dù
dưới bất cứ hình
thức nào cũng không đi
ngược lại sự chân thật
của tôn giáo. Nói cho cùng, bất
cứ sự nghiên cứu nào
của khoa học cũng không chối bỏ
được ánh sáng của mặt trăng
và mặt trời, thế thì tại sao
họ lại chối bỏ ánh sáng của
nội tâm?
Những kẻ yếu đuối
- những ai thiếu con mắt phân biệt của
trí tuệ - chấp nhận giáo lý
một cách thụ động. Họ không
có nền tảng triết học và
hoàn toàn không có gì bảo vệ
cho những điều họ tin, vì thế
khi có ai thắc mắc lòng tin của họ
là họ sẽ khó chịu ngay. Những
người như vậy thường
có một đời sống hay
đắn đo, hoang mang, sợ hãi
bất cứ người nào hay bất
cứ gì có thể ảnh
hưởng đến căn bản tinh
thần mập mờ của họ. Tuy nhiên,
thái độ này không phải tại
tôn giáo nhưng tại sự hiểu
biết qúa hẹp hòi của họ.
Đạo pháp luôn luôn hướng
dẫn chúng ta đi con đường
ngược lại với thái độ
này. Đạo pháp có khả năng
hướng dẫn một người
biết phối hợp tất cả những
kinh nghiệm trong đời sống vào
một sự hợp nhất toàn thể (một là tất cả,
tất cả là một ), từ
đó sẽ không còn sợ
hãi và bất an.
Dĩ nhiên, loại triết lý
và luận lý của đức tin
tôn giáo không hoàn toàn giống
như những loại được dạy
ở trường học. Thí dụ,
loại lý luận toán học ở
trường học dạy chúng ta giải
quyết những vấn đề có
tính cách bên ngoài sao cho hợp
lý. Còn nguồn gốc sâu thẳm
ở bên trong thì lại không
được chú ý đến
hoặc nếu có thì nó cũng chỉ
đem lại những kết qủa
giới hạn mà thôi. Ngược
lại, Đạo Pháp có một giá
trị cao hơn và có tính cách bao
trùm. Nó trực diện thẳng
với những vấn đề ẩn
sâu trong nội tâm và thường
được dùng để giải
quyết những vấn đề quan trọng
trong cuộc sống như : Làm thế nào
để tìm kiếm hạnh phúc, tránh
khổ đau cho chính mình và cho
những người khác. Khi chúng ta
giải quyết những rắc rối trong
đời sống qua Đạo pháp,
chúng ta sẽ không thuần túy chỉ
đề cập đến một vấn
đề hoặc ở một khía cạnh
mà chúng ta phải khám phá ra tất
cả những liên hệ giằng co
ở sâu thẳm bên trong của toàn
thể vấn đề. Đây là
điều kiện cần phải có cho
những người nào muốn
liên tục khám phá và tìm
hiểu những lý do “tại sao”
và “thế nào” mà họ
đã thiếu sót. Kết quả là
chúng ta sẽ hài lòng hơn rất nhiều
với lối giải quyết này vì
nó ảnh hưởng đến toàn
thể những gía trị của đời
sống con người.
Làm thế nào để
áp dụng kiểu lý luận nội tâm
theo Đạo pháp? Có thể qúy vị
không được hài lòng, và
có thể sự chán ghét đang
nổi lên trong tâm của qúy vị. Thay
vì quan sát hiện tượng này
một cách thụ động hoặc bỏ qua
một bên, qúy vị hãy tự
hỏi và tìm hiểu xem cái gì
đang xẩy ra trong tâm của chúng ta,
tại đây, ngay bây giờ. Hãy
cố gắng khám phá xem tại sao anh
không hạnh phúc, anh không hài lòng
để có tình trạng chán ghét
xẩy ra. Nói cách khác, hãy tự
hỏi chính mình nếu phải làm
một điều gì, liệu tôi có tinh
tiến hay không. Phân tích như vậy
không phải là một hành động
bấn loạn thần kinh. Nhưng, đây
chính là đường lối giải
quyết vấn đề của chúng ta.
Hỏi như vậy là tạo ra
một tiến trình cho nguyên nhân
để dần dần dẫn đến
một giải pháp. Nó giống như
tiến trình thí nghiệm đi thí nghiệm
lại của một nhà khoa học để
dần dần chứng minh cho một vấn
đề mà ông ta đang nghiên
cứu. Trong lúc tạo những kinh nghiệm
nội tâm, chúng ta nên hỏi chúng ta
thật nhiều câu hỏi cho cùng một
vấn đề. Bằng cách này,
chúng ta sẽ phát triển và sẽ
trưởng thành trong tâm linh, kết
qủa là những sự khó chịu
và những bất mãn của chúng
ta đang từ từ bị loại
bỏ. Thí dụ,
chúng ta sẽ phân tích
được sự chán ghét
đang nổi dậy trong chúng ta và sẽ
khám phá ra chẳng những nguyên
nhân của nó mà cả kết qủa
của nó để chúng ta biết
cách mà hoá giải nó.
Chúng ta thường bị
đau khổ vì những tham vọng qúa
lớn hoặc bám víu chặt vào
cái gì đó. Đây là
kết qủa của những kinh nghiệm
cảm thọ “hài lòng” không
được kiểm soát, không tỉnh
thức trước kia mà bây
giờ chúng đang có liên hệ
tới đối tượng này
bây giờ. Mỗi khi cảm thọ này
nổi lên, chúng ta nên quan sát nó
và nhìn cho thật rõ cái gì
đang xẩy ra, đang dấy lên trong tâm
của chúng ta. Đây là một
điều vô cùng quan trọng để
thẩm định lý do tại sao cảm thọ
hài lòng lại sản xuất ra, lại
là nguyên nhân cho những tình
trạng khó chịu của lòng
ước muốn và tham lam. Cũng
giống như vậy, mỗi khi sầu khổ,
mỗi khi có chuyện bực mình, hãy
cố gắng khám phá xem tại sao cảm
thọ này lại tự động dẫn
đến sự thù hận, oán
hờn và ganh ghét. Đôi khi
chúng ta có những cảm thọ
không vui cũng không buồn trên một
vài sự kiện nào đó.
Những loại cảm thọ này
thường dẫn đến tình
trạng mờ mờ ảo ảo, một
tình trạng vô minh ngu ngơ làm chúng
ta không muốn để ý đến
đối tượng một chút nào.
Cả ba loại phản ứng này về
những kinh nghiệm của chúng ta, chúng
không luôn luôn xuất hiện một
cách rõ ràng, thiết thực hoặc
sống động, nhưng nó thường
xuất hiện một cách rất tế
nhị, ở thể vi tế. Là một con
người, chúng ta bị chúng chi
phối thường xuyên không
ngừng, ngay cả lúc chúng ta không
để ý đến chúng. Vì
thế, nếu chúng ta muốn huấn luyện
tâm, chúng ta cần phải mài sắc
trí tuệ của chúng ta và luôn
luôn tỉnh thức: “cái gì
đang thực sự xẩy ra ở
bên trong tâm của tôi?”
Mỗi khi chúng ta nhìn thẳng
vào bản tính của những cảm
thọ và quan sát xem chúng hoạt
động như thế nào, chúng ta sẽ
khám phá ra rất nhiều điều
thú vị. Nếu tôi tạo ra một
vài tâm trạng ở đây thì
qúy vị sẽ thấy tất cả
những rắc rối tâm lý
đều do những cảm thọ mà ra.
Khi một cảm giác vui sướng xẩy
ra thì cái tâm không thức tỉnh
của chúng ta liền bị quay cuồng,
bị đưa đẩy bởi chính
những cảm giác vui sướng này.
Khi một cảm giác khó chịu xẩy ra,
tâm chúng ta liền bị mất thăng
bằng, liền bị mất kiểm soát
và những rắc rối liền xuất
hiện tiếp theo đó. Ngay cả
những cảm thọ trung tính, không vui
không buồn, tơ lơ mơ cũng dẫn
chúng ta đến khổ đau hoặc
trở ngại. Vì chúng ta muốn bỏ
qua những gì đang phát khởi ra
ở giữa những cảm thọ này nên chúng ta
đã bỏ qua thực tính của
chúng. Kết qủa của những gì
chúng ta đã bỏ qua, đã
nhắm mắt lại trước các
hiện tượng xẩy ra lại là
nền tảng của vô minh, và nó
hoàn toàn đi ngược lại
với việc phát triển trí tuệ
giải thoát.
Như vậy tham lam, ganh ghét và
những rắc rối tâm lý khác
đúng là do cảm thọ gây ra,
nhưng thực sự ra đây mới
chỉ là một nửa mà thôi.
Những tình trạng tâm lý này
lại thay phiên nhau trở lại để
quấy rầy những cảm thọ khác
nữa. Đây chính là cái
vòng luẩn quẩn xấu xa. Cái này
là nguyên nhân của cái kia, chúng
quay vòng vòng trong tâm thức của
chúng ta không bao giờ ngừng,
chúng quấy phá cuộc đời
chúng ta và những nguồn năng
lượng của chúng ta.
Thật là ích lợi biết
bao nếu chúng ta tìm hiểu gần hơn,
sâu xa hơn về thực tính của
những cảm thọ của chúng ta.
Hãy quan sát xem cái gì đang xẩy
ra trong ý thức, trong tư tưởng,
trong tâm của chúng ta, qúy vị gọi
nó bằng bất cứ tên gì
cũng được. Đây là
một việc làm rất có gía trị,
có ai phản đối không? Chúng ta
nên tự hỏi: những phương
pháp mà giáo lý tôn giáo
dậy có hiệu quả cho việc tìm
kiếm sự bình an thật ở tâm
hồn không? Khoa học và triết học
có đi ngược lại những
phương pháp khám nghiệm này
không? Không, hoàn toàn không.
Sự thật là, nền tảng của
triết học, như tôi đã trình
bày trước kia, chỉ làm mạnh
thêm cho những ý thức phát
khởi từ nội tâm. Không có
niềm tin vững chắc đó,
chúng ta sẽ không có một câu
trả lời xác thực mỗi khi
có người nào hỏi chúng ta
về nó. Một giải quyết tinh thần
không được mập mờ,
không được lúng túng như
vậy.
Chúng ta hãy tìm hiểu
gần hơn, sâu xa hơn về bản
tính của những cảm thọ của
chúng ta. Cho dù chúng vui, buồn hay
không vui không buồn, hầu như tất
cả đều là kết quả của
những sự phân biệt sai lầm.
Sở dĩ có những sự phân
biệt sai lầm vì chúng đặt căn
bản trên những vọng tưởng
của tâm, mà những vọng
tưởng này lại luôn luôn che
mắt chúng ta, không cho chúng ta nhìn
đúng sự thật. Đây là
sự thật của bất cứ một
hiện tượng nào, dù ở
bên trong hay ở bên ngoài, dù
có sinh khí hay không có sinh khí,
dù hoạt động hay bất động.
Cảm thọ không chỉ phát khởi khi
một người phản ứng
với một người khác.
Chúng xuất hiện khi có sự liên
hệ với bất cứ cái gì
(duyên khởi). Trong hầu hết các nghịch
cảnh đều có một đối
tượng mà những cảm thọ
bị quấy rầy lại chính là chủ
nhân. Điều này cho chúng ta thấy
rằng chúng khác biệt hay tách biệt
với cái khác, ví dụ một
người nói, “Tôi ghét thằng đó,” nhưng
thực ra, một cách nào đó,
cảm thọ của anh ta đã tạo ra
đối tượng này. Vì thế
tôi muốn nói rằng đối
tượng của những cảm thọ
của chúng ta không thể gây ảnh
hưởng đến thực tính
của bất cứ một hiện
tượng bên ngoài nào. Đó
thuần túy chỉ là những
lớp sơn vọng tưởng của
một cái tâm phân biệt một cách
mù quáng mà ra.
Do đó, thực là dễ
dàng, thực là đơn giản
để đối diện, để
đối đầu với những
nguồn mâu thuẫn tinh thần có thể
xẩy ra. Chỉ cần nhớ bất
cứ cái gì đến quấy
rầy những cảm thọ nội tâm
của chúng ta đều là những ý
niệm sai lầm của tâm vọng
tưởng. Quan sát những đối
tượng này sẽ giúp chúng ta
có một cái nhìn sáng tỏ hơn
về những sự việc đang xẩy ra
mà không cần phải dùng đến
những phương pháp phức tạp
nào khác. Chỉ cần chiêm nghiệm
đời sống của chính chúng ta.
Bất cứ cái gì chúng ta đang
nhận thức, đang sinh hoạt, đang
cảm nhận, hãy chiêm nghiệm ngay xem
có phải chúng ta đang lừa
dối chính mình không. Hoặc nói
một cách chính xác hơn, hãy quan
sát xem tâm của chúng ta có đang
gán ghép, có đang phóng đại
một nhận xét không có thực cho
đối tượng mà chúng ta đang
nhận thức hay không, có thể nó
đang lừa dối chúng ta vì một
lý do mâu thuẫn và nhiễu loạn.(Nhiều khi chúng ta
nói sai sự thật cho một người
hay cho một sự kiện mà chúng ta
đã gặp vì một lý do nào
đó. --Dg)
Chúng ta thường nghĩ
rằng những rắc rối của
chúng ta là do người khác đem
lại hoặc họ chiếm mất hạnh phúc
của chúng ta. Tuy nhiên, khi nhìn sâu xa
hơn thì chẳng kiếm thấy một
kẻ thù nào cả. Từ vô
thuỷ, qua biết bao nhiêu kiếp và
từ khi sinh ra cho đến bây giờ,
chúng ta đã tự đánh
lừa chính mình qúa nhiều
rồi. Có thể chúng ta nghĩ, “
Tôi không bao giờ hành động
như vậy, tôi là một người
tốt.” Nhưng chúng ta sẽ chẳng bao
giờ hiểu được sự
thật nếu chúng ta cứ mãi nhìn
sự kiện theo chiều hướng
này. Hãy khám xét những
thái độ tinh thần của chúng ta
mỗi khi đối diện với sự
kiện và hãy tìm hiểu xem chúng ta
đã gán ghép, đã phóng
đại sai lầm cho những
người mà chúng ta đã
gặp hay cho những hiện tượng
xẩy ra trong cuộc sống như thế nào.
Hầu như lúc nào chúng ta
cũng sơn phết cho mọi vấn
đề: chúng ta tự diễn dịch
mọi hiện tượng theo lối nhìn
hạn hẹp của chính chúng ta. Chúng ta
có thể khám phá ra xu hướng
này một cách dễ dàng, không
cần phải dùng tới những
phương pháp phân tích đặc
biệt. Chỉ cần dùng luật tương
đối, sự xuất hiện rất
bình thường của sự vật,
hãy tự hỏi chính mình: “
Tôi là ai? Tôi là cái gì?”
Một vài hình ảnh về cái tôi
mà chúng ta nghĩ chúng ta sẽ là
sẽ xuất hiện ngay, nó rất
tương đối với sự thật.
Hãy tự nhìn cho thật rõ chính
mình. “Đây chính là tôi
ư? Đây thực sự là tôi
sao? Tôi luôn luôn xuất hiện như
thế này với tất cả mọi
người ư?” Khi thật sự quan
sát mình một cách vô cùng
thành thật, chúng ta sẽ nhận ra
lớp sơn kia là giả dối.
Chúng ta sẽ nhìn thấy chúng biến
mất trong sự gỉa dối. Chúng ta
sẽ khám phá ra chính chúng ta đã
bóp méo tất cả những nhận
thức của chúng ta về những
hiện tượng ở bên ngoài.
Chúng ta sẽ nhìn thấy lớp
sơn của chúng ta, một thế giới
cảm quan toàn là những vọng
tưởng sai lầm và chúng ta sẽ
nhìn ra được những cảm
thọ được khởi lên
bởi những vọng tưởng hư
ảo đưa đẩy chúng ta tới
lui giữa những hứng khởi
và tuyệt vọng. Cái vòng bất
toàn này, căn bản là hư ảo,
được gọi là luân hồi, sự nghiên
cứu và quan sát của chúng ta
chỉ cho chúng ta biết đây chỉ
là những ảo cấu của tâm
chúng ta.
Nếu chúng ta huấn luyện
chúng ta nhìn sự vật theo chiều
hướng này, chúng ta sẽ không
còn bao giờ nghĩ rằng những
rắc rối của chúng ta là do lỗi
lầm của xã hội, của quê
hương hay của cha mẹ chúng ta nữa.
Chúng ta sẽ công nhận những
vấn đề này là của tâm
chúng ta, xẩy ra ở trong tâm của
chúng ta. Để sửa soạn cho
phương pháp phân tích này,
trước nhất chúng ta cần phải
biết làm thế nào suy nghĩ một cách
rõ ràng trong sáng. Phương pháp
này giúp chúng ta biết sắp xếp
những hiện tượng khác nhau
mà chúng ta muốn nghiên cứu
học hỏi. Lại nữa, sự thật
không hiển lộ ngay lập tức, mà
tùy theo sự tin tưởng của
chính chúng ta. Có nghĩa là chính
chúng ta phải đi trên tiến trình
học hỏi này. Bởi vì chính
sức mạnh của trí tuệ không
lầm lẫn của chúng ta là lực
thúc đẩy chúng ta trong sự học
hỏi và tìm hiểu này, nó sẽ
cho chúng ta rất nhiều năng lực
để chúng ta kiểm soát cuộc
đời của chúng ta.
Không có gì nguy hiểm khi
chúng ta chấp nhận khảo nghiệm
đời sống hàng ngày của
chúng ta bằng chính những kinh nghiệm
của chúng ta. Không có gì lừa
dối và hướng dẫn sai lầm
trong triết lý thực hành này.
Chúng ta sẽ nhìn ra được
tất cả những rắc rối tinh
thần của chúng ta, chúng đều
được tạo ra bởi lớp
sơn vọng tưởng của thế
giới cảm quan. Vì bị u mê
bởi ảo vọng, chúng ta đã
phán đóan sai lầm cái này
tốt cái kia xấu. Nhưng thế
giới ảo tưởng không phải
là thế giới của con người.
Nó là thế giới của ai?
Chúng ta hãy tự khám nghiệm
lấy! Cái nhìn của tôi về
“California” không phải là cái
nhìn của người khác. Đây
là lý do tại sao Phật giáo giám
mạnh dạn mà nói rằng, tất cả
những hiện tượng đều do tâm
của chính chúng ta tạo ra. Lời
nói này là một sự thật,
ý nghĩa cốt tủy của nó
không thể phát sinh bởi những
kẻ đạo đức giả hay
bởi một cái tâm bị ô
nhiễm. Chúng ta nên khám nghiệm và
tự kinh nghiệm lấy bản tính
huyễn ảo trong những vọng
tưởng của chúng ta. Chỉ bằng
cách này chúng ta mới có
thể khám phá ra sự thật đang
nằm sâu ở bên trong.
Truy tìm, khám nghiệm chính
là thực hành. Thiền định
không có nghĩa là ngồi yên trong
một góc nào đó mà không
làm gì cả. Hoàn toàn không
phải như vậy. Không cần biết anh
đang làm gì, cũng chẳng cần biết
anh thuộc môn phái nào, anh có thể
khám nghiệm bất cứ lúc nào,
phải không? Đây là một việc
có thể làm được ở
bất cứ lúc nào, ở bất
cứ đâu.Thật là vô cùng
sai lầm khi nghĩ rằng thiền định
của Phật giáo chỉ dành cho
những kẻ lười biếng,
không muốn làm gì cả. “ Tất
cả những thiền gỉa chỉ là
những người ngồi không,
ăn, ngủ và đi cầu !”
Những người không hiểu
biết có thể nghĩ như vậy, một
số thiền gỉa cũng có thể
nghĩ như vậy. Nhưng những vị
chân thiền giả là những
người hoàn toàn chịu trách
nhiệm về tất cả con
đường tinh tiến và phát triển
của họ. Họ không sợ bất
cứ gì nên cũng chẳng cần
phải dấu diếm điều gì trong
một góc nhà nào đó.
Đức Phật không dậy thiền
như vậy. Sự hiểu biết nông
cạn và bất hảo về Đạo
pháp hay về tôn giáo có thể
là nguyên nhân dẫn đến
sự bất toàn và xa rời
sự thật. Sự chân thành thiền
định là một sự thực
hành nghiêm chỉnh, một sự
đối chất ngay thẳng để phá
tan lớp mây mờ ảo vọng
mà tiến đến trái tim của
chân tính.
Hãy nhớ rằng cảm
thọ bao gồm luôn cả những cảm
xúc. Chúng có thể là những
cảm thọ tinh thần, có thể là
những xúc động hay ngay cả
những niềm tin nhảm nhí. Tất
cả những hiện tượng đang
diễn ra đều là đối
tượng của cảm thọ. Tuy nhiên hầu
như trong mọi lúc chúng ta chẳng
biết chúng ta đã cảm nhận
chúng như thế nào. Đó là
lý do tại sao chúng ta hãy luôn
luôn quay vào trong mà kiểm soát
chính mình. Bằng cách này chúng
ta sẽ từ từ phát triển
được trí phân biệt tối
thượng. Với trí tuệ phân
biệt này, chúng ta có khả năng
kiểm soát được những
cảm thọ không trong sáng và
những cảm thọ rối loạn để
giải thoát chúng ta khỏi vòng
cương tỏa của chúng.
Người ta thường
nói: “Đừng phân biệt !
Phân biệt là nguồn gốc mọi
rắc rối .” Tuy nhiên, chúng ta
đều biết thế giới này
luôn có hai ý nghĩa khác nhau. Sự
phân biệt sai lầm phát khởi khi
lớp sơn huyễn ảo của tâm
vọng tưởng nhầm lẫn về
chân tính, nó làm chúng ta nghĩ,
“Tôi thích cái này,”
“Tôi ghét cái kia,” “Oâng ta
đúng,” “Cô ta sai,” ...vân
vân... Những phản ứng này tuyệt
nhiên không có gì liên hệ
đến chân tính nên loại phân
biệt này hoàn toàn là giả
dối, lường gạt.
Nhưng loại phân biệt
đúng đắn lại là bản
tính của trí tuệ. Nó biết
cái gì là sự thật và luôn
luôn giúp tâm chúng ta hoạt
động một cách trong sáng. Nếu
không như vậy, sự vật sẽ luôn
xuất hiện một cách lung tung lẫn lộn.
Ngay ở trong bình diện thế tục,
trí phân biệt này cũng cần
thiết, nếu không có nó làm sao
chúng ta có thể chuẩn bị được
bữa cơm trưa nay. Nếu chúng ta
nghĩ, “Tôi đã thoát ra khỏi
mọi sự phân biệt, tôi có thể
trộn tất cả mọi thứ vào
cái bát này,” như vậy bữa
ăn của chúng ta sẽ tệ lắm
phải không qúy vị?
Vậy, để nhìn sâu
vào những thái độ tinh thần
của chúng ta, để khám phá xem
cái gì mạnh mẽ, cái gì cần
được kiểm soát, dĩ nhiên
chúng ta cần sự phân biệt. Nếu
không, ai sẽ kiểm soát chúng ta?
Ví dụ như khi chúng ta đi sâu vào
thiền định, một phần tâm của
chúng ta nên ở bên ngoài
để chú ý theo dõi những
giá trị của thiền định. Nó
phải quan sát xem các sự kiện
có tiến triển đúng hay không?
“ Các nguồn năng lượng có
đi đúng hay không?” “ Tôi
có bỏ rơi đối tượng
của thiền định không?” Nếu
chúng ta không làm như vậy, cái
tâm không được kiểm soát
của chúng ta sẽ đi lang thang lung tung trong
hàng ngàn hướng khác nhau.
Rất nhiều người nghĩ rằng
thiền định sâu có nghĩa là
tâm không còn biết phân biệt
gì nữa cả. Không bao giờ
chúng ta được rời xa
sự chú tâm. Không cần biết
chúng ta đang làm gì - kiểm
chứng một điểm nào đó
trong Đạo Pháp, cố gắng nhất
tâm thiền quán, thực hành sâu
xa hay đắm chìm trong đại trí --
thì sự thiền định và
sự chú tâm trong vấn đề
đó cũng phải đồng
điệu hoà nhập với nhau.
Đây là điểm vô cùng quan
trọng và thực sự có gía
trị để giữ cho sự tỉnh
thức luôn luôn có ở tâm
của chúng ta.
Hãy thử nghĩ xem, chúng ta
đã tiêu hết bao nhiêu năng
lượng cho các siêu thị.
Đứng trước bức tranh
quảng cáo chiếc răng trắng long lanh
của hãng bán thuốc đánh
răng, hình như chúng ta đã
phải dùng trí lực để so
sánh chọn lựa mua cái nào cho
đúng, “Tôi có nên mua cái
này không? Có lẽ loại kia
mới tốt. Cái nào rẻ hơn?
Hộp kia trông hấp dẫn hơn...vân
vân....” Hao tốn qúa nhiều năng
lượng! Khi đứng trước
những đối tượng hào
nhoáng không thể quyết định, hãy
tự hỏi cái nào thực sự
đem đến sự thoải mái cho
chúng ta:
những món hàng trong siêu thị
hay sự hiểu biết của tâm? Siêu
thị chỉ đem lại những thoải
mái giới hạn và nhất
thời. Nhưng sự hiểu biết
sâu xa của trí tuệ sẽ đem lại
sự thoải mái
lâu dài và sự an lạc vĩnh
cửu. Đây là một sự thật.
Nói xa hơn nữa, không ai có
thể phá hoặc quấy rầy sự
hạnh phúc mà chúng ta có
được từ trí tuệ,
bởi vì nó ở trong này, trong
tâm của chúng ta. Chỉ cần chúng ta
biết huấn luyện, biết tu tâm thì
sẽ không bao giờ xa rời niềm
hạnh phúc này.
Chúng ta có rất nhiều
cơ hội, có rất nhiều may mắn
để thực hiện sự thật
này trong đời sống hàng
ngày của chúng ta. Nhưng trước
khi chúng ta chấp nhận sự thực
hành Đạo Pháp, thực hành
một giáo lý tôn giáo hoặc
bất cứ một hình thức văn
hoá nào, chúng ta nên suy nghĩ và
quyết định một cách vô cùng
sáng suốt, nó có thực sự
đem lại hạnh phúc cho cuộc
đời của chúng ta không.
Chúng ta có thực sự tin rằng
chúng ta có thể tìm được
hạnh phúc trong những mê hoặc
của ước muốn trần gian không,
hay chúng ta lại phải tìm kiếm sâu
xa hơn nữa cho sự viên mãn
trường cửu? Nếu chúng ta
không phân biệt được và
không thể thông suốt được
vấn đề này thì sự chọn
lựa con đường đạo --một
tôn giáo hay bất cứ gì--chỉ
là một việc làm mù quáng mà
thôi. Con đường phát triển
tâm linh chỉ tinh tiến rất hạn hẹp
nếu không có một căn bản cốt
tủy nằm sâu trong cá tính của
chính chúng ta. Sẽ chẳng có một ơn
ích nào phát khởi trong tâm
chúng ta vì nó vẫn còn bị che
phủ bởi một lớp mây mù
và những cảm thọ đầy
mâu thuẫn. Vậy, chúng ta cần phải
nhìn vào bên trong, trong sâu thẳm
tâm thức của chúng ta xem cái
gì mới thực sự tốt
nhất cho chúng ta, hãy cố gắng
khám phá ra bản tính chân thật
của tâm chúng ta.
Cám
ơn qúy vị nhiều lắm.
4. VỌNG TÂM PHÁT SINH NHƯ THẾ
NÀO
Mục đích của
thiền định là để có
trí tuệ hầu chấm dứt tất
cả những ảo tưởng và u
mê. Trước tiên, sự chấm
dứt này tùy thuộc vào ta có
nhận ra được đặc tính
và sự làm việc của vọng
tâm hay không. Thêm vào đó,
cần phải hiểu rằng có rất
nhiều yếu tố khác nhau ảnh
hưởng đến sự phát sinh
một tâm huyễn ảo.Theo quan niệm này,
Je Tsongkhapa (
Đại Lạt Ma của Tây Tạng sống
vào thế kỷ 15, Ngài sáng lập ra
các truyền thống tu tập Lamrim và Ngagrim
--Dg) liệt kê sáu
yếu tố, sáu động lực có
ảnh hưởng mạnh đến việc
phát sinh ra ảo tưởng: (1) nghiệp
lực, (2) đối tượng, (3) ảnh
hưởng của xã hội, (4) tuân theo
những lời dậy bảo sai lầm, (5)
thói quen và (6) do những ý niệm sai
lầm.
Nguyên nhân cốt tủy phát
sinh ra vọng tâm là những dấu
ấn của nghiệp lực đã
để lại trong tiềm thức của
chúng ta bởi những hành động
không tinh khiết trong qúa khứ. Vì
những hành động trước kia
đã được hoàn thành trong
vô minh, được điều
động bởi lòng tham lam, sân hận
hoặc do muôn vàn những ảo vọng
khác; có qúa nhiều dấu ấn -
hạt giống của nghiệp - đã
được trồng trong tâm của
chúng ta. Mỗi khi gặp điều kiện
thích hợp, những hạt giống
này nảy mầm là vọng tâm lại
phát sinh.
Chính đối tượng
là yếu tố thứ hai giúp cho
sự nảy mầm này. Mỗi khi
đối tượng đến gần ta
cộng với nghiệp đã có
sẵn trong tâm ta là, bang! ảo
tưởng phát sinh, vọng tâm thành
hình. Thí dụ, một việc
thường xẩy ra là khi chúng ta
đi mua sắm, đi shopping. Đối
tượng (hàng hoá) sắp sẵn
trên kệ, chúng đập vào mắt
ta, ngay trước khi chúng ta chưa kịp
nhận diện được cái gì
đang xẩy ra thì tâm của chúng ta
đã bị chìm đắm trong
đối tượng. Chúng có thể
ẩn sâu trong nhiều ngõ ngách và
rất khó phân biệt đâu là
tâm và đâu là đối
tượng ham muốn; tay của chúng ta
đã tự động cho vào túi
lấy tiền để mua, có khi còn
chưa kịp nhận ra chúng ta đang làm
gì. Thật là đơn giản, phải
không qúy vị? Vậy, mỗi khi chủ
thể (tâm) có liên hệ với
đối tượng là ngay lập
tức ảo vọng bùng nổ như một
trái bom nguyên tử.
Ở Tây phương cái
gì cũng xôi động, cũng nhanh,
cũng được phóng đại ra
nên cái vọng tâm càng hoạt
động nhiều hơn nữa. “Hãy
nhìn đây, thật là tuyệt hảo !
Thật là vĩ đại !” Kỹ thuật
quảng cáo qúa tinh vi qúa hấp
dẫn và được dùng
thường xuyên đến nỗi khi
chúng tôi muốn trình bày về
thiền, chúng tôi cũng phải quảng
cáo, “ Thiền định thật là
tuyệt vời! Tâm của chúng ta
thật là lạ thường! Kính
mời qúy vị đến tham dự
buổi thuyết trình để học hỏi
về chúng.” Hình như văn hoá
của Tây phương qúa nhiều
đối với tôi.
Đức Phật đã cho
chúng ta một cái tên thật là
đơn giản cho vấn đề này.
Ngài gọi cõi giới mà chúng
ta đang sống là “cõi dục”,
thế giới của dục vọng. Thật
là rõ ràng và dễ hiểu tại
sao Ngài lại gọi nó như vậy. Thế
giới của dục vọng -- dục vọng
là ở đây! Mỗi khi tâm
vọng tưởng tiếp xúc với
vật được ham muốn là ngay
lập tức nó bị hướng dẫn
vào u mê, vào say đắm, đã
u mê lại càng u mê hơn. Đó
là lý do tại sao Milarepa ( đại thiền giả,
đại thi sĩ của Tây tạng sống
vào thế kỷ thứ 11-- Dg) đã vào hang
cốc để ở. Ngài đã
biết mỗi khi tâm vọng tưởng
tiếp xúc với vật
được ham muốn là ngay lập
tức nó không còn
được kiểm soát nữa.
Đó là lý do ngài cho rằng
tốt hơn nên tránh tất cả
những tiếp xúc cho tới khi
tâm đã được hoàn
toàn thanh tịnh.
Đối tượng làm
nguyên nhân cho sự khởi phát
một tâm vọng tưởng chắc
chắn phải có sự liên hệ
với nghiệp lực. Đây là
lý do mà chúng được gọi
là “vật liên hệ, sự kiện
liên đới.” Thí dụ, có
thể chúng ta đã có một nghiệp
lực liên kết nào đó
ở trong tâm của chúng ta, nghiệp
này được đánh thức
bởi những ham muốn, nhưng lại
không được đánh thức
bởi những gía trị mâu
thuẫn hoặc khác biệt với nó.
Như vậy là chủ thể tâm
đã có sự ràng buộc về
nghiệp với đối tượng.
Nếu không có sự tiếp xúc
(duyên) với đối tượng
thì chủ thể ảo tưởng không
thành hình .
Yếu tố thứ ba
được Lạt ma Tsongkhapa nói
đến là những sự ảnh
hưởng từ bên ngoài. Tính
tiêu cực, sự sai lầm của
những người chung quanh là nguồn
gốc của ảo vọng. Những
người chúng ta quen biết, những
người chúng ta tiếp xúc hàng
ngày thường đem đến cho
chúng ta những lầm lạc, những
tin tức không đúng sự thật.
Do đó, khi tiếp xúc với bạn
bè hay thân cận với bất
cứ một người nào cũng
phải vô cùng thận trọng. Thí dụ,
nếu tất cả những người
chung quanh chúng ta đều say sưa
rượu chè thì chúng ta cũng
bị ảnh hưởng không ít thì
nhiều. Nếu chúng ta có đủ
lực để kiểm soát tâm thì
sẽ bị ảnh hưởng ít, nếu
không chúng ta cũng sẽ buông xuôi
trong một sớm một chiều.
Thật khó mà giữ
được sự kiểm soát lâu
dài đối với những ảnh
hưởng mãnh liệt. Nếu chúng ta
thật tình muốn khám nghiệm
đời sống chúng ta, tôi tin
chắc rằng chúng ta sẽ tìm ra rất
nhiều những thí dụ loại này.
Sự ảnh hưởng này không có
giới hạn cho cả bạn xấu cũng
như bạn tốt. Trong cuộc đời
của chúng ta, chúng ta gặp rất
nhiều “những loại thầy”
này, họ toàn là những
người cung cấp thêm ảo
tưởng cho chúng ta. Do đó, phải
rất thận trọng khi chung sống với
những người chung quanh, họ phải
là những người cho chúng ta
những rung động đúng,
những rung động của trí tuệ.
Còn không, cả đời sẽ
chỉ tiếp xúc với ô nhiễm,
với những làn sóng lầm
lạc, u mê. Điều này không có
nghĩa là chúng ta phải hoàn toàn
buông bỏ tất cả những
người bạn xấu hoặc ghét họ
hay nghĩ xấu cho họ. Không, hoàn
toàn không nên có phản ứng
như vậy. Hãy luôn luôn phát tâm
từ bi. Chúng ta nên nhớ rằng
chúng ta cũng đã bị ô
nhiễm; chúng ta không nên đỗ
lỗi cho bất cứ ai. Sự ảnh
hưởng của họ chỉ làm cho ô nhiễm
càng ngày càng dầy thêm mà
thôi.
Tâm của người Tây
phương thật hấp dẫn, thật lạ
lùng. Nó rất thực tế, nó
nghi ngờ tất cả mọi thứ.
Đây có thể là phong cách
tốt, ngay cả với những sự
kiện sai sự thật. Nhưng, tâm của họ
cũng thật xa thực tế. Nếu nó
nhìn ra được một sự kiện
tốt, một hình ảnh đúng
ở bên cạnh thì nó sẽ
không ngần ngại gì mà không
chấp nhận ngay toàn thể vấn
đề là tốt. Thái độ
này rất nguy hiểm. Họ nhận xét,
tất cả những nền triết lý,
giáo điều của các tôn giáo
ít ra nó cũng có điểm tốt.
Ngay cả một kẻ xấu nhất trần gian
cũng có một cái gì đó
tốt ở trong họ. Do đó, một
cái tâm chạy lung tung không
được kiểm soát khi nó tìm
ra được một điểm nào
tốt, nó liền vồ chụp ngay lập
tức, hành động này chẳng
đúng chút nào.
Tôi không hiểu tại sao, nhưng
hình như tâm của người Tây
phương pha trộn nhiều thứ; nó pha
trộn rất nhiều hương vị khác
nhau thành ra nó rất hấp dẫn. Xin
qúy vị thử khám nghiệm xem nhận
xét này có đúng không. Trong
bất cứ trường hợp
nào, thái độ này cũng có
thể gây ra rắc rối hoặc phiền
toái. Thí dụ, có thể anh đang
chú tâm lắng nghe một người
đang diễn tả một tư tưởng
mà thực ra nó hoàn toàn sai
lạc. Anh nghĩ, “Chẳng cần biết
họ nói đúng hay sai nhưng nó
thật hấp dẫn. Hãy cứ
để ông ta nói thêm đi.”
Tôi cho rằng tâm của người
Tây phương như vậy -- một sự
hiếu kỳ lạ thường và sẵn
sàng nghe bất cứ gì. Nhưng
thực ra, mỗi một ý niệm sai lầm,
mỗi một tin tức sai lạc mà
chúng ta chấp nhận theo kiểu này,
đều làm cho tâm vọng
tưởng của chúng ta mỗi dầy
thêm. Đó là lý do tại sao
tôi cho rằng thái độ này vô
cùng nguy hiểm.
Tất cả những liên hệ
đến yếu tố thứ tư làm
nguyên nhân cho sự phát sinh một cái
tâm vọng tưởng là nghe theo
những sự dạy bảo sai lạc.
Yếu tố này khác với yếu
tố trước, yếu tố thứ
ba, là nó đặc biệt chú trọng
đến sự chọn lựa ai và
cái gì có ảnh hưởng xấu
đến chúng ta. Yếu tố thứ ba
đề cập một cách tổng quát
đến kiểu sống của chúng ta,
đến hoàn cảnh sống của
chúng ta. Tuy nhiên, yếu tố thứ
tư đề cập đến sự tin tưởng
đặc biệt vào một vị thầy
rồi lắng nghe và tuân theo những
ý niệm sai lầm mà ông ta giảng
dạy.
Thí dụ, trong thời
Đức Phật Thích Ca sống có
một người đã dùng một
phương pháp rất quái đản
để tìm giải thoát, ông ta đi
gặp một vài vị thầy. Thầy của
ông bảo ông hãy đi giết một
ngàn người rồi lấy
những ngón tay mà làm xâu
chuỗi, “Khi nào xong việc, anh hãy
trở lại để nhận bài học
khác.” Người đàn ông
này tên là Angulimala, tin tưởng
vào lời dậy bảo của thầy,
đã giết đến 999 người
trước khi gặp Đức Phật,
Phật chỉ cho ông cách thực hành
Đạo Pháp chân thật. Do đó
ông đã vô cùng hối hận
và sầu khổ vì sự tin
tưởng mù quáng của mình.
Những lời dậy bảo,
về bất cứ loại nào,
đều có thể rất hấùp
dẫn. Nhưng khi con người đi tìm
sự thích thú ở sự vật
thì thường thường
đó chỉ là lòng ham muốn, mong
cầu. Điều này thấy rất
rõ ở những đứa
trẻ. Trước khi những
đứa trẻ Tây phương đi
ngủ chúng thường được
cha mẹ chúng đọc cho nghe những
câu chuyện. Phải đúng như vậy
không qúy vị? Những câu chuyện
nghe thật hay, thật hấp dẫn, nhưng hầu
như toàn là chuyện vớ vẩn.
Trẻ con rất nhậy cảm và thích mơ
mộng theo chuyện thần tiên. Chúng tin
những chuyện đó là có
thật và dĩ nhiên chúng
được in sâu vào trong tâm
khảm. Phần nhiều các bậc cha mẹ
không để ý đến điều
này, họ thường nghĩ, ”Không
sao đâu, miễn là chúng thích
và ngủ đi là được
rồi.” Họ không biết cái hậu
qủa gì đang diễn tiến trong tâm
trí của đứa trẻ, cái hậu
qủa gì đang sản xuất ra trong tâm
của chúng. Điều quan trọng là
chúng ngủ càng nhanh càng tốt
để cha mẹ được rảnh rỗi,
để cha mẹ được ngủ
yên, đừng quấy rầy là
tốt rồi. Nhưng điều này
chẳng đúng một chút nào.
Thật là chẳng tốt lành một
chút nào khi cho con mình một mớ
kiến thức rác rưởi. Chỉ
cho con mình thêm ảo vọng và làm cho
tâm vọng tưởng của chúng
càng ngày càng dầy thêm.
Dĩ nhiên, nếu chúng ta
là người có trí tuệ,
chúng ta đọc bất cứ tư
tưởng rác rưởi nào
cũng không bị ảnh hưởng.
Chúng ta có thể nghiệm ra điều
này mà không cần phải giải
thích thêm. Không có chuyện gì
xẩy ra. Nhưng khi chúng ta qúa ham thích,
quá ước ao --”Thích quá,
thích quá, kể nữa đi !”
thì nó lại in rất sâu vào
tâm của chúng ta. Đây là một
điều vô cùng thiếu sót của
trí phân biệt, nó không biết
phân biệt rõ ràng cái gì
tốt cái gì xấu. Chúng ta
đã thu nhận tất cả mọi
thứ mà không cần biết
đúng sai, chúng ta đã không
có óc nhận xét.
Các loại thu nhận khác
cũng y như vậy. Thu nhận qúa nhiều,
nhưng không dùng được, toàn
là rác rưởi, không biết
phân biệt cái gì lợi cái
gì hại. Hầu như
tất cả các sản phẩm văn
hóa của người phương Tây
như sách vở, báo chí, phim ảnh,
truyền thông ...vân
vân... đều có khuynh
hướng sản xuất thêm, tạo
thêm sự ham muốn và u mê.
Dĩ nhiên,
cũng có những điểm ngoại
trừ trong một số phim ảnh. Nhưng
hầu như tất cả đều
được sản xuất ra theo thị
hiếu, theo sự ham thích của con
người, theo cái gì mà tâm u
mê đòi hỏi ---tất cả
đều chạy theo lòng ham muốn của con
người. Các nhà sản xuất
loại phim ảnh này, sách vở
này đều hiểu thấu tâm lý
của con người. Họ biết rất
rõ cái gì mọi người đang
muốn, đang mê và cái gì sẽ
làm cho con người càng ngày
càng đi vào cảnh mê mờ
ảo vọng hơn là những cái
họ đã là.
Tóm lại, tất cả
những ý niệm sai lầm và tất
cả những tin tức sai lạc là
những nguyên nhân đem lại ảo
tưởng, vọng tưởng cho tâm
nếu tâm thiếu một trí phân
biệt sáng suốt. Thí dụ, chúng ta
đã nhận qúa nhiều tin tức
từ các máy truyền hình, nó
đã khích cho chúng ta trở nên
hăng say, háo hức. Đôi khi nó
hấp dẫn đến độ chúng ta
phải đi ngay, phải vội vã kẻo hết!
Vậy, tất cả những tin nào
khích động chúng ta thêm hào
hứng, thêm hăng say, chúng ta càng
nên tránh, càng phải đề
phòng.
Yếu tố làm tăng thêm
sức mạnh cho huyễn ảo chính là
các thói quen của chúng ta. Thói quen
được tạo ra như thế này:
trong một lúc nào đó chúng ta
có được một kinh nghiệm
với một vật hoặc một sự
kiện, khi chúng ta gặp lại đối
tượng giống như vậy, chúng ta
lặp lại kinh nghiệm thứ nhất,
rồi mỗi lần lặp đi lặp lại
làm cho hành động này tăng
thêm sức mạnh trong ký ức, in
sâu hơn vào tiềm thức, cho
tới một ngày chúng trở
nên mạnh đến độ có thể
ảnh hưởng đến tất cả
những suy nghĩ và những
tưởng tượng của chúng ta.
Thói quen xây đắp những
thành trì vững chắc đến
nỗi khi một hiện tượng xẩy ra
gần giống như vậy là tâm của
chúng ta liền tự động chạy theo
ảo tưởng. Có những
người trở nên rất mẫn cảm,
u mê và say đắm những loại ảo
vọng này đến nỗi họ không
lúc nào quên được. Tại sao
nó lại xẩy ra như vậy? Tại vì kinh
nghiệm đã được lặp đi
lặp lại rất nhiều lần làm cho
dấu ấn trong tiềm thức càng
ngày càng dầy thêm, đậm
thêm. Tâm chìm sâu trong sự tích trữ
kinh nghiệm, bồi bổ thêm cho ảo
tưởng. Họ không thể ngủ
nếu thiếu những ảo ảnh này
xuất hiện trong những giấc mơ
của họ. Tôi tin chắc rằng tất
cả chúng ta đều có kinh nghiệm
về những hiện tượng này.
Nếu những thói quen được
lặp lại thường xuyên và khi
những dấu ấn đã đủ
mạnh là chúng ta sẽ trở nên
gắt gỏng nóng giận ngay.
Đôi khi đối
tượng huyễn ảo còn tự
nó in sâu vào trí tưởng
tượng của chúng ta. Thí dụ,
bên Tây phương, khi người ta
đã trở thành bạn trai bạn
gái với nhau, người ta thề
thốt, ” Xin đừng quên anh/em! Hãy
nhớ anh/em luôn nghe. Nếu anh/em quên
em/anh, có nghĩa là anh/em không còn
yêu em/anh nữa.” Đó là
lý do tại sao chúng ta không có
tự do. Chúng ta có thể thấy
rất rõ chúng ta không có tự
do, bởi vì chúng ta đã bị
sở hữu bởi đối
tượng.
Yếu tố thứ sáu
là những ý niệm, chúng ta
đã có sẵn những ý niệm
trong tâm khảm, chúng đã rất
hấp dẫn trước khi đối
tượng xuất hiện. Khi nhớ
về một vấn đề gì, chúng ta
đã có sẵn một phán
đoán về nó: “ Cái này
tốt lắm! Nó thật là tuyệt!
Nó tốt như thế này, nó
hoàn hảo như thế kia, nó thế
này nó thế kia....” Chúng ta ca tụng
giá trị của nó qúa đáng so
với giá trị thực của nó.
Đó chính là sản phẩm của
một ý niệm sai lầm.
Thí dụ, khi chị có bạn trai
là chị đã bị lệ thuộc.
Chị sẽ thấy dáng đi của anh ta
hấp dẫn, thân hình của anh ta tuyệt
đẹp. Cái gì từ anh ta cũng
đáng ca ngợi, ngay cả khi anh ta làm
cái gì xấu thì cái đó
cũng là nguồn hạnh phúc của
chị. Vì chị chỉ chú trọng
đến sự hấp dẫn của anh ta
nên những hình ảnh tiêu cực
về anh ta đều bị loại bỏ.
Tâm của chị sẽ làm
việc như vậy cho đến một ngày
nào đó người bạn trai
này nói xấu chị, không làm
chị thỏa mãn,
chị mới bắt đầu
đổi thái độ. Lúc đó
chị sẽ nghĩ, “Anh ta chẳng tốt
chút nào.” Rồi tâm của chị
chỉ chú ý vào ý tưởng
này “Không tốt, không tốt,
thằng đểu....” tất cả
những gì tốt ở anh ta bắt đầu
xuất hiện ngược lại; anh ta không
còn có gì hấp dẫn chị
nữa. Chúng ta thấy hiện
tượng này rất rõ, phải
vậy không qúy vị? Tâm vọng
tưởng của chúng ta làm việc
không thể tưởng tượng
nổi. Trước tiên, một đối
tượng xuất hiện một cách
hoàn toàn tích cực (tốt) rồi
nó chuyển thành tiêu cực
(xấu). Nhưng tôi nghĩ rằng không
có một cái gì, không có một chúng
sinh nào hoàn toàn tích cực
cũng như hoàn toàn tiêu cực
cả. Tất cả mọi sự đều
có tốt có xấu. Chỉ có cái
tâm chấp hữu mới nhìn
sự vật hoặc trắng hoặc đen,
chỉ có cái tâm bám víu
mới nhìn sự vật hoặc xấu
hoặc tốt. Tây phương có câu
châm ngôn: “ Anh chỉ nghe cái gì anh
muốn nghe.” Câu này diễn tả
rất đúng trạng thái của tâm,
câu này chính là ngôn từ
của Đạo Pháp. Nó diễn tả
thật sát nghĩa những gì mà
chúng ta đang hội thảo.
Chỉ nhìn cái gì nó
muốn, rồi, luôn luôn diễn dịch sai
sự thật. Cái lối nhìn một
chiều về sự kiện của nó
làm chúng ta mất trí phán
đoán. Đồng thời chúng ta
cũng nhìn nó như là tự
nó xuất hiện, tự nó có
mặt ở đây (quên mất yếu
tố duyên khởi, cái này có
thì cái kia có, cái này diệt
thì cái kia diệt -- Dg) Chúng ta cho rằng
tự nó đến với chúng ta
và nó luôn luôn như vậy, không
bao giờ thay đổi. Chúng ta
đã qúa sai lầm khi nhìn sự
vật theo kiểu này và đây
chính là lối nhìn của tâm
vọng tưởng mà ra. Thay vì nhìn
như thế, chúng ta hãy nhìn sự
vật, nhìn sự kiện, nhìn hiện
tượng như nó là, chúng
xuất hiện như vậy, thế thôi,
chứ không phải xuất hiện theo
ý kiến riêng của chúng ta.
Thực sự chúng ta đã không
biết cái gì đã xẩy ra. Hãy
chỉ nhìn sự vật như nó là.
Tâm vọng tưởng nhìn sự
vật một cách bao giàn hơn là nhìn
“nó là như vậy”. Sự vật
vô thường thì vọng tâm lại cho
là thường hằng, sự kiện
luôn biến đổi lại
được nhìn như không bao
giờ thay đổi. Những hiện tượng
gây khổ đau lại luôn
được chấp nhận đem lại
hạnh phúc. Chúng ta luôn luôn nhìn
sự vật một cách sai sự thật,
chúng tự có và tự xuất
hiện.
Lạt ma Je Tsongkhapa cho chúng ta biết
tiến trình bám víu vào sự
kiện, chấp vào sự vật như vậy
sẽ làm chúng ta đi xa thực
tế, đi xa sự thật. Nó hoàn
toàn không có liên hệ gì
đến hiện tính của sự vật.
Chúng ta chấp vào sự vật,
chúng ta nhận thức sự vật,
rồi chúng ta tin tưởng rằng
chúng phải xuất hiện theo một cách
nào đó mà chúng ta muốn
nhưng kết qủa là ảo tưởng
của chúng ta lớn dần. Tâm
vọng tưởng của chúng ta càng
ngày càng trở nên dầy hơn,
mạnh hơn. Nhận xét này đưa
chúng ta trở về một quan niệm
mà chúng ta đã nói đến
trước kia: bất cứ cái gì
xuất hiện --tốt xấu, thiên
đàng địa ngục, luân hồi niết
bàn...-- cũng đều là sản
phẩm của tâm, đều là sự
thị hiện của tâm. Khi tâm bị bao
phủ bởi u mê, bởi vô minh
thì tự nhiên nó sẽ đưa
đến đau khổ. Vì thế,
để thoát khỏi khổ đau,
điều vô cùng quan trọng là
phải hiểu thấu đáo cả hai
đăïc tính tự nhiên của vọng
tâm và những yếu tố phát
sinh ra nó cũng như sự tăng
trưởng của u mê mù quáng.
Hãy đặc biệt quan tâm và
thực hành thiền định trên
sáu động lực này. Nó thật
sự có gía trị. Sự hiểu
biết của chúng ta chính là
sức mạnh làm cho tâm trở
nên ngay thẳng. Nếu không như vậy
thì không còn một cách nào
khác hơn có thể giúp chúng ta
thoát khỏi những ảo vọng và
mê lầm.
5. TÌM HIỂU ĐAU KHỔ VÀ
KIỂM SOÁT TÂM
Mục đích của
những bài giảng về Đạo
Pháp là để giúp chúng ta
nhận ra được những
điểm sai lầm trong từng hành vi,
trong từng hành động của chúng
ta và tìm cách giải quyết
những vấn đề trong cuộc sống.
Đó là lý do quý vị
đến đây để nghe và
cũng là lý do tôi đến
đây để nói. Nhưng Đạo
Pháp chỉ thực sự có gía
trị khi người thầy chính là
một thí dụ sống động cho
những gì ông ta giảng dậy.
Đáng tiếc thay tôi không
đáng được qúy vị
tôn kính như vậy. Tôi không biết
gì về Đạo Pháp vì tôi
cũng ăn, uống, bài tiết và
ngủ như qúy vị. Nhưng tôi
được may mắn học hỏi
từ những vị đã ngộ
đạo nên tôi chỉ xin tường
trình với qúy vị những
gì tôi đã học hỏi
được. Vì thế những
bài giảng này có giúp ích cho
qúy vị hay không lại do những
nguyên nhân khác.
Hiểu được mục
đích của Đạo Pháp là
một điều vô cùng quan trọng.
Tại sao chúng ta thiền, tại sao chúng ta
theo con đường tâm linh, tại sao
chúng ta lại muốn sống một
đời sống đạo? Chỉ vì
chúng ta mong muốn một cái gì khác
với những sinh hoạt thường
ngày. Nếu không vì mục đích
đó, chúng ta không cần phải tham
dự những buổi diễn giảng
này.
Tất cả những tôn
giáo, triết học, hệ thống đạo
đức...vân vân... trên thế
giới đều có những tên
khác nhau và hoàn toàn có những
phương pháp giảng dậy khác nhau.
Nhưng dù khác nhau chúng đều
có chung một nguyên lý, một mục
đích. Nếu tất cả những
hệ thống tư tưởng này có
giá trị, thì nó phải quan tâm,
nó phải làm dịu đi những
đau khổ tinh thần và vật chất
của muôn loài chúng sinh. Nó phải
cung cấp những giải pháp thâm
sâu hữu hiệu để xoá tan
đi những nỗi thống khổ của
nhân loại. Bởi vì tất cả
những phương pháp hiện có
chỉ chú trọng đến sự giải quyết
bên ngoài, chúng đã cho chúng ta biết
không có một chút hiệu qủa
nào.
Từ khi có sự sống
xuất hiện trên qủa đất này,
tất cả những tư tưởng
lớn của cá nhân hay của
đoàn thể đã nỗ lực
không ngừng để cải tiến
những điều kiện sinh sống của
chúng ta. Ngay hiện tại, ở mỗi
quốc gia trên thế giới đều
có rất nhiều hoạt động của
các tổ chức nhắm vào việc
cải tiến nhân sinh. Mặc dù rất
nhiều người trong xã hội
đã nắm vững mục đích
và đã cố gắng hoạt
động không ngừng, nhưng thế
giới vẫn chưa tiến gần
đến hoà bình và hầu như con
người chưa bao giờ được
hưởng một nền hoà bình
chân thật. Ngược lại, có
nhiều triệu chứng cho biết chúng ta
đang bị thoái hoá. Tại sao sự
tin tưởng vào những tiến
bộ khoa học vật chất lại không
được thoả mãn, lại không
mang lại nền hòa bình vĩnh cửu?
Nguyên nhân chính yếu là
chúng ta cứ nghĩ rằng những
vấn đề, những khó khăn
đều ở bên ngoài, chúng
đang hiện diện đâu đó
ngoài kia chứ không phải trong tâm của
chúng ta, chúng không có liên quan
gì đến tâm của chúng ta. Do
đó, chúng ta nghĩ sự giải
quyết mà chúng ta có thể tìm
được cũng đang ở bên
ngoài kia. Mặc dầu tất cả
những sự giải quyết này
có thể tạm thời hóa giải
được một phần nào, nhưng
những khó khăn rắc rối lại
xuất hiện, lại xuất hiện, lại
tiếp diễn. Vì thế, những cố
gắng của chúng ta coi như có đem
lại thay đổi nhưng thực ra nó
không có một chút tác dụng
sâu xa nào vào tận gốc rễ
của vấn đề, nó đã
không có khả năng nhổ đi tận
gốc rễ của vấn đề.
Rất nhiều người có
thành tâm thiện chí muốn cải
tiến toàn thể tình trạng nhưng
thực ra lại làm cho vấn đề
càng ngày càng thêm mạnh, càng
ngày càng thêm u tối, càng thêm
phức tạp. Thí dụ như việc
phát triển nguyên tử năng. Mặc
dầu ngay từ lúc khởi
đầu, các nhà bác học và
các kỹ sư nguyên tử lực
đều can đảm nhận lãnh trách
nhiệm của họ trong sự phát minh
và trong sự ứng dụng nguyên
tử, nhưng sự phát triển này
đã gây ra rất nhiều tử vong,
đã đem lại nhiều kết qủa
nguy hiểm cho thiên nhiên, cho môi sinh và
cho sự bảo trì nền hòa bình
của nhân loại mà họ và chúng
ta không thể tiên đoán
được.
Tại sao niềm mơ ước
hòa bình cho toàn thế giới
không thể thực hiện
được? Tại sao chúng ta cứ
mãi bị tước đoạt đi
công việc tìm kiếm chấm dứt
khổ đau và những lỗi lầm?
Thực ra chúng ta không thiếu lòng
thành tín và không thiếu
những tư tưởng mưu tìm sự
hòa đồng giữa con người.
Có thể chúng ta đã cố tình
không hiểu hoặc không quyết tâm thi
hành, bởi vì chúng ta đã
không cố gắng đủ trong việc
kiếm tìm lợi ích cho chính mình
hoặc cho những người khác
nên đã chẳng có một dấu
hiệu tinh tiến nào. Điều vô
cùng thiếu sót trong kế hoặch tìm
cầu hạnh phúc cho nhân loại trong
đời sống hàng ngày là
không có một phương pháp
thực sự hữu hiệu để
đem lại kết qủa cho mục đích
của chúng ta. Một phương pháp
thực sự mang lại kết qủa nếu
nó cắt đứt được
toàn diện gốc rễ của những
vấn đề của chúng ta. Phương
pháp tối cần thiết là phải
tiêu hủy tận bên trong chứ không
phải bên ngoài.
Tại sao một phương pháp
hữu hiệu lại phải ở bên
trong chứ không phải ở bên
ngoài? Tại vì sự đau khổ
mà chúng ta muốn loại bỏ nó
không chỉ ở bên ngoài mà thôi.
Nếu chúng ta nghĩ rằng tất cả
những rắc rối của chúng ta
chỉ ở bên ngoài, vậy chúng ta
hãy thử loại bỏ, hãy thử
thay đổi hoặc hãy làm bất
cứ cách nào xem sao. Tuy nhiên, kết
qủa đã cho thấy thực là
nhỏ bé so với vấn đề, so
với những khổ đau; bởi
vì gốc rễ của khổ đau không
ở bên ngoài mà chúng hiện
đang nằm sâu trong tận tâm khảm
của mỗi người chúng ta.
Mặc dầu chúng có thể
xuất hiện với những đối
tượng bên ngoài -- qua
người, qua sự vật hoặc qua
hoàn cảnh mà chúng ta gặp trong cuộc
sống -- nhưng chúng không phải là
những nguyên nhân chính yếu
của bất mãn hay khổ đau của
chúng ta. Thí dụ, có một số
người đi du lịch họ rất
thích những nơi mà họ đã
chọn cho những kỳ nghỉ hè. Nhưng
với một số người khác
tuy cùng một trình độ, một giai
cấp mà họ đã không hài
lòng chút nào với những
nơi trên. Kinh nghiệm không hài lòng
này, sự bất mãn này
đã nằm sẵn trong đầu họ
nên họ không thể hoàn toàn
đổ cho những hoàn cảnh ở
bên ngoài. Nếu thực sự chỗ
đó không tốt, không đẹp,
không hấp dẫn thì chẳng ai muốn
tới đó để nghỉ hè.
Cũng giống như vậy, thức ăn
hàng ngày trong gia đình, có
người thích có người
lại không hề chạm đũa vào.
Tại sao lại có tình trạng này,
cùng một món ăn mà
người thích, người ghét?
Một thí dụ khác về
sự liên hệ giữa người
với người, nếu là
người chúng ta thích, chúng ta
sẽ coi anh ta/chị ta là một
người rất tốt, rất dễ
thương. Bất cứ khi nào gặp
họ, chúng ta cũng cảm thấy thoải
mái trong tâm của chúng ta. Nhưng
chính người dễ thương này
lại gây nhiều bất mãn, khó
chịu cho một số người khác khi
họ xuất hiện. Có thể anh ta/chị ta
lại là một người rất
đáng ghét. Vì thế, một người
có thể rất hấp dẫn với
chúng ta nhưng lại là người
đáng ghét cho người khác.
Không cần phải so sánh
cảm tình của chúng ta với
những kinh nghiệm của người
khác chúng ta mới nhìn ra
được sự khác biệt như
thế nào trong phản ứng này.
Hãy nhìn ngay vào phản ứng
của chính chúng ta đối với
những người khác trong qúa
khứ. Lúc đầu anh ta là
người xa lạ với chúng ta,
rồi có thể chúng ta đã
hoàn toàn quên anh ta. Nhưng rồi một
thời gian sau anh ta lại trở nên
một người bạn thân của
chúng ta. Sau một thời gian quen biết
chúng ta nhận thấy anh ta là một
người rất tốt và khó
có thể quên được anh ta, anh
đã là một tri kỷ. Không còn
nghi ngờ gì nữa, anh ta thật tốt,
thật dễ thương, thật đạo
đức. Chúng ta hoàn toàn tin
tưởng sự kiện này bởi
vì chất keo gắn liền chúng ta và
anh ấy đã qúa chặt.
Nhưng rồi hoàn cảnh
đã thay đổi với thời
gian. Có thể anh ta đã nói một
câu nào đó làm chúng ta
không bằng lòng hoặc có một
cử chỉ hành vi nào đó
của anh ta làm chúng ta bất mãn.
Rồi không cần biết vì lý do
gì --dù là một lý do rất tầm
thường -- chúng ta cho rằng anh ta
đã hoàn toàn thay đổi, anh ta
đã trở mặt. Giọng nói
của anh ta không còn đúng
điệu, thái độ của anh ta có
vẻ hung hăng, ngay cả bộ mặt của anh ta
sao dữ tợn qúa. Anh ta đã thay
đổi hoàn toàn, không còn một
chút gì của con người ngày xưa
nữa, rồi bao nhiêu gắn bó
của chúng ta dành cho anh ta trước
kia bây giờ trở thành hận
thù. Khi chúng ta bắt đầu ghét anh
ta là sân hận và những ý
nghĩ xấu ở trong tâm của
chúng ta về anh ấy cũng bắt
đầu được hình thành
và lớn mạnh. Kết qủa là
chúng ta sẽ cảm thấy rất khó
chịu, rất bực mình mỗi khi gặp
anh ta.
Như vậy, rất dễ nhận
diện được những đau
khổ của chúng ta, không cần
đến những thay đổi ở
bên ngoài, không cần đến
sự thay đổi của đối
tượng, bởi vì chính thái
độ ở bên trong của chúng ta
đã thay đổi. Vì những
trạng thái khác biệt của tâm
thức nên chúng ta nhìn sự
vật cũng khác biệt như vậy, mặc
dù vẫn cùng một đối
tượng. Nói rộng hơn, tất cả
đời sống của chúng ta
đã chất đầy những kinh
nghiệm như thái độ vừa
trình bày ở trên.
Những sự thay đổi
này xẩy ra rất thường và
rất nhanh. Có khi ngay trong lúc chúng ta
đang tức giận một người
thì hình ảnh tốt đẹp của
họ trong qúa khứ hiện ra trong tâm
của chúng ta. Chúng ta sực nhớ
họ đã giúp chúng ta trong qúa
khứ, họ đã đối xử
rất tốt với chúng ta. Trong khoảng
kháéc ngắn ngủi đó của
trí nhớ, có thể chúng ta
không còn tức giạân họ
nữa mà coi họ như một
người bạn rất thân. Kinh nghiệm
này --thường có ở chúng
ta-- cho chúng ta biết rằng chúng ta nên
thận trọng chẳng những với những
thay đổi thường xuyên trong tâm
của chúng ta mà chúng ta còn phải
biết kiểm soát những tiến
trình thay đổi này để mang lại
hạnh phúc hơn cho cuộc đời
của chúng ta.
Nếu chúng ta thường
tỉnh thức về những gì xẩy
ra trong tâm của chúng ta, chúng ta sẽ
có khả năng chuyển hoá tất
cả những tư tưởng tiêu cực,
những ý nghĩ xấu của chúng
ta trước khi nó gây ra phiền
phức hoặc đau khổ cho chúng ta.
Thật ra có rất nhiều cách
để nghĩ
tốt cho người khác thay vì
nghĩ xấu cho họ. Nếu chúng ta
đã biết phát triển những
kỷ luật tâm linh cần thiết và
thực sự biết tỉnh thức
trên tất cả những gì xẩy ra
trong tâm thì không có một lý do
nào có thể ngăn cản công việc
phát huy những tư tưởng này
để mang lại hạnh phúc cho chính
mình và cho những người
khác. Có thể cả thế giới
sẽ chống lại chúng ta, nhưng nếu
khả năng kiểm soát tâm của
chúng ta được phát triển
đúng mức và tốt đẹp,
chúng ta vẫn có thể coi mọi
người đều là bạn thay vì
chống lại họ, ghét họ hoặc
sợ họ.
Nếu chúng ta thực sự
kiểm soát được tâm của
mình, thử tưởng tượng
một nền hòa bình vĩ đại
trên thế giới sẽ xẩy ra! Sẽ
không còn nghi ngờ gì cả và
cũng chẳng còn bất cứ vấn
đề gì cho chính chúng ta và cho
người khác nữa. Kinh nghiệm
thâm sâu về cuộc đời
chính là kết qủa của sự
thực hành Đạo Pháp. Nó có
thể xảy ra cho bất cứ ai biết quay
vào con đường tâm linh ở
bên trong mà tìm hiểu chính mình.
Giải quyết những vấn
đề bằng sự kiểm soát
tâm chẳng những mang lại nhiều
kết qủa khi đối diện với
những sự khó khăn mà nó
còn là phương pháp dễ dàng
nhất, ít nguy hiểm nhất. Qua phương
pháp này chúng ta có
được sự bình an thật trong
tâm của chúng ta mà không làm
tổn thương bất cứ ai. Qua
phương pháp này chẳng những
chúng ta hạnh phúc mà còn mang hạnh
phúc đến cho những người
khác nữa. Ngược lại, nếu
chúng ta cho rằng nguồn gốc của
những vấn đề ở bên
ngoài kia thì chúng ta phải tiêu
diệt tất cả những ai là kẻ
thù của chúng ta, lúc đó chúng
ta mới cảm thấy an tâm. Nhưng
dù chúng ta có dùng phương
pháp này mà đối diện
với những vấn đề,
với những khó khăn rắc
rối thì cái tâm bấn loạn cũng
vẫn có đó. Vì thế nếu
không có một phương pháp nội
tại nào để tẩy sạch những
vấn đề lầm lẫn này thì
chúng ta cũng vẫn còn đau khổ cho
dù không còn kẻ thù.
Như vậy, để đạt
được những kết qủa
tốt khi đối diện với
những vấn đề, công việc
đầu tiên của chúng ta là
phải khám phá ra được và
phải nhận định ra được
những yếu tố tinh thần hiện
đang ở trong chúng ta, đây
mới là nguyên nhân sâu xa của
tất cả đau khổ. Phương pháp
của chúng ta cũng giống như
phương pháp của một vị bác
sĩ chữa bệnh cho bệnh nhân. Nếu
ông ta không hiểu nguyên nhân của
căn bệnh thì ông không thể
chữa lành bệnh được. Do
đó việc làm đầu tiên
của ông ta là phải chẩn bệnh, phải
tìm hiểu rõ ràng căn bệnh của
bệnh nhân, sau đó ông mới
có thể cho những viên thuốc
thích hợp để trị. Cũng
giống y như vậy, nếu chúng ta muốn
giải quyết những vấn đề
của chúng ta theo phương pháp tinh
thần nội tâm, trước tiên
chúng ta phải hiểu thấu đáo,
phải có một hình ảnh trong sáng
rõ rệt về cái gì đang làm
chúng ta khổ. Nếu không như vậy
chúng ta sẽ bị đè bẹp, sẽ
bị áp đảo, sẽ bị che dấu
bởi chính cái bản tính nhẹ nhàng
vuốt ve thương thân trách phận
của chúng ta, chúng ta phải trực
tiếp đối diện với những
vấn đề của chúng ta. Chỉ như
vậy chúng ta mới có thể thanh
tẩy trọn vẹn từng vấn đề
một trong toàn thể.
Chúng ta hãy bắt đầu
tìm hiểu sơ qua về những hình
ảnh đau khổ qua những kinh nghiệm
về bào thai và trẻ sơ sinh. Chúng
ta thường không nghĩ về
những khổ đau xẩy ra cho bào thai
trong sự sinh nở, đây là
một sự thật. Bởi vì tâm
của người mẹ và thai nhi không giống
nhau, người mẹ cũng không hoàn
toàn cảm thông được cái
tinh thần của thai nhi đang ở trong tử
cung của bà ta. Cái bào thai đó
hiện đang ở trong một hoàn cảnh
tinh thần và thể chất không
được thoải mái.
Đứa trẻ cảm thấy
bị gò bó trong một khung cảnh chật
hẹp, mất hết tự do. Một cái di
chuyển nhẹ của bà mẹ cũng gây
biết bao phiền toái khó chịu,
không kể đến đồ ăn khi
qúa nóng khi qúa lạnh hoặc qúa cay;
bên cạnh những mùi ô uế của
đồ phế thải của bà và
những biến chuyển không tiên
đoán trước được trong
hệ thống tiêu hóa của bà ta.
Những khổ đau này
hầu như không được chúng ta
để ý đến, quan tâm
đến, nhưng những đau
đớn của bà mẹ trong lúc sinh
đẻ lại dễ dàng được
chú ý hơn. Khi đến thời
kỳ sinh nở, thai nhi bị thúc
đẩy, bị dồn ép hơn bất
cứ sự kiện nào mà nó
đã kinh nghiệm. Nó được di
chuyển dần dần ra âm đạo, nó
cảm thấy đau đớn như bị
ghiền giữa hai cục đá. Sự
đau đớn này chỉ có thể
chấm dứt khi nó đã hoàn
toàn lọt khỏi lòng mẹ. Da của
nó qúa mềm mỏng đến nỗi
không khí ấm cúng của phòng sinh
cũng làm nó cảm thấy giá
lạnh cắt da. Đứa bé
được cuốn trong những tấm khăn
mềm mại nhất nhưng nó cũng
tưởng chừng như đang bị
trăm ngàn mũi gai nhọn đâm
thấu thịt da. Thêm vào những
cái đau của thể xác,
đứa bé nhìn thấy những
linh ảnh được tạo ra giống như
những hình ảnh đã
được nhìn thấy trong lúc
chết. Vì thế khi chúng ta nhìn
thấy đứa bé vừa
mới chào đời chúng
đã khóc thét lên, tiếng
khóc này không phải là không
có lý do.
Hầu như tất cả chúng ta
đã không nhớ được
kinh nghiệm trong lúc chào đời.
Điều này không có nghĩa là
chúng ta đã được thoải
mái trong bụng mẹ và thảnh thơi khi
sinh ra. Chúng ta đã quên tất cả
những kinh nghiệm này cũng như
chúng ta đã quên hoặc không
có ý thức trên rất nhiều
sự kiện đã xẩy ra trong
đời. Tâm vô minh của chúng ta
đã tạo ra biết bao ô nhiễm cho
cả bên trong tâm lẫn bên ngoài
thân xác, vì thế những cảm
nhận của chúng ta về chân lý đã
bị những đám mây dầy
đặc che dấu. Mỗi khi chúng ta
trực nhận ra được những
sự kiện không vừa ý, ngay
cả những cái vụt thoáng qua trong
đầu, chúng ta không nên ngạc
nhiên vì chúng toàn là những
kinh nghiệm trước kia của chúng ta.
Ngay khi vừa sinh ra là
những đau khổ trong tiền kiếp
bắt đầu được khơi
dậy. Thân xác của chúng ta trải qua
hết khó chịu này đến khó
chịu khác như những bệnh tật trong
thời thơ ấu và những
chuỗi dài phiền não trong cuộc
đời tiếp tục kéo đến.
Chúng ta không cần phải chống
cự lại sự nhiễm trùng chúng
ta mới có kinh nghiệm đau
đớn của bệnh tật. Chỉ lo
lắng và sợ hãi bị bệnh
thôi cũng đủ làm chúng ta
thực sự đau khổ.
Nếu chúng ta có thể
sống đến gìa để kinh nghiệm
được những khổ đau
của tuổi gìa thì tất cả
những kinh nghiệm, những sự
đổi thay của cuộc đời
mà chúng ta đã trải qua sẽ
làm chúng ta tăng thêm phiền muộn.
Sức khoẻ của chúng ta, thị
giác của chúng ta, thính giác của
chúng ta sẽ mất dần, tất cả
những sinh hoạt của chúng ta
thời trẻ sẽ không bao giờ
có được nữa. Thể
xác của chúng ta sẽ không còn
cử động như ý muốn, ngay
cả tinh thần của chúng ta cũng
chẳng còn tinh tường, tất cả
sẽ trở nên vô dụng.
Tất cả những kinh nghiệm
về khổ đau trong cuộc đời
chỉ làm cho chúng ta thêm khổ đau
vào lúc chết. Tất cả mọi người
chúng ta ai cũng sợ chết. Khi
tử thần đến, sự sợ
hãi càng trở nên vĩ đại
hơn, thực hơn. Mặc dù chúng ta
không muốn rời khỏi thân xác
của chúng ta, của cải của chúng ta,
những người thân yêu của
chúng ta, nhưng một điều vô
cùng thật và rất rõ ràng
là chúng ta phải từ gĩa tất
cả những thứ thân yêu này.
Hơn nữa, chúng ta chẳng biết
sự việc gì sẽ xẩy ra cho chúng
ta, tâm thức của chúng ta sẽ
đi về đâu, chính sự vô
minh này sẽ đẩy chúng ta vào
một tình trạng trầm thống bối
rối hơn nữa.
Giường chết đang
được bao quanh bởi những
bác sĩ giỏi, bởi những
người thân, nhưng chúng ta chẳng
nói được gì với họ.
Khi mà giờ chia tay giữa thân
xác và linh hồn đến, sẽ
chẳng có bất cứ một cái
gì, một người nào có thể
giúp chúng ta được. Chúng ta
phải ra đi, chúng ta chết --tuyệt đối
không còn một sự chọn lựa
nào. Đã qua bao nhiêu năm trong cuộc
đời, chúng ta o bế, chúng ta nâng
niu, chúng ta săn sóc cho cái thân
xác này, nhưng giờ đây, trong
giờ phút khủng khiếp này,
dù còn một chút sức lực
nào đi nữa cũng chẳng níu
kéo sự sống được thêm
một phút một giây. Chúng ta không
còn một chút khả năng nào
để kiểm soát cái gì đang
từ từ đến với
chúng ta, chỉ có sự khổ đau
đang tràn ngập như chưa bao giờ
thấy. Chúng ta sẽ đi vào một
nơi mà chúng ta chưa hề biết
đến với một tâm trạng chỉ
có sợ hãi và lo lắng.
Tất cả chúng ta ở
đây đã có kinh nghiệm khi đi
vào cuộc đời này, sống trong
cuộc đời này và cũng
đang kinh nghiệm về cái già đang
từ từ đến, nhưng kinh
nghiệm về sự chết thì chưa
có. Nó đang chờ chúng ta,
sự đau đớn trong giờ
của tử thần đang đợi
chúng ta. Như vậy, cuộc đời
của chúng ta sẽ qua đi, nó sẽ
chấm dứt như nó đã bắt
đầu --- trong khổ đau !
Thêm vào những nỗi
khổ trong lúc sinh ra, bệnh tật, già
yếu, chết, chúng ta còn rất
nhiều những cái khổ khác
nữa, cuộc đời tràn
đầy bất mãn. Thí dụ, chúng
ta luôn luôn cố gắng, càng nhiều
càng tốt, đạt cho được những
điều ước muốn, chúng
có thể là những món ăn
khoái miệng, quần áo đẹp
đẽ, người tình hấp
dẫn...vân vân... Chúng ta luôn luôn
tìm sự khoan khoái trong đối
tượng nhưng chẳng bao giờ
chúng ta nhìn ra được đau
khổ đang nằm sâu trong đó.
Chúng ta ham muốn chúng nhưng rồi
chúng ta lại thất vọng về chúng.
Sự đau khổ vì bất mãn
là một trong những đau khổ tàn
hại nhất bởi vì nó liên
tục hướng dẫn chúng ta bám
víu hết đối tượng này
đến đối tượng khác,
sự thèm khát xẩy ra liên tục
không ngừng nghỉ. Nó thúc
đẩy chúng ta trong suốt cả cuộc
đời, nó không còn dành cho
chúng ta một khoảng trống nào
để nghĩ đến con
đường tâm linh, thiền
định, thực hành Đạo pháp
hầu giúp chúng ta thoát khỏi
những đau khổ trong đời.
Chẳng những chúng ta
không tìm được bất
cứ gì chúng ta mong muốn mà
chúng ta cũng chẳng chạy thoát
được những gì chúng ta
không mong muốn. Từ tinh thần
đến thể xác, chúng ta toàn
gặp những kẻ thù, hoàn cảnh
ngang trái, bất mãn triền miên,
thức ăn không hợp khẩu
vị....Những đau khổ này đem
đến cho chúng ta hết lầm lẫn
này đến những sai lạc khác
trong cuộc đời.
Sự không được
hài lòng và những bất mãn
trong cuộc đời sẽ ngăn cản
chúng ta đến với bất
cứ một loại an bình nào. Không
cần biết chúng ta đã có
những gì, không cần biết
chúng ta đã sở hữu
những tài sản nào, lòng ham
muốn của chúng ta vẫn tiếp tục.
Chúng ta làm việc và đặt kế
hoạch, chúng ta bày mưu đặt kế
để chiếm thêm, chiếm thêm,
làm như chúng ta sẽ sống cho
đến muôn đời hoặc ít ra
cũng thêm vài thế kỷ. Hãy
nhìn cho kỹ, tất cả những gì
chúng ta đang lo lắng để chiếm
đoạt, toàn là cho cái thân
xác này ! Tất cả những gì
chúng ta đang cố gắng học hỏi trong
cuộc đời chỉ để đủ
điều kiện đi xin việc làm.
Đủ điều kiện để có
thêm một chút tiền. Chúng ta không
thể hy vọng để sống thêm 50, 60 hay
70 năm nữa, bằng đó năm
cũng chỉ để cho bằng đó
hoạt động. Mục đích gì đây?
Chúng ta đã dùng năng
lực của đời ta cho nhiều
thứ. Chúng ta lo lắng cho thân xác
khỏi bị đói khát, lạnh lẽo,
bệnh tật, an toàn và, cuối cùng,
chết. Cả đời đã phải
tranh đấu để khỏi bị nguy
hiểm, cả đời đã phải
hy sinh rất nhiều thứ để nô
lệ cho những mục đích này.
Có thể chúng ta đã tự lừa
dối chính mình, nhưng trong tận sâu
thẳm của nội tâm chúng ta nó
có thể nhìn thấy tất cả
những hoạt động này toàn mang
lại khổ đau.
Mặc dầu chúng ta đã
làm việc rất nhiều năm để
có được sự an toàn,
nhưng hoàn cảnh chỉ thay đổi một
chút thôi chúng ta cũng bị đau
ốm, bị bệnh tật hoặc gặp phải
những sự không may. Để
được an toàn thì thật là
khó mà khổ đau thì đến
luôn luôn. Ngay cả những điều
may mắn xẩy ra trong đời,
tưởng rằng sự may mắn này
giúp chúng ta thăng tiến cuộc
đời nhưng có ngờ
đâu nó lại là nguyên nhân
mang lại nhiều đau khổ. Thí dụ,
tưởng rằng để dành tiền
đi nghỉ hè vui chơi, nào ngờ
tai nạn khủng khiếp đã xẩy ra;
chọn một nhà hàng sang trọng để
ăn nào ngờ bị ngộ độc.
Đau khổ đến không chọn lựa
ai cả.
Nếu chúng ta ghi lại tất
cả những đau khổ đã xẩy
ra trong đời, cái danh sách
đó chắc dài bất tận.
Những gì được nói ra
ở đây chỉ là tượng
trưng. Tuy nhiên, tất cả mọi hình
thức đau khổ đều có
thể xếp vào một trong ba nhóm: đau
khổ của đau khổ, đau khổ của
sự thay đổi (hay thay thế) và
đau khổ hiểu một cách rộng
rãi. Chúng ta sẽ tìm hiểu sau
đây.
Những kinh nghiệm đau buồn
trong qúa khứ không còn diễn ra
bây giờ nữa nhưng chúng
vẫn làm chúng ta đau khổ. Không
có gì là hài lòng với
bệnh tật, lo lắng, đau đớn, sợ
hãi hoặc những gì giống như
vậy. Bất cứ sự kiện nào
đã làm chúng ta không hạnh
phúc, không vui vẻ đều
được coi như là đau khổ
của đau khổ.
Những sự kiện khác,
như thức ăn ngon miệng, quần áo
đẹp hoặc những cái giống
như vậy, chúng ta có thể đo
lường được sự vui
thích, sự thoả mãn. Nhưng nếu
tìm hiểu sâu xa hơn, chúng ta có thể
nhận thấy rằng chính những
cái thỏa mãn này cũng có
thể đem lại đau khổ. Vì chúng
chỉ cho chúng ta những thú vui tạm
thời, trong một thời gian ngắn
nào đó mà thôi. Chúng
không có khả năng tồn tại lâu
dài. Thí dụ như ăn một món
ăn ngon miệng. Hầu như tất cả
chúng ta đều cho rằng đây
là hạnh phúc thật sự, không
có một chút gì buồn khổ trong
đó. Nhưng nếu thực sự
nó là như vậy -- ăn thức
ăn ngon là hạnh phúc thật-- thì càng
ăn nhiều càng có thêm hạnh
phúc mới phải. Ngược lại,
nó không phải như vậy. Nếu
chúng ta tiếp tục ăn sau khi đã no,
thì sự khoan khoái đã nhanh
chóng biến thành những cơn
đau bụng. Chính vì lý do nó
chỉ cho chúng ta những thoả mãn
nhất thời, tạm bợ nên
chúng ta gọi nó là đau khổ
đến thay thế.
Nếu chúng ta ngồi lâu trong
một tư thế, chúng ta sẽ cảm
thấy mỏi mệt, chúng ta muốn
đứng lên đi dạo một chút.
Khi hành động như vậy chúng ta
cảm thấy khoan khoái dễ chịu. Nhưng
thực ra nó chẳng phải thật
sự khoan khoái. Sở dĩ chúng ta
cảm thấy như vậy vì sự mệt
mỏi lúc ngồi đã biến mất
khi chúng ta đứng lên. Và
chúng ta tưởng rằng cảm nhận
này là sự khoan khoái, nhưng
cứ cho nó là như vậy đi,
thì nó cũng chẳng được
dài lâu. Khi chúng ta đã đi
mệt thì cái mà chúng ta gọi
là khoan khoái trước kia lại
biến thành đau đớn. Như
vậy, không cần biết chúng ta nghĩ,
chúng ta cảm nhận như thế nào,
chẳng có gì trong cuộc đời
của chúng ta mang lại cho chúng ta sự
khoan khoái thật, chẳng có gì mang
lại cho chúng ta chân hạnh phúc. Mọi
cảm nhận thoải mái chỉ là
nhất thời, ngắn ngủi rồi mau
chóng chuyển thành chán
chường, mỏi mệt, đau buồn.
Về nhóm đau khổ
thứ ba, rộng rãi bao la hơn, chúng
nằm sâu trong hai thứ đau khổ
vừa trình bày ở trên.
Đó chính là đau khổ vì
có một thân xác và có một
cái tâm, chúng là chủ thể
hấp dẫn cho đau khổ, giống như
cục nam châm hút sắt; đã có
thân xác và có tâm thì tất
nhiên phải khổ, cũng như đã
là nam châm thì phải hút sắt.
Thí dụ, đau khổ vì bao tử
là sự đau khổ tất nhiên
phải xẩy ra của cái đau (đau khổ thuộc về
tâm, cái đau thuộc về thân
xác --Dg).
Sự khỏi đau tạm thời hay
sự thoải mái tạm thời mà
chúng ta cảm nhận được sau khi
dùng thuốc, rồi lại đau trở
lại, là sự đau khổ
đương nhiên phải xẩy ra của
sự thay đổi (dùng thuốc). Thật
ra bao tử của chúng ta phải phản
ứng như thế vì nó sẽ
và có thể lại trở nên
đau, đây chính là cái đau
tất nhiên của sự đau khổ
rộng lớn, bao trùm.
Ngay cả thú vật cũng có
thể nhận ra được cái đau
như thế nào. Vì thế khi chúng ta
nói sự thành đạt của con
đường tu tập phần lớn
tùy thuộc vào sự hiểu biết
thấu đáo về đau khổ là
không đúng, thực ra nó không
phải như vậy, nó không có nghĩa
như vậy. Cái ý nghĩa đích
thực, bản tính thật của đau
khổ chỉ được khám phá ra
khi nào chúng ta trực nhận ra rằng
tất cả những sự khoan khoái,
tất cả những sự vừa
lòng toại ý tạm thời chỉ
là một hình thức khác của
đau khổ, và hơn nữa sự sở
hữu một cái thân bất tịnh,
một cái tâm ô nhiễm là
đã sở hữu sự bất
mãn, là đã không thoải mái
và đã là đau khổ. Chỉ khi
nào chúng ta thấu hiểu, chỉ khi
nào chúng ta xác nhận một cách
vững chắc được hai nguyên
nhân căn bản của đau khổ này
--nhất là căn nguyên thứ hai,
sở hữu một thân tâm bất
tịnh -- thì lúc đó chúng ta
mới mong, mới có thể vượt
thắng được khổ đau,
mới có thể kiểm soát
được bất mãn.
Tất cả những sự
khổ đau một cách tự nhiên,
một cách tất nhiên này đều
là do chúng ta có một thân xác
và có một cái tâm. Cả thân
và tâm bị ô nhiễm đều bắt
nguồn từ những yếu tố
nội tâm là ảo vọng và phiền
não. Theo tâm lý học Phật giáo,
có 84,000 loại tâm bệnh khác nhau.
Chúng bắt nguồn từ 6 loại ảo
vọng chính: tham lam, kiêu mạn, nóng
giận, do dự ngờ vực, quan niệm
sai lầm (bất chánh kiến) và vô
minh.
Theo kinh điển, nguồn gốc
của ảo vọng và bất chánh
kiến là tin vào những điều
sai lầm, không thật và không tin
vào những điều chân thật.
Không tin vào những điều chân
thật như: từ chối những qui
ước hiện hành của con
người, những hiện tượng
là căn nguyên của khổ đau,
sự chấm dứt của chúng,
sự liên tục nối tiếp hết
đời này qua kiếp khác của
chúng và không tin vào luật nhân
quả.
Năm nguyên nhân đầu
của ảo vọng, tất cả những dục
vọng và tất cả những khổ
đau đều bắt nguồn từ
không thấu hiểu đúng đắn
về sự hiện hành của chúng.
Vì thế vô minh được coi
là căn bản, là “nguồn gốc
của luân hồi”. Luân hồi là
cảnh giới của khổ đau mà
tất cả chúng sinh đã tự
tạo ra cho chính mình. Đó là
những chu kỳ không có lựa
chọn mà phải sinh ra, chết đi và
tái sinh lại trong khổ đau, ở trong
đó tất cả chúng ta cần
phải thanh tẩy tâm cho sạch hết ô
nhiễm. Sân hận, tham lam, kiêu mạn và
cố chấp là những ảo vọng
cũng bắt nguồn từ vô minh.
Đây là những hành vi,
những thái độ xấu, chúng
là những đám mây đen che
khuất chân tâm như mây đen che
khuất bầu trời trong sáng.
Tại sao chúng ta lại gọi nó
là những thái độ xấu?
Vì những thái độ này
được tạo thành do ảnh
hưởng của nghiệp lực và
của ảo vọng, chúng đem chúng ta
đến đau khổ. Bất cứ
người nào hành động
dưới một cái tâm như vậy
đều kinh nghiệm được
những đau khổ là do chính họ
tạo ra. Đây chính là con
đường của luân hồi,
vòng khổ đau và vòng tái sinh
được thành lập. Như vậy
tất cả những hành động
sản xuất ra những kết quả
này và tất cả những ảo
vọng tác động lên những
hành động này đều
được gọi là xấu, tiêu
cực.
Nếu chúng ta thực sự
muốn đạt chân hạnh phúc,
sự bình an miên viễn, chấm
dứt hoàn toàn mọi khổ đau,
chúng ta phải thanh tẩy tâm chúng ta cho
sạch hết tất cả những sự
xấu xa, ô nhiễm này. Chỉ có
cách này mới có thể thanh
toán được những vấn
đề, những rắc rối của
chúng ta. Thí dụ, nếu chúng ta khó
chịu vì bụi dơ bám vào vật
gì đó thì chúng ta phải lau
sạch, phải rửa sạch những
lớp bụi này đi thay vì phá
hủy hoặc đập vỡ vật
đó đi. Sau khi đã rửa
sạch, chúng ta mới thưởng thức
nó một cách trọn vẹn. Một công
viên tuyệt đẹp không thể luôn
luôn có được. Một công trình
xây cất không phải lúc nào
cũng hấp dẫn tất cả mọi
người. Chúng cần
được bảo trì, tu sửa, trang
hoàng và làm sạch luôn luôn
thì mới hấp dẫn, mới
lôi cuốn được du khách.
Hãy áp dụng giống như
vậy cho tâm của chúng ta. Nếu
những suy nghĩ tính toán của
chúng ta gây đau khổ phiền
phức cho chúng ta thì chúng ta phải
chấm dứt suy nghĩ ngay. Tốt hơn
chúng ta nên sử dụng những
phương pháp nội tâm để thanh
tẩy tất cả những xấu xa
khởi phát ra từ vô minh của
chúng ta. Nếu chúng ta làm
được như vậy, chúng ta sẽ
có sự an bình chân thật. Sự
an bình này vượt xa những
sự thoải mái, những sự
dễ chịu bình thường, như
đã trình bày ở trên,
kiểu hạnh phúc bình thường
này cũng chỉ là những hình
thức vi tế của khổ đau mà
thôi. Vì chấm dứt hoàn toàn
những nguồn gốc của khổ đau
nên chúng ta có được chân
hạnh phúc. Khi gốc của đau khổ
đã bị cắt đứt, thì
đau khổ không thể trở lại.
Lúc đó chúng ta sẽ kinh nghiệm
được, sẽ chứng nghiệm
được thế nào là hạnh
phúc thật, thế nào là viên
mãn, không gì có thể so sánh với
nó.
Bây giờ chúng ta
đã hiểu tại sao không có một
con đường nào khác có
thể giúp chúng ta đạt được
chân hạnh phúc nếu chúng ta không
thanh tẩy những vọng tâm của
chúng ta. Cho tới khi nào tâm của chúng
ta còn đắm chìm trong vô minh và
dục vọng thì không có gì có
thể mang lại cho chúng ta chân hạnh
phúc, nhưng toàn là đau khổ.
Bởi vì chúng ngăn cản sự
kiểm soát của chúng ta và chúng
áp chế tâm của chúng ta, như
đã trình bày ở trên
chúng chính là những sự
đau khổ tất nhiên. Bất cứ
gì hiện hành ở trong tâm thái
này là tự nhiên bị đau
khổ.
Thí dụ, giả thử có
một cây độc mọc trong vườn
của chúng ta. Nếu chúng ta không
muốn nguy hiểm, dĩ nhiên chúng ta
sẽ không chỉ cắt tỉa bớt
lá, bớt cành của cái cây
này. Một cách duy nhất để
tẩy trừ tất cả những
chất độc của nó phát ra
từ thân, lá, cành, rễ... là
đốn bỏ, đốt toàn thể
cái cây này đi. Chúng ta
đào cho thật sâu để phá
hủy tất cả những chiếc rễ
mà nó đã sản xuất ra chất
độc. Chúng ta cũng nên dùng
đường lối làm việc này
cho tâm của chúng ta để giải
thoát chúng ta khỏi khổ đau và
chặt đi tất cả những gì
còn có thể sản xuất ra khổ
đau. Nếu chúng ta không quyết tâm
mạnh mẽ như vậy, thì những
gì chúng ta áp dụng chỉ đem lại
những niềm vui nhất thời, tạm
bợ, rồi khổ đau lại ào
ào kéo đến, trở lại.
Nếu chúng ta muốn thoát khỏi sinh
tử luân hồi, chúng ta phải
chấm dứt tất cả những
nguyên nhân gây ra đau khổ,
đó chính là vô minh.
Ngược lại với vô
minh là trí tuệ. Trí tuệ là
sự thấu hiểu sâu xa tận gốc
rễ sự vật, hiện tượng
xuất hiện và chúng hiện diện như
thế nào. Thường thường
chúng ta rất mù mờ, không
thực sự hiểu sự vật hiện
hành như thế nào. Như tôi
đã trình bày, chúng ta
thường lầm tưởng rằng
căn nguyên của đau khổ cũng
là căn nguyên của hạnh phúc.
Chúng ta đã không nhận diện
được vô minh, ảo vọng và
ngay cả những khổ đau riêng tư
của chính chúng ta mỗi khi nó
xuất hiện. Chúng ta đã đeo
đuổi vô minh, đã phục tùng
chúng như là những vị thầy
hoặc những hướng đạo
viên của chúng ta. Tâm trong trạng
thái mê ảo thì luôn luôn
tưởng tượng ra những ảo
mê về thực tại, về chân lý,
rồi trong sự mù quáng đó
chúng ta mơ tưởng, chúng ta
ước ao chúng chính là sự
thật, chúng có thật (nhưng chúng chỉ là giả,
vọng tưởng; dưới bóng
mây đen thì cái gì cũng đen
tối, đeo kính màu gì thì chỉ
nhìn thấy sự vật màu đó,
dưới bóng của vô minh, của
mê ảo thì sự vật, hiện
tượng cũng hiện hành là
ảo, ngỡ là sự thật nhưng
chính là mê ảo. Chỉ khi nào
bỏ kính vọng tưởng ra thì
mới thấy màu thật của sự
vật –Dg)
Sự thiền định của
chúng ta, về Đạo pháp, chỉ
có thể có kết quả trong việc
gỉai quyết những vấn đề,
những rắc rối, nếu chúng ta
đặt trọng tâm vào việc tẩy
trừ vô minh. Con đường của
một tôn giáo duy nhất phải có
chính là con đường xóa bỏ
tận gốc rễ của đau thương.
Bộ mặt thật của vô minh mà
chúng ta cần phải đối diện
với và cần phải phá hủy tan
tành tận gốc rễ của nó
chính là “chấp ngã, chấp
cái tôi, TÔI” hay
“tâm-thức-tôi.” Nếu
chúng ta tự chiêm nghiệm, tự
quán xét nội tâm của chính
chúng ta trong từng giây phút,
chúng ta sẽ nhận ra một cách rất rõ
rệt là chúng ta luôn luôn bị
ảnh hưởng của
tâm-thức-tôi này. Chính là
nó, bởi vì chúng ta thiếu
sự tỉnh thức của trí phân
biệt nên chúng ta không nhận diện
được toàn thể tâm của
chúng ta đang bị ảnh hưởng
bởi căn nguyên mê mờ ảo
vọng này.
Tâm-thức-tôi có thể
được giải thích như sau.
Không cần biết chúng ta đang làm
gì –như đang nghe thuyết giảng--
chúng ta có một cảm giác nào
đó về ai hay cái gì mà
chúng ta đang là, về cái
“TÔI”. Rất mạnh mẽ, chúng ta
tin chắc chắn rằng cái “TÔI”
là một cái gì độc lập,
tự hiện hữu, đứng
tách biệt ra khỏi những cái
khác. Chúng ta luôn luôn nghĩ rằng
nó biệt lập với thân xác,
với tâm hay với bất cứ
cái gì khác. Cái “TÔI”
này xuất hiện một cách vĩ
đại, vững chắc và độc
lập. Cảm giác này luôn luôn
có ở chúng ta và chúng ta chấp,
chúng ta bám vào ý niệm này
một cách vô cùng mạnh, vô
cùng chặt. Trong chiều hướng
này, ý tưởng “Tôi là,
Tôi...” trở nên rất quan trọng,
hơn bất cứ một sự kiện
nào khác. Đây chính là khuynh
hướng chuyển cái “TÔI”
thành một cái gì đó
để thành hình vô minh rồi
nhốt chúng ta vào đau khổ.
Chúng ta có thể nhận ra
phản ứng của cái tôi rất dễ
dàng mỗi khi chúng ta nghe những
lời nói không lịch sự,
lỗ mãng. Người ta nói chạm
tự ái của chúng ta, nhừng
lời chê bai, những lời
chế diễu, những lời chọc
tức...vân vân... khi nghe những
lời này là ngay lập tức
chúng ta nổi nóng, chúng ta tức
giận, tính xấu của chúng ta tự
nhiên phát khởi và chúng ta
không còn tự chủ được
nữa. Ngay lúc đó, cái
“TÔI” của chúng ta trở
nên mạnh mẽ và cao hơn cả dãy
Hy Mã Lạp Sơn. Con mãnh thú
“TÔI” dồn vào trái tim của
chúng ta uất ức, tức bực,
nó phừng phực, nó khó
thở, nó nghẹn ngào để rồi
bao nhiêu cái xấu xa trầm ẩn nổi
ra cho hết, tất cả những sự
kiện này sản xuất ra đau khổ. Trong
trường hợp này, bất chánh
kiến về chính chúng ta, cái nhìn
vô minh về chính chúng ta càng
độc lập, càng bảo thủ bao nhiêu
thì rắc rối càng đến bấy
nhiêu, càng mạnh bấy nhiêu.
Chúng ta cho là tất cả
những gì chúng ta nhận
được đều bị bóp
méo. Khi nghĩ về chúng ta, chúng ta
luôn luôn ở trong chiều
hướng muốn bảo vệ cái
tôi của mình, bám vào cái
tâm-thức-tôi của chính mình.
Đứng trên căn bản của quan
niệm sai lầm này, chúng ta thực
sự đã bám vào cái
“TÔI” của chúng ta. Bởi
vì chúng ta quan niệm thân xác
“của tôi”, tâm “của
tôi”, và tài sản “của
tôi” là những thực thể
độc lập, tự hiện hữu,
có thật, chúng ta bám chặt vào
chúng, từ đó rất nhiều
tính xấu bắt đầu khởi
lên, xuất hiện ra đều có
liên hệ đến chúng. Giống như
thế, vì chúng ta quan niệm tất cả
mọi hiện tượng là tự có
và độc lập nên chúng ta nghĩ
nó đẹp và hấp dẫn, do
đó sự mong ước chiếm
đoạt chúng được khởi
lên trong tâm của chúng ta. Tâm bất
mãn và bất an của chúng ta
hướng dẫn chúng ta bám chặt
vào những đối tượng
được coi là tự hiện
hữu này, nhưng sự thoải mái
và hạnh phúc mà chúng ta
đã đặt tin tưởng vào
chúng lại không bao giờ xảy ra.
Vì thế, đau khổ của chúng ta
cứ lớn dần, lớn dần
thay vì giảm bớt đi.
Không những sự bám
víu của chúng ta mà cả sân
hận, kiêu mạn và tất cả
những ảo vọng, dục vọng khác
cũng đều khởi phát ra
từ căn bản vô minh này.
Bởi vì chúng ta nghĩ chúng ta,
những đối tượng ở
bên ngoài và tất cả những
người khác hoàn toàn là
những cá thể độc lập, nên
chúng ta muốn chiếm đoạt,
đề phòng hoặc có những
thái độ tâm đóng kín
đối với chúng. Chúng ta
tấn công, chê bai chỉ trích hoặc
mất thiện cảm với bất
cứ ai không làm vừa lòng
chúng ta hoặc ngăn cản chúng ta, trong khi
đó chúng ta lại bỏ qua cho
những ai giúp đỡ và
đồng tình với chúng ta.
Chúng ta đánh giá và xếp
loại từng người ai là
“bạn”, ai là “thù”, ai là
“kẻ xa lạ” rồi chúng ta cho
bảng xếp loại này là sự
thật, là có thật. Trong trường
hợp này, bên trong tâm của
chúng ta sẽ khởi lên một
sự sai lầm trầm trọng về tình
bằng hữu, tình con người.
Thái độ của chúng ta bị tô
mầu xấu xa, kết quả là
những hành vi cử chỉ của
thân khẩu và ý của chúng ta
sẽ không còn tốt đẹp và
đạo đức nữa. Như
đã trình bày ở trên,
những hành động thiếu
đạo đức này sẽ
hướng dẫn chúng ta tạo ra nghiệp
lực để thắt chúng ta mỗi
ngày mỗi chặt hơn vào vòng
luân hồi của đau khổ. Như vậy,
một lần nữa, chúng ta cần
hiểu rõ nguồn gốc của tất
cả những đau khổ là do vô
minh, chúng ta đã thực sự
không biết sự vật hiện diện
như thế nào, hiện tượng
xuất hiện như thế nào.
Giá trị đích thực
của bất cứ một tôn giáo
nào, dù thiền định hay dù
áp dụng bất cứ phương
pháp nào, đều tùy thuộc
vào khả năng của nó có
giúp con người cắt đứt
được những căn bản vô
minh hay không, để con người có
thể thoát khỏi những đau khổ
do ảo vọng mà ra hay không. Bất
cứ tôn giáo nào, bất cứ
triết thuyết nào mà cung cấp
những phương pháp tẩy trừ
vô minh đều là tôn giáo
thật, đều là chánh Pháp. Qua
lịch sử, đã có rất
nhiều vị thầy vĩ đại chỉ cho
chúng ta những con đường thanh
tẩy vô minh để chấm dứt đau
khổ. Nếu sự thực hành của
chúng ta có hiệu quả trong việc cắt
đứt căn nguyên vô minh thì
chúng ta có thể tin tưởng một
cách mãnh liệt rằng chúng ta đang
theo chánh Pháp, không cần biết
nó có tên là gì,
được gọi như thế nào.
Đạo Pháp, Phạn ngữ
Dharma, có nghĩa là “cầm giữ,
nắm giữ.” Theo ý nghĩa
đó, chúng ta nắm giữ cái
bình để nó khỏi rơi, khỏi
bị bể vỡ, sự chân thành
thực hành Đạo Pháp giữ
chúng ta khỏi những sự nguy hiểm
và sai lầm dẫn chúng ta đến
đau khổ. Như vậy, bất cứ
cái gì chúng ta làm –có thể
là thiền định, có thể là
một đường hướng sống
hay là một phương pháp
hướng dẫn cuộc đời
chúng ta—mà chữa
được bệnh vọng tâm của chúng
ta thì đó chính là tinh túy
của sự thực hành Đạo pháp.
Phương pháp đó không phải
là đặc quyền của một truyền
thống nghi lễ riêng biệt nào. Nó
cũng chẳng tổn hại gì, cho dù
hành giả đó thuộc Hồi giáo
hay Do thái giáo, Thiên chúa giáo hay
Ấn độ giáo, Phật giáo hay một
thuyết giáo nào hoặc bất kỳ
một tôn giáo nào. Nếu phương
pháp mà chúng ta đang thực
hành giúp chúng ta phá tan
được ảo vọng và cắt
đứt được tận gốc
rễ của khổ đau của chúng ta thì
đó chính là tinh túy của
việc thực hành tâm linh, nó gọi
là Đạo Pháp.
Có rất nhiều cấp
độ ảo vọng khác nhau nên cũng
có nhiều cách thực hành
Đạo pháp khác nhau để chấm
dứt ảo vọng. Tất cả những
con đường tu tập chấm dứt
ảo vọng đều nằm trong Đạo
pháp. Qua sự chân thành áp dụng
những phương pháp thiền
định có hệ thống, chúng ta
xóa bỏ khỏi tâm chúng ta
những quan niệm sai lầm, những
thái độ nhị nguyên và
những thói hư tật xấu của
chúng ta. Chúng ta sẽ đạt giác
ngộ, sự toàn mãn. Sự thành
đạt chắc chắn sẽ đến
bởi vì tâm ảo vọng (vọng
tâm) không phải là tâm bản
nhiên, bởi vì những gì
xuất hiện ra trong tâm không phải là
tâm. Tâm chỉ nhất thời chạy
theo ảo vọng cũng giống như một chiếc
bình có một vết bẩn mà thôi.
Một vết bẩn không phải là
chiếc bình, nó có thể
được rửa sạch. Giống như
vậy, tâm bản nhiên của chúng ta
vốn trong sáng, nhất thời bị
ảo vọng che khuất, nó có thể
được tẩy sạch.
Sự chấm dứt hoàn
toàn đau khổ và giác ngộ là
sự thành đạt rất cao quí,
giá trị của nó không gì
sánh bằng nên chúng ta phải dồn
hết năng lượng của chúng ta
vào con đường tâm linh. Hơn
nữa, sự thực hành và
sự học hỏi của chúng ta tùy
thuộc vào sự lắng nghe và vào
sự nghiên cứu chân tính của
bất cứ những gì chúng ta
được dạy bảo. Như vậy,
sự học hỏi và kết quả của
nó cũng vô cùng quan trọng và
cần thiết cho con đường tâm
linh. Nếu chúng ta học hỏi nghiên
cứu phương pháp Đạo pháp
trong nội tâm rồi đem áp dụng những
điều học hỏi đó ở
ngoài cuộc sống thì đời
sống của chúng ta thực sự
có một ý nghĩa và tràn
đầy ơn ích cho chính mình
cũng như cho những người
khác.
Nếu chúng ta theo một phương
pháp toàn hảo, chúng ta sẽ không
thất vọng vì để mất
thời giờ. Còn nữa, trong
giờ phút cận tử, giờ
phút của sự chết, chúng ta sẽ
không sợ hãi và lo lắng bối
rối. Vì đã phát triển
phương pháp liên hệ với nội
tâm nên chúng ta có thể kiểm
soát được tiến trình của
tâm linh, chúng ta có thể đối
diện với tử thần một cách
bình tĩnh thanh thản, tự chủ và
an nhiên. Biết rằng chúng ta đã
sống một đời tốt đẹp
nên chúng ta sẽ có tự tin,
vững chắc tin tưởng hạnh
phúc và an lạc sẽ đến.
Tất cả những gì tôi
trình bày ở đây đều
là những kinh nghiệm của các
vị thiền giả và những vị
đã và đang thực hành
Đạo pháp. Có rất nhiều vị
đã đạt giác ngộ, đã
thành công trong vấn đề thanh tẩy
tâm. Họ đã áp dụng phương
pháp này để thanh tẩy những
ý niệm sai lầm và những thói
quen xấu của họ, chúng ta cũng có
thể thực hành như vậy. Khi
đạt đến trình độ phát
triển này, chúng ta có thể đem
lợi ích đến cho người
khác và giúp những
người khác trên con
đường thực hành Đạo
pháp. Vì lòng vị tha, chúng ta sẽ
biết hướng dẫn những
người khác cùng thoát khổ
tùy theo cá tính riêng của họ.
Không còn một mục đích nào
khác trong cuộc đời cao đẹp
hơn thế nữa.
Để kết luận, đây
là phương pháp tối thiện xảo
mà chúng ta có thể dùng để
đối diện với những vấn
đề của chúng ta. Nếu tâm
của chúng ta đầy dục vọng,
chúng ta sẽ gặp rất nhiều đau
khổ mỗi khi chúng bị ngăn cản.
Nhưng nếu chúng ta biết cách áp
dụng Đạo pháp, chúng ta có
thể hướng dẫn tâm của
chúng ta vào con đường
thực hành Đạo pháp trong
đời sống, chúng ta sẽ có
những chứng nghiệm hạnh phúc
và an lạc ngay cả trong những lúc
gặp cảnh khó khăn. Mặc dầu
chúng ta chưa phát triển thâm sâu
Đạo pháp, chỉ mới bắt
đầu thực hành một chút,
chúng ta cũng vẫn kinh nghiệm
được sự an lạc trong
đời sống thường ngày
của chúng ta. Do đó, hãy quan tâm
đến tất cả muôn loài chúng
sinh –ngay cả đến một con vật
nhỏ li ti – để phát triển chân
hạnh phúc và để giải thoát
khỏi đau khổ, đây là
điều vô cùng có giá trị
trên con đường thực hành
Đạo pháp, trên con đường
phát triển khả năng tâm linh của
chúng ta.
Cám ơn quý vị nhiều
lắm. Chúng ta vẫn còn giờ,
quý vị có thể đặt câu
hỏi.
Hỏi:
Thưa ngài, chúng tôi bắt
đầu thực hành như thế
nào?
Trả
lời: Trước nhất
hãy học hỏi Đạo pháp. Nếu
chúng ta không có căn bản, chúng
ta sẽ không biết thanh tẩy như thế
nào. Do đó, trước hết
chúng ta hãy tìm một phương
pháp đúng và thích hợp
để học. Chúng ta hãy lắng nghe
những lời giải thích của
những vị thầy có kinh nghiệm.
Họ phải là người đã
và đang thực hành những
lời dậy bảo này. Vì theo học
những vị thầy như vậy, chúng ta
mới vừa học hỏi những
lời dậy bảo vừa kiểm
chứng họ đồng thời
chúng ta cũng phải tự chứng
nghiệm được những lời
dậy bảo này. Rồi chúng ta thiền
định trên những gì đã
được học hỏi, hãy đem
tất cả những cái đó ra
thực hành trong đời sống
thường ngày của chúng ta. Như
vậy, trí tuệ của chúng ta sẽ
từ từ phát triển.
Hỏi:
Vì Đạo pháp bắt nguồn
từ văn hóa Đông phương,
phải chăng Đạo Phật cũng có
thể thích hợp cho người Tây
phương?
Trả
lời: Như tôi đã
trình bày, thực hành Đạo
pháp không bắt buộc phải có
một quy luật nhất định cố
chấp nào đó. Đạo pháp
không phải là một cái gì có
khuôn khổ cứng ngắc. Mặc dầu
có những người ngồi
thiền khoanh chân nhắm mắt, nhưng
những thế ngồi này tự nó
không phải là tinh túy của
Đạo pháp.
Một hành động
được coi là thực hành
Đạo pháp chân thật khi nó
thực sự tác động đến
tâm. Nếu ảo vọïng được
nhổ đi tận gốc và đau khổ
hoàn toàn biến mất khi chúng ta
thực hành một cái gì đó
thì cái đó chính là
Đạo pháp. Như vậy, chúng ta vẫn
có thể thực hành Đạo
pháp cho dù chúng ta làm việc trong
văn phòng tại một thành phố
đông người hay chúng ta là
một lao công ngoài đường
phố. Vấn đề chính yếu là
ảo vọng của chúng ta có giảm
đi hay không.
Bất cứ một hành
động nào cũng có thể chuyển
thành sự thực hành Đạo
nếu nó được hoàn thành
bởi một động lực đúng
và chân thành. Nếu chúng ta
quyết tâm làm việc để tẩy
trừ vô minh của chúng ta và
chúng ta có thể giúp những
người khác thắng
được những đau khổ
của họ thì đó là Đạo
pháp, bất kể nó là phương
pháp nào. Đạo Phật, một trong
những đạo chính của thế
giới, giảng dậy rất nhiều
phương pháp để thanh tẩy
những động năng của chúng ta.
Nó được áp dụng và
có khả năng thích hợp
với tất cả mọi hoàn cảnh
của bất cứ xã hội nào,
Đông cũng như Tây. Do đó,
một người Tây phương hiểu
được tinh túy của Đạo
pháp và hình thức văn hóa
mà nó sẽ hội nhập vào, thì
họ có thể mang lại rất nhiều
ơn ích cho chính họ và cho những
người khác bất kể những
gì họ học được.
Hỏi:
Có sự liên hệ gì
giữa triết lý mật tông và
sự thực hành Đạo pháp?
Trả
lời: Không có bất
cứ một sự thực hành mật
tông nào mang lại kết quả nếu
chúng ta không có căn bản về
Đạo pháp. Chính mật tông là
sự thực hành Đạo pháp,
nên đừng nghĩ rằng có
một sự thực hành nào
đó ở bên ngoài Đạo
pháp.
Nếu chúng ta kiếm
được một văn bản nào
đó nói về mật tông rồi
thử áp dụng nó mà không
thấu hiểu Đạo pháp thì không
thể có kết quả. Đây là
sự thật, thay vì những sự
thực tập mang đến những
kết quả tốt, giảm bớt u mê
ảo vọng thì nó lại làm tăng
thêm vô minh và càng đi sâu
vào sai lầm nhiều hơn nữa.
Mục đích của mật tông
cũng giống như Đạo pháp, là
để thoát khỏi khổ đau, bằng
cách bỏ đi những chướng
ngại tinh thần (sở tri chướng.)
Mật tông được coi như một
phương pháp rất thâm sâu
bởi vì nó là một phương
pháp rất nhanh trên con đường
tiến tới giác ngộ. Nhưng động
năng thúc đẩy vào con
đường thực hành mật
tông chính là sự ước
muốn đạt giác ngộ càng nhanh
càng tốt để cứu độ muôn
loài chúng sinh càng mau có kết
quả. Chỉ có sự thúc đẩy
của một Bồ đề tâm bao la
mới mong thực hành mật tông có
kết quả.
Như vậy, mục đích và
động năng thúc đẩy của
mật tông hoàn toàn giống như
Đạo pháp, nó là một thành
phần của Đạo pháp, sự dậy
bảo cao thâm này nương theo sự
dậy bảo tổng quát. Nếu nghĩ
nó là một thành phần riêng
rẽ biệt lập thì nó sẽ tạo
thêm những rắc rối, những
vấn đề khác nữa, khác
nữa.
Hỏi:
Ngài có coi việc dùng thuốc (ma
túy) là con đường thực
hành tâm linh không?
Trả
lời: Không, tôi không
cho là những người chân
thành thực hành Đạo pháp
lại nghiện ngập. Tuy nhiên, tôi không
phủ nhận có một số người
trong lúc bắt đầu phát triển,
một vài kinh nghiệm nào đó
của thuốc có thể giúp họ.
Thí dụ, tâm của một số
người rất hạn hẹp, không
được cởi mở, họ không
tin vào bất cứ sự hiện
hành nào của hiện tượng
mà nó xuất hiện qua bình diện
vật chất. Vì thế, nó có thể
giúp họ nhận ra được sự
thật trong một chiều hướng khác
với chiều hướng bình
thường, có giới hạn.
Sự kiện này có thể mở cho
họ một khả năng phát triển tâm
mà những người khác
không biết. Như vậy, sau khi sự
phát triển đã được
chứng nghiệm mà họ vẫn còn
tiếp tục dùng thuốc thì họ
đã tạo ra thêm ấn tượng
cho ảo tưởng, thực ra sự
kiện này đã chẳng giảm
bớt vô minh. Kinh nghiệm dùng thuốc
có giúp gì được hay không
tùy theo người dùng thuốc.
Tôi không coi việc dùng thuốc là
một phương pháp tốt khi
bước vào con đường
tâm linh.
Hỏi:
Khi bước chân vào con
đường tâm linh, vị thầy quan
trọng như thế nào?
Trả
lời: Ngay cả làm một
việc nhỏ mọn tầm thường, như
đi du lịch từ nước này
đến nước khác chúng ta
cũng cần phải có người
đã có kinh nghiệm hướng
dẫn. Nếu chúng ta muốn học một
ngoại ngữ, chúng ta cũng cần
phải có một ông thầy hiểu và
nói được thứ tiếng
đó. Đây là một sự
cần thiết, một sự hướng
dẫn rất thông thường mỗi khi
chúng ta muốn học hỏi nghiên
cứu một vấn đề gì.
Đây là một sự
thật dành cho tất cả mọi vấn
đề học hỏi, như vậy học hỏi
Đạo pháp lại còn cần thầy
hơn nữa. Tại vì con
đường Đạo không quen thuộc
với chúng ta, nó hoàn toàn xa
lạ mà nó lại có liên hệ
đến rất nhiều khía cạnh của
chính chúng ta và với những
hiện tượng khác nữa. Lý do
chính yếu mà chúng ta đau khổ
là chúng ta có thói quen nhìn
sự chân thật qua cái lăng kính
bệnh hoạn ngã chấp độc tôn
của chúng ta. Nếu chúng ta muốn
tẩy sạch những ảo vọng,
những u mê trong tâm của chúng ta,
chúng ta cần phải có một vị
thầy đã có nhiều kinh nghiệm trong
vấn đề này, đã có
thực chứng về vấn đề
này.
Vì tính cách quan trọng trong việc
theo đuổi con đường tâm linh,
vị thầy hướng dẫn tâm linh
của chúng ta phải là một vị
thầy hoàn hảo. Họ phải là
người sống cho Đạo pháp,
phải là một thí dụ điển
hình của Đạo pháp. Điều
vô cùng quan trọng là tâm của họ
đã có những chứng
nghiệm, đã hoàn toàn lãnh
hội được những trạng
thái thực hành đúng và
họ đã nắm vững những
sự hiểu biết không sai lầm.
Nếu chúng ta nhận được những
lời giải thích đúng
đắn chân thật của vị thầy, rồi
nghiên cứu, chiêm nghiệm và
thiền định nghiêm túc trên
những lời dậy bảo đó,
chúng ta sẽ đạt được
thành quả theo ý muốn. Ngược
laiï, nếu chúng ta tin tưởng vào
vị thầy không có đủ khả
năng thì rất nguy hiểm, sự
thực hành của chúng ta sẽ đi
vào hết lầm lẫn này đến
lầm lẫn khác, để rồi cuối
cùng chẳng đi đến một kết
quả nào.
Hỏi:
Làm thế nào để tránh
được trường hợp
chấp, bám víu vào con đường
thực hành tâm linh?
Trả
lời: Có những
người muốn theo đuổi con
đường tâm linh để quyến
rũ người khác. Họ thích
được gọi là một
người thánh thiện hoặc một
người có đời sống
tâm linh. Đây là một sự
hiểu lầm Đạo pháp, đây
là sự lợi dụng Đạo
pháp. Nhưng nếu thành tâm muốn
chấm dứt khổ đau và muốn cho
tâm mình và tâm những
người khác được an
tịnh thì ước muốn này
không xấu. Đây không phải là
trường hợp chấp hoặc bám víu
mà nó có thể gây rắc rối
phiền muộn cho chúng ta. Ngay từ lúc
bắt đầu bước chân vào
con đường mà đã có
nguyện ước như vậy thì
đã có ơn ích rất nhiều
rồi, đây không phải là bám
víu, chúng ta không cần phải lẩn
tránh.
Những bám víu xấu
luôn luôn dẫn đưa chúng ta
đến đau khổ. Với những
động năng tham dục, chúng ta sẽ
tạo ra những hành động không
đạo đức, nó sẽ đem
lại khổ đau cho chính chúng ta và
cho những người khác. Nhưng
lòng ao ước thực hành
Đạo pháp không được coi
là tham dục. Nó hoàn toàn khác.
Động năng thúc đẩy chúng ta
thực hành Đạo pháp khuyến
khích chúng ta đi vào sự
thực hành để giảm bớt,
không tăng lên, những đau khổ.
Không có sự thực hành này,
chúng ta sẽ bị trói buộc vào
vòng luân hồi và chẳng
được hưởng một chút
ơn ích gì trong kiếp người.
Phải có một động
năng thúc đẩy mãnh liệt lắm
thì mới có thể bước
vào con đường tâm linh,
bởi vì sinh ra là chúng ta
đã bị hướng dẫn vào
con đường chấp ngã. Do
đó, vì ước muốn
thực hành Đạo pháp để
đạt kết quả tốt nên ngay
từ khi bắt đầu chúng ta
không nên lo sợ bị dính mắc,
bị lệ thuộc. Chúng ta nên cố
gắng tiếp tục thực hành với
một động lực càng trong sạch
càng tốt, hãy mong muốn thật
nhiều ơn ích cho muôn loài chúng
sinh.
Cám ơn quý vị nhiều
lắm.
Chương hai:
THIỀN ĐỊNH
---------------------------------------------------------------------
1. Ba Khía Cạnh
Chính Của Con Đường
Dẫn
Đến Giác Ngộ
Quán tưởng sự thanh
tẩy
Chúng ta sẽ bắt
đầu một thời thiền ngắn
để thanh tẩy tâm của chúng ta
và dĩ nhiên để giúp chúng
ta thu thập được những
lời giảng dậy một cách tốt
đẹp.
Mỗi người hãy ngồi
theo thế ngồi thiền quen thuộc thoải
mái của mình. Nếu quý vị
cảm thấy ngồi trên ghế sẽ
thoải mái hơn thì cứ ngồi.
Việc quan trọng là làm sao kiểm
soát, theo dõi được tâm.
Ngồi thẳng lưng và cân bằng hai vai
giúp cho sự kiểm soát này.
Mắt nên mở một chút để
ánh sáng vào được, nhưng
đừng mở lớn quá
sẽ bị quấy nhiễu. Nếu không
buồn ngủ thì quý vị có thể
nhắm mắt.
Chúng ta bắt đầu quán
tưởng đến muôn vàn
chúng sinh đang ngồi chung quanh chúng ta,
cùng nhìn về phía trước.
Họ cùng chia sẻ với chúng ta
tất cả những ơn ích, tất
cả những phước đức
mà chúng ta có thể lãnh nhận
được từ việc thiền thanh
tẩy này. Tất cả chúng sinh
đều mang hình dạng con người,
chúng ta hãy tưởng tượng
quang cảnh bao la bát ngát chung quanh chúng ta
mọi người cũng đang ngồi
thiền định.
Bây giờ, hãy quán
tưởng trong con mắt của tâm,
ở ngay trước mặt chúng ta,
cách khoảng một cánh tay, ngang với
đầu chúng ta, có một tòa
mầu vàng rất lớn trang hoàng
đầy châu báu. Sự quán
tưởng này phải thật trong sáng,
hãy tiếp tục quán tưởng
một đóa sen trắng nở
lớn ở giữa tòa này.
Đóa sen thật rực rỡ trong
sáng, không một khuyết điểm,
trắng tuyết. Ngay trong hoa sen có vầng
trăng và mặt trời, lồng vào
nhau. Đức Phật Thích Ca ngồi
trên đó. Ngài mặc tăng bào.
Bàn tay phải của Ngài đặt
trên đầu gối phải, ngón tay
chạm vào hoa sen, bàn tay trái đặt
trên lòng giữ bát khất
thực. Dù quán tưởng
đến Đức Phật Thích Ca hay
quán tưởng đến bất
cứ gì ngay cả một hạt nguyên
tử li ti thì cái đó cũng
phải thật trong sáng, là ánh sáng
trong suốt.
Hãy nghĩ đến sự
toàn giác, đại viên mãn của
Đức Phật Thích Ca, Ngài hoàn
toàn trong sáng, thanh tịnh tuyệt
đối, không một chút bợn
nhơ, không nhị nguyên. Ngài là
bậc toàn tri toàn trí, siêu tuyệt.
Ngài là đấng toàn năng có
thể hướng dẫn muôn loài
chúng sinh thoát khỏi khổ đau và
những phương pháp của Ngài
sẽ dẫn dắt chúng sinh tu tập
đến giác ngộ, thành phật.
Lòng từ bi bao la của Ngài che
chở muôn loài, cả chúng ta,
để lập tức chấm dứt
tất cả khổ đau.
Ngài hằng muốn chỉ cho
chúng ta con đường thoát khổ,
nhưng bổn phận của chúng ta là
phải chuyển hướng tâm của
chúng ta vào trí tuệ, vào từ
bi và vào sức mạnh độ
trì của Ngài. Vì thế, hãy
quán tưởng càng trong sáng
càng tốt, mỗi một người
chúng ta hãy tự phát nguyện:
“Con qui y Phật, đấng toàn năng
toàn giác Thích Ca Mâu Ni; con qui y
Pháp, trí bát nhã và những
lời dậy bảo của Ngài; con qui y
Tăng, là những người
biết kiểm soát tâm của họ theo
lời dậy của Ngài. Con qui y và
hoàn toàn nương tựa nơi Tam
Bảo cho đến khi đạt giác ngộ.
Con kính xin Ngài độ trì con và
muôn vàn chúng sinh. Cho tất cả
chúng con nhận được sự
chỉ dậy đúng trên con
đường tu tập, từ vị
đạo sư đến sự chứng
đắc cuối cùng của giác
ngộ.”
Bây giờ hãy quán
tưởng ba chủng tử xuất hiện
trên thân thể của Phật Thích Ca.
Những chủng tử này có
thể là những Tạng ngữ, Anh
ngữ hay dưới dạng ngôn
ngữ nào cũng được.
Trên trán của Ngài xuất hiện
chủng tử màu trắng OM, ở cổ của Ngài chủng
tử màu đỏ AH, và ở ngực của
Ngài chủng tử màu xanh HUM. Những chủng tử này
cũng là ánh sáng rực chiếu
thoát ra từ trí tuệ siêu tuyệt
qua thân khẩu và ý của Phật.
Từ những tia sáng trắng,
đỏ và xanh của những chủng
tử này chúng chiếu rọi khắp
nơi và thâm nhập vào tất cả
chúng sinh để thanh tẩy tất cả
những ô trược nghiệp
chướng của thân khẩu và
ý của chúng sinh. Khi tia sáng trắng
thâm nhập vào trán của chúng ta,
chúng ta hãy nghĩ rằng tất cả
những vọng tưởng, tất cả
những ô nhiễm và tất cả những
xấu xa nghiệp chướng của thân
xác chúng ta đang được
tẩy rửa cho đến không còn
một dấu vết nào nữa. Chúng
hoàn toàn bị xóa bỏ. Cũng
giống như vậy, những tia sáng
đỏ và xanh thấm nhập vào cổ
và tim của chúng ta, chúng thanh tẩy
tất cả những ô nhiễm của
những lời nói và tâm
tưởng của chúng ta, để
chúng ta thoát khỏi nghiệp ác. Trong tiến
trình thanh tẩy này, chúng ta hãy kinh
nghiệm, hãy chiêm nghiệm sự rỗng
lặng của khổ đau và những
tình trạng sai lầm của tâm và
hãy cảm nghiệm những ô nhiễm
tâm thần này đang bị tiêu
diệt xóa bỏ toàn diện.
Trong khi những tia sáng thanh
tẩy đang chiếu sáng từ sự
quán tưởng Đức Phật
Thích Ca, chúng ta hãy dâng lời
cầu nguyện sau đây rồi tụng
những câu mật chú, lặp lại
càng nhiều lần càng tốt:
Kính
lạy Đạo sư, người sáng
lập,
Con
đường thanh tẩy hoàn toàn
ô nhiễm,
Ngài
là Phật, bậc toàn giác
Ngài
là đấng chiến thắng,
Là
đấng khôn ngoan của dòng Thích ca
---
Con
xin kính lạy Thầy và con xin qui y,
Con
kính xin Ngài nhận lễ vật của con.
Con
kính xin Thầy độ trì con.
Tayatha om muni muni maha muniye svaha
Khi
làm xong lễ quán tưởng thanh
tẩy này, chúng ta hãy nghĩ rằng
chúng ta đã nhận được
sự độ trì và trí tuệ
từ thân khẩu và ý thánh
thiện của Đức Phật Thích Ca.
Hãy cố gắng cảm nhận sự an
lạc vô biên này bằng cả tâm
hồn lẫn thể xác và hãy
thường xuyên tập trung vào nó.
Chúng ta đã thanh tẩy, bây
giờ bằng cả tâm hồn và
thể xác, chúng ta hãy ca hát trong
niềm an lạc tự nhiên này.
Với sự sửa soạn như vậy,
chúng ta bắt đầu nghe những
lời giảng dậy về Đạo
Pháp.
Chúng ta đang đi vào
một lãnh vực thực hành
đặc biệt, có thể là hoàn
toàn mới lạ với một số
người. Có một vài sự
kiện chúng ta chưa bao giờ gặp,
chưa bao giờ làm trong cuộc
đời của chúng ta. Chúng ta
đang tìm một phương pháp thực
tế để giải quyết những
vấn đề, những khó khăn
của chúng ta, để từ đó
chúng ta giải thoát chúng ta khỏi
khổ đau, nhưng phương pháp này
hoàn toàn khác với những
phương pháp mà chúng ta đã
gặp trong quá khứ. Khả năng
tốt nhất mà những phương
pháp khác có thể mang lại cho
chúng ta chỉ là trì hoãn sự
khổ đau; còn tệ hại hơn, chúng
lại hướng dẫn chúng ta, chúng
lại đem chúng ta đến những
bất mãn, những nỗi chán
chường to lớn hơn.
Ngược lại, ở đây
chúng ta sẽ được dậy bảo,
những lời dậy bảo này
có khả năng tạo sự tự tin
mãnh liệt trong mỗi người
chúng ta, vô số lượng chúng
sinh trong quá khứ đã đạt
giác ngộ theo phương pháp này.
Sự thật này chắc chắn cũng
sẽ xẩy ra cho thời đại của
chúng ta và cho cả trong tương lai
nữa. Đây là Đạo Pháp,
đã được truyền dậy
bởi những bậc toàn giác,
bởi Phật Tổ.
Đạo Pháp không
lừa dối chúng ta. Nó chính
là liều thuốc giải độc, là
liều thuốc hóa giải tất cả
những sự lừa dối và
tất cả những hiện tượng khổ
đau đang diễn ra trong thế giới
luân hồi này, thế giới này
luôn luôn chỉ có đau khổ và
lừa dối tiếp diễn. Tại sao
chúng tiếp diễn như vậy? Chúng
xuất hiện như thế nào? Nếu
chúng ta không nhận diện
được tính cách vô
thường của chúng hoặc nếu
không hiểu chúng xuất hiện như
thế nào thì chúng ta chỉ biết
nhắm mắt mà tin theo chúng thôi.
Vì bị u mê say đắm trong sự
xuất hiện của chúng nên chúng ta
đã hoàn toàn đặt niềm tin
của chúng ta vào những quan niệm,
vào những ý niệm sai lầm của
những đối tượng trong luân
hồi. Từ đó chúng ta nhìn
sự vật xuất hiện trong thế
giới này không còn thật như
chính chúng là mà đã bị
méo mó theo những vọng
tưởng của chúng ta rồi.
Đây chính là những khuôn
mẫu của tất cả những hành vi
và thái độ của chúng ta
đã được chất chứa
từ muôn vàn kiếp cho đến ngày
hôm nay. Chúng không là gì khác
hơn là chỉ hướng dẫn
chúng ta từ đau khổ này
đến những đau khổ khác.
Dĩ nhiên, nếu chúng ta
thực hành không đều đặn,
chỉ áp dụng khi có dịp hoặc lơ
là thì phương pháp thực
hành Đạo này cũng chẳng
giúp gì được chúng ta, vì
như chúng ta đã biết những
thói quen đã hằn in dấu vết
trong tâm thức của chúng ta từ
nhiều kiếp rồi. Sẽ chẳng có
một chút ơn phước nào,
nếu có thì cũng chẳng tồn
tại lâu được vì chúng ta
chỉ áp dụng trong một vài năm
hoặc chỉ trong những dịp đi nghe
thuyết pháp. Chúng ta cần phải
thực hành liên tục trong từng
giây phút, ở bất cứ
đâu, bất cứ chỗ nào.
Chúng ta đang sống trong một thời
đại đầy nguy hiểm, từ
thiên nhiên và từ chính con
người làm ra. Chẳng có gì
là chắc chắn vững bền, ngay
cả việc bảo vệ cái thân xác
này. Vì thế chúng ta nên chuyển
tất cả những gì chúng ta làm
trong đời sống hàng ngày
vào việc thực hành Đạo
Pháp. Chúng ta không nên viết
đầy trong tập ghi chép của chúng ta
hay chất đầy vào tâm của chúng
ta những gì gọi là thông minh
của những lời dậy bảo. Thay
vì thế, ngay lập tức, chúng ta
hãy cố gắng dồn tất cả
nỗ lực vào việc thực hành
Đạo Pháp. Như vậy, ngay cả việc
đang ngồi lắng nghe bài giảng bây
giờ cũng trở thành hoạt
động tinh túy của Đạo Pháp,
mang lại thật nhiều ơn phước.
Không cần phải cầu kỳ về
vật chất hoặc tinh thần mới
có thể thực hành tâm linh có
kết quả.
Không thể lấy những
lợi ích trần gian để đo
lường ơn phước trong việc
thực hành Đạo Pháp. Chúng ta
có thể có những phần
thưởng hoặc những lời khen
ngợi trong những công việc
đòi hỏi nhiều khả năng tài
chánh cũng như sự mạo hiểm,
nhưng những sự thành đạt
này hoàn toàn không có nghĩa
lý gì nếu so sánh với
sự thực hành tâm linh. Nếu
chúng ta có gom góp ngọc ngà châu
báu trong cả vũ trụ này lại
thì chúng ta cũng không thể mua
được sự giác ngộ,
sự giải thoát, thanh tẩy vọng
tưởng, sự bình an thật trong
tâm hồn, lòng từ bi, tâm bồ
đề, tâm buông xả, không gì
có thể mua được những
ơn phước mà chúng ta có
được từ sự thực
hành Phật Pháp.
Đừng ngạc nhiên khi
những giá trị vật chất không
thể mang lại cho chúng ta những giải
quyết rắc rối trần gian. Tại sao
vậy? Tại vì nếu chúng ta có
chất chứa, có thâu góp tất
cả những gì chúng ta đã
sở hữu trong kiếp này và trong
muôn vàn kiếp trước vào
một nơi thì cả cái vũ trụ
này cũng quá nhỏ bé chật hẹp
đối với chúng. Mặc
dù chúng ta có giầu đến
độ không thể tưởng
tượng nổi thì cũng không
thể mua được cái gì có
thể thay thế
khổ đau của chúng ta. Tâm của
chúng ta cũng vẫn rối loạn, cũng
vẫn loạn động, cũng vẫn
đòi hỏi để rồi lại tạo
ra nhiều đau khổ hơn nữa cho chính
mình và cho những người
khác.
Tuy nhiên, qua việc thực
hành Đạo Pháp, chúng ta có
khả năng đạt giác ngộ và
có rất nhiều ơn phước hướng
dẫn chúng ta đến sự giải
thoát tối thượng. Chúng ta sẽ
được mãn nguyện trong sự hiểu
biết của chúng ta về tất cả
các hiện tượng ở bên trong
tâm của chúng ta cũng như tất
cả những hiện tượng xẩy ra
ở bên ngoài. Hơn nữa, niềm
an lạc của Đạo pháp sẽ không
hề bị mất đi hay biến thành
khổ đau. Nó mang lại hạnh phúc
vĩnh cửu. Lạc thú của luân
hồi và phúc lạc của Đạo
Pháp hoàn toàn khác nhau.
Đừng cố gắng đi tìm
hạnh phúc ở những giá
trị trong cõi luân hồi, vì không
sớm thì muộn những giá
trị này cũng tan biến mất. Hãy
nhìn thẳng vào đời sống
của mỗi người chúng ta, chúng
ta sẽ tìm ra được rất
nhiều bằng chứng cụ thể về
sự thật này. Ngược lại,
sự thực hành Đạo Pháp
sẽ đem chúng ta đến giải
thoát và giác ngộ, ngay khi bắt
đầu thực hành chúng ta
đã thấy những kết quả
khác biệt rồi, niềm hạnh phúc
này không bao giờ chấm dứt.
Vấn đề chính của
chúng ta là chúng ta thiếu sự
phân biệt và trí tuệ để
hiểu rõ những gì kinh nghiệm
của chúng ta dậy chúng ta về
thực tính của những sự
kiện xẩy ra trong cõi luân hồi. Mặc
dầu chúng ta biết những khoái
lạc trần gian chỉ dẫn chúng ta
đến bất mãn và bất mãn,
nhưng chúng ta vẫn cố tình quên
đi sự thật căn bản này và
vẫn tiếp tục đuổi theo những
ảo ảnh hạnh phúc. Trong chiều
hướng đó, những hiện
tượng trần gian sẽ lôi cuốn
chúng ta vào cạm bẫy, và hơn
thế nữa, chính chúng ta tình
nguyện để bị bẫy.
Tinh túy của sự thực
hành Đạo pháp là tỉnh
thức trong từng hành động
của chúng ta và học hỏi từng
kinh nghiệm của chúng ta. Nếu chúng ta
thường xuyên liên tục làm
như vậy thì không có gì có thể
đánh lừa, đánh bẫy
được chúng ta và tâm của
chúng ta sẽ an trú sâu trong an lạc,
mặc dầu chúng ta đang sống trong thế
giới của mê mờ vọng
tưởng. Đây là con
đường tích lũy ơn
phước chẳng những cho kiếp
này mà còn cho tất cả những
kiếp trong tương lai nữa.
Phương pháp căn bản,
phương pháp cốt tủy trong việc
chuyển hóa tất cả những sinh hoạt
hàng ngày vào những hoạt
động Đạo Pháp là kiểm
soát tất cả những động
lực, những động năng thúc
đẩy trong chúng ta. Hãy hiểu rằng
tất cả những việc chúng ta
làm đều mang lại ơn phước
cho chính chúng ta và cho những
người khác. Nếu có động
năng thúc đẩy tốt thì bất
cứ gì chúng ta thực hiện
đều mang lại những kết quả
tốt lành. Đây chính là
sự hòa nhập trong thực tại.
Sản phẩm của tâm không phải chỉ
có đau khổ mà còn có cả
hạnh phúc và giác ngộ nữa.
Tất cả đều khởi phát ra
từ tâm. Vì thế, nếu chúng ta
điều khiển được động
năng, thái độ đúng của
tâm, thì bất cứ gì chúng ta
làm đều có thể hướng
dẫn chúng ta đến giải thoát,
đến giác ngộ, đến đại
lạc.
Thật
quý giá khi được mang thân
người
Vị đại đạo sư
Tây Tạng Je Songkhapa, người đã
đạt sự toàn tri trong giác ngộ,
nói:
Trong
cõi đời này,
Được làm thân
người, thật quý giá thay,
Còn hơn cả ngọc ngà châu
báu.
Thực là khó tìm
vì nó dễ tàn phai,
Như ánh chớp bay qua
bầu trời.
Nghĩ đến bản tính
của đời sống,
Đạt được tinh
túy là điều cần thiết,
Trong cả đêm lẫn
ngày.
Ta, một yogi, đã thực
hành như vậy.
Còn ngươi, kẻ muốn được
giải thoát,
Hãy cố gắng mà noi theo.
Chúng ta đã biết
được mang thân người
là một điều vô cùng quý
giá, còn hơn cả ngọc ngà châu
báu. Với thân xác này,
chúng ta có trí thông minh và
đầy đủ thời giờ
để tu tập thành quả vị phật,
giải thoát chúng ta khỏi luân hồi
sinh tử và hưởng rất
nhiều ơn phước mà không
có gì có thể mua được,
dù chúng ta là người giầu
có nhất trần gian.
Được mang thân
người thật qúy gía, không
phải chỉ vì giá trị của nó
mà chỉ vì nó quá hiếm hoi.
Đại đạo sư Je Songkhapa nhấn mạnh
điểm này bởi vì chúng ta
chỉ có thể được một
lần thôi, “trong thời hiện tại
này.” Đây là một việc vô
cùng khó khăn trong sự kết tập
nghiệp qủa để tạo nên một con
người. Chắc chắn chúng ta
đã phải tích tụ biết bao
nhiêu thiện nghiệp nên mới
được sinh ra làm người trong
kiếp này, thật là khó khăn thay.
Sống đạo hạnh trong thời
đại này thật là khó khăn,
lại càng khó khăn hơn nữa
nếu phải ở trong những cõi
thấp hơn, cõi mà chỉ có khổ
đau. Ở cõi cao hơn thì còn
có chút thời giờ để
tạo thiện nghiệp, bởi vì họ
còn biết lánh xa khoái lạc.
Còn nữa, chúng ta cần
biết sự thật quan trọng là không
phải bất cứ ai cũng
được ơn phước này.
Phải có rất nhiều điều kiện
khác nhau trước kia mới tạo ra
được hoàn cảnh dẫn
đưa đến mục đích hôm nay.
Những lời giảng dậy về
Đạo Pháp đã thâm nhập
vào xứ sở mà chúng ta
đã sinh sống và chắc chắn
phải có những vị đạo sư
đã hướng dẫn chúng ta,
đó là hoàn cảnh bên ngoài.
Lý do ở nội tâm là chắc
chắn chúng ta phải thích, phải
ước muốn, phải quyết tâm
tìm kiếm đạo và thực
hành đạo. Thêm vào đó,
chắc chắn chúng ta phải
được tự do, phải có
đủ điều kiện trong cả hai phương
diện tinh thần lẫn thể xác
để có thể học đạo và
thực hành đạo. Nó đòi
hỏi rất nhiều tinh thần đạo
đức để cho tình trạng này
có thể xẩy ra được và
cũng không chắc gì chúng ta có
thể tạo thêm được nhiều
thiện nghiệp nữa để có lại
thân người. Vì thế, đạo
sư Je Tsongkhapa khuyên chúng ta nên lợi
dụng cơ hội cuối cùng, hiếm
có và quí báu này.
Cơ hội hiếm
được mang thân người
này cũng rất dễ bị mất,
nó đi nhanh như “ánh chớp ngang
qua bầu trời.” Chúng ta có
thể chết bất cứ lúc nào,
trước khi chúng ta đề cập
đến nó. Nếu chúng ta nhìn
vào chính chúng ta, có thể chúng
ta thầm nghĩ mình sẽ còn sống
lâu lắm. Nhưng biết đâu
tử thần đã kề bên mặc
dù một ngày chưa qua hết, trong khi
niềm hy vọng sai lầm sống lâu trăm
tuổi vẫn còn đang ôm ấp.
YÙ niệm sai lầm này
là một trong những trở ngại to
lớn nhất ngăn cản sự tinh
tấn trên con đường thực
hành Đạo Pháp, bởi vì nó
sẽ tạo ra sự lười biếng
và trì hoãn. Vì tưởng
rằng mình sẽ còn sống lâu
nên không quyết tâm tu tập, không
cố gắng thiền định và không
chú tâm thực hành Đạo.
“Tôi mệt qúa, người uể
oải qúa, thôi để đến mai
hãy thiền, làm gì mà vội...
hãy đợi tuần sau đi, năm sau
cũng chẳng sao mà!” Khi nghĩ như
vậy, chúng ta đã tự đánh
lừa mình và làm mất hết
những gì đã học hỏi
được.
Có lẽ tất cả chúng
ta đã nghe những lời dậy
bảo và đã làm quen với
một số hướng dẫn về
thiền định. Nếu chúng ta không
thực sự áp dụng những
sự hướng dẫn này vào thiền
định thì chúng ta sẽ chẳng
đón nhận được ơn ích
nào cả. Ngày tháng sẽ đi qua mau,
nhưng cơ hội thì không còn, rồi
cũng chẳng chứng nghiệm
được gì. Chúng ta lại tiếp
tục sống với những thái
độ tiêu cực quen thuộc của
chúng ta, rồi cũng sẽ chẳng có
một chút tinh tấn nào trên con
đường tìm hiểu và
thực hành Đạo Pháp. Như vậy,
trước khi có thể nhận biết
được nó thì chúng ta
đã chẳng còn sống nữa.
Chúng ta sẽ đánh mất một cơ
hội hiếm hoi để thoát khỏi
kiếp luân hồi mà ra đi trong niềm
nuối tiếc và hối hận. Mặc
dù có sống cả trăm năm mà
không tinh tấn trong Đạo Pháp thì
cũng uổng phí thôi, vì cái
chết sẽ tới nhanh như ánh
lửa lóe lên trong bầu trời.
Một khi chúng ta thiền
định sâu xa về giá trị, về
sự hiếm hoi và dễ tan vỡ
của thân xác chúng ta, chúng ta
sẽ nhận ra được những
hoạt động trần gian, những sinh
hoạt trong kiếp luân hồi chẳng còn
một chút giá trị nào, chúng chỉ
giống như cái vỏ thóc mà
thôi. Chúng ta càng thiền định
về những sự kiện này,
càng quán tưởng về cuộc
đời riêng của chúng ta và
những gì liên hệ đến
nó, chúng ta càng nhận ra rằng
phúc lạc chân thật chỉ có
từ sự thực hành Đạo
Pháp. Chúng ta chỉ có thể đạt
giác ngộ khi chúng ta cố gắng chân
thành chuyển hóa tâm ta.
Điểm này dẫn chúng
ta trở về với câu hỏi
động năng thúc đẩy. Nhờ
kiểm soát được tâm,
nhờ theo dõi từng lời
nói và hành động của mình,
chúng ta có thể tránh
được những sinh hoạt tiêu
cực mà chính nó có thể
dẫn chúng ta đến những kiếp
tái sinh thấp hơn, nhiều đau khổ
hơn. Nhưng, như chúng ta đã hiểu,
mặc dù chúng ta có sinh lại trong một
kiếp may mắn hơn chúng ta cũng
vẫn không giải quyết được
những vấn đề của chúng ta.
Có những kiếp sinh ra ít đau
khổ hơn đau khổ của kiếp
trước nhưng sự đau khổ
của kiếp hiện tại cũng đủ bao
trùm cả cuộc sống rồi. Do
đó, nếu chúng ta muốn giải
quyết toàn diện đau khổ, chúng ta
cần phải tu tập hướng tới
sự chấm dứt nguyên nhân phát
sinh ra luân hồi.
Như vậy, động năng tu
tập để thoát khỏi đau khổ
một mình không phải là động
năng thúc đẩy cao nhất. Vô lượng
chúng sinh đang khát vọng niềm an
lạc và kinh hãi khổ đau như
chúng ta, họ cũng đang bị giam trong
luân hồi. Nếu chúng ta chỉ nghĩ
giải thoát một mình trong khi những
người khác đang u mê và
vô vọng, thiếu thầy chỉ dậy cho con
đường chấm dứt khổ
đau của họ thì sao? Do đó,
động năng tu tập, động năng
thực hành Đạo Pháp của
chúng ta không thể thiếu lòng
từ bi, chúng ta cần phát triển
tâm bồ đề. Chúng ta tu tập
để giác ngộ, chúng ta cần giải
thoát chính mình đồng thời
cũng phải phát triển tâm từ
và trí tuệ để có đủ
khả năng giúp đỡ những
người khác . Như vậy, những
hoạt đôïng như đến
đây lắng nghe Đạo Pháp cũng
có thể chuyển thành sự thực
hành đạo một cách vô cùng
hiệu quả nếu chúng ta hoàn thành
với một tâm nguyện bồ
đề. Phát khởi tâm từ
là một điều kiện vô cùng
cần thiết trong việc tinh tấn tu tập
và tỉnh thức.
Tâm
Hoàn Toàn Buông Xả
Nếu phải đề cập
đến tinh túy của Đạo Pháp
thì chúng ta có thể thâu tóm
vào ba lãnh vực, được
gọi là ba nguyên lý căn bản
của con đường dẫn đến
giác ngộ. Đó là Tâm Hoàn Toàn Buông Xả, Tâm
Bồ Đề và Quan Niệm Đúng về Tánh
Không. Nói vắn gọn, chúng như
là chất dầu đặc biệt
đẩy phi thuyền của chúng ta thẳng
tới mặt trăng toàn giác. Chúng
ta sẽ tìm hiểu chúng trong phần
còn lại của bài giảng này. Theo
phương pháp này, có thể sẽ
dễ hơn và nhanh hơn để chúng
ta chiến thắng những tính tiêu
cực mà chúng đã hành hạ
chúng ta trong vô lượng kiếp.
Đạo sư Je Tsongkhapa đã để
lại một bài kệ vô cùng quí
gía về ba nguyên lý này, tôi
sẽ trình bày nó theo lối viết
của ngài Kyabje Pabongka Rinpoche, một đại
hành giả tu khổ hạnh Tây Tạng
đã đạt ngọâ theo lối
thiền mật tông Heruka Chakrasamvara.
Cánh
cửa mở ra cho tất cả những
con đường tâm linh, từ
sự giải thoát cá nhân
đến sự giác ngộ tối
thượng, chính là tâm hoàn
toàn buông xả. Như là
một giấy thông hành, một sự
chủng ngừa và một số tiền
độ thân cần thiết cho một cuộc đi
du lịch, muốn tinh tấn trong sự
thực hành Đạo, tâm cần
phải buông xả một cách toàn
diện. Một thiền giả sẽ không
đạt được một sự
tiến bộ nào nếu không thực
tâm buông xả tất cả. Mặc dù
họ đang ở nơi tu tập, đang
lắng nghe và đang nhận lãnh
những lời dậy bảo về
thiền định, nhưng họ cũng đang
tiếp tục bị ràng buộc bởi
những chướng ngại thầm kín
của cả tinh thần và thể xác
họ. Sở dĩ nói như vậy bởi
vì họ đã không phát triển
sức mạnh của tâm hoàn toàn
buông xả. Cho tới khi nào sức
mạnh của lòng thành tâm buông
xả tăng lên, thì những
chướng ngại ẩn náu sâu xa kia
sẽ tự động sút giảm và
kết quả của sự thiền định
sẽ tới ngay. Lúc đó, tâm
cũng tự điều chỉnh để
mang lại sự tinh tấn.
Đức Phật Thích Ca
đã tinh tấn trên con
đường tu tập của Ngài
bởi vì Ngài quyết tâm buông
bỏ tất cả. Do đó, Ngài có
thể thanh tẩy, tinh tiến vượt
bực, có khả năng chuyển hóa
muôn vàn chúng sinh, hướng
dẫn họ sinh vào những cõi cao
hơn, giải phóng họ và giúp họ
đạt giác ngộ, cho đến ngày
hôm nay. Cũng giống như vậy, đại
thiền giả du già Tây Tạng MIlarepa
đã từ bỏ tất cả để
tu tập và Ngài đã hoàn
toàn giác ngộ chỉ trong một kiếp.
Người ta thường
nghĩ rằng phát triển tâm buông
xả như vậy sẽ làm chúng ta bi quan
và ngu dốt đi, nhưng hoàn toàn
ngược lại, tất cả những
vị thiền giả tinh tấn trên con
đường thiền định
đều kinh nghiệm được sự
hạnh phúc chân thật và an lạc ngay
trong cuộc sống trần gian này. Nếu
chúng ta nghĩ rằng sự buông xả
sẽ phá hủy sự hưởng
thụ trong cuộc sống này thì chúng ta
đã hiểu sai ý nghĩa của nó
rồi. Khi một người thực
sự phát triển tâm buông xả,
họ sẽ có kinh nghiệm và thực
chứng sâu xa về hạnh phúc và
an lạc, cả tinh thần lẫn vật chất,
niềm hạnh phúc của họ vượt
xa những người chỉ biết quanh quẩn
với những thú vui xa hoa vật
chất mà không có thực
chứng.
Chúng ta hãy thử nhìn
sâu vào lãnh vực này xem sao.
Một người sở hữu tài
sản to lớn có thể nói rằng
họ đang tận hưởng cuộc
đời, như vậy họ không cần
sống đạo, không cần Đạo
Pháp. Họ nói như thế nhưng tâm
của họ đang hờn giận ganh ghét,
vô minh, kiêu mạn,...vân vân... Nếu
đây là tất cả những gì
họ tin tưởng, thì tại sao chúng ta
lại bảo rằng họ đang khổ, còn
nhà tu hành từ bỏ tất cả kia
lại sung sướng hạnh phúc hơn
họ? Câu trả lời là
người đó đang đi tìm
hạnh phúc và sự an toàn trong
luân hồi, những thứ này
đang làm họ mờ mắt, dù
họ biết hay không biết, đau khổ
rồi sẽ đến. Để tạm
thời bảo vệ cái tâm trạng
của mình, họ từ chối không
nhận những điều bất mãn
mà họ đang kinh qua. Hơn nữa, họ
không có khả năng nhìn ra
được vọng tưởng đang
nằm trong vấn đề này. Vì
thế, điều mà họ cho là đang
hạnh phúc thực ra chỉ là sai lầm
u mê, nói một cách rất thành
thật, họ chẳng hạnh phúc chút
nào. Ngược lại, thiền giả
vượt qua được những
chướng ngại trong tâm chính là
nhờ sức mạnh của tâm
buông xả, làm họ thoát khỏi những
khổ đau của vọng tưởng mà
tiến tới một đời sống
vững chắc trong sự an lạc của cả
thể chất lẫn tinh thần.
Những vấn đề vật
chất đều phát khởi từ
tinh thần. Còn nữa, chúng ta
thường cho rằng nguyên nhân tạo
ra đau khổ không phải là kết
quả của lòng ganh tị và ham muốn,
mà chỉ có những bệnh tật
của thân xác mới đem lại
khổ đau. Thực ra, nguyên nhân của
cái đau phát xuất từ một
tâm tiêu cực và đây chính
là cái khổ của chính nó.
Thí dụ như lòng mê
vọng kiêu mạn, khi bị nó ảnh
hưởng chúng ta sẽ không còn
yên ổn mà vô cùng bực
bội. Chúng ta bị bơm phồng lên
như một trái banh. Nếu kiểm
điểm, chúng ta sẽ cảm thấy
vô cùng khó chịu và sẽ nhận
thấy nhiều hiện tượng xẩy ra
chung quanh mình, thân xác thì run lên tinh
thần thì bấn loạn. Nếu chúng ta
công nhận tình trạng “bất an” này
là đau khổ thì chắc chắn
chúng ta phải liệt kê kiêu mạn
vào trong danh sách này.
Thật là dễ dàng
để nhận ra rằng nóng giận
cũng nằm trong danh sách của khổ
đau. Chẳng có một chút thoải
mái nào khi ở vào tình trạng này.
Nóng giận gây ra đau tim, mất bình
tĩnh và biết bao nhiêu hậu qủa
xấu xa khác cho tâm hồn. Nó
chẳng mang lại một niềm hạnh phúc
nào ngoài đau khổ.
Lòng tham lam là một loại
mê vọng gây đau khổ khó nhận ra
nhất. Đây cũng chính là một
chướng ngại, một nguyên nhân mang
lại đau khổ. Hãy tưởng
tượng chúng ta đang ở trong
một cửa tiệm, có một món
hàng mà chúng ta rất thích thú,
muốn có cho bằng được.
Tâm của chúng ta liền bị khựng
lại khi nhìn thấy món hàng
đó, không thể không mua
được, phải mua ngay. Mỗi khi ý
tưởng này xuất hiện ra trong tâm
của chúng ta, chúng ta cảm thấy
có một cái gì đó thắt
chặt tim ta hoặc như một lưỡi dao
nhọn dí vào trái tim ta. Có thể
chúng ta cho rằng đây là một
thói quen rồi chấp nhận nó như
một niềm hạnh phúc, nhưng nếu
nhìn gần hơn, sâu hơn chúng ta
sẽ thấy thực sự đây
là một tình trạng bị gò bó,
một sự thắt chặt.
Cũng như vậy, tất cả những
phiền não tinh thần và những
ảnh hưởng của nó đều
mang lại khổ. Rất nhiều người
trong chúng ta không nhận ra được
những tâm trạng tiêu cực
này là bệnh hoạn mà cứ
tưởng rằng họ vẫn khỏe
mạnh lắm. Chúng ta có thể hiểu
được sự thật này qua
sự sử dụng thuốc men. Nhiều khi
chúng ta đi khám bệnh mà không
có một lý do rõ rệt nào, nhưng
bác sĩ lại phát giác ra chúng ta
đang mang một chứng bệnh hiểm
nghèo. Như vậy điều mà
trước kia chúng ta nói rằng
chúng ta chẳng có bệnh gì hết
là sai lầm, nếu khôn ngoan thì
chúng ta nên nghe theo lời bác sĩ
mà chữa bệnh ngay. Do đó một
người cho rằng họ không khổ,
việc thực hành Đạo chỉ
để dành cho những người
thất bại hoặc những người
bất mãn với thời cuộc,
nếu họ tự kiểm điểm một
cách sâu xa về những thái
độ tự vệ này thì họ
sẽ trở nên khôn ngoan hơn.
Một tâm hoàn toàn
buông xả sẽ dẫn đến phúc
lạc vì những nguyên nhân gây ra
xáo trộn đã không còn hoạt
động. Phát triển tâm buông xả
không có nghĩa là đi sống
biệt lập với xã hội và
rời xa những sinh hoạt lợi
lạc của nó. Nếu nó xẩy ra như
vậy thì chúng ta sẽ không còn
khả năng và cơ hội để
phát triển tâm
buông xả nữa mà phải
đợi cho đến khi nào rời
khỏi xác thân này, vì thân
xác cũng là một phần của
thế giới vật chất. Nó cũng
không có nghĩa là chúng ta phải
vất đi tất cả những tài
sản của chúng ta. Trong một khía cạnh
nào đó, tâm của chúng ta
cũng là một tài sản, làm sao
chúng ta có thể chạy trốn nó
được? Vì thế, buông xả
không phải là một hành động
tách biệt, chia cắt hoặc lìa bỏ;
nó không là một cái gì
đó mà chúng ta có thể
hoàn thành giống như làm xong một
công việc. Đúng hơn, nó là
một hoạt động của tâm.
Vậy thì tâm buông xả
là gì? Đây
chính là sự buông bỏ những
nguyên nhân gây ra đau khổ,
những sự buồn lòng tự
chính nó. Mỗi khi chúng ta loại
bỏ được những nguyên
nhân này thì những khó khăn
rắc rối không còn xẩy ra một
cách dễ dàng nữa – cho một
cá nhân hay cho cả một cộng
đồng xã hội -- như vậy tham lam,
giận dữ và kiêu mạn sẽ không
còn làm gì được chúng
ta. Chúng ta sẽ không còn bị rơi
vào những vấn đề gây ra
buồn phiền hay không buồn phiền,
bởi vì những nguyên nhân
của chúng đã bị loại bỏ.
Xin nhấn mạnh điều
này, từ bỏ không có nghĩa
là vất bỏ đi tất cả
những thú vui trần gian mà chúng
ta đang có. Đã có rất
nhiều vị giác ngộ là những
thương gia giầu có, vua chúa,
vân...vân...Đây không phải là
sự sở hữu của chúng ta mà
chính là sự vô minh của chúng
ta, tất cả những thái độ
bám víu, níu kéo, dính mắc
và nuối tiếc của chúng ta vào
chúng cần phải buông bỏ (Một vị đạo sư nói:
hãy thưởng thức tất cả
những gì có trên đời
này nhưng đừng bám víu
vào bất cứ cái gì,
đó là nguồn gốc của khổ
đau và hạnh phúc. –Dg ).
Mặc dầu trong hiện tại chúng ta không
để ý, không thực tập trên
thái độ này nhưng nếu chúng
ta chỉ hiểu ý nghĩa thực sự
buông bỏ là gì thì chúng ta
cũng đã bớt được
rất nhiều phiền muộn. Tuy nhiên,
nếu chúng ta thực sự thực
hành phát triển tâm buông xả
thì chúng ta sẽ tiến rất xa trên
con đường giải thoát. Chúng ta
sẽ xử dụng những của cải
của chúng ta một cách khôn ngoan hơn để
không bị chúng hành hạ. Chúng ta
sẽ biết cách đối trị
những mâu thuẫn nội tại về
ý nghĩa thật của sự buông xả,
thấu suốt được toàn triệt
những niềm tin nhảm nhí đã
dẫn dắt chúng ta đến khổ
đau, bất hạnh, yếu hèn như một
kẻ ăn xin.
Buông
Bỏ Đau Khổ
Không có một tâm hoàn
toàn buông bỏ khổ đau thì
không có cách nào thoát khỏi
biển trầm luân. Chúng ta đã
bị chới với trong biển này
từ muôn vàn kiếp và sẽ
tiếp tục chìm lặn trong đó
nếu chúng ta không quyết tâm ngay
từ bây giờ thoát ra khỏi
nó. Với quyết tâm buông bỏ
toàn diện như vậy sẽ tạo nền
tảng vững chắc cho con
đường giải thoát đến
giác ngộ, đây chính là
những lời dậy bảo
trước kia về động năng
thúc đẩy đến giác ngộ,
đây cũng chính là một quan
điểm đúng đắn về
tính không.
Chúng ta không hy vọng phát
triển được tâm buông xả
nếu chúng ta không hiểu luân hồi
là gì và đau khổ là gì.
Nếu chúng ta không nhận thức
được bản tính khổ đau
của luân hồi thì chúng ta cũng
không có một năng lực nào
thúc đẩy chúng ta tìm con
đường thoát khổ. Vì
thế, chúng ta cứ mãi hoài
ngụp lặn trong những thú vui tạm
bợ, nhất thời, bị mù
quáng và bị cột chặt vào
bánh xe khổ đau và bất mãn.
Chúng ta như những tên tù
khờ dại chẳng hiểu biết gì
về nhà tù khốn khổ khi so sánh
với một đời sống thoải
mái tự do, nên chẳng bao giờ
tạo cơ hội mà trốn thoát. Do
đó, thiền định trên bản
tính của khổ đau là một việc
làm vô cùng quan trọng nếu chúng
ta muốn tìm kiếm và theo đuổi con
đường giải thoát khỏi
luân hồi.
Có rất nhiều
người hiểu sai về luân hồi.
Một số người nghĩ đó
là một xứ sở, một nơi chốn,
một căn nhà hay là một loại
thức ăn ...vân...vân. Vì hiểu
lầm như vậy nên người ta
nói rằng ở Tây Tạng có
những người chuyên môn phục
dịch cho những lạt ma cao cấp.
Những người này ở
với lạt ma cả đời, phục
vụ ông ta và lo lắng tất cả
mọi việc cho ông ta. Rồi một ngày
nào đó họ thay quần đổi
áo bằng một bộ cà sa tu hành.
Một thời gian ngắn sau
họ được gửi đến
một vị lạt ma khác. Lạt ma này
nghĩ rằng chắc ông đã hiểu
Đạo thâm sâu vì đã
ở với cao tăng lâu lắm
rồi. Lạt ma hỏi ông đã tinh
tấn như thế nào trên đường
tu tập. Ông trả lời: “Con
đã thoát khỏi luân hồi.”
Vị lạt ma có vẻ hài lòng và
hỏi thêm làm sao mà ông ta
đạt được điều
đó. Ông trả lời: “ Dễ
thôi, con đã thay quần áo rồi
!”
Đó là những
kiểu hiểu lầm về luân hồi.
Lại có những người khác,
họ rời bỏ lối sống
thường ngày để đi vào
hang động và rừng sâu để
tu, họ nghĩ rằng như vậy là
đã trốn thoát khỏi luân
hồi. Đây cũng là một hiểu
lầm, dù có lên mặt trăng mà
ở, chúng ta cũng vẫn ở trong
luân hồi. Luân hồi không phải
là một nơi chốn để mà
chạy trốn, nó chính là tình trạng
và thái độ của tâm chúng ta.
Luân hồi (samsara) là một
danh từ tiếng Phạn (Sanskrit) có
nghĩa là “chu kỳ, vòng tròn”
hay “vòng hiện sinh.” Cho tới khi
nào chúng ta chưa kiểm soát
được vòng chết và tái
sinh là chúng ta còn ở trong luân
hồi. Ngay bây giờ, chúng ta đang du
hành qua hình dạng con người. Khi
đời sống này qua đi, tâm thức của
chúng ta –hoặc, chính xác hơn, sự liên tục
của năng lượng tinh thần—sẽ
bay theo cơn gió nghiệp vào một
đời sống khác mà không
có quyền lựa chọn. Như vậy
là nó lại cư trú vào một
thân nghiệp khác. Và rồi
đời sống này lại cũng
sẽ chấm dứt, tâm thức
của chúng ta lại ra đi không có
quyền chọn lựa. Trừ khi chúng ta
kiếm ra được một con
đường để thoát nếu
không tiến trình này sẽ liên
tục tự lặp đi lặp lại không
bao giờ chấm dứt.
Cái gì làm chúng ta
lòng vòng trong bánh xe luân hồi?
Đó chính là nghiệp lực
được tạo ra bởi chính
những hành động của chúng ta
cộng với những vọng
tưởng của chúng ta thúc
đẩy chúng. Hai lực này cột
chặt chúng ta vào những thân
nghiệp khác nhau như những sợi
dây cột tù nhân. Điều khác
biệt là chính chúng ta tự trói
chúng ta bằng những sợi dây
nghiệp và vọng tưởng do chính
chúng ta tạo ra, không có một ai
khác trói chúng ta cả.
Cho tới khi nào chúng ta
còn tiếp tục tái sinh vào một
thân xác trong luân hồi thì chúng
ta còn tiếp tục bị phiền não
và bất mãn. Hãy thử nghĩ mà
xem, tất cả những khó khăn,
tất cả những vấn đề
mà chúng ta găïp đều chỉ
vì chúng ta mang cái hình thể hiện
tại. Chúng ta phải cho nó ăn, phải
cho nó mặc, chúng ta phải săn sóc
nó rất cẩn thận thì mới mong
nó được khỏe mạnh. Chúng
ta phải làm việc cực nhọc
để có tiền mà phục vụ
nó, ngay cả việc phải có một
căn nhà để giữ nó ấm.
Sau một ngày làm việc cực khổ,
tâm chúng ta bị mệt mỏi, chán
chường vì thân xác của
chúng ta rã rời và uể oải.
Còn nữa, mặc dù chúng ta
đã cố gắng hết sức
bảo vệ nó, thân xác của chúng
ta vẫn thường xuyên bị nhiễm
trùng và bị thương. Măïc
dù bị như vậy nhưng không một ai
trong chúng ta muốn xa rời cái
nguyên nhân bất an này, dường
như không còn một con đường
nào khác để trốn thoát
nếu không có nó. Sự thiếu
tự do chọn lựa này là một
sự kiện rất tự nhiên của
luân hồi.
Chúng ta không thể có
tự do sau khi tự tử. Hành
động điên cuồng này, sinh ra trong
tuyệt vọng, chỉ để thay thế một
thân xác bệnh hoạn khác mà
thôi. Thay vì như thế, giống như
một tù nhân cắt đứt
sợi dây trói, chúng ta cũng
phải cắt đứt nghiệp và
những vọng tưởng của chúng
ta. Chỉ có cách này mới giải
thoát chúng ta khỏi luân hồi. Chỉ
có sự hiểu biết sâu xa và
sự kinh hãi khổ đau đã kinh
nghiệm được trong những kiếp
luân hồi mới tạo nên
những động năng mãnh liệt
để thúc đẩy chúng ta
vượt thoát khỏi nó. Như vậy
thiền định trên sự buông
xả cần phải được
đào sâu và phát triển thật
nhiều, nhiều hơn nữa.
Có rất nhiều lý do
khiến chúng ta phải tìm hiểu càng
sâu xa càng tốt. Trong mỗi một
phút chúng ta tạo ra hàng trăm
thứ nghiệp, và, tùy theo
cường độ và sự lặp
đi lặp lại của chúng, chúng
có thể đẩy chúng ta vào
rất nhiều loại hiện sinh khác nhau,
rất nhiều hoàn cảnh sinh hoạt khác
nhau. Chỉ cần thận trọng để ý
tâm của chúng ta mỗi khi nó nổi
cơn nóng giận là chúng ta biết ngay
cảnh địa ngục chúng ta
thường tạo ra như thế nào.
Nếu trong khi chết mà chúng ta mang một
tâm trạng đầy u uất và trầm
thống bởi những vọng
tưởng thì thử hỏi cái thân
xác nào sẽ thích hợp
với những tâm thức u uẩn
khổ đau đó? Chắc chắn nó
sẽ không mang hình dạng con
người!
Nói rộng hơn nữa,
mặc dù với một nhãn quan hạn
hẹp chúng ta cũng có thể nhìn
thấy được rất nhiều
đời sống khác ngoài con
người, và cũng có rất
nhiều hình dạng con người khác
nhau trên trái đất này. Không ai
có thể chứng minh được
đau khổ của loài vật hay của
một người bị bệnh tâm thần
không ảnh hưởng đến
chúng ta, chúng thực sự có
ảnh hưởng đến chúng ta!
Vì thế, một tâm buông xả toàn
diện phải được bao trùm trên
tất cả mọi cuộc sống, từ
chỗ cao nhất đến nơi thấp
nhất. Nhờ sự chuyên cần theo
dõi trong thiền định, không
những chúng ta có thể phát
triển được tâm buông xả
mà chúng ta còn phát triển
được tâm từ bi đến
tất cả những chúng sinh bất
hạnh đang trầm luân trong khổ đau.
Tâm từ bi đó rất quan trọng
và cần thiết, đặc biệt cho
tiến trình tinh tấn tu tập của
chúng ta.
Đức Phật Thích Ca
đã dậy chúng ta có ba cõi
thấp hơn cõi con người, mỗi
một cõi đều do nghiệp cấu tạo
ra những tình trạng tương ứng
như vậy. Ba cõi đó là : cõi Địa Ngục, cõi
của khổ đau; cõi Ngạ Quỷ, cõi của đói
khát và cõi Súc
Sinh, cõi của sợ hãi. Tùy theo
nghiệp của từng cá nhân,
những tình trạng khổ đau này
sẽ được thị hiện ra trong
mỗi một hoàn cảnh, nơi chốn
vật chất và thân thể khác nhau, hay
tác động trên tâm thức ở
mức độ nông sâu khác nhau.
Dù ở bất cứ trường
hợp nào, những đau khổ
này đều rất thật đối
với những người đã
tạo ra nghiệp đó để thực
sự kinh nghiệm nó.
Nhờ thực hành tâm
linh sâu vào những cõi giới
bất hạnh này, chúng ta mới
tạo ra được những động
lực mạnh hầu buông bỏ những
hành động tiêu cực dẫn
chúng ta vào tái sinh. Nhờ nếm
một chút khổ đau bây giờ trong
thiền định, trong khi còn có cơ
hội chuyển hóa ác nghiệp, còn
hơn là cứ giữ mãi tình
trạng khinh thường không sợ
hãi cho đến một ngày phát
giác ra mình đang bị sập bẫy. Khi
đó thì quá trễ rồi, chẳng
còn làm được gì
nữa, chỉ còn chờ cơn
thống khổ đến muôn
đời.
Nếu chúng ta nghĩ được
rằng những cõi khổ đau này
là do nghiệp quả mà ra thì rất
có thể chúng ta đã
được hưởng nhiều ơn
ích trong cuộc đời lắm rồi.
Thí dụ, có thể chúng ta
thường rất tự hào và có
những hành vi ngạo mạn đối
với những cái đáng lý
ra chúng ta nên hạ mình xuống. Nhưng,
nếu chúng ta hiểu được
rằng những ngạo mạn đó sẽ
dẫn chúng ta sinh vào một trong ba cõi
thấp nói ở trên và nếu
chúng ta có kinh nghiệm về khổ đau
trong lúc thiền định thì tâm của
chúng ta sẽ tự động thoát
khỏi những tâm trạng khổ này.
Biết rằng sợ hãi sẽ làm
khổ tâm cũng đủ để
chấm dứt việc tạo ra những
nguyên nhân gây khổ đau khác,
đây không phải là một
điều xấu, không phải là một
thái độ tiêu cực. Đó
là một ơn ích, một việc rất
có lợi. Nếu là thái độ
tiêu cực nó sẽ dẫn đến
khổ đau. Do đó, vì sợ tạo
ra ác nghiệp nên sẽ dẫn đến
việc quyết tâm chấm dứt khổ.
Đây là một việc tốt, không
xấu.
Ngài Shantideva (Thế Thân),
một vị đại bồ tát
người Ấn độ, đã
dẫn chứng những ơn ích khi thiền
về những cõi khổ như sau:
Kẻ nào nhớ đến
những khổ đau mà bực bội
Kẻ đó sẽ hết
kiêu căng.
Khi
khám phá ra sự khổ đau của
mình
Kẻ
đó cũng khám phá ra khổ
đau của người khác.
Đó
là cơ hội cho lòng từ bi
khởi phát.
Như vậy, những chúng sinh
bình thường như chúng ta, là
những người luôn luôn tạo
ra nghiệp và không thể kiểm soát
được vọng tưởng, thì
thiền trên những khổ đau của
ba cõi giới này là cách
tốt nhất để chúng ta tu tập
và phát triển tâm buông xả
toàn diện.
Sáu
Nẻo Luân Hồi
Cõi tái sinh thấp nhất
là cõi địa
ngục, chúng sinh ở cảnh địa
ngục. Chúng ta tạo ra nghiệp và kinh
nghiệm được khổ đau qua
nghiệp khi chúng ta cố tình gây khổ
đau và thương tích cho
người khác. Đánh nhau, chém
giết nhau, hãm hiếp kẻ khác
...vân vân... là những hành
động không đạo đức,
kết quả là sẽ tái sinh vào
đây. Cõi địa ngục có
thể rất nóng hoặc rất lạnh,
tái sinh vào cõi giới này
thường ở rất lâu dài.
Mang một nghiệp này sẽ bị tái sinh
vào địa ngục nóng có thể
dài tới 9 tỷ năm! (nghĩa là cho tới khi nào
hoàn toàn thanh tẩy hết nghiệp
đó, nhưng chúng ta cũng nên
biết rằng trong lúc chúng ta đang tẩy
nghiệp này thì chúng ta cũng vẫn
tạo thêm nghiệp, thí dụ chúng ta
đang thanh tẩy khẩu nghiệp là không
nói xấu người khác nhưng
chúng ta cũng vẫn thường nói
không đúng sự thật về
người khác. Vì thế, nếu
không tỉnh thức thì thời gian
tái sinh có thể còn dài hơn 9
tỷ năm –Dg)
Rất đau đớn trong
từng giây từng phút ở
địa ngục. Có kẻ sẽ phải
chiến đấu với kẻ thù do
chính nghiệp tạo ra. Mỗi khi bị chết,
họ sẽ hồi sinh lại để đánh
nhau tiếp. Cái đau mà chúng ta
cảm như hàng trăm mũi nhọn
đâm vào da thịt chẳng có
thể so sánh được với
cái đau của những kẻ xấu
số trong địa ngục.
Càng đi sâu vào
địa ngục thì càng kinh nghiệm
thêm đau khổ và cuộc tái sinh
sẽ lại tăng lên gấp hai. Nơi
thấp nhất trong địa ngục nóng
là A-tỳ địa ngục, ở
đây đau khổ triền miên, liên
tục không ngừng, lửa thiêu
đốt thân xác không bao giờ
tắt, hết ngày này qua ngày
khác, hết kiếp này qua kiếp kia.
Nếu vào địa ngục
lạnh thì như trong ngục tối tăm bao
bọc bởi đá băng. Chúng ta
bị ép trong những dẫy núi
đóng đầy băng tuyết. Khi
những cơn bão tuyết tràn
tới, nhiệt độ cứ giảm
dần mà thân xác thì như bị
vỡ tan ra từng mảnh. Nghiệp sẽ
tạo ra những con trùng nhỏ chui rúc
vào những nơi thịt da rạn
nứt mà chúng ta không thể
làm gì được, vì đang trong
tình trạng đông cứng.
Còn có những cảnh
diễn tả khủng khiếp hơn nữa
nhưng chúng ta không thể nói ở
đây. Có những cảnh khổ y
như chúng ta cảm nhận được
ở trong cõi loài người (Một người đang trong
cảnh cùng cực cô đơn,
với từng cơn ray rứt,
buồn tủi, sợ hãi thì
đâu có khác gì đang ở
trong địa ngục lạnh --Dg).
Rất nhiều cảnh khủng khiếp này
đã được dịch sang Anh
ngữ. Khi chúng ta đọc những
cảnh này hoặc khi chúng ta thiền
về những cõi giới này
chúng ta không nên coi đó chỉ
như là những cuốn sách truyện.
Đức Phật Thích Ca đã dậy
chúng ta về những cảnh giới
này theo sự chứng ngộ của
Ngài và do lòng từ bi của
Ngài. Ngài đã nhìn thấy
chúng sinh bị trầm luân trong những
cảnh giới này và chỉ cho
chúng ta cách thoát ra khỏi những
nơi khủng khiếp đó. Nếu
chúng ta coi những cảnh này như
là những câu chuyện cổ tích
mà không thay đổi lối suy nghĩ hoặc
thay đổi những thái độ
của chúng ta thì chúng ta đã
bỏ qua một cơ hội hiếm có, một
cơ hội quí báu để thoát khỏi
khổ đau. Chúng ta sẽ bị rơi
vào tình trạng lười biếng
và bị lôi cuốn đến bất
cứ nơi nào mà tâm của
chúng ta bị cơn gió nghiệp thổi
đi.
Cõi tiếp theo là cõi Ngạ qủy, ma đói,
hồn ma vất vưởng cực
kỳ đói khát. Chúng ta có
thể cảm nhận sự đau khổ,
sự dày vò của họ qua những
hành động điên cuồng của
mê vọng tham dục, khát khao, bủn xỉn
và hà tiện. Trong cõi ngạ quỷ
không phải chỉ bị đói khát
mà còn bị lạnh lẽo, mệt mỏi,
nóng bức và sợ hãi
cùng cực nữa. Nói rộng ra,
đây là cõi không bao giờ
được thỏa mãn, không bao
giờ được hài lòng
với bất cứ gì mà họ
mong muốn, ước vọng.
Ngạ quỷ lang thang hết năm
này qua năm khác, hết kiếp này
qua kiếp khác mà không bao giờ
tìm được một giọt
nước. Nếu nhìn thấy
nước, khi tới gần thì
nước lại biến mất. Từ xa
họ nhìn thấy hồ nước trong
xanh, mát mẻ, họ vội vã, họ
hối hả chạy lại nhưng họ chỉ
thấy bùn lầy và rác
rưởi. Nếu may mắn tìm
được một chút nước
thì đó cũng chỉ là vọng
tưởng, là ảo ảnh, uống
vào thì nó lại là một
chướng ngại. Miệng của họ
nhỏ hơn con mắt của họ, bao tử
của họ lớn hơn cổ của họ,
cổ của họ bị thắt lại nên
cái bụng to bao giờ cũng
đói. Nước thì bị bốc
hơi ngay tại cửa miệng hay nó
biến thành nước độc
trước khi vào bao tử.
Đời sống trong cõi
này thường rất dài, nó
được tính từng ngàn
năm một. Nơi cư ngụ của họ trong
lòng đất nhưng họ cũng đi lang
thang trong cõi loài người và
cõi súc sinh. Có những
người nhìn thấy họ do duyên
nghiệp nhưng hầu hết chúng ta không
nhìn thấy họ. Tất cả chúng ta
đã từng nhìn thấy những
người có tính bủn xỉn, tham lam
vô độ, nhưng thực sự
chúng ta không biết họ thuộc cõi
giới nào.
Cõi kế tiếp là cõi súc sinh (thế
giới loài vật).
Tái sinh vào cõi này là kết
qủa của bản tính súc vật mù
quáng, bản năng trì độn tâm
đóng kín mít. Nếu chúng ta
phải sinh vào cõi này, chúng ta
sẽ mất hết cơ hội để
giúp đỡ chính mình, không còn
khả năng học hỏi. Cả đời
chỉ biết tạo thêm ác nghiệp và
bị trầm luân trong đau khổ và
sợ hãi. Nếu có người
nào cố gắng dậy bảo chúng ta
những điều tốt đẹp mong
tẩy xoá đi những ác nghiệp
thì chúng ta cũng chẳng biết gì
cả chỉ biết gật đầu để
xin ăn.
Hầu như đau khổ
lớn nhất của loài thú là
đói, khát và sợ hãi
bị con thú khác lớn hơn ăn
thịt. Thường thường, khi một
con vật bắt được miếng
mồi, nó cấu xé, nhai ngấu
nghiến như sợ bị cướp
mất, đôi mắt láo liên nhìn
chung quanh sợ mình bị giết bởi
con thú khác. Những con thú nuôi
trong nhà được may mắn hơn
không sợ con khác bắt như loài
thú hoang nhưng lại bị chủ bắt
làm những công việc nặng nhọc
hoặc bị xiềng xích như một tù
nhân. Thêm nữa, rất nhiều
loài thú còn bị con người
săn đuổi và bị giết, họ
giết thú vật một cách tàn
nhẫn không thương tiếc, còn
dã man hơn là chính loài thú
giết nhau. Chúng ta phải tưởng
tượng mới nhìn ra
được đau khổ của cõi
điạ ngục và ngạ qủy nhưng
những đau khổ của cõi súc
sinh thì chúng ta đã nhìn thấy
tận mắt của chúng ta thường
ngày.
Đây chỉ là những
diễn tả ngắn gọn về những
cõi bất hạnh, khổ đau. Còn
nữa, có ba cõi khác
được coi là “may mắn”
hơn, gọi như thế vì họ
được hưởng một số
lạc thú khác nhau trong luân hồi. Ba cõi
này là: cõi con
người; cõi thần hay A tu la và cõi
trời, cõi thiên hay còn
được gọi là cõi tiên,
có tiên nam và tiên nữ. Nói
chung, được sinh vào ba cõi này
vì đã tạo được rất
nhiều ơn phước. Tuy nhiên, vì được
hình thành trong vô minh và do những
động lực không thanh tịnh nên
chúng ta vẫn bị nghiệp lực và
vọng tưởng quăng chúng ta vào
chốn luân hồi. Những đau khổ
mà chúng ta cảm nhận trong những
cõi giới này có thể vi tế
hơn ở những cõi bất hạnh
nói ở trên kia, nhưng cũng
đủ làm chúng ta bất mãn,
chán chường.
Cõi
trời là cõi cao nhất trong
sáu cõi luân hồi, cõi này
được hưởng đầy
phước lạc. Đây là
những tòa lâu đài tráng lệ,
lộng lẫy với đủ loại lạc
thú. Nhưng vì đây là cõi
lạc thú nên họ chỉ biết
hưởng lạc mà không còn
biết nghĩ đến chuyện tạo thêm
phước đức cho chính mình.
Tất cả thời giờ ở
đây chỉ để dành cho
những nghiệp quả tốt mà họ
đã tạo được ở trong
quá khứ nên khi chết họ chỉ
còn lại những nghiệp quả xấu
mang đi với họ, do đó, cuộc
hành trình mới là đi vào
những cõi thấp hơn.
Vào tuần cuối cùng trong
cuộc đời của một vị tiên
(cũng khoảng 350 năm ở trần
thế) họ sẽ cảm thấy đau khổ
hơn những chúng sinh ở cõi
ngạ quỉ. Họ biết rằng họ sắp
chết và họ cũng biết rằng
họ sẽ phải sinh vào những cõi
thấp hơn. Những người bạn
của họ biết rằng họ sắp chết
nên rời xa họ. Họ bị cô
đơn, những đóa hoa tươi
mát, óng ả đang từ từ
ngục xuống, chờ chấm dứt một
quãng đời vinh quang.
Cũng tương tự như
vậy, ở cõi thần lúc nào
cũng có chiến tranh, họ luôn luôn
tranh giành lẫn nhau. Họ ganh tị với
cõi trời, họ điên khùng
vì ghen tương. Nhưng họ không thể
thắng nổi cõi trời, họ không
thể giết được thần tiên.
Sự ganh tị tức tối của họ
làm họ không lúc nào bình an
mà hưởng phúc lạc của cuộc
đời thành ra những cố
gắng của họ chỉ mang lại những
chán chường tái tê hơn
nữa và hơn nữa.
Cuối cùng là cõi
loài người. Chúng ta đã
luận bàn nhiều về những khổ
đau trong sinh lão bệnh tử của con
người mà chúng ta đã
gặp trong cuộc đời, chúng ta đã
từng thích thú, vừa lòng,
bất mãn và chán chường
tái tê với cuộc đời.
Hơn nữa, trong từng kinh nghiệm
về khổ đau của năm cõi kia
đều tìm thấy ở nơi con
người. Còn rất nhiều đau
khổ khác đã không
được nhắc tới, chúng ta
không có đủ thời giờ
để bàn luận về tất cả
mọi thứ khổ đau mà chúng ta
đã trải qua hay chưa gặp phải.
Một trong những cái làm
cho con người đau khổ nhất mà
chúng ta đã không nhắc đến
đó chính là sự sở hữu,
sự hy vọng hão huyền (vọng
tưởng), học thức và nhất
là tình trạng hiện tại của
chúng ta. Chúng ta đã tốn biết
bao nhiêu thời giờ và công
lao để có được những
cái tốt đẹp, nhưng có gì
bảo đảm những cái đó
không tàn phai hoặc chúng ta sẽ
không bao giờ mất chúng. Một
sự thật hiển nhiên mà chắc
chắn ai cũng biết là những
cái này không tồn tại mãi mãi,
chúng vô thường, chúng luôn
luôn thay đổi và chúng sẽ hư
nát.
Chúng ta không nên để
chính chúng ta bị lừa bịp
bởi những thứ hấp dẫn,
chúng quyến rũ chúng ta vào
vòng luân hồi như những tài
sản, thân xác và những vui
thú trần gian của chúng ta. Những
vấn đề, những rắc rối
không nằm trong sự thưởng
thức, trong sự sử dụng
những đồ vật khi chúng ta
sở hữu chúng, nhưng chính
là sự bám viú, chính là sự
khao khát, chính là những
vướng viú gắn bó vào
chúng. Chúng ta nên nhớ rằng
chúng ta đã từng sở
hữu cả một trời ham muốn trong
những kiếp trước nhưng có
cái nào giúp tâm chúng ta giải
thoát khỏi khổ đau không? Không! Chẳng
có cái nào cả. Chúng ta vẫn
trầm luân trong luân hồi hết kiếp
này qua kiếp khác mà chẳng nhìn
thấy một lối đi ra.
Trong cả sáu nẻo luân
hồi, chúng ta đã từng bị
khổ đau vì phải rời bỏ
thân xác của chúng ta nhiều lần.
Đây là bằng chứng của vô
thường. Để hiểu
được những ý
tưởng khó khăn này, chúng ta
cần phải tưởng tượng ra
rất nhiều, càng nhiều càng hay, gia
phả của chúng ta – đó là cha
mẹ chúng ta và cha mẹ của những
người khác, ...vv... Bao nhiêu
người mà chúng ta có thể
tưởng tượng được
là bấy nhiều đời mà
chúng ta đã trải qua. Đó
cũng chính là cách mà tổ
tiên của chúng ta đã sinh ra, sống
một thời gian, rồi chết, rồi
chúng ta lại sinh ra, lại sinh ra, rồi lại
rời bỏ thân xác, rồi lại
đầu thai ...
Ở ngay trong những khoảng
thời gian ngắn của một đời,
chúng ta cũng kinh qua, cũng tạo ra biết
bao nghiệp. Chúng ta có thể là một
người tầm thường, một
tổng thống hay một vị vua trong một
thời rồi bị bắt, bị cầm
tù vì chính trị. Thí dụ,
ở Tây Tạng, có những
người giầu họ cứ
tưởng là họ sẽ giầu mãi
mãi, nhưng chỉ một thời gian
ngắn, họ mất tất cả tài
sản, có khi còn mất cả mạng
sống.
Có lúc chúng ta buồn
khổ vì cô đơn. Mặc dù
chúng ta có rất nhiều bạn bè,
rất nhiều người thân, nhưng
chúng ta luôn luôn phải đối
diện với những cơn khủng
hoảng, với những nỗi tuyệt
vọng của cuộc đời một mình.
Chúng ta sinh ra rồi chết đi mà
chẳng có ai chia sẻ được
với chúng ta những nỗi niềm
riêng tư sầu khổ và lo lắng.
Cứ như thế, chúng ta đi vào
sáu nẻo luân hồi đầy khổ
đau. Đây không phải vì bi quan hay
vì tin vào số mệnh khi chúng ta
nói về khổ, mà đây chính
là sự thật. Tốt hơn, chúng ta
hãy trực tiếp đối diện
với những vấn đề một cách
thẳng thắn và từ đó
tìm ra một con đường giải
thoát hơn là cứ chạy trốn
nó, cứ lẩn tránh thực tại
để rồi cứ phải tiếp tục
khổ đau.
Cần phải nhấn mạnh là
không có một nghiệp quả nào trong
luân hồi mà không có nguyên
nhân. Chúng không thể xuất hiện
nếu không có người này,
vật kia tạo ra, chúng cũng không thể
tự hiện diện. Chính chúng ta
đã tạo ra những nguyên nhân
và hoàn cảnh cho những đau
khổ xảy ra qua thân (hành động),
khẩu (lời nói) và ý (tư
tưởng) của chúng ta. Nghiệp của
chúng ta thay đổi theo từng cõi
luân hồi. Không có một khoái lạc
nào hay một khổ đau nào trong luân
hồi tồn tại mãi mãi. Chúng
tùy thuộc vào thái độ của
chúng ta, chúng thay đổi theo thái
độ tinh thần của chúng ta. Tuy
nhiên, những hành động không
đạo đức mang lại khổ đau
và những hành động đạo
đức mang lại hạnh phúc thì
luôn luôn hiện diện. Vì thế,
chúng ta cần phải tránh những
hành động không có đạo
đức và luôn luôn thực
hiện những hành động đạo
đức càng nhiều càng tốt.
Chúng ta không thể phá
hủy bánh xe luân hồi nếu chúng ta
không nhận diện được tất
cả khoái lạc chỉ là hình bóng
khác của khổ đau. Và chúng ta
không thể có được nhận
xét này nếu chúng ta không phát
triển lòng kinh hãi luân hồi và
đặc biệt là những bất hạnh
của từng cõi trong sáu cõi.
Chúng ta phải hiểu thấu suốt
điều này, nếu chúng ta để
bị lôi cuốn vào những vọng
tưởng thì hậu quả là
chúng ta sẽ bị mang nghiệp rất nặng
trong khổ đau, bây giờ và cả
trong tương lai. Trở ngại mạnh nhất
ngăn cản chúng ta không cho chúng ta
nhận ra được sự thật là
chúng ta cứ chạy theo những
khoái lạc của luân hồi, của
trần gian. Sự bám víu cũng
giống như chất dầu, rất khó
mà tẩy được dầu khi nó
đã thấm vào giấy. Bụi bậm
đất cát đã hòa tan trong
dầu nên nó càng làm cho giấy
dơ bẩn hơn nữa. Giống như
vậy, chính sự bám víu đã
làm ô nhiễm tâm ta, nó càng
làm tâm ta dễ lấn sâu vào
vọng tưởng. Cách tốt nhất
để chúng ta có thể thoát
khỏi những vọng tưởng là
luôn luôn nhớ đến những
khổ đau của luân hồi để
chúng ta phát triển tâm buông xả,
tâm từ bỏ những nguyên
nhân của khổ đau.
Nếu chúng ta sợ bị
ô nhiễm bởi tham sân si như
sợ bị lửa thiêu đốt
thì chúng ta mới có thể bảo
vệ chúng ta khỏi hiểm nguy. Trong
những cao ốc người ta gắn
những bình chữa lửa, tại sao
người ta lại gắn những
bình chữa lửa ở đó?
Chỉ vì họ sợ sự tàn
phá của lửa, chỉ vì họ hiểu
lửa nguy hiểm như thế nào. Chính
vì sự hiểu biết này mà
chúng ta tránh được nguy hiểm,
chính vì sự hiểu biết này
mà chúng ta biết cách bảo vệ
đời sống hàng ngày của
chúng ta. Cũng giống như vậy, vì
sợ khổ đau và từ bỏ
những nguyên nhân tạo ra khổ đau
nên chúng ta mới biết sử
dụng thân người quý báu
này một cách tốt nhất.
Hãy tưởng tượng
có hai người đang ăn kem. Một
người, tâm chưa được
huấn luyện, họ ăn ngấu nghiến,
ăn vội vàng và thèm khát.
Hầu như mỗi một lần cắn một
miếng kem, mỗi một lần nuốt kem
vào cổ họng họ đều để
lại dấu ấn của nghiệp. Vì tâm
đầy ắp những thèm muốn, ao
ước, chán, khen chê, bất mãn...
nên người này đã không
còn biết thưởng thức
những mùi vị thơm ngon của
chất kem. Ngược lại, người
bạn của anh ta đã có một chút
kinh nghiệm thiền định về bản
tính của khổ trong những thú vui
của luân hồi nên anh ta ăn một
cách từ tốn, thoải mái. Anh ta
không để cho sự thèm khát, tham
ăn khởi lên trong sự
thưởng thức ly kem của anh ta. Do
đó tâm anh không bị ràng buộc
bởi những vọng tưởng,
ô nhiễm, anh còn có thể chuyển
hóa những sinh hoạt đơn giản
này vào sự thực hành
Đạo Pháp. Vì thế anh ta có
thể kinh nghiệm được cái gì
là những thú vui nhất thời
và cái gì là những niềm
hạnh phúc trường cửu mà
anh bạn của anh ta thường khen chê
và bất mãn. Thí dụ này cho
chúng ta biết, tâm buông xả mang lại
cho chúng ta sự thưởng thức
thật sự, ngay cả trong đời
sống thường ngày của luân
hồi chứ không cần phải thoát
khỏi luân hồi.
Chúng ta đã biết
chúng ta bị trôi lăn vào
những nẻo luân hồi là do
nghiệp lực và do những vọng
tưởng của chúng ta. Và chúng
ta cũng đã được chỉ
dạy khi chúng ta tiếp xúc với
những loại ô nhiễm khác nhau, khi
bị ảnh hưởng bởi
những loại ô nhiễm khác nhau
thì nghiệp được cấu tạo do
những nguyên nhân nào? Tới
đây chúng ta có thể chia sẻ
với nhau một chút về con
đường chuyển tiếp chúng ta
từ kiếp này qua kiếp khác như
thế nào.
Đây là một chuỗi
duyên khởi của 12 nhân duyên : (1)
vô minh, ignorance, (2)
hành, karmic formations,
compositional action (3) thức, consciousness, (4) danh sắc, name and form, (5) lục nhập, the six sense faculties, the six sense spheres (6) xúc, contact, impression (7) thọ, feeling, (8) ái, craving, attachment (9) thủ, grasping, (10) hữu, becoming, existence (11) sinh, birth, (12) lão và
tử, aging and death.
Ngài Long Thọ, một đại giảng sư
về những lời dậy bảo của
Đức Phật Thích Ca, nói rằng:
Trong
12 nguyên nhân
Có
3 nguyên nhân là vọng tưởng
Có
2 nguyên nhân là hành động
Còn
lại 7 là những kết quả.
Ba nhân vọng tưởng
là (1) vô minh, (8) ái và (9) thủ. Hai
nhân hành động là (2) hành
và (10) hữu. Còn lại 7 nhân
là những kết quả đã kinh
nghiệm được để mang sang
những kiếp sau.
Chuỗi duyên khởi cho
chúng ta biết tiến trình phát sinh
từ một tình trạng đau khổ
này qua một tình trạng đau khổ
khác, như vậy nó không thể
hoàn tất được trong một
đời mà phải cần đến
hai hay ba đời. Thí dụ, trong
đời hiện tại chúng ta là
một người, chúng ta có thể
giải thích tiến trình này như sau:
trong đời quá khứ,
dưới sự ảnh hưởng
của (1) vô minh, vì không biết
chân tính của thực tại, vì
không hiểu thực tính của sự
vật nên chúng ta đã thực
hiện rất nhiều hành động qua
thân khẩu và ý, những hành
động này (2) tạo thành nghiệp -
gieo hạt giống - trong (3) tâm thức
của chúng ta. Trong những hành
động này có những hành
động tốt tạo ra nghiệp tốt
để chúng ta được sinh ra
làm người. Do đó, có
những lúc trong đời
đầu tiên này (qúa
khứ) chúng ta đã
hoàn tất một vọng tưởng,
một hành động và một phần
nào kết quả. Chúng ta nói
“một phần nào” bởi vì
tâm thức của chúng ta liên
kết cả hai phần: nguyên nhân và hậu
qủa. Trong thí dụ này, phần
đầu là tâm của chúng ta trong
đời qúa khứ nhận dấu
ấn của nghiệp lực trong khi phần sau
là tâm của chúng ta bị liệng
vào sự tái sinh, vào sự
đầu thai mới.
Khi kiếp trước đi
đến chỗ kết thúc thì
chúng ta đã kinh nghiệm, đã kinh
qua, đã mang trong tâm nhiều sự
bất toàn và rất sợ chết.
Vì (8) luyến ái và (9) chấp thủ
cả thân xác lẫn những vật
sở hữu nên chúng ta muốn mang
chúng qua thân xác mới để
thay thế cái thân đang bị tiêu
hủy (chết),
như vậy là chúng ta đang có (10) hữu
một hành động tạo tác để
trở thành, lực này
hướng dẫn chúng ta đầu thai
vào cuộc đời mới. Do
đó trong lúc chết, chúng ta
đã hoàn thành hai điều vọng
tưởng (luyến ái và chấp thủ)
và một hành động (hữu),
sự kiện này đánh thức
những nhân nghiệp lực để
đầu thai vào cõi loài
người.
Còn lại 7 chuỗi nhân
duyên kia sẽ xẩy ra trong đời
hiện tại. (3) Thức quả (resulting consciousness)
của chúng ta được nhận
định ra trong tử cung của người
mẹ, nơi mà nó kết hợp
với tinh cha (sperm) và huyết mẹ (egg).
Sự liên kết phôi thai này là
thời kỳ của (4) danh sắc –
“danh” là những khả năng
khác nhau của thức còn
“sắc” là trứng của
người mẹ đã nhiễm sắc
thể của tinh cha – ở đây (5) lục
nhập được phát triển khi
nó (6) tiếp xúc với
những đối tượng tương
ứng như (7) thoï, cảm thấy
dễ chịu, khó chịu hay cảm thấy
khác nhau giữa những đối
tượng. Tất cả mọi sự kiện
đều xảy ra ở đây ngay
lúc mà ý niệm (11) sinh
được liên kết với
kiếp này. Từ đây trở
đi, chúng ta bắt đầu lớn
lên, già đi theo những sự thay
đổi và khổ đau như đã
trình bày ở trên. Vậy, chuỗi
nhân duyên (12) lão và chết
đã được hoàn tất,
tất cả còn lại chỉ là
đợi ngày ra đi (chết).
Tiến trình này có
thể phải cần tới ba kiếp
mới hoàn tất được,
phải cần nhiều năm mới nhận
ra được sự can thiệp giữa
hai nhân duyên đầu. Nên hiểu
rằng chúng ta đang tạo nghiệp ngay trong
lúc này. Nó có thể là một
nhân đức nhưng được
hoàn thành trong (1) vô minh của
chính sự kiện, thí dụ như
ý-thức-tôi qúa mạnh hay chấp
tôi qúa mạnh. Sự vô minh này
đang cấy (2) nghiệp hành vào (3) tâm
thức của chúng ta để
chúng ta đầu thai vào cõi thần.
Có khi trong lúc chết nghiệp
đầu thai vào cõi thần không
đủ mạnh nên lại phải đầu
thai làm con chó vì nghiệp phải sinh
làm chó ở một lúc nào
đó mạnh hơn. Do đó (8) nhân luyến
ái ,(9) chấp thủ và (10) trở
thành đáng lẽ sẽ hợp tác
làm việc trong lúc chết thì lại
phải nhường cho một nhân duyên
mạnh khác. Tuy nhiên, nghiệp để
đầu thai vào cõi thần vẫn
còn đó, không mất đi. Nó
vẫn còn nằm trong tâm thức
của chúng ta nhưng đã không
được kích động mà
phải đợi đến một lần
đầu thai khác. Ở ngay kiếp
làm chó, bảy chuỗi nhân duyên
còn lại sẽ lại nhập vào con
chó. Tuy nhiên, nghiệp đầu thai vào
cõi thần sẽ đến, ba nhân
cùng làm việc trong lúc chết và
bảy nhân lại nhập vào trong kiếp
kế tiếp, lại diễn tiến như
đã nói ở trên.
Đây chỉ là sự
giảng giải vắn tắt về diễn
tiến của sự đầu thai mà
thôi, nhưng cũng khá đủ
để chúng ta có thể hiểu
được những chuỗi nhân
duyên đã tác động và
liên tục tác động trong sự
vô minh của chúng ta như thế nào.
Khi chúng ta gieo hạt giống trong một cánh
đồng, có những cây đã
lớn mạnh hơn chúng ta nghĩ.
Tương tự như vậy, có
những hạt “nghiệp” rất nhỏ
mà chúng ta đã gieo trong tâm của
chúng ta lại sản xuất ra những
khổ đau to lớn hơn cả nhân
của nó. Trong từng giây phút
của cuộc đời từ muôn
vàn kiếp, chúng ta đã bị
ảnh hưởng, đã bị
điều động bởi rất
nhiều vọng tưởng lớn và
nhỏ. Vì thế chúng ta đã
huân tập, đã tạo ra biết bao
nhiêu nghiệp để phải đầu thai
vào hết cõi đau khổ này
đến cõi đau khổ khác.
Chúng ta đã tạo ra ba nhân duyên
đầu (vô minh, hành,
thức) của
vô tận chuỗi nhân duyên, trừ khi
chúng ta biết rèn luyện (ý chí) tâm chúng ta, ý
thức trong từng hành vi của
chúng ta và giải trừ vô minh,
nếu không chúng ta cứ bị chúng
kéo vào luân hồi hết kiếp
này qua kiếp khác. Tâm chúng ta như
một toa xe lửa chứa hàng hóa,
cứ bị lôi đi từ chỗ
này đến chỗ khác, từ
đời này qua đời khác để
chất chứa thêm những kiện
“nghiệp” mà một ngày nào
đó hàng được giao và
được trả.
Luân hồi là một nhà
tù mà chính chúng ta đã tạo
ra, chúng ta bị nhốt trong những
bức tường kiên cố là do
chính sự vô minh và u tối của
chúng ta. Chúng ta phá được
một mắt xích trong 12 nhân duyên,
trèo qua được một cửa
ải thì cũng vẫn còn bị bao vây
bởi rất nhiều bức
tường khác. Luân hồi không
thể tự chấm dứt. Chúng ta
không có một chút hy vọng nào
vượt thoát khỏi luân hồi trong
khi cứ tạo thêm nghiệp. Chúng ta
chỉ có thể chiến thắng và
được giải thoát nếu
chúng ta quyết tâm phá tan tận gốc
nguyên nhân của duyên khởi là sự
vô minh của chúng ta về bản tính
của sự thật.
Như chúng ta đã
đề cập trước kia, việc
phát triển một tâm hoàn toàn
buông xả tùy thuộc vào sự
nhận định của chúng ta về
sự thấm nhập toàn diện của
đau khổ. Khổ đau vì có một
thân xác thiếu kiểm soát và
đầy ô nhiễm, có một thân
xác là có đau khổ. Chúng ta
không nên nghĩ rằng vì chúng ta
đã sinh ra và vì chúng ta có
một đời sống không tiện nghi.
Như đã trình bày ở trên
về 12 duyên khởi, thì đây
chính là tiến trình đầu thai
cùng với đau khổ. Tâm
thức của chúng ta nhận dấu ấn
của nghiệp lực rồi chính nghiệp
lực này đẩy tâm thức đi
đầu thai vào tương lai trong một
tình trạng đầy bất mãn và
khó khăn. Chúng ta nói chúng sinh trong
luân hồi có một thân xác
đầy ô nhiễm và dối trá
bởi vì tâm thức bị
đẩy vào thân xác một cách
miễn cưỡng, chính nghiệp lực
và vọng tưởng đã lôi
thần thức vào đó.
Càng sớm đi vào
đời thì càng mau bắt
đầu đi đến cái chết.
Có những chúng sinh đã chết
ngay trong bụng mẹ chỉ một thời gian
rất ngắn. Cũng có những
người trong chúng ta đã sống
lâu hơn, tạo thêm được
một số giây phút. Nhưng thực ra
thêm được giây phút nào
thì cũng chính là gần sự
chết giây phút đó. Chúng ta
giống hệt như những con cừu
bị dẫn vào lò sát sinh.
Bước thêm một bước
là gần sự chết thêm một
bước.
Nếu chúng ta học để
nhìn thấy đau khổ của tất cả
các cảnh giới thì chúng ta
sẽ chẳng còn dám bám víu,
luyến tiếc vào những lợi
lạc của trần gian. Đấy là
điều vô cùng quan trọng, vì
nó sẽ mở đường cho
chúng ta phát triển những quan
điểm thật đúng đắn về
tính không, để cắt đứt
tận gốc rễ của luân hồi và
tìm đường giải thoát. Cho
dù chúng ta không tiến
được xa trên con đường
này nhưng với tâm buông xả toàn
triệt như vậy cũng vô cùng
hữu ích cho giây phút đối
diện với sự chết. Bởi
vì chúng ta đã thiền định
nhiều về sự chết nên chúng ta
đã có rất nhiều tư
tưởng tốt, nhiều kinh nghiệm mà
sẽ không còn lầm lẫn và
sợ hãi. Chúng ta cũng không
còn bám víu vào luân hồi
nên chúng ta cũng không còn luyến
ái, chấp thủ một cuộc đầu
thai mới. Vì thế, chúng ta sẽ
không còn phải đầu thai vào ba
cõi thấp hoặc bất kỳ cõi
nào trong luân hồi. Nếu chúng ta
biết kiểm soát tâm và tránh
khơi dậy bất cứ một sự
bám víu nào hoặc bất cứ
một sự ganh ghét sân hận nào
thì chúng ta sẽ được sinh
vào cõi tịnh độ mà không
phải đầu thai vào bất kỳ
một thân xác ô nhiễm nào.
Ở đó chúng ta sẽ không
còn một trở ngại nào cho mục
đích tu tập tiến đến giác
ngộ, giải thoát (vào
cõi tịnh độ cũng vẫn còn
phải tu tập tiếp thì mới giải
thoát được – Dg)
Vậy có dấu hiệu nào
cho chúng ta biết là chúng ta đã
phát triển được sự buông
xả thật? Đạo sư Je Tsongkhapa nói:
Nơi nào không còn
thích thú và bám víu
Cho
dù chỉ là một giây bám vào
lạc thú của luân hồi,
Và
hằng khởi tâm mong cầu giải
thoát
Trong
cả ngày lẫn đêm ----
Kẻ
nào đã phát triển tâm thức
này
Kẻ
đó đã tinh tiến trên con
đường buông xả hoàn
toàn.
Sự
lợi ích của động năng
giác ngộ
Để nói lên sự
tương quan giữa phần đã
trình bày ở trên và
những điều sẽ trình bày
ở dưới này, đạo sư Je
Tsongkhapa nói:
Tâm
hoàn toàn buông xả
Mà
không có động năng giác ngộ
của tâm bồ đề
Thì
không thể trở thành nhân
(nguyên)
Cho
con đường hạnh phúc toàn
diện, toàn giác.
Như ngài nói, nếu
chúng ta muốn đạt tới tối
thượng quả vị phật thì tâm
buông xả toàn triệt của chúng ta
phải đi qua con đường của
tâm bồ đề, đây chính
là động năng thúc đẩy
tới giác ngộ là để
lợi lạc cho tất cả muôn loài
chúng sinh. Có những người
lại tin một cách mù quáng là
họ có thể thực hành tâm
bồ đề mà không cần buông
xả. Đây là một sự lầm
lẫn to lớn, điều này không
thể có được. Có thể
họ đã nghĩ rằng tâm bồ
đề là một cách thực
hành an lạc mà không cần phải
từ bỏ cái gì, trong khi đó
buông xả nghe như quá khó khăn,
nghiêm khắc và gian khổ. Ngược
lại, nó không hoàn toàn như
vậy. Phát triển tâm bồ đề
sẽ giúp rất nhiều trong việc
chuyển hóa, thăng tiến và tinh tấn
của thiền định. Thực ra vấn
đề này không đơn giản
nếu chỉ nghĩ mà thôi.
Lợi ích của tâm
bồ đề thật là vĩ đại,
nó có thể hóa giải bất
cứ trở ngại nào. Đây
chính là cánh cửa dẫn vào
Đại thừa mà bất cứ
một người nào muốn phát triển
và thực hành nó đều
xứng đáng được gọi
là con của Phật. Nếu chúng ta có
tâm bồ đề thúc đẩy,
chúng ta sẽ vượt qua trong chiến
thắng, vượt qua cả các vị A La
Hán, đây là những vị
đã tu tập giải thoát khỏi
luân hồi nhưng chưa hoàn toàn
đạt giác ngộ. Những vị A La
Hán này có thể đã có
những quyền lực tâm linh mãnh
liệt hoặc đã đạt những
thành quả vĩ đại nhưng kẻ
nào có tâm bồ đề –
TÂM BỒ ĐỀ – sẽ
vượt xa họ trong tấm lòng phụng
sự và từ bi.
Ơn phước to lớn
của bồ đề tâm sẽ xuất
hiện khi chúng ta thật tâm thực
hành Đạo Pháp. Mỗi một hành
động tâm linh mà chúng ta thực
hiện đều mang lại hiệu quả và
sức mạnh nếu chúng ta hoàn thành
với sự thúc đẩy của
giác ngộ, của động lực
giác ngộ. Thí dụ, đưa thức
ăn cho một con chó, nếu đưa cho nó
với một tấm lòng yêu
thương (tâm bồ đề) chúng ta
sẽ nhận được sự an
lành còn hơn là tặng bảo vật
cho một người mà không có
một chút thành thật yêu thương
nào. Như vậy, vật cho tự nó
không quan trọng, cách cho quan trọng hơn,
cách chúng ta thực hành đạo
nói lên sự tinh tấn của chúng
ta trên con đường tu tập. Nói
cách khác, thái độ của
chúng ta, tâm trạng của chúng ta quan
trọng hơn bất cứ sự vật
nào khác. Do đó, tâm bồ
đề là một sự thúc
đẩy vĩ đại nhất, nó
thánh hóa tất cả những hành
động của chúng ta, nó mở
tâm chúng ta bao la hơn là lòng ích
kỷ của chúng ta.
Nếu chúng ta có một
tấm lòng vị tha, luôn luôn nghĩ
đến người khác, mặc dù
chưa phát triển được tâm
bồ đề, thì đây cũng
là động năng rất tốt
hướng dẫn chúng ta trên con
đường thực hành Đạo
Pháp. Do đó, bất cứ chúng
ta làm việc gì như giúp
người, tụng kinh, thắp hương,
ăn, nói chuyện, buôn
bán...—bất cứ việc gì
cũng có thể trở thành tinh
túy trong việc thực hành Đạo,
nếu chúng ta hướng đến
giác ngộ là vì lợi ích cho
tất cả muôn loài chúng sinh.
Nghiệp lực xấu cứ
đẩy chúng ta vào sáu nẻo
luân hồi không ngừng nghỉ.
Đó là kẻ thù của chúng ta,
chúng liên tục dẫn chúng ta vào
đau khổ. Bồ đề tâm là
thần lực thanh tẩy tất cả
những nghiệp xấu này, nó giải
thoát chúng ta khỏi những kinh nghiệm
của những hành động ác.
Đại bồ tát Shantideva nói:
Nghiệp
xấu của năm loại hung ác
Dẫn
chúng ta vào chốn vô tận của
khổ đau trong A-tỳ địa ngục
Nhưng
tâm bồ đề
Có
khả năng thanh tẩy nghiệp xấu này
trong một thời gian rất ngắn.
Sức mạnh của tâm
bồ đề cũng có thể
điều trị được tất
cả những chướng ngại trên
con đường thực hành
đạo của chúng ta. Đại bồ
tát Shantideva cũng nói:
Nếu
chúng ta điều phục được
tâm,
Chúng
ta sẽ điều phục được
Voi,
rắn, cả cọp beo
Và
sự hung dữ của quỷ.
Đây không phải là
những lời thơ vô nghĩa
mà là sự thật. Đã có
biết bao chuyện kể và bằng
chứng nói về sức mạnh
của bồ đề tâm, sức mạnh
của lòng từ bi bảo vệ con
người khỏi hiểm nguy. Có rất
nhiều vị bồ tát của Ấn
độ và Tây tạng đã đi
qua những khu rừng đầy thú
dữ mà không hề hấn gì.
Ngược lại chúng lại rất
thân thiện với các ngài và
tỏ lòng kính trọng các vị
thầy tâm linh. Ngay cả những con thú
nhỏ bé như chim, thỏ, nai cũng
đến quây quần chung quanh các
ngài. Những chuyện tương tự như
vậy cũng vẫn còn xảy ra với
các vị thiền giả ngày nay.
Tóm lại, phát triển
tâm bồ đề là ánh sáng
dẫn đưa chúng ta vào con
đường tu tập mật tông, một
con đường nhanh nhất để
đạt giác ngộ. Chúng ta cần
phát triển tâm buông xả, cần
làm quen với quan niệm về tính
không trước khi chúng ta thực
sự bước vào mật thừa.
Nhưng điều quan trọng nhất vẫn
là sự thúc đẩy của bồ
đề tâm, chúng ta cần phải
có một động năng mãnh liệt
của lòng từ bi. Không thể nào
ngồi nhìn người khác đau
khổ mà chúng ta không khởi
phát lòng từ bi, chúng ta cần
khởi phát tâm bồ đề ngay
để đạt quả vị phật càng
nhanh càng tốt vì lợi ích cho
chúng sinh. Nếu chúng ta bước
vào sự thực hành của con
đường mật thừa với
tâm trạng đó thì chúng ta sẽ
đạt được mục đích
chỉ trong một thời gian rất ngắn.
Nếu không như vậy thì sự
thành đạt của con đường
mật thừa giống như mong đợi
mặt trăng rơi khỏi bầu trời.
Nếu chúng ta nghiên
cứu về sự ích lợi và
ơn phước của bồ đề
tâm cùng hiểu rõ đường
hướng mà nó sẽ
hướng dẫn chúng ta thì chúng
ta sẽ thấu suốt được
sự thúc đẩy của con
đường giác ngộ chính là
môi trường mà tất cả
chúng sinh sẽ gặt hái
được hạnh phúc. Khi một
người biết phát triển lòng
từ bi thì họ sẽ trở
thành nguồn hạnh phúc chân thật cho
kẻ khác. Nguồn phúc lạc này
vô tận, nó không có giới
hạn với bất cứ ai, không
thể nào đo được sự
ảnh hưởng của nó trên
chúng sinh. Vì thế, không một hạnh
phúc nào, không một giá trị
nào vĩ đại hơn sự cố
gắng thực hành thiền định theo
động năng giác ngộ này.
Sự
tinh tấn đều đặn tự nhiên
Động năng thúc
đẩy đến giác ngộ mà
từ đó có thể
hướng dẫn người khác
thoát khỏi đau khổ được
phát khởi khi chúng ta biết trách
nhiệm của chúng ta là phải giúp
đỡ người khác càng
nhiều càng tốt. Chúng ta chỉ có
thể nhận ra được điều
này khi chúng ta đã phát triển
lòng từ bi, là mong muốn cho
người khác được
thoát khỏi đau khổ. Điều
này lại tùy theo tình yêu của
chúng ta có trong sáng và lớn
mạnh hay không, chúng ta có mong muốn
nhìn thấy người khác hạnh
phúc hay không. Tình yêu này chỉ
được khởi phát khi chúng
ta tưởng nhớ đến chúng
sinh như là cha mẹ của chúng ta và
bây giờ chúng ta mong được
đền ơn họ. Còn nữa,
chúng ta không thể nhận ra
được ân nhân của chúng ta
nếu chúng ta còn đối xử
đặc biệt với người
này mà hiềm khích, ghen ghét
người khác. Do đó chúng ta
cần có thái độ công bằng,
đồng đều với tất cả
mọi người và trước
tiên là chúng ta nên thực tập
từ từ, bình thản, đều
đặn tự nhiên cùng với
thiền định.
Có ba đối tượng
cho kiểu thiền này: bạn, kẻ thù
và người xa lạ. Tại sao lại
thiền như vậy? Tại vì chúng ta quá
bận rộn với chính mình, lúc
nào cũng chỉ nghĩ tới chính
mình, đến “cái tôi” của
chúng ta; hầu như lúc nào cũng
chỉ để ý đến thân xác
của tôi, tài sản của tôi,
sự tiện nghi của tôi, “CỦA
TÔI...CỦA TÔI... TÔI
!” Bất cứ người nào
xâm phạm vào hoặc xoi bói đến
hạnh phúc của tôi là ngay lập
tức tôi gán cho người
đó là kẻ thù của tôi.
Cũng giống như vậy, người
nào làm tăng niềm hạnh phúc
của chúng ta là ngay lập tức
chúng ta coi họ như bạn, bạn thân.
Còn những người xa lạ, họ
là những kẻ chẳng đem
đến cho chúng ta cái gì, chẳng
vui cũng chẳng buồn, chúng ta sẽ mau
chóng quên họ.
Nền tảng của thiền
định một cách thản nhiên,
thiền tự nhiên là để
nhìn ra được tính vô tri, vô
cảm và ích kỷ đã tạo
nên trí nghi kỵ, kỳ thị của
chúng ta như thế nào. Những
thái độ ganh ghét, hờn giận,
bám viú, dính mắc, vô minh, tâm
đóng kín khởi lên trong tâm
của chúng ta khi chúng ta nhìn
người khác theo một chiều
hướng nhất định “nó
phải như vậy.” Chúng ta gán cho
nó một nhãn hiệu cứng ngắc,
chính thái độ này đã
làm hại chúng ta và những
người khác. Chính sự
ước muốn tiêu diệt kẻ
thù và bảo vệ bạn là mầm
mống tạo ra tất cả những xung
đột trên thế giới này;
từ sự gây lộn, bất bình
giữa hai cá nhân dẫn đến
chiến tranh toàn cầu. Tất cả
những nghiệp xấu và tất cả
những đau khổ sẽ chấm
dứt nếu tất cả mọi
người nhìn ra được
những thành kiến này đều
không có gốc rễ, không có
căn bản.
Trước nhất, chúng ta
phải nhận định rằng sự bám
viú, sự ràng buộc và
những định kiến là gốc
rễ cho tất cả những phán
đoán của chúng ta về kẻ
thù, về bạn bè và về
những người xa lạ. Chúng ta
bị dính mắc vào ý tưởng
sợ mất tài sản, vào
những người đã giúp
đỡ chúng ta hay vào chính
những định kiến sai lầm của
chúng ta về những nhân vật quan
trọng sẽ đem đến cho chúng ta
một đời sống tốt đẹp.
Những điều tệ hại của
thái độ dính mắc, thái
độ lệ thuộc này đã
được trình bày rất chi
tiết ở trên rồi. Nhắc lại
ở đây là chỉ để
nhấn mạnh đến việc bám viú,
đến sự đeo dính vào
“cái tôi”, chính sự kiện
này đã bóp méo tất cả
những ý niệm của một cái
tâm vô minh.
Thứ hai, không có một
cái gì chắc chắn, nhất
định phải như vậy trong chốn
luân hồi, kể cả ba loại
người vừa nói. Không có
một cái gì chắc thật để
xác định đó là kẻ
thù, người mà lúc nào
cũng gây phiền nhiễu cho chúng ta
và họ luôn luôn tiếp tục làm
như vậy. Hãy nghĩ đến muôn
vàn kiếp trước và những
liên hệ thay đổi không ngừng
trong luân hồi thì kẻ thù hiện
tại của chúng ta cũng chính là
những người bạn thân thiết
của chúng ta hoặc ngược lại.
Cũng chẳng cần phải tin kiểu suy
luận này về những sự kiện
trong qúa khứ để xác
định những thay đổi bạn,
thù hay người xa lạ. Người
bạn thân thời niên thiếu của
chúng ta nay đâu rồi? Cái gì
chúng ta đã có cảm tình
trước kia bây giờ ra sao? Thật
là ơn ích biết bao khi thiền
định theo kiểu khảo sát này,
hãy tập trung vào những cá
nhân đặc biệt mà chúng ta
vừa nhấn mạnh trong ba trường
hợp trên rồi cố gắng nhận
định xem tâm trạng, thái độ
của chúng ta đã như thế nào.
Khi chúng ta đã quen với kiểu
thiền này, chúng ta nên mở
rộng đề tài, nên mở rộng
cách suy luận, bao gồm rất nhiều
loại chúng sinh và trải dài ra theo
thời gian. Với cách này,
chúng ta sẽ giải toả được
rất nhiều quan điểm chật hẹp, sai
lầm của chúng ta trước kia.
Càng lặp đi lặp lại
phương pháp thiền định tự
nhiên này càng giúp chúng ta
biết thận trọng hơn trong việc chấp
nhận những giá trị mà chúng
ta đã phán đoán những
người khác chỉ vì chúng ta
đã quen suy nghĩ theo kiểu này.
Kết qủa là chúng ta sẽ tiến xa
hơn trên đường ngăn chặn
những tư tưởng xấu,
những lời nói xấu và
những hành động xấu cho
người khác trước khi nó
tác hại họ. Càng thiền định
theo phương pháp này, càng giảm
được sự xung khắc,
đánh nhau, ích kỷ và những
thái độ thiếu suy nghĩ đến
người khác. Thí dụ, nếu
biết được chúng ta sắp
bực mình với người
nào, chúng ta có thể giải tỏa
được sự giận ghét, căm
hờn của chúng ta ngay lập tức
khi chúng ta nghĩ đến kiểu thiền
định này. Cũng theo phương
pháp này, chúng ta có thể tự
xác định với chính mình
không có một cái gì có gía
trị thường hằng, vĩnh cửu
về những thái độ, định
kiến của chúng ta. Chúng chỉ là
những sản phẩm của một tâm
vô minh, đóng kín, nhưng với
sự thực hành tâm linh chúng ta
có thể giải tỏa chúng, đối
trị chúng, chuyển hóa chúng
để đem lại hoà bình, an lạc.
Hãy
nhớ đến công ơn của
những bà mẹ chúng ta
Có kinh nghiệm về sự an
lạc nội tại, đó là dấu
hiệu của sự tinh tấn tự
nhiên, nhưng đó không phải là
ơn phước và mục đích
chính của sự thiền định
tự nhiên, bình thản. Vì học
và tập nhìn tất cả mọi chúng
sinh một cách bình đẳng, không
thiên vị nên chúng ta luôn đặt
chúng ta trong tình trạng biết ơn
lòng tốt của tất cả mọi
người mà họ đã dành cho
chúng ta. Nhờ sự nhận biết này
mà chúng ta vượt thắng được
tính ích kỷ của chúng ta, ngay cả
trong việc giải thoát cá nhân chúng
ta khỏi luân hồi.
Bất cứ lúc nào
chúng ta gặp hay nghĩ về mẹ của
chúng ta – hoặc bất cứ
người nào đã săn sóc
chúng ta – là ngay lập tức
chúng ta xác định được
người ấy là ai và chúng ta
liền cảm thấy có một tình
cảm đặc biệt khơi dậy trong ta.
Mỗi khi chúng ta thực tập phương
pháp thiền tự nhiên và nảy
sinh lòng biết ơn về sự liên
tục của đời sống thì
chúng ta cũng học được
cách đối xử với mọi
người như vậy. Họ là cha mẹ
của chúng ta trong quá khứ và
lòng tốt của họ không thể đo
lường được.
Trước tiên, nghĩ
đến người mẹ của chúng
ta trong hiện tại là cách tốt nhất
để phát triển tâm bồ
đề. Lòng tốt của mẹ cho ta ngay khi
chúng ta còn ở trong bụng mẹ.
Với tình yêu bao la, người
đã chịu đựng biết bao
khổ cực, thiếu thốn, tự hy sinh
để bảo vệ chúng ta khỏi nguy
hiểm và mất tiện nghi. Người
đã phải thận trọng trong miếng
ăn, thức uống, cách đi
đứng, cách phục sức vì
chúng ta.
Khổ cực nhất là trong
lúc sinh chúng ta, dù khổ cực
đến thế nào mẹ chúng ta
cũng không giảm lòng yêu thương
mà chăm sóc chúng ta. Khi còn thơ
dại, người đã chăm sóc,
nuôi dưỡng chúng ta 24 giờ
một ngày và làm bất cứ gì
để bảo vệ chúng ta khỏi nguy
hiểm. Nuôi chúng ta không phải dễ,
chúng ta luôn luôn khóc và làm
dơ quần áo, nhưng mẹ không bao
giờ than mỗi khi đi thu quần áo
giặt. Ngay cả khi mẹ đang ăn, mẹ
cũng phải để ý đến
chúng ta. Nếu mẹ kiếm được
miếng nào ngon trong đĩa thức
ăn của mẹ, mẹ cũng đút cho
chúng ta. Ngay đến bây giờ, chúng
ta cũng không tự săn sóc chúng
ta được như mẹ đã
làm.
Khi mẹ nhìn chúng ta khôn
lớn, mẹ luôn nghĩ đến tương lai
của chúng ta. Trong tận đáy tâm
hồn mẹ, mẹ luôn muốn chúng ta
được hạnh phúc và thành
công. Mẹ lo lắng về sự học
hành, mẹ cầm tay chỉ cho chúng ta
viết và đọc. Thành thật mà
nói tất cả những khả năng
chúng ta có thể làm bây giờ
cũng không bù đắp
được hết những công
ơn của mẹ đã dành cho chúng
ta. Trong cách nhìn thiển cận của
chúng ta, chúng ta nghĩ rằng tất
cả sự thành công của chúng ta
đều do chúng ta tạo ra : “Tất
cả những gì tôi có đều
do tôi tạo ra.” Còn nữa, mẹ
chúng ta đã không thiếu sót
một ngày nào dành cho chúng ta khi
chúng ta còn trẻ, chúng ta không
nên tự dối mình, chúng ta không
thể so sánh với công ơn của
mẹ, chúng ta không xứng đáng.
Ngay bây giờ, khi chúng ta có vấn
đề, khi chúng ta gặp khó khăn,
không có một người nào
giúp chúng ta như mẹ chúng ta
đã thường làm cho chúng ta.
Mẹ của chúng ta cũng
là người ngưỡng mộ,
hãnh diện về chúng ta nhiều nhất,
trước nhất. Khi chúng ta làm
điều gì tốt, mẹ cảm thấy vui
và hài lòng về sự thành
công đó. Người luôn muốn
chúng ta được nổi tiếng
và đôi khi còn nói dối
người khác để chúng ta
được lợi. Tóm lại, mẹ
chúng ta đã làm rất nhiều
việc cho chúng ta trong cuộc đời
của người và hầu như tất
cả những công việc đó
đều vì chúng ta, không có
một chút gì dành cho người.
Ngoài mẹ ra còn có ai hy sinh cho chúng
ta như thế?
Nếu chúng ta trải rộng
cách nhìn của chúng ta về
những kiếp trước thì
chúng ta sẽ biết được đây
không phải là lần đầu tiên
người là mẹ của chúng ta.
Người đã từng là
mẹ của chúng ta trong nhiều cõi
luân hồi, trong nhiều kiếp,
người đã chăm sóc
chúng ta với tất cả nghị
lực, sức mạnh của
người. Thí dụ, không thể nghi
ngờ được nếu
người là con gà mẹ thì
chúng ta là con gà con. Gà mẹ
đã ấp ủ đàn con trong ổ
ấm bằng đôi cánh của nó,
đã đào bới khổ
cực để kiếm đồ ăn cho
các con. Gà là con vật nhút nhát
nhưng nếu nó cảm thấy con nó
bị nguy hiểm, nó sẵn sàng hy sinh
mạng sống để che chở cho
đàn con. Sự thiền định
của chúng ta về lòng tốt của
mẹ có thể nghĩ rộng ra như thí dụ
ở trên đến tất cả các
loài vật. Rồi càng trải rộng ra
chúng ta càng hiểu được trong
muôn vàn kiếp tất cả các
chúng sinh đều là cha mẹ của
chúng ta, họ đã chăm sóc
chúng ta cũng như mẹ của chúng ta
bây giờ.
Lòng tốt của tất cả
các loài không phải chỉ khi họ
là mẹ của chúng ta, nhưng nó
trải dài ra trong mọi nơi, mọi
thời. Hãy ôn lại những sinh
hoạt trong một ngày chúng ta sẽ
thấy rằng không một phút giây
thoải mái nào mà không có
liên hệ đến những vật
khác, người khác hoặc đến
một con thú nào đó. Mỗi một
bát cơm mà chúng ta ăn đều
có liên quan đến sự khổ
cực của những bác nông
dân, bác tài xế, người
đóng bao và ngay cả kẻ giữ
nhà kho...vv...Chúng ta cũng không thể
quên được tất cả
những sinh vật nhỏ li ti đã
phải chết trong lúc trồng tiả hoặc
khi gặt hái để có
được bát cơm này. Nếu
chúng ta có thời giờ suy
nghĩ thấu đáo về những
sự kiện xẩy ra trong đời
sống, chúng ta sẽ hiểu
được sự liên hệ, mối
tương quan mật thiết của tất cả
mọi sự mọi vật trong vũ trụ
này.
Sự thực hành
đạo của chúng ta là để
hiểu được sự thật trong
vũ trụ, đó chính là lòng
tốt của chúng ta gửi đến
những chúng sinh khác. Tất cả
mọi sự kiện đều tùy thuộc
lẫn nhau, đều có liên hệ
với nhau, từ việc được
đầu thai mang thân người và
việc sử dụng nó một cách
khôn ngoan, đến việc khởi phát
một tâm buông xả, tâm bồ
đề và quan niệm đúng về
tính không. Tại sao lại như vậy? Vì
mỗi một thành quả đều do nghiệp
tốt mà chúng ta đã tạo
được và do các vị giác
ngộ đã giảng dậy Đạo
pháp cho chúng ta. Cả hai nghiệp quả
này đều được tạo ra do
duyên (yếu tố liên
hệ, tùy thuộc – Dg) của
cả hai phía. Thí dụ, sự tinh tấn
trong việc giác ngộ của một vị
phật chính là sự tích tụ
từ tâm bồ đề của các
ngài. Đây chính là yếu tố
tùy thuộc của lòng từ bi, của
tình yêu, ...vv...đến muôn vàn
chúng sinh, được phát triển
và lớn mạnh từ sự thiền
định tự nhiên, an nhiên. Vì
thế, trong từng sự phát triển
và tinh tấn của các ngài, vị
phật tương lai, đều tùy thuộc
vào chúng sinh. Họ cung cấp cho các
ngài mọi cơ hội để các
ngài thực hành lòng từ bi,
sự kiên nhẫn,...vv...và vì thế
nó trực tiếp có liên hệ, có
trách nhiệm đến từng sự
tiến bộ, sự tinh tấn của các
ngài.
Mỗi khi chúng ta nhớ
đến lòng tốt của các bậc
đã giác ngộ -- các ngài
đã chỉ cho chúng ta con đường
chân thật để chấm dứt
khổ đau và nhìn ra khả năng
của các ngài khi các ngài
thực hiện những việc đó
vì lòng tốt cho tất cả chúng sinh
-- thì những lý do làm chúng ta
giận dữ tức bực với
người khác sẽ mất đi,
sẽ tan biến đi. Làm sao chúng ta có
thể giận ghét được kẻ
thù của chúng ta, ngay cả kẻ thù
nguy hiểm nhất nếu họ thực hiện
việc đó để mang lại cho chúng
ta cả hai loại hạnh phúc: thế tục
và tối hậu? Tương đối
và tuyệt đối? Tất cả
những kinh nghiệm về khoái lạc trong
quá khứ, hiện tại và tương
lai đều có thể qui về họ. Vì
thế, mặc dù họ đã có
những cử chỉ hành động
xấu đối với chúng ta,
chúng ta cũng nên dành cho họ lòng
từ bi yêu thương. Không có
chúng ta, mẹ chúng ta cũng đã
có quá nhiều khổ đau trong cõi
đời này rồi, tại sao chúng
ta còn đem thêm oán hận lại cho
người. Lòng từ bi chỉ có
thể là nhân đức tuyệt
hảo của Đại thừa nếu nó
bao bọc, nếu nó được trải
rộng ra cho tất cả muôn loài một
cách đồng đều, bình
đẳng. Chúng ta không thể tinh tấn
trên con đường phát triển
tâm bồ đề khi chúng ta chỉ mong muốn
cho một thành phần nào, một số
người nào đó thoát
khỏi đau khổ.
Nếu chúng ta phát triển
một cách kiên trì và hiểu biết
ngay cả với kẻ thù nguy hiểm
nhất của chúng ta như là những
kho tàng đầy quý báu thì
tất cả những điều lầm
lẫn sai lạc nhất ở trong tâm
của chúng ta cũng sẽ bị tan rã.
Giận dữ và ganh ghét, chuyên
phá hủy những chủng tử
tốt của chúng ta trong từng giây
phút, chúng có thể tạo ra
những dấu ấn sâu đậm trong
tâm để xóa bỏ đi những
thiện cảm của chúng ta với
chúng sinh đã từng là cha mẹ
của chúng ta. Chỉ có một con
đường duy nhất để biết
được sự thật của
lời dậy bảo này là chúng ta
hãy tự thanh tịnh chúng. Có
thể phải thực hành lâu lắm
chúng ta mới có thể hiểu
được mỗi một chúng sinh
là mẹ của chúng ta, nhưng
trước khi đạt đến tình
trạng đó, nhờ thực hành
chúng ta sẽ kinh nghiệm được
một cách rất sâu thẳm ở
bên trong về sự an lạc và mãn
nguyện của tâm. Nếu tình trạng
này xẩy ra, đó chính là
sự thực hành tâm linh một
cách đúng đắn.
Lợi
ích cho người khác
Khi chúng ta cảm nhận và
giữ trong tâm chúng ta những
thiện cảm của người khác
thì chúng ta phải tìm cách tốt
nhất để trả lại họ. Tặng
lại họ quần áo và thực
phẩm là điều quý báu nhưng
phải thực hiện bằng cả tâm
hồn, bằng cả tấm lòng yêu
thương. Chúng ta không nên thiếu
sót trong vấn đề mang lại lợi
ích cho người khác. Tuy nhiên,
điều vô cùng quan trọng phải
hiểu là tặng phẩm vật chất
không đủ sức mạnh để cắt
đứt tận gốc rễ của khổ
đau. Chúng chỉ có giá trị
nhất thời. Nếu chúng ta thực
sự muốn trả ơn tấm lòng bao la
của họ, chúng ta phải thực hiện
ở bên trong bằng con
đường tâm linh. Chỉ có
cách đó mới có thể mang
lại cho họ kết quả an lạc và hạnh
phúc thường hằng.
Chúng ta cũng không thể
giúp người khác nếu chúng ta
không thanh tẩy tâm bất toàn của
chúng ta. Trở ngại lớn nhất
khi làm việc lợi ích cho người
khác là thái độ ích kỷ
đang nằm rất sâu trong tâm của
chúng ta. Nếu thực sự
ước muốn đem lợi ích
đến cho người khác, chúng ta
phải cố gắng đào đi cho
hết tâm ích kỷ này.
Không có một lý do
nào để hỏi tại sao chúng ta
phải đặt sự ích lợi cho
người khác trên ích lợi của
chúng ta. Trong ý nghĩa sâu thẳm
của kinh điển mật tông về Cúng Dường
Vị Thầy có viết:
Kính
lạy thầy,
Kính xin thầy độ trì
con và mỗi một chúng sinh,
Vì từ đó con
mới có thể tiếp tục suy nghĩ
Nguyện cho tất cả chúng sinh
được hạnh phúc
Vì họ không có một
chút gì khác biệt với con
Và cho tất cả muôn
loài khác nữa
Từ kẻ không
được thỏa mãn
Đến kẻ không đạt
điều mong muốn,
Và cho cả người
chỉ có một chút khổ đau.
Sự thật là không ai
muốn khổ đau, mọi người
đều mong muốn được hạnh
phúc. Chúng ta luôn nghĩ rằng
chúng ta là người duy nhất
trên thế giới này đau khổ.
Từ nguyên thủy chúng ta đã
chỉ nghĩ đến chúng ta, nhưng
sự kiện này đã mang lại cho
chúng ta những gì? Chắc chắn
là không được một cái
gì trên con đường tinh tấn
của tâm linh. Chỉ có một điều
duy nhất mà chúng ta được
là những hành động không
đạo đức, hung hăng và
ích kỷ, và rồi chúng ta vẫn
tiếp tục kinh nghiệm thêm nghiệp quả
xấu. Vì thế chúng ta nên khôn
ngoan lợi dụng cơ hội vô cùng
quý báu là được làm
người trong kiếp này cộng
với những lời dạy bảo
này mà bắt đầu làm
lợi ích cho kẻ khác.
Trong bài Cúng
Dường Vị Thầy cũng còn
diễn tả thêm về sự quan trọng
của thái độ chúng ta khi an ủi
người khác:
Kính
xin thầy độ trì con
Để con có thể hoán
đổi con với người khác
Để con có thể
đối xử công bằng với
họ
Khi nghĩ về ơn ích và
làm tròn bổn phận
Trong sự thực hành:
Phật chỉ làm cho
người khác
Còn kẻ ích kỷ chỉ
làm cho mình.
Ích kỷ chỉ mang đến
diệt vong,
Còn tình thương gửi
đến các bà mẹ của chúng ta
Là điều căn bản
của mọi đức hạnh.
Do đó, nhờ sự
thực hành hoán đổi con
với người khác,
Kính xin thầy độ trì
con để con có thể hoàn thành
công việc này.
Vì hoán đổi mình
với người khác mà
chúng ta phát giác ra được
những sự khó khăn của họ
một cách nhanh hơn. Chúng ta nhớ
tất cả những gì họ đã
thực hiện cho chúng ta trong qúa
khứ nên chúng ta có thể làm
dịu bớt được ngay
những đau khổ của họ. Lòng
từ bi và tình yêu của chúng
ta cũng lớn mạnh hơn, không có
gì sung sướng hơn khi nhìn
người khác hạnh phúc và
không gì buồn hơn khi biết
người khác đang đau khổ.
Mỗi khi chúng ta có một niềm vui
là ngay lập tức chúng ta mang ra chia
sẻ với những người
kém may mắn. Cũng giống như vậy,
mỗi khi nhìn thấy ai đau khổ là
chúng ta mong muốn gánh giùm cho họ.
Nếu chúng ta có thể san sẻ hạnh
phúc và gánh lấy khổ đau cho
người khác là một điều
tuyệt hảo. Tuy nhiên, nếu chúng ta
không thể làm được thì
sự ước muốn này cũng
là một hạt giống chúng ta đã
trồng để rồi một ngày nào
đó nó sẽ chín trong khả
năng của chúng ta để đem lại
hạnh phúc và an lạc cho họ. Ngài
Shantideva nói:
Một
người tốt luôn nghĩ cách
chữa
Bệnh
nhức đầu cho tất cả chúng
sinh
Lòng
tốt này tạo ra muôn vàn công
đức.
Còn
có ai quan tâm đến muôn loài
Mong
ôm trọn nhức đầu của
chúng
Chúc
họ tạo được vô vàn
nhân đức!
Khi chúng ta so sánh chúng ta
với người khác, điều
khác biệt chính mà chúng ta cần
nêu ra ở đây là chúng ta may
mắn được nghe những
lời dậy bảo để cải hoá
tâm ta. Sau một thời thực tập
nhỏ về thiền định chúng ta
đã kinh nghiệm được thế
nào là giải thoát khỏi những
điều xấu mà trước đây
chúng ta đã vướng vào. Trong
khi những người khác không
có được những may mắn
này. Họ vẫn bị ngụp lặn trong
vọng tưởng mà không có
được một sự chỉ dẫn
nào để thoát ra khỏi những
chuỗi khổ đau cứ dồn dập
kéo tới. Mặc dầu họ cũng
ước mong được hạnh
phúc, nhưng mỗi một hành động
lại mang thêm khổ đau. Nhờ tri
giác lớn mạnh, trong sáng và
rực rỡ, chúng ta phát triển
được những tâm nguyện thanh
tịnh để có thể hướng
dẫn những người đau khổ
đi vào con đường giải
thoát. Chúng ta sám hối vì
những lỗi lầm trong quá khứ
đã làm người khác đau
khổ mà cố gắng thực hiện
những con đường đem lại
hạnh phúc cho muôn loài.
Chúng ta hãy bắt
chước những đứa trẻ
có trách nhiệm giúp đỡ
mẹ nó vượt qua những
thời khó khăn. Chúng ta phải
từ bỏ ngay những tư
tưởng là người khác
phải đối diện với khổ
đau của họ. Chúng ta phải hoàn
thành một cái gì và chỉ
chúng ta là người có khả
năng làm điều đó. Còn
nữa, khi chúng ta nhìn vào bên trong
tâm của mình, chúng ta sẽ nhận ra
một điều là chính chúng ta
phải tự giúp mình, chứ
không phải ai khác. Vì thế, chúng
ta phải kiếm cho ra người nào
có thể làm được công
việc này, hãy nghĩ cách
vượt thắng họ. Rồi chúng ta
sẽ thấy rằng đó chính là
người hoàn toàn giác ngộ --
người theo đuổi con
đường tâm linh tới toàn
thiện và đạt được qủa
vị phật, tới trạng thái hoàn
toàn tỉnh thức -- mới có
đủ năng lực để
hướng dẫn những
người khác thoát khỏi khổ
đau. Khi tất cả những nhận
thức này cùng đến với
nhau và khi chúng ta quyết tâm chiến thắng
chính mình để đạt giác
ngộ vì lợi ích người
khác và cho những người
mẹ, thì đó chính là phát
triển bồ đề tâm một cách
chân thật, đó chính là động
năng giác ngộ.
Tôi xin kết thúc đề
tài phát triển tâm bồ đề
ở đây, lãnh vực thứ
hai của ba lãnh vực chính trên con
đường dẫn đến giác
ngộ. Có tạo được ơn
phước hay không trong bài giảng
này hoàn toàn có tính cách
cá nhân, tùy thuộc vào thái
độ đón nhận của từng
người ở đây. Nếu
có được một chút ơn
phước nào, chúng ta nên hồi
hướng ngay cho chính chúng ta và cho
tất cả mọi người để
cùng đạt giác ngộ. Bằng cách
này, bất cứ một nghiệp tốt
nào mà chúng ta đã tạo
được cũng không bị phá
hủy hay bị dẫn dắt sai lầm
bởi nghiệp xấu.
Hãy nghĩ đến tất
cả những nhân đức của
chúng ta trong quá khứ, hiện tại
và tương lai, cả đến thân
xác hiện tại cùng của cải,
sức khoẻ của chúng ta đều
được dâng hiến cho những
vị đã giác ngộ, để mang
đến cho họ niềm an lạc miên
viễn. Rồi tất cả những ơn
phước tích lũy này nên
hồi hướng đến muôn
loài chúng sinh mà không dành lại
một chút gì cho riêng chúng ta. Nên
biết rằng tất cả những hồi
hướng này là nguồn nhận
thức mà từ đó muôn
vàn chúng sinh có thể tinh tấn
trên con đường thực hành
tâm linh về Đạo pháp để
tiến đến mục tiêu tối
thượng. Rồi tưởng
tượng tất cả chúng sinh
đều được giác ngộ,
đều được thanh tẩy mọi vọng
tưởng. Cuối cùng, hãy cầu
nguyện tất cả những ơn phước
mà chúng ta có được hôm
nay đều nhanh chóng giúp chúng ta tinh
tấn trong ba lãnh vực dẫn đến
giác ngộ này.
Nhận
thức Bản tính của Sự thật
Dù chúng ta đã nghe
những lời dạy bảo thực
hành Đạo pháp một lần hay rất
nhiều lần cũng chỉ đưa
đến một mục đích:
hướng dẫn chúng sinh có một
quan niệm đúng (chính kiến)
về chân tính – tất cả các
hiện tượng, các sự vật
đều trống rỗng và vô ngã,
không có tự tính. Nếu chúng ta
phát triển được một sự
hiểu biết không thể sai lầm, một
sự hiểu biết vững chắc
về cách sự vật xuất hiện, về
cách các hiện tượng sinh
khởi thì chúng ta sẽ giải
thoát chúng ta khỏi tất cả
những đau khổ của bánh xe luân
hồi. Vô minh là nguồn gốc của
tất cả mọi khổ đau, vô minh
là nguyên nhân số một của
vòng 12 duyên khởi, nó đưa
chúng ta vào luân hồi hết kiếp
này qua kiếp khác: sinh ra, chết đi
rồi lại đầu thai, mặc dù
chúng ta không muốn, nó vẫn xẩy
ra một cách tự động, một
cách rất tự nhiên. Với
trí tuệ, chỉ có trí tuệ, chúng
ta mới có thể cắt đứt
được vô minh, từ đó
chúng ta mới giải thoát chúng ta
khỏi tất cả những mắc xích
của luật nhân qủa, của nghiệp
chúng ta. Còn nữa, nếu chúng ta
đạt được trí tuệ như
vậy cùng với năng lực bồ
đề tâm, chẳng những chúng ta
giải thoát được chính
chúng ta mà còn đạt đến
sự tỉnh thức tối thượng
nữa (Diệu Quan Sát Trí,
trí tuệ nhận biết nhiều khía
cạnh, nhận biết toàn diện pháp
giới. - Dg) Từ đó
chúng ta có đầy đủ khả
năng để hướng dẫn tất
cả chúng sinh trên con đường
chấm dứt mọi khổ đau.
Để hiểu được
tánh không (tính không, không tính, shunyata)
chúng ta phải làm quen với
đề tài này một cách không
lầm lẫn, một cách vững chắc.
Đề tài này đã
được giảng dậy bởi
chính Đức Phật Thích Ca và
nó được truyền dạy cho
đến ngày hôm nay một cách
liên tục không gián đoạn qua
các dòng truyền thừa, các
thiền giả và các học giả
lỗi lạc như Ngài Long Thọ, Chandrakirti, Je
Tsong Khapa...Nếu chúng ta chạy theo những
lời giảng dạy cao siêu mà nó
không giải thích được bản
tính của sự vật thì chúng ta
sẽ không bao giờ hiểu
được bản tính của sự
thật, của chân tính, không cần
biết chúng ta đã thiền
định đến cỡ nào, bao
lâu. Vì thế, điều vô cùng
quan trọng là chúng ta phải tìm
những lời giải thích
đúng, rồi nghiên cứu, tìm
hiểu sâu xa và thiền định
về chúng một cách vô cùng
thâm sâu (Tiến trình hòa
nhập trong tánh không gồm ba giai
đoạn: tìm hiểu, kinh nghiệm và
chứng ngộ tánh không. –Dg)
Hãy theo dõi những lời dạy
bảo của các bậc thầy Ấn
độ và Tây tạng. Ngài Je Tsong Khapa
viết:
Kẻ
nào nhìn được nguyên nhân
và kết quả
Của
mọi sinh khởi trong luân hồi và
giải thoát
Không
còn vướng bận và tà
kiến đã bị tiêu diệt
Kẻ
đó đã bước vào con
đường của các vị phật.
Trí tuệ tánh không
chính là phương thuốc trực
tiếp đối trị vô minh của
chúng ta về bản tính của sự
thật. Nếu trí tuệ này không
hoàn toàn phá bỏ được lối
nhìn thông thường về sự
vật thì đó không phải là
trí tuệ thật. Bởi vì vô minh
chỉ nhận thức đối
tượng một cách hoàn toàn sai
lạc, nhưng trí tuệ thì ngược
hẳn lại. Vì thế, trước
nhất chúng ta cần phải có
trực giác về các nhận thức
của chúng ta xem chúng làm việc như thế
nào để từ đó chúng ta
biết chúng ta phải làm gì, hành
sử ra sao.
Tâm của chúng ta đã
quen nhìn sự kiện, sự vật theo
một chiều hướng sai lầm nên
rất khó mà có được
một hình ảnh trong sáng về sự
thật. Bởi vì trí tuệ của
chúng ta quá hạn hẹp, nó không
đủ sức mạnh để nhận
những điều đã tin
tưởng là sai lầm, nó hầu
như không biết thực trạng của
sự vật là gì. Thí dụ, nếu
chúng ta tự hỏi mình: “Thực
sự ‘cái tôi’ mà chúng ta
thường nói đến là
gì?” chúng ta sẽ không trả
lời nổi hoặc rất khó tìm
được câu trả lời.
Đó là một sự thật phũ
phàng, chúng ta đã nghĩ về
“cái tôi” quá nhiều, ngay cả
trong giấc mơ. Vọng tưởng của
chúng ta quá dầy đến nỗi không
giải thích nổi những cái mà
chúng ta thường gặp.
Từ vô thủy muôn
vàn kiếp trước trong luân hồi
đến bây giờ chúng ta
đã thường nghĩ đến
“cái tôi” của chúng ta như là
một cái gì rất vững chắc,
tự có, tự hiện diện một
cách độc lập. Nó xuất hiện
mà không có một chút gì liên
hệ đến thân xác, đến
tâm thức hoặc đến bất
cứ gì khác của chúng ta. Hơn
nữa, hầu như nó hoàn toàn
tự lập. Chúng ta đã không
học hỏi sự tin tưởng sai lầm
này; chúng ta sinh ra, chết rồi lại
đầu thai hoàn toàn theo bản năng.
Đây là sự thật, lý do mà
chúng ta sinh ra trong một thân xác bất
toàn vì tâm của chúng ta đã
quá bận rộn, đã có một
ý niệm tự hữu về
“cái tôi,” rồi từ
đó chúng ta mong muốn, vồ chụp,
chấp nắm, bám víu cho sự an
toàn của nó.
Đó là một lối
nhìn quá sức sai lầm. Thí dụ,
khi chúng ta sợ hãi hay nóng giận,
chúng ta cảm thấy mãnh liệt là
“Tôi không muốn, tôi không thích
nó một chút nào cả!”
khởi phát ra ở trong ta, còn
tất cả những cái khác thì
không quan trọng. Chỉ có một
điều là chúng ta phải tìm
cách bảo vệ “cái tôi”
đang ở trong tim của chúng ta. Nhưng, sự
thật là không có một “cái
tôi” nào đang hiện diện.
Đó hoàn toàn chỉ là sản
phẩm của một ý niệm mù quáng,
vô minh.
Thực sự chúng ta có một “cái
tôi” theo qui ước, theo tập tục,
nhưng nó chỉ xuất hiện một chiều,
trong khi chúng ta lại tin rằng nó thật
sự hiện hữu trong tất cả mọi
đau khổ của chúng ta. Chúng ta
tự lao vào những vấn đề
do chính chúng ta tạo ra bởi vì
căn bản nhận thức của chúng ta
đặt trên một quan niệm sai lầm
chúng ta là ai. Tất cả những
phán đoán của chúng ta đều
sai và chúng ta không có khả năng
để đối diện hay tác
động trên những tình trạng
mà chúng ta đang phải đối
phó. Vì thế chúng ta không ngạc
nhiên chúng ta luôn luôn gặp những
chuyện bực mình khi sự kiện xảy
ra để rồi kinh nghiệm toàn là
bất mãn và khó chịu trong kết
quả.
Tại sao cảm thấy “cái
tôi” xuất hiện một cách
độc lập, tự hiện hữu,
lại là một sai lầm? Nếu chúng ta
đối diện với câu hỏi
này một cách thận trọng, nghiêm
túc và thành thật thì câu
trả lời sẽ đến một
cách rất trong sáng. Không thể
nghĩ về một “cái tôi”
bên ngoài –cũng là nghĩ
về-- thân xác hoặc tâm của
chúng ta. Vì thế, nếu “cái
tôi” thực sự độc lập
và tự có thì nó phải
giống như thân xác và tâm,
hiện diện như vậy, hoặc là một
cái gì đó riêng biệt
với chúng. Nếu chúng ta thiền
định sâu xa về điều này,
chúng ta sẽ thấy rằng chỉ có
thể có hai sự kiện này mà
thôi.
Tuy nhiên, thật rõ ràng
là “cái tôi” không thể
xuất hiện tách biệt khỏi thân
hoặc tâm bởi vì không có
”cái tôi” nào để chúng
ta có thể chỉ vào như chúng ta
chỉ vào một sự kiện tinh thần hoặc
vật chất. Thí dụ, khi thân xác
ngủ, chúng ta nói, “tôi đang
ngủ.” Khi nó đang chăm chú
vào thức ăn, chúng ta nói,
“tôi đang ăn.” Khi nó đang
ở trên ghế, chúng ta nói,
“tôi đang ngồi.” Nếu
“cái tôi” thực sự hiện
diện mà chúng ta có thể cảm
nhận được – như chúng ta
thường cảm nhận một cái gì
đó ở thân và tâm của
chúng ta – thì có thể nó
chẳng có liên quan gì, ý nghĩa
gì đến những hoạt động
của chúng ta. Nếu “cái tôi” là
một cái gì đó xuất hiện
riêng biệt khỏi thân, thì tại sao
chúng ta lại nghĩ, “tôi đang
ngồi” khi thân chúng ta đang ở
trong ghế?
Cùng một cách đó khi
nói về tâm. Trong một khoảng khắc
ngắn ngủi nào đó tâm chúng
ta có liên hệ với rất nhiều
hoạt động khác nhau, thường
là trái ngược nhau. Khi tâm đang
nghĩ, đang ngủ, đang thiền, đang
tức giận hay đang mơ, chúng ta nói,
“tôi đang nghĩ,” “tôi đang
thiền,” “tôi đang tức,”
...vv... Nếu có một “cái tôi”
hiện diện một cách nào đó
ngoài cái tâm, thì nó cũng
chẳng có ý nghĩa gì liên quan
đến những hoạt động tinh
thần trong danh nghĩa của một “cái
tôi” độc lập và tự
có.
Tuy nhiên, hãy cho quan niệm sai
lầm này một chút công bằng,
giả thử có một “cái
tôi” độc lập như thân xác,
như tâm hay như một hình dáng nào
đó của nó; dù cho “cái
tôi” có được coi như
thân xác hay tâm thì nó cũng
không thể nào là một thành
phần vật chất hay tinh thần của
chúng ta mà chúng ta có thể chỉ
tay vào nó mà xác định
rằng “Đây là
‘Tôi.’” Nó không phải là
tay của chúng ta, không phải là tim
của chúng ta hay là bất cứ
một thành phần nào đó của
thân xác mà chúng ta có thể
gọi là “Tôi”. Chúng ta cũng
không thể nói cái gì chúng ta
đang nghĩ đang cảm là “cái
tôi” của chúng ta. Cho tới khi
nào chúng ta còn xác nhận chúng
ta với thân xác của chúng ta,
với tâm của chúng ta hoặc
cứ tiếp tục nghĩ “Đây
là thân của
tôi” hay “Đây là tâm của tôi” là
còn tiếp tục nhầm lẫn về
tất cả mọi sự việc. Những
tư tưởng này có thể hiểu
ngầm là “Đây là thân
của thân xác” và “Đây
là tâm của tâm,” cả hai
đều là tình trạng vô nghĩa
lý. Hơn nữa, có rất nhiều,
rất nhiều nguyên tử, vật nhỏ li
ti, những vi thể trong thân xác của
chúng ta và cũng có rất nhiều
tư tưởng đi qua tâm của
chúng ta mà nếu chúng ta gọi
từng cái là “Tôi” thì
chúng ta phải đi đến một kết
luận là chúng ta đã là một
triệu người khác nhau. Cũng
hoàn toàn vô nghĩa lý khi xác
nhận “cái tôi” với một vi
thể nào đó hay với một
tư tưởng nào đó, còn
những cái khác thì sao? Chúng
thuộc về ai đây?
Nếu chúng ta nghĩ
những điểm này một cách
có hệ thống và dùng chúng
để kiểm chứng lại tất cả
những đường lối mà
chúng ta đã nhìn về chúng ta
thì chúng ta sẽ thấy rằng không
thể có một “cái tôi”
xuất hiện một cách độc lập.
Một “cái tôi” như vậy không
thể hiện diện được, không
thể xuất hiện được nên
có nghĩa là không có tự
tính, trống rỗng. Bởi vì tâm
vô minh bảo rằng chúng ta hiện diện
một cách nào đó như một
“cái tôi” hoàn toàn độc
lập, còn trí tuệ tánh không nhìn
rất rõ ràng rằng “cái
tôi” không bao giờ có dù
chỉ một chút xíu, nên hai quan
điểm này hoàn toàn trái
ngược nhau. Dù chúng ta có tin
một “cái tôi” sai lầm của
chúng ta hay một “cái tôi” theo qui
ước của chúng ta thì cũng
không thể nào tách chúng ra khỏi
thân và tâm của chúng ta hay bất
cứ một phần nào của chúng.
Đúng ra, chúng xuất hiện, chúng
hiện diện tùy
thuộc lẫn nhau (duyên khởi).
Sự thật có nhiều
cấp bậc, mặc dù trong tương đối
hay tuyệt đối, trong căn bản hay qui
ước. “Cái tôi” qui
ước xuất hiện ra trong tâm,
chúng ta đã đề cập
đến là một “cái tôi”
sai lầm – vì nó cho đó là
“cái tôi” độc lập và
tự có – nên nó là một
sự thật tương đối. Sự
thật của “cái tôi” qui
ước (tập tục) xuất hiện
đúng như cách thế của nó,
nhưng điều này không thể
được nhận ra bởi cái
tâm vô minh. Chỉ có cái tâm
hiểu được tánh không và
nhận thức trực tiếp được
tất cả mọi sự vật, mọi hiện
tượng đều không có tự
tính mới có thể hiểu
được bản tính tuyệt
đối, nhận thức được chân
tính. Tâm siêu việt đó không
hề bị một chút ô nhiễm nào
của những quan niệm sai lầm, của
những ý niệm sai lầm về sự
thật tương đối nên nó có
thể nhìn sự vật, nhìn hiện
tượng như chính nó là, như
chính nó xuất hiện trên cả hai
cấp bậc (nhị đế: tục
đế hay thế đế là chân
lý của thế tục và chân
đế hay thắng nghĩa đế là
chân lý của Phật. – Dg)
Khi chúng ta phát triển tâm
linh trong tánh không, chúng ta sẽ nhìn
sự vật hoàn toàn khác
với lối nhìn thông
thường của chúng ta bây
giờ. Mọi vật sẽ như một
bóng ma hay một ảo ảnh. Nhưng không
phải là không có gì xuất
hiện. Cần phải nhấn mạnh rằng
“cái tôi” dù không tách biệt với
hay không hoàn
toàn giống thân và tâm thì
không có nghĩa
là nó hoàn toàn không có.
Đây là điều vô cùng sai
lầm và rất nguy hiểm nếu chúng
ta kết luận như vậy. Một người
đang đau khổ vì những ảo
tưởng về một
tâm-thức-tôi có thể bắt
đầu kiểm chứng những
phiền não “tôi” của họ.
Thất vọng khi đi tìm một “cái
tôi” độc lập, họ có thể
kết luận rằng “cái tôi”
của họ hoàn toàn không có,
không hiện diện. Một khi họ đã
tin với lối nhận thức này,
họ dễ dàng đi đến việc
chối bỏ mọi sự. Họ không chỉ
nghĩ rằng họ không hiện diện mà
họ còn có cảm tưởng rằng
người khác và vật khác
cũng như vậy.
Đây là một quan
điểm quá cực đoan về
sự chối bỏ, gọi là chủ
nghĩa hư vô, chủ nghĩa này có
thể dẫn đến những tình
trạng tâm thần nguy hiểm, rất nguy
hiểm và cực kỳ khổ đau
(bệnh tâm thần). Do đó, khi kiểm
chứng về “cái tôi”
chúng ta phải vô cùng thận trọng.
Chúng ta phải có khả năng phân
biệt thật rõ ràng về sự khác
biệt của hai ý niệm về “cái
tôi.” Thông thường, quan niệm sai
lầm nhìn nó như là một cái
gì xuất hiện độc lập, riêng
biệt. Một khi quan niệm sai lầm về
“cái tôi” đã được
nhận thức, đã bị bác
bỏ, cái gì còn lại chính là
sự thật, lúc đó “cái
tôi ” sẽ xuất hiện một cách
bình thường. “Cái tôi”
này xuất hiện trong
một tương quan với (tùy thuộc)
thân và tâm của chúng ta. Nó
có những hoạt động, tạo
nghiệp, rồi kinh nghiệm được
những kết quả theo luật nhân
quả như đã trình bày về 12
duyên khởi ở trên. Một
“cái tôi” như vậy thì chẳng
có gì là độc lập, tự
có, nó chỉ là một phần của
chuỗi dài liên tục vô tận của
những hành động và phản
ứng, năng lực và phản năng
lực. Khi chúng ta có sự hiểu
biết này, chúng ta sẽ thấy rằng
tại sao chúng ta lại kinh nghiệm
được những gì chúng ta
đã làm. Chúng ta cũng nhận
thức được chúng ta có
khả năng làm cách nào để
uốn nắn những kinh nghiệm của
chúng ta trong tương lai do những gì
chúng ta nghĩ, chúng ta nói và
làm ngay bây giờ. Vì thế, khi
trí tuệ của chúng ta phát triển,
lớn mạnh, chúng ta sẽ kiểm
soát được định mệnh
của chúng ta.
Nếu chúng ta phân biệt
được một cách thật rõ
ràng về sự sai lầm, giữa
một “cái tôi” độc lập
và một cái thực sự hiện
diện thì chúng ta sẽ không còn
bị nguy hiểm rơi vào cực đoan
của hư vô. Nếu không như vậy
thì khi thiền định về tánh
không chúng ta chỉ làm cho vô minh
càng thêm vô minh hơn.
Khi chúng ta thiền định
về tánh không chúng ta sẽ trải
qua rất nhiều trạng thái của tâm
linh. Trước tiên chúng ta sẽ
đạt được một cái nhìn
trong sáng, rõ ràng rằng chúng ta
đã nhận thức sai lầm về
“cái tôi,” – cái xuất
hiện một cách độc lập -- như
thế nào. Rồi, khi chúng ta đánh
phá “cái tôi” sai lầm này
bằng cách phân tích cái nào
tách biệt, cái nào là một
với thân và tâm của chúng
ta, lúc đó “cái quan niệm sai
lầm sẽ tan biến,” như Je Tsongkhapa
đã nói. “Cái tôi” này
sẽ bắt đầu tan rã rồi
biến mất, tan biến trong bản tính
chân thật của chính nó ( không
có tự tính, trống rỗng.)
Khi không tìm kiếm
được “cái tôi” này,
chúng ta sẽ kinh nghiệm được
một sự trống rỗng rất sâu xa
ở nội tâm của chúng ta. Nó
giống như chúng ta đã mất một
cái gì qúi gía. Tại lúc
này, sự sợ hãi có thể
khởi lên bởi vì chúng ta
không còn “cái tôi” nào
để bám vào. Nếu và khi nó
xẩy ra, chúng ta đừng để
bị rơi vào tình trạng cực
đoan của hư vô là chối bỏ
mọi sự. Đây là một sai lầm
vô cùng tai hại. Tốt hơn, chúng ta
nên kiên trì thiền định rồi
tự nhiên sẽ chứng nghiệm
được tánh không. Chúng ta
sẽ có khả năng nhận thức
được bản tính chân thật
của “cái tôi” – thiếu
vắng sự tự hữu – và
hoàn toàn cảm nhận rằng đó
chỉ là những bóng ma, huyễn
ảo trên bình diện rất tương
đối của sự thật. Như
đã được nói đến
trong bài Cúng
Dường Vị Thầy:
Cũng
không phải một vi trần trong luân
hồi hay niết bàn
Chẳng
có gì như vậy hiện hữu,
Cũng
chẳng có gì sai lầm khi nói rằng
những vi trần này
Là
duyên khởi của nhân và qủa.
Kinh xin thầy độ trì con
Để con có thể
chứng nghiệm được đại
chính kiến của Ngài Long Thọ
Về sự không mâu
thuẫn, ơn phước tương
hợp của nhị đế.
Khi chúng ta đạt tới
hai nhận thức này, chúng ta
mới thực sự bước
trên “đường làm vui lòng
chư phật.”
Quan niệm sai lầm mà chúng
ta nhìn “cái tôi” như là
một cái gì độc lập và
tự có cũng sai lầm y như chúng
ta nhìn các hiện tượng. Thí dụ,
khi chúng ta nhìn cái bàn, chúng ta
không để ý tới khía
cạnh nó xuất hiện trước
chúng ta chỉ như là một cái tên
mà chúng ta đã đặt cho nó
và chính cái tên này, cái
nhãn hiệu này là một tập
hợp tuỳ thuộc vào nhiều
thứ, nhiều nguyên nhân và
nhiều hoàn cảnh. Thay vì nhìn cái
bàn theo chiều hướng tùy thuộc
vào rất nhiều yếu tố (duyên
khởi) chúng ta lại nhìn nó theo
một chiều hướng quá đơn
giản mộc mạc và sai lầm. Vì
cái quan niệm sai lầm ràng buộc qúa
sâu xa này mà chúng ta cảm thấy
đối tượng này qúa thật
và độc lập, nó tiến đến
chúng ta từ ngoài kia. Chúng ta
đã quên mất nó là một
cái gì mà chúng ta đã
đặt tên cho nó, cho nó một
giá trị, thực sự là nó
đã được chế tạo ra.
Một thí dụ khác, một
đôi vợ chồng có con và
đặt tên cho nó là Gerald. Dù
thật sự họ đã tạo ra cái
tên này cho em bé, nhưng chẳng bao
lâu sau họ cứ nghĩ con của họ
thật sự là “Gerald.” Họ nhìn Gerald như
là một cái gì hiện diện cùng
với đứa trẻ, độc
lập và tự có, xuất hiện ra
với họ như không có nguyên
nhân. Thay vì nhìn đứa bé
như là một người tùy thuộc
vào thân xác, tâm hồn, tên
tuổi và nhiều thứ khác, họ
lại nhìn nó như một cái gì
thật có, Gerald rất độc lập,
mà chẳng có một chút gì tùy
thuộc vào những cái khác
để cho nó được hiện
diện.
Có rất nhiều sách
giải thích làm sao để thiền
về sự thiếu vắng của tính
tự hữu độc lập của
“cái tôi” và của các
hiện tượng khác. Nhờ
đọc những cuốn sách đó
về tánh không mà chúng ta có
thể tích tụ được nhiều
kiến thức sâu xa. Nhưng điều
vô cùng quan trọng là phải thật
sự tự thanh tẩy chúng ta khỏi
những tà kiến, vọng tưởng
và những ý niệm sai lầm. Cho
tới khi nào chúng ta còn vô minh
về cái gì là đúng, riêng
biệt và cái gì là không
đúng, không hợp cách là
chúng ta còn rơi vào tình trạng
nhận thức lệch lạc về hình
ảnh thật của chân lý, của bản
tính, tất cả sự hiểu biết
của chúng ta sẽ thiếu vắng chân
nghĩa và chân giá trị. Vì
thế, chúng ta cần phải thanh tẩy
tâm của chúng ta. Chúng ta phải cố
gắng loại bỏ cả hai thứ vọng
tưởng dầy đặc như ganh ghét
và bám víu, cái này làm
chúng ta khó tập trung và khó thâm
nhập vào ý nghĩa của tánh
không. Vì chúng qúa vi tế và
vì vọng tưởng quá thâm sâu
của vô minh nên từ đó
mọi vọng tưởng dầy đặc
khác lại phát khởi liên tục.
Còn nữa, chúng ta không bao
giờ được thiếu sót trong
việc quan sát nghiệp của chúng ta, con
đường thẳng tắp của
tất cả mọi hành động là
kiên trì thực hành Đạo
Pháp.
Sau cùng, chúng ta thử
hỏi sự tin tưởng vững chắc
ở tính độc lập tự có
này ảnh hưởng đến tâm
của chúng ta như thế nào? Có
những lễ hội, có những
buổi trình diễn ở những
nơi công cộng hay ở bất cứ
đâu, chúng được coi như
là những trò chơi vô lý,
những màn kịch vô duyên, nhưng
ở đó mọi người
cùng chia sẻ với nhau một trò
huyễn ảo. Mặc dầu nó là
kịch, bi kịch nhưng nó vẫn làm
chúng ta cười. Tiến trình thanh
tẩy tâm ô nhiễm huyễn ảo
này có thể phải mất rất
nhiều thời gian mới hoàn
thành được, nhưng nó rất
cần thiết nếu chúng ta quyết tâm
muốn trốn thoát khỏi khổ đau
để chỉ cho người khác con
đường đi đến tự do,
giải thoát. Do đó, chúng ta phải
cố gắng thật nhiều, phải liên
tục kiên trì, luôn luôn giữ
động năng này càng thanh tịnh
càng hay.
Kết
Luận
Chúng ta không có đủ
thời giờ để thảo luận xa
hơn nữa về ba lãnh vực
chính của con đường dẫn
đến giác ngộ. Nhưng những
gì đã được trình
bày ở trên cũng tạm đủ
để chúng ta ý thức
được sự quan trọng của việc
phát triển tâm hoàn toàn buông
xả, một động năng giác ngộ
của bồ đề tâm, một cái
nhìn đúng về tánh không,
chúng ta cần cố gắng thật nhiều
để lãnh hội những lời
giảng dậy này. Chúng ta nên tìm
kiếm một vị thầy tâm linh
hướng dẫn chúng ta đi
đúng trên con đường tìm
hiểu Đạo Pháp. Còn nữa,
chúng ta nên đọc và nghiên
cứu những tài liệu, những
lời giảng về Đạo Pháp
có giá trị, nhất là những
điểm cốt tủy này. Nhưng
điều vô cùng quan trọng vẫn là
thực hành, thật tâm chân thành
thực hành qua thiền định về
tất cả những gì mà chúng ta
đã học, đã đọc
được. Hãy thực sự
áp dụng những gì chúng ta
đã học vào đời sống
hàng ngày. Có như vậy, sự
thực hành của chúng ta mới
thực sự làm vui lòng các
bậc đã giác ngộ và sau cùng
mới mang lại ơn ích cho muôn
vàn chúng sinh khác.
Mỗi khi chúng ta bắt
đầu một buổi thiền về bất
cứ khía cạnh nào trên
những lời dậy bảo này –
dĩ nhiên, bất cứ lúc nào
chúng ta thực hiện những công việc
đạo đức
– chúng ta cũng phải nhớ
thanh tẩy những động năng thúc
đẩy của chúng ta. Sự kiện
này bảo đảm tất cả
những ơn phước mà chúng
ta có thể có được sẽ
hữu ích cho tất cả những
công việc chúng ta làm. Vì thế,
hãy vun trồng những ý
tưởng đó như sau:
Con và muôn loài chúng sinh
đã bị khổ đau trong luân hồi
từ muôn ngàn kiếp đến
bây giờ. Bây giờ con vẫn
đau khổ, con đã mù quáng
chấp nhận ý niệm sai lầm con là ai.
Con đã lầm tin tưởng
“cái tôi” là tự có
và độc lập nên con đã
nhìn những bất tịnh trong luân
hồi là thanh tịnh và đáng mong
ước.
Con không muốn làm nô
lệ cho những vọng tưởng này
nữa. Trước khi Phật Thích Ca
đạt giác ngộ, Ngài cũng vô
minh như con, cuối cùng Ngài đã
giác ngộ và đạt qủa vị
Phật, không có một lý do nào
có thể ngăn cản con làm
điều đó.
Tuy nhiên, con không hoà nhập
trong tánh bản nhiên và giải thoát
cho riêng con. Con không phải là người
duy nhất ước muốn hạnh phúc
và thoát khỏi khổ đau. Nếu
chỉ giải thoát một mình con mà không
nghĩ đến người khác là
không đúng. Qủa nhiên, thái
độ ích kỷ của con là nguyên
nhân cho tất cả mọi khổ đau
của con và của muôn loài, vì
thế ngay bây giờ con phải chấm
dứt. Tất cả chúng sinh, những
người mẹ cao qúi cuả con,
đã cho con nhiều hạnh phúc mà con
chưa từng có như vậy. Mặc
dầu không có một ân nhân nào
mong muốn đau khổ nhưng họ đã
bỏ lỡ nhiều cơ hội để
có hạnh phúc. Làm sao con có thể
quên họ được khi họ thật
sự cần sự hướng dẫn?
Những người bạn
của con không phải là những
người duy nhất bị ray rứt
liên tục trong khổ đau. Ngay cả
những con thú, những sinh vật
nhìn thấy hay không nhìn thấy trong
vũ trụ này cũng đang ngụp lặn
trong mê vọng. Chúng đã chịu
khổ đau từ muôn vàn kiếp
và còn tiếp tục khổ đau cho
đến khi nào chúng chưa thoát
khỏi vô minh. Con không thể quên
những sinh vật bất hạnh này, vì
chúng đã chỉ cho con biết thế
nào là lòng từ ái.
Do đó, khi con nhận thức
được bổn phận của con về
sự lợi ích cho muôn loài, con
sẽ thiền định sâu xa trên con
đường dẫn đến giác
ngộ. Nguyện xin tất cả những ơn
ích phước đức nào
mà con có được trong sự
thực hành này sẽ thuần
nhuyễn tâm con. Nguyện cho con
được tinh tiến trên con
đường phát triển tâm linh
càng nhanh càng tốt hầu sớm
đạt giác ngộ để mang lại
hữu ích cho tất cả những
bà mẹ của con. Nguyện xin những
lời dậy bảo của các bậc
đã giác ngộ tiếp tục vun
tưới và cung cấp ơn lành cho
tất cả.
Cám ơn qúy vị rất
nhiều.
2. Áp Dụng Đạo Pháp
Vào Đời Sống Hàng Ngày
Tôi
nghĩ các bạn đã nghe đầy
đủ về Đạo pháp. Lạt ma Zopa
đã thâu tóm lại và giải
thích làm thế nào để hiện
thực hoá sự hiểu biết này,
tôi thiết nghĩ các bạn cũng
biết sự lợi ích của nó
như thế nào. Từ đó các
bạn đã có kiến thức
làm sao giải quyết những khó
khăn xẩy ra trong cuộc sống của các
bạn theo Đạo pháp, tôi không
muốn nhắc lại những điểm
này nữa.
Tuy nhiên, chúng ta có thể
nhìn sâu hơn một chút những
gì Lạt ma Zopa đã nhấn mạnh.
Thí dụ, khi Lạt ma và những
người khác đề cập
đến Phật, Pháp và Tăng,
chúng ta không nên nghĩ đây
là những gì đã qua đi,
đã chết. Họ không thuần túy
là những nhân vật lịch sử,
cũng không phải những gì Lạt ma
nói về tương lai, như nói:
“Nếu các bạn thực hành
Đạo pháp như thế, như thế,
các bạn sẽ đạt giác ngộ trong
tương lai, điều này làm các
bạn vui.” Thực ra Lạt ma đang nói
về hiện tại – cái gì đang
xẩy ra trong tâm của các bạn ngay bây
giờ.
Ngay khi chúng tôi nói về
nghiệp, sự làm việc của nhân
và quả, không phải chúng tôi
phát biểu một cái gì đã
hoàn thành trong quá khứ để
có ảnh hưởng đến
những kinh nghiệm hôm nay. Thực ra,
chúng tôi muốn chỉ cho các bạn
biết cái gì các bạn làm
buổi sáng với ý hướng
xấu, thì ngay buổi chiều cùng
ngày hậu quả xấu có thể xẩy
ra. Tốt nhất hãy học những gì
có liên quan đến những sự
thay đổi ngay bây giờ còn hơn
là sưu tầm, tích trữ
những tài liệu lịch sử hoặc
những kiến thức triết học
về các sự kiện.
Thí dụ, khi Lạt ma Zopa nói
về ba lãnh vực chính của con
đường dẫn đến giác
ngộ. Cái gì mà các bạn lãnh
hội được trong bài học này
không tùy thuộc vào sự giải
thích của ngài mà là những
gì đang xẩy ra trong tâm của các
bạn khi các bạn nghe nó. Nếu các
bạn quá chú ý vào kiểu
cách diễn tả thông minh của ngài,
thì có thể các bạn sẽ chỉ
lãnh hội được những
lời giảng giải như vậy, nhưng
đây chỉ là những gì các
bạn đã thấy. Người Tây
phương thường có những
thái độ, “ Ôi chao, ngài giảng
quá hay, thật là tuyệt!” Nhưng
nếu các bạn nhận xét cái gì
đang xẩy ra thì các bạn sẽ
thấy rằng ngài đã không
giảng về trí tuệ. Ngài chỉ
diễn tả những gì đang xẩy ra
trong tâm của các bạn, trong nội tâm
của các bạn. Ngài chỉ muốn
nhấn mạnh rằng các bạn hãy nhìn
vào chính các bạn gần hơn
nữa, sâu hơn nữa. Ngài
nói rất đơn giản, rất
thẳng; cái gì chính các bạn
nhận thức được, cái
đó làm cho nó trở nên
tuyệt vời.
Vì thế, tất cả
đều tùy thuộc vào các bạn
nghe như thế nào, nghe bằng cách
nào. Nó giống như đang coi một phim
hấp dẫn trên truyền hình. Các
bạn chăm chú, nóng ruột muốn
biết cái gì sắp xẩy ra. Cũng
giống như vậy, khi Lạt ma nói, các
bạn hãy để ý xem ngài đang
khuấy cái gì lên trong bạn. Những
lời nói của ngài và
những sự hiểu biết, thực
hành của các bạn phải hợp
nhất cùng lúc với nhau. Thực
ra, Đạo pháp không đề cập
đến những gì ở bên
ngoài như dẫy Hy Mã Lạp Sơn;
nó đề cập đến chính
các bạn, trong các bạn. Và dĩ nhiên,
không nói đến thân thể các
bạn, mũi, tóc hoặc tai của các
bạn mà chỉ nói về những
trạng thái tâm của các bạn.
Nó chỉ thuần túy đề cập
đến sự tác tạo tâm lý,
thái độ của chính các bạn.
Có thể người ta nghĩ
rằng Đạo pháp chỉ là
những hiện tượng văn hoá
của người Đông phương,
thực ra nó không phải như vậy.
Cái gì chúng ta thường nghĩ
khi chúng ta nói về “văn
hoá”? Đó chỉ là tâm tương
đối, những huyễn ảo
được chia sẻ của một xứ
sở hay của một loại người
nào đó, vì thế nó chẳng
có một chút liên hệ gì
với Đạo pháp. Nếu chúng ta
diễn tả ý nghĩa này ra thêm
một chút thì chúng ta có thể
nói rằng Đạo pháp là
“văn hoá” của sự phát
triển tâm linh của riêng chúng ta.
Nhưng điều này đã không
được hiểu theo ý nghĩa
thông thường của chính nó.
Khi người ta nói Đạo
pháp bị giới hạn bởi văn
hóa thì đó chỉ là
những lời thoái thác, một
lý do để bào chữa. Họ
nói: “Lạt ma đang giảng về văn
hóa riêng của ngài. Cái đó
khác với của tôi, tôi là
người Hoa kỳ, không thể
thực hành được.” Tâm
thường viện cớ như vậy
để thoái thác. Có những ngày
hầu như bạn không nhìn thấy,
không suy nghĩ được một
điều gì rõ ràng, hãy quan
sát xem cái gì đã xẩy ra trong
những ngày đó. Thay vì tìm
hiểu nguồn gốc những sai lầm
thì bạn lại nghĩ: “Tôi không
thể thực hành Đạo hôm nay.”
Phản ứng này thường xẩy
ra phải không? Nhưng nó cho chúng ta
biết chúng ta chẳng hiểu thực
sự Đạo pháp là gì. Cũng
giống như vậy, khi chúng ta nói chúng
ta không thể theo Đạo vì chúng ta
là người Hoa Kỳ, vì chúng ta
đang ở nước Hoa Kỳ.
Đạo pháp không phải
là văn hóa của bất cứ
người nào. Nó không phải
của Hoa Kỳ, cũng chẳng bao giờ
trở thành như vậy. Cũng chẳng
phải là văn hóa phàm tục của
người Tây Tạng. Đây không
phải là cái mà chúng tôi
muốn giảng dậy. Cả văn hóa
của Tây tạng cũng như của Hoa
Kỳ đều là phàm tục,
đều thuộc về luân hồi, nên
chắc chắn chúng tôi không muốn
chỉ cho các bạn cách trao đổi cho
nhau. Đạo pháp chỉ dậy con
đường tìm hiểu nội tâm
đang nằm sâu trong những lãnh
vực tầm thường, mê tín,
huyễn ảo của bất cứ một
người nào, một quốc gia nào.
Văn hóa của Hoa Kỳ là
gì? Mỗi buổi sáng vừa
thức dậy, lập tức tâm của
bạn đi vào bếp, ý nghĩ
đầu tiên của bạn là,
“Cà phê của tôi đâu?” Rồi
đến buổi trưa bạn muốn một
cái hamburger. Đó là những
cái tạo nên văn hóa của Hoa
Kỳ, phải vậy không? Văn hóa
phàm tục đó chẳng có liên
hệ gì với Đạo pháp.
Đạo pháp không có liên hệ
gì với những tập tục,
thói quen bên ngoài của xã hội.
Làm thế nào bắt
đầu một ngày với Đạo
pháp? Thay vì để cho bản ngã
đi tìm cà phê, hãy thức
dậy một cách có ý thức,
chú ý vào những cảm nhận
ở bên trong và những hiện
trạng của tâm. Rồi, thiết lập
những gì hứng khởi cần
phải làm trong một ngày. Như “Mục
đích sống trong ngày hôm nay là
gì? Nó phải là cái gì quan
trọng hơn uống cà phê. Sống
chỉ vì ly cà phê thì chẳng
có gía trị gì. Hãy
hướng ngày hôm nay cho việc
phát triển tâm bồ đề là
điều rất tốt đẹp, hãy
hướng về sự bình an của con
đường giải thoát và
giác ngộ để ơn ích cho tất
cả mọi người.” Rồi quyết
định, “Từ lúc này
đến khi đi ngủ, tôi sẽ ý
thức trong tất cả mọi hành
động của tôi qua thân, khẩu và
ý. Bằng cách này, tôi sẽ
giữ được sự kiểm
soát, tạo được sự an
lành cho nội tâm của tôi.”
Nếu chúng ta tạo
được một tâm trạng hứng
khởi như vậy mỗi buổi sáng,
chúng ta sẽ không phải nhắc đi
nhắc lại cái gì phải làm trong
ngày hôm nay?
Cũng chẳng cần phải nghĩ,
“Tôi phải cố gắng làm một
người có đạo, tôi phải
sống tốt lành.” Với một
động lực thúc đẩy và
một sự quyết tâm như vậy thì
một ngày an lành sẽ đến.
Nếu có người nào tức
giận, la mắng bạn, bạn cũng sẽ
giữ được sự kiểm
soát và bình tĩnh. Đây không
phải là chúng ta tự hành hạ
chúng ta, đè nén sự giận dữ
của chúng ta. Sự tự kiểm
soát sẽ đến một cách tự
nhiên và êm diụ, nó đến
từ sự nhận thức sâu xa
về nguồn gốc của những sai
lầm và những bất lợi
của tính xấu.
Nhưng bạn không
được tin những điều
này chỉ vì tôi nói hoặc
người nào khác nói. Hãy
tự thẩm định những
điều này và tự tìm hiểu
xem nó thấm vào trái tim bạn như
thế nào. Nếu bạn thực hiện như
vậy mỗi ngày, tôi chắc chắn
rằng bạn sẽ tìm ra phương pháp
mà Đạo pháp đang kiểm soát,
nó rất thực tế.
Một phương pháp rất hữu
hiệu trong việc kiểm soát cả nội
tâm lẫn ngoại cảnh là niệm mật
chú. Một trong những câu mà
chúng tôi thường lặp đi
lặp lại của Phật Thích Ca là Om muni
muni maha muniye svaha. Niệm mật chú có hiệu
qủa vì nó giúp tâm chúng ta
yên tịnh và an bình, nó tự
động hướng về một
điểm. Nó làm cho tâm chúng ta
tiếp nhận được những rung
động vô cùng vi tế, do đó
nó thăng tiến sự cảm nhận
của chúng ta. Âm vang, chấn động
của chúng có tác dụng tẩy
trừ tận gốc rễ những
năng lực xấu để cho bản
tính chân thực tự nhiên của
sự vật được hiển lộ
ở tâm trong sáng của chúng ta.
Nhờ tụng niệm những câu mật
chú siêu việt, chúng ta có thể
thanh tẩy tất cả những nguồn
năng lực ô nhiễm đang ở
trong thân, khẩu và ý của chúng
ta.
Tụng niệm mật chú có
phải là một phương pháp thiền
định siêu tuyệt hay không, nó
tùy thuộc vào bạn và trí tuệ
của bạn. Sức mạnh của mật
chú không phải tự chính nó.
Nó hoàn toàn không tự
động mang đến cho tâm linh bạn
những đại ơn đại phước,
dù là một chủng tử thánh
thiện rất cổ kính nào đó khi
bạn tụng lên cũng cần phải
trầm tư suy tưởng. Nghĩ rằng
mật chú tự nó có sức
mạnh là một ý niệm vô cùng sai
lầm.Thí dụ, nếu bạn đang say sưa
chìm đắm trong tham dục mà tụng
niệm những câu mật chú có
giá trị cứu độ thâm sâu
thì cũng chẳng có ơn ích gì.
Đó cũng chỉ là một sinh hoạt
khác của luân hồi, của phàm
tục mà thôi.
Giả sử bạn đang ngồi
niệm mật chú mà cứ nghĩ
đến miếng sô cô la, “
Trời, sô cô la, sô cô la, sô
cô la thật tuyệt!” Nếu bạn qúa
bận tâm vì những ý
tưởng này hoặc bị quyến
rũ bởi những thức ăn ngon
trong chợ thì làm sao bạn có
thể thực hành thiền đúng
đắn được? Làm sao nó
có thể đem lại an lạc cho bạn?
Để cho mật chú có hiệu qủa,
bạn cần phải giữ cho tâm bạn an
tịnh và ít nhất bạn cũng
phải tập trung được một
khoảng thời gian.
Thêm vào đó, bạn
cần phải có lòng hứng
khởi, hăng say thanh khiết. Không
cầu mong một ơn phước nào cho
riêng bạn. Mục đích chân thật
của mật chú, cũng như những
sự thực hành khác của
Đạo pháp, là đem lại ơn
phước cho người khác, cho
muôn loài chúng sinh, chứ không
phải cho riêng bạn. Thay vì cứ
nghĩ, “Tôi muốn, tôi muốn,
tôi muốn,” hãy cố gắng
phát triển lòng ao ước thanh
khiết là vì lợi ích cho
người khác. Bạn không nên
qúa thông minh, qúa xúc động,
qúa vội vã mong cầu trong vấn
đề này. Chỉ nên hồi hướng
ơn phước của mật chú cho
muôn loài rồi nguồn năng
lượng này sẽ tự nhiên
tuôn trào.
Mật chú cũng có
sức mạnh giải trừ bệnh tật.
Thí dụ, đôi khi người ta
bị mất trí, bị điên vì
những năng lượng xấu quấy
phá tâm ô nhiễm của họ.
Những chấn động thanh khiết
của mật chú có thể mang tâm
của họ trở lại tình trạng an
bình, êm dịu, nó có khả năng
trị bệnh tâm thần. Vì một thân
xác bệnh tật cũng ảnh
hưởng đến những tình
trạng tâm sẵn có ô nhiễm nên
mật chú cũng có khả năng
chữa trị và điều
dưỡng nó. Chẳng có gì
gọi là ma thuật trong vấn đề
này. Khoa học đã chứng minh
và đang áp dụng lối trị bệnh
này.
YÙ nghĩa câu mật chú
của Đức Phật Om muni muni maha muniye svaha
là “Hãy kiểm soát, hãy kiểm
soát, hãy kiểm soát thật
nhiều.” hoặc “Hãy tỉnh
thức, hãy tỉnh thức, hãy
tỉnh thức thật nhiều.” Các
bạn có thể cho rằng Phật giáo
quá chú trọng đến sự
kiểm soát, sự tỉnh thức và
cảm thấy tất cả các lạt ma
đều nói, ”Tâm huyễn ảo
của các bạn đầy ắp những
tật xấu nên các bạn phải hạn
chế nó tối đa.” Chúng tôi
không có ý nói như vậy. Hơn
nữa, nếu buổi sáng chúng ta
có quyết tâm như vậy thì nguyên
một ngày chúng ta mới tự
động để ý đến
những hành động của chúng ta hơn.
Một khi đã có quyết tâm thì
cái đồng hồ nội tâm sẽ
tự chạy một mình. Vì đã
hướng dẫn nguồn năng
lượng chủ yếu đi theo một chiều
nên chắc chắn những năng
lượng phụ sẽ phải tuôn chạy
theo cùng một đường.
Ở Tây Tạng chúng tôi
thường nói hướng dẫn
tâm cũng như “cầm cương
hướng dẫn ngựa chạy.”
Ngựa là con vật có sức
mạnh, nếu bạn không có cách
kiểm soát nó, nó sẽ chạy lung
tung, có khi còn hại cho chính nó
và những con vật khác nữa.
Nhưng nếu chúng ta biết cách
điều khiển năng lượng và
sức mạnh của con ngựa thì
nó có thể hoàn thành
được rất nhiều công việc
khó khăn. Chúng ta cũng áp dụng
như vậy cho chính chúng ta. Nhìn một
cách khoa học, thân, khẩu và ý
của chúng ta chẳng có gì khác
hơn là để chuyên chở,
chuyển đạt những hình thái
năng lượng khác nhau. Vì thế,
nếu buổi sáng chúng ta hướng
dẫn nguồn năng lượng này
bởi sự quyết tâm của
chúng ta thì những năng
lượng của thân, khẩu và ý
sẽ đi theo cùng một
đường. Do đó sự kiểm
soát mà chúng ta đề cập
đến ở đây giống như
người phi công không hạn chế
mà là hướng dẫn chiếc
máy bay của anh ta. Sự phức tạp,
sự khó khăn của ngôn từ
không diễn tả được
những gì của nội tâm. Nhưng
nếu chúng ta thực hành thiền
định và đạt được
những nhận thức từ nó thì
chữ “kiểm soát”, “tỉnh
thức” sẽ không còn là
một trở ngại cho chúng ta nữa.
Phần quan trọng nhất của
một ngày chính là buổi sáng.
Giả sử bạn thức dậy
với một cơn nhức đầu hay
với một cái chân đau, thay vì
để ý đến những đau
đớn này, điều đầu
tiên bạn nên làm là hãy có
một quyết tâm vững mạnh
giữ thái độ hứng
khởi về tâm bồ đề cho
suốt cả một ngày. Ngày đầu
tiên chắc chắn là khó khăn.
Nhưng từ những ngày sau nó
sẽ dễ hơn, dễ hơn với
niềm hứng khởi thanh khiết
này. Đây là kết quả của
sự trau dồi, phát triển và
điều kiện hóa tâm của chúng
ta theo một chiều hướng thánh
thiện.
Không cần biết chúng ta
đã đọc bao nhiêu về Đạo
pháp, nhưng hầu như chúng ta
đã không dành ra được
một ngày để kinh nghiệm những
sự thực tập như vậy. Nhưng
nếu chúng ta cố gắng thì ngay lập
tức tâm của chúng ta sẽ cảm
nhận được niềm an lạc này.
Khi quý vị bắt đầu thực
hành tâm linh, dĩ nhiên, quý vị
sẽ làm theo những gì quý vị
đã nghe, đây là những
điều nên làm khi bắt đầu bước
vào bất cứ một con
đường thực hành tâm linh
nào. Nếu chúng ta không chấp nhận
điều kiện này, chúng ta sẽ
mất kiên nhẫn trong việc thực
hành và chúng ta sẽ nghĩ chúng
ta bị bắt buộc rồi sẽ mất
hết sự tự nhiên. Có thể
quý vị sẽ cầu phép lạ khi
quý vị ngồi thiền, rồi không
thấy phép lạ xẩy ra, quý vị
sẽ tự hỏi, “Tại sao tôi lại
chạy theo phong tục kỳ lạ này của
người Phương đông?”
Thế rồi tâm tiêu cực của
quý vị sẽ trả lời, “Anh
đang bắt chước kiểu ngồi
của một lạt ma ngoại quốc đấy.
Chẳng có gì hay khi làm như vậy.
Tại sao anh không ngồi thoải mái
trên ghế như những người
Mỹ khác?”
Do đó chúng ta nên thận
trọng với tâm của chúng ta.
Nó biết rõ phải làm thế
nào để hợp lý hóa tại
sao không nên theo những phương
pháp với mục đích thuần
hóa nó. Chúng ta cần phải hiểu
rõ tính hoài nghi của cái tâm nghi
ngờ này mà tiếp tục thực
hành một cách kiên nhẫn bền
bỉ và vững chắc.
Một điều khác cũng
cần phải nhận định là trong
cùng một lúc có hai cái tâm
cùng làm việc trong chúng ta. Thí
dụ, trong lúc quét nhà, một cái
tâm chú ý đến việc quét
nhà còn một cái tập trung vào
việc tụng kinh. Điều này không
có nghĩa là hai tâm mâu thuẫn nhau
hoặc việc tụng kinh của bạn là
không chân thành. Ngay trong lúc thực
hành Đạo, chúng ta cũng vẫn đang
sống trong trần gian và đang có
những sinh hoạt liên hệ. Có
nhiều điều chúng ta cần làm
để sống, như kiếm tiền, pha
trà, uống cà phê, nấu ăn,
...vân vân... Chúng ta không nên bỏ
những sinh hoạt này. Hãy nhận định
một cách đơn giản rằng chúng
chỉ có những giá trị tương
đối trong dòng hiện hữu, trong đời
sống thường ngày. Do đó,
trong lúc làm công việc quét nhà
tâm của chúng ta cũng vẫn thực
hành tâm linh được.
Có những phương pháp
hướng dẫn việc thực hành
tâm linh này. Mật chú là năng
lượng, nhưng không phải là
năng lượng tầm thường. Nó
thuần túy thanh tịnh, xuất phát
từ trí tuệ đơn thuần. Vì
thế, nếu tâm của chúng ta cũng
khởi phát ra từ nguồn năng
lượng thanh tịnh này thì chúng
ta vẫn an lạc mặc dầu chúng ta đang
làm những công việc trần gian
của kiếp luân hồi. Theo chiều
hướng này thì tâm như một
đại dương, tự tính của
nó trầm lặng mặc dù vẫn có
những làn sóng nhấp nhô
ở trên mặt.
Nếu chúng ta có trí tuệ,
chúng ta có thể chuyển hóa năng
lượng của những dòng sinh hoạt
thường ngày của chúng ta –
như mầu sắc, tình cảm, ...vân
vân...—thành an lạc. Như vậy
những năng lượng ở bên
ngoài của một cái gì mà
chúng ta nhận thức được
sẽ không có khả năng bắt
tâm của chúng ta khởi lên
lòng ham muốn, hấp dẫn, gợi
cảm hoặc những sinh hoạt tiêu
cực khác. Hơn thế nữa, tâm
của chúng ta còn có thể kiểm
soát và chuyển hóa những
hoàn cảnh này, những sinh hoạt
này thành thánh thiện, đạo đức.
Với sự hướng dẫn, tỉnh
thức và kiểm soát này,
chúng ta sẽ không còn diễn dịch,
biện minh cho những hiện tượng
khác nhau trong sự bám víu và
cố chấp nên không còn cơ hội
để những vọng tưởng
xuất hiện nữa. Chúng ta sẽ
không còn bị cảnh thổi lên
dìm xuống khi đối diện với
những cái tốt xấu, với
những cái ưa thích hoặc ghét
bỏ.
Ở điểm này có
thể có những câu hỏi như “
Nếu bạn thánh thiện hóa những
sinh hoạt, những đối tượng
như vậy hoặc chuyển hóa chúng
thành một cái gì khác, bạn
có chắc rằng bạn sẽ không
tạo ra một huyễn tượng tâm
thần khác không? Làm sao một
phương pháp (phương
pháp cũng là huyễn ảo, Dg) lại có thể
xóa bỏ được sự
thật?” Người Tây phương
thật là thông minh, nên những
câu hỏi như vậy rất thường
xẩy ra. Để trả lời, tôi xin
đặt một câu hỏi khác,”
Phải chăng những cái mà bạn
nhìn thấy, thật sự nó
‘tốt’ hoặc ‘xấu’?” Quý vị nghĩ
rằng những cái mà chúng ta
nhìn thấy tốt hoặc xấu thực
sự nó như vậy, làm sao chúng ta
biết nó như vậy? Tôi không nghĩ
rằng quý vị sẽ hài lòng khi
trả lời câu hỏi này. Quý
vị có thể nói, “Bởi vì
tôi cảm thấy đúng.” Nhưng
tại sao quý vị cảm thấy như vậy?
“Bởi vì tôi nhìn nó
bằng con mắt của tôi.” Tôi lại
hỏi, “Vậy cái gì làm cho con
mắt của quý vị nhìn là luôn
luôn đúng? Quý vị có luôn
luôn nhìn được sự thật
bên ngoài sự phóng tưởng,
sự vọng tưởng của tâm
thần không?” “Không, dĩ nhiên
là không,” rồi quý vị trả
lời tiếp, “nhưng lần này
chính mắt tôi nhìn thấy là
đúng.” Làm sao quý vị biết
được? Tôi bảo đảm
với quý vị là sẽ không
có một câu trả lời nào
tuyệt đối đúng cho câu hỏi
này. Chúng ta có thể suy nghĩ cả
một đời, nhưng không thể
nào có được một câu
trả lời hoàn toàn thỏa
mãn.(1)
_____________________________________________________
(1) Chú
thích của người dịch:
Để nói lên tính
cách huyễn ảo của tất cả mọi
hiện tượng, kể cả những
phương pháp thiền định và
để phá chấp đến tuyệt
cùng, Milarepa, một thánh tăng của
Tây Tạng ở thế kỷ 11 nói:
Kẻ
nào vướng mắc trong huyễn ảo
Kẻ
đó lầm lẫn trong thiền
định.
Nếu
ngươi biết chúng không là
chướng ngại
Mà
chỉ là sự thị hiện
Của
tâm rỗng lặng
Thì
ngươi đã bị phỉnh lừa trong
thiền định.
Đó
là căn nguyên của tất cả mọi
lầm lạc
Tất
cả đều xuất hiện trong tâm.
Lại
nữa,
Thiền
định là một ảo nghĩ
Không
thiền định cũng là một ảo
tưởng
Chúng
giống nhau cho dù người thiền hay
không thiền.
Trí
phân biệt là mầm mống của mọi
sai lầm
Trong
tất cả chẳng có gì là tất
cả
Trong
quan điểm chẳng có gì là quan
điểm
Đó
là tính thể của tâm.
(Một
trong hàng ngàn bài thơ đạo Milarepa
để lại cho thế gian. Đọc toàn
bài thơ ở phần phụ lục.)
______________________________________
Đừng để mất
một điểm nào trong vấn đề
này. Câu hỏi này không khó
vì nó chỉ là một điểm u
tối của triết lý, chúng huyễn ảo.
Nó không hoàn toàn là một
rắc rối, một khó khăn về
lý thuyết, nhưng nó đến
từ kinh nghiệm của chúng ta. Vấn
đề là chúng ta không thể
nào nhìn được bản tính
tuyệt đối của mọi hiện
tượng. Không chấp nhận điểm
này thì rất khó mà nói
về sự thật. Khi tôi hỏi,
“Làm sao quý vị biết
được cái gì quý vị
nhìn là thật hay giả?” thì
đừng nghĩ, “Lạt ma đang
hỏi tôi một câu hỏi khó. Chỉ
có ngài mới trả lời
được.” Nó không phải
như vậy. Không có ai có thể
giấu quý vị câu trả lời
chân thật. Chỉ khi nào chính quý
vị kiểm chứng được
những kinh nghiệm của quý vị
về cái mà quý vị gọi là
sự thật thì lúc đó quý
vị mới bắt đầu đồng
ý về vấn đề này.
Chuyện gì đã
thường xẩy ra ở nước
Mỹ khi một người da đen và
một người da trắng xung đột
với nhau. Thực sự họ
đã không nhìn ra được
toàn diện vấn đề. Thật ra,
người da trắng đã sơn
phết một quan niệm lệch lạc về
người da đen và ngược
lại. Rồi, dựa trên lối nhìn
lệch lạc này, họ hành động
một chiều, cứng nhắc cho nhau. Tại sao
sự kỳ thị này lại có
sức mạnh ảnh hưởng
đến tâm của họ? Thực ra,
đây chỉ là những vọng
tưởng bệnh hoạn, những phóng
tưởng tâm thần mà tất
cả những vọng tưởng này,
những phóng tưởng này
chẳng có liên hệ thực tại
nào với cá tính của họ.
Nó không phải là cái họ nhìn
mà là cách họ nhìn, điều
này đã tạo ra sự khác
biệt, điều này đã tạo ra
sự kỳ thị. Hoàn toàn chỉ
là những điều tưởng
tượng. Những điều tưởng
tượng chứ không phải là
những điều được dậy
bảo; đó là một phần văn
hóa của họ. Vì thế khi tôi
nói về sự chuyển hóa sự
thật tương đối của bất
cứ một sự kiện nào bằng
cách thành lập những quán
tưởng (tưởng tượng)
thích ứng là tôi đã
không nói về một điều gì
mới lạ hay khác lạ mà
đây chính là những
điều mà con người vẫn
thường làm. Đã có
những sự kiện ảnh hưởng
sâu xa trong tâm của chúng ta nên khi
được thanh tẩy, khi được
chuyển hóa bằng những động
lực thích ứng thì chắc
chắn sẽ đạt được
nhiều ơn ích, nhiều thành quả.
Kinh nghiệm cho chúng ta biết
rằng khi ánh sáng mặt trời
rọi vào căn phòng đen tối
thì ngay lập tức bóng tối sẽ
biến mất. Không có một sự nghi
ngờ gì cho sự kiện này
phải không? Khi chúng ta quán
tưởng Đức Phật Thích Ca
cũng vậy, ánh sáng trí tuệ, như
ánh sáng mặt trời của Ngài
sẽ chiếu soi tâm ta. Chiếu soi một
cách tự nhiên trong tâm hồn
chúng ta và sẽ trở thành một
sự hướng dẫn. Khi sự
quán tưởng của chúng ta về
Ngài trở nên mạnh và trong
sáng – thân của Ngài không
phải là thân xác thịt nhưng
đó chính là sự thị hiện
của Pháp Thân Phật – trong khoảng 5,
10 phút thì thật là ơn ích, thật
là hữu hiệu. Không cần phải
tụng niệm, chỉ quán tưởng
cũng đủ rồi.
Hãy tưởng tượng
chúng ta đang đi dạo phố tại New York
với những cửa hàng
đầy quần áo đẹp đủ
màu, thật là hấp dẫn trong
những khung cửa sổ, nó
đánh thức lòng ham muốn của
chúng ta làm tâm chúng ta bấn
loạn. Ngay tại đó chúng ta cũng
có thể chuyển biến những năng
lượng này vào ánh sáng
trí tuệ của Phật hay nếu chúng ta
biết cách, chúng ta cũng có thể
hóa giải nó vào trong tính không
của chính nó. Qua phương pháp
này, mỗi khi chúng ta nhận thức
được tính tham nổi lên qua
những bộ quần áo, chúng chỉ
là những trò huyễn ảo của
tâm bình thường, do đó
nó chẳng có một giá trị
nào với tâm chân thật, vì
thế bất cứ cái gì huyễn
ảo xuất hiện thì cũng sẽ
tự động tan biến. Sự khó
khăn, lòng tham, sẽ được hóa
giải. Nếu không như vậy, tâm của
chúng ta cứ bám chặt vào vọng
tưởng rồi nghĩ: “Ôi chao,
đẹp quá, ước gì nó
là của tôi,” chúng ta sẽ mang
cái hình ảnh này suốt cả
ngày.
Nếu chúng ta dừng lại
và suy nghĩ thâm sâu chúng ta sẽ
nhận ra sự thật này đang diễn ra.
Chúng ta cũng có thể cho là “
Lạt ma này nói nhiều quá,
những gì ông ta nói toàn là giả
tưởng, chẳng có căn bản
gì cả.” Nhưng chúng ta cũng
đừng chấp nhận hay từ
chối một cách mù quáng. Tốt
hơn, hãy kinh nghiệm nó, đừng
phê phán tốt hay xấu. Như chúng
tôi đã trình bày trước
kia, Đạo pháp không quan tâm đến
quá khứ hay tương lai mà chính
là ở ngay giây phút hiện tại.
Vậy hãy tự kiểm chứng những
lời dậy bảo này và cố
gắng tìm ra giá trị ở trong
đó.
Có thể có những nghi
ngờ ở điểm này. Quý
vị có thể nghĩ: “Tôi dùng phương
pháp này để hóa giải
những đối tượng đẹp
và hấp dẫn một cách dễ
dàng. Nhưng còn những vấn
đề quá rắc rối, cực
kỳ khó khăn thì sao? Như có
người tấn công tôi, gây
sầu khổ cho tôi, trong trường
hợp này tôi phải làm
gì?” Đúng là một quan tâm
khá quan trọng. Được, nếu
quý vị thực sự tỉnh
thức, thực sự biết kiểm
soát thì ngay cả những sự
kiện vô cùng khó khăn cũng
có thể hóa giải trong Đạo pháp.
Việc đầu tiên chúng ta
phải làm khi có những liên hệ
khổ đau với một người
nào hay sự vật nào thì hãy
nhớ rằng một phản ứng
xấu, tiêu cực sẽ không bao
giờ mang lại kết quả, không bao
giờ giải quyết được
vấn đề. Sự hối hận,
sự tự vệ, lòng mong muốn trả
thù... sẽ không hóa giải
được gì, không giúp ích
gì. Chúng chỉ làm cho chúng ta
tức giận hơn, bấn loạn thêm.
Hãy bình tĩnh nghĩ về những
kinh nghiệm ở quá khứ sẽ
giúp cho chúng ta biết đây là
sự thật. Những xúc cảm và
những ý nghĩ
tiêu cực chỉ dẫn đưa
chúng ta đến đau khổ trong
tương lai, điều vô cùng quan
trọng là hãy hướng về
những phản ứng tích cực,
trong sáng.
Vì thế, thay vì để
ý đến những phiền não,
giận ghét, hãy nhìn thẳng vào
tâm ta, hãy nhìn sâu vào bên trong,
bên ngoài xem cái gì, sự kiện
gì đang xẩy ra. Hãy tự nhủ:
“Khoan, đợi một chút, bình
tĩnh lại. Cái này rồi sẽ qua
đi.” Nếu chúng ta có thể
cầm giữ sự nóng giận lại
trong một vài giây, tâm của chúng ta
sẽ trong sáng
hơn. Ở trạng thái này
chúng ta có thể hiểu thấu được
vấn đề một cách tinh tế hơn,
đúng hơn.
Nên nhớ rằng mỗi
một sự kiện đang xẩy ra bây
giờ đều có nguyên nhân.
Có thể đây là những hậu
quả mà chúng ta phải lãnh nhận
vì những hành động xấu
của chúng ta đối với
người khác trong quá khứ.
Vì thế, chúng ta nên nghĩ rằng
chúng ta đang trả dần những
món nợ cũ. Ngay cả những
sự kiện gây đau khổ cho chúng ta,
chúng ta cũng nên nghĩ rằng
đây là những ơn
phước. “Cho dù người
nào hay bất cứ gì đang làm
tôi khổ, thì đây cũng chỉ
là sự thị hiện của Đạo
pháp, giúp cho tôi thăng tiến trên
đường tìm giác ngộ. Nếu
tôi có thể học được
gì trong những đau khổ này thì
sẽ giúp tôi phát triển thêm
lòng từ bi đến những người
đang khổ đau và giúp tôi
tránh được những hành
động gây ra khổ đau cho chính
tôi, hơn nữa nó sẽ mang lại
hạnh phúc cho những người
đã cho tôi những giây phút
bực bội này. Nếu không có
những người đối xử
với tôi như là một
đứa trẻ thì làm sao tôi
có thể trưởng thành trong tình
cảm và trong tinh thần được.”
Với những cảm nghĩ như vậy,
chúng ta có thể chuyển hóa
những sự giận dữ, những
sự bực bội của chúng ta
thành lòng từ mẫn chân thành,
trong một chiều hướng hiểu biết
thâm sâu.
Hình như phương pháp
này không quen thuộc với quý
vị chút nào, có vẻ còn đi
ngược lại với hoàn cảnh
và đôi khi có người
còn cho là điên khùng nữa.
Nhưng đối với những
người chân thành thực hành
Đạo pháp thì đây là một
phương pháp vô cùng quý báu
để tinh tấn. Họ nhận thấy
những phương pháp bình
thường và thông thường
đều không có giá trị
để đối trị những vấn
đề rắc rối, chúng chỉ dẫn
đến đau khổ hơn hoặc bất
mãn hơn mà thôi. Tuy nhiên chấp
nhận tất cả mọi tình trạng khổ đau
để tu tập, để hiểu thấu
bản tính của tâm là phương
pháp tuyệt diệu nhất.
Chúng ta không thể sống
nếu cắt đứt tất cả mọi
liên hệ với người khác,
đặc biệt trong một thành phố
lớn như thế này, mặc dầu
có những liên hệ gây ra phiền
toái. Nhưng nếu chúng ta cứ
tiếp tục chung sống, tiếp xúc
với nhau, chúng ta sẽ học
được rất nhiều bài học
quí báu. Nói đúng ra, chẳng
có ai là hoàn toàn, còn rất
nhiều điều chúng ta cần phải tinh
tấn, còn rất nhiều vấn
đề chúng ta cần phải tìm
hiểu.
Bài học này chỉ có
giá trị cho những người
đang sống gần nhau, còn liên hệ
giao tiếp với nhau. Nhiều khi có
những va chạm nhưng họ đã
phải cố gắng tìm hiểu nhau
để trau dồi mối tương quan. Mặc
dù có những người cố
tình gây ra chuyện xấu, nhưng chẳng
sao cả nếu còn có những
người đang sống chân thành
với Đạo pháp. Những
điều xấu xa sẽ trở thành
ơn phước nếu họ biết
cách chuyển hóa chúng.
Mặc dù lòng từ mẫn
có giá trị cao quí, nhưng chúng ta
cũng không thể luôn luôn mở
rộng tình thương mà nói: “
Tôi thương anh, lúc nào tôi cũng
đối xử tốt với anh.”
Rất có thể chúng ta làm như
vậy vì chúng ta muốn được
bảo vệ, được mọi
người để ý hoặc muốn
được an toàn. Nếu chúng ta
cứ để chúng ta bị lệ
thuộc vào người khác theo kiểu
này thì chúng ta không bao giờ
khám phá ra được khả năng
của chúng ta và cũng không bao
giờ có thể phát triển
được năng khiếu nào.
Đừng bao giờ nghĩ rằng
chúng ta không có tài, không
được mạnh, thực sự
tâm của con người có một
sức mạnh phi thường. Chúng ta
chỉ cần thể hiện sức mạnh
đó ra bằng hành động. Thay
vì để mình trong tình trạng
chán nản, chúng ta hãy dùng nó
vào việc thực hành tu tập. Như
vậy, chúng ta có thể chuyển hóa,
buồn thành vui, chán nản thành
hăng say, bất mãn thành an lạc giải
thoát. Trong những bài học thực
hành tu tập của người Tây
Tạng gọi là “chuyển hoàn cảnh
thành con đường giải
thoát.”
Thường thường khi
gặp phải những chuyện bất bình,
chúng ta nói: “Chán quá!”
Nhưng nếu nhìn thật sâu vào
vấn đề, hỏi đi hỏi lại
cái gì làm chúng ta chán trong
hoàn cảnh này, có lẽ chẳng
có câu trả lời nào làm
chúng ta hoàn toàn vừa lòng.
Không ai có thể chứng minh
được cái gì thật sự
là “chán.” Vì thế, bất
cứ gì mà tâm thường
tình cho là bất mãn, chán nản,
khó chịu đều có thể chuyển
hóa được bởi Đạo
pháp trong con đường thực
hành tâm linh. Chắc chắn là
được, ngay cả những gì
khủng khiếp nhất.
Đối với những
người Tây phương thì không
có gì đáng nghi ngờ khi nghe
bài giảng chuyển xấu thành tốt
này. Trong những nước thiếu
văn minh, người ta khó có thể
hiểu được con người
có thể chuyển biến cái này
thành cái kia. Nhưng ở đây,
truyền thống giáo dục của quý
vị thường chú trọïng
đến vấn đề thay đổi
những môi trường sinh sống
ở bên ngoài. Do đó, khi quý
vị nghe nói về những phương
pháp chuyển hóa tâm linh để
ảnh hưởng đến những
tình cảm ở bên ngoài, quý
vị sẽ hiểu ngay nó là gì
và sự hiệu nghiệm của nó như
thế nào.
Phần nhiều những
người ở Hoa Kỳ đi làm
việc cho người khác. Họ có
rất nhiều cơ hội để học
hỏi và tiến thân mà những
người khác không có. Vào
buổi sáng, trước khi đi làm,
quý vị nên xác định lại
tính năng động, sự hăng
hái của mình. Hãy nhớ
đến đặc tính thâm nhập
tự nhiên của khổ đau mà
phát triển lòng từ bi đến
tất cả những người mà
quý vị sẽ gặp. Rồi nên dành
sức lực của mình để mang
lại lợi ích cho người khác.
Chúng ta nên quyết tâm làm việc
và hoàn thành công việc một
cách chăm chỉ, hăng say. Với
một căn bản vững chắc như
vậy, chúng ta sẽ không còn
lười biếng, buồn bực hoặc
tức tối mỗi khi lái xe đến
sở làm. Không mong muốn chiếm
phần lợi ích trong bất cứ
lãnh vực nào, không lừa
dối chủ, chúng ta làm việc trong tinh
thần tương thân tương trợ
lẫn nhau. Với thái độ đó,
một ngày làm việc của chúng ta
sẽ vô cùng giá trị và
hữu ích thay vì mất thời
giờ vô ích.
Thời nay có rất nhiều
người muốn những hình
thức luyện tập thân thể khác
nhau. Những hoạt động như tăng
sự kiểm soát thân thể, cần
phải đạt nhiều tiện ích... nhưng
học để kiểm soát tâm rồi
từ đó đem lại lợi
ích cho người khác là một
sự thực hành vô cùng quí
giá. Có một kỷ luật tâm linh như
vậy, chúng ta có thể tinh tấn rất
nhanh và rất xa trong mọi lãnh vực
kể cả con đường dẫn
đến giải thoát. Một trong
những thành quả vĩ đại
của việc áp dụng kỷ luật này
là để chuyển hóa tất cả
những sinh hoạt bình thường
hằng ngày vào con đường tu
tập tâm linh.
Trong thời Đức Phật
Thích Ca, có một ông già rất
muốn thực hành Đạo. Nhưng
đáng tiếc ông ta quá ngu muội,
không thể hiểu được
những lời dậy của Phật.
Những đệ tử của Ngài
thất vọng nên không đủ kiên
nhẫn để dậy ông ta. Vì thế,
lần lượt hết thầy này
đến thầy khác từ giã
ông; quá chán nản, ông muốn gieo
mình xuống sông tự tử
để chấm dứt cuộc
đời đau khổ này.
Nhìn thấy tình trạng
đáng thương không thể
vượt qua của ông già,
Đức Phật liền gửi ngay một đệ
tử thân cận nhất của Ngài
đến khuyên can và nói với
ông rằng chính Phật sẽ chỉ dậy
cho ông cách thực hành tâm linh. Khi
ông già được dẫn
đến trước mặt Ngài,
Đức Phật nói rất nhỏ nhẹ
với ông : ”Ông không cần
phải học hỏi sâu xa, không cần
phải cầu nguyện cũng không cần
phải tụng kinh. Ông chỉ cần quét
chùa và cố gắng giữ nó
càng sạch càng tốt. Tuy nhiên, mỗi
khi quét ông hãy tự nhủ, ‘
Hãy sạch ! Hãy hết mùi hôi
thối !’
Ông chỉ cần thực hành như
vậy cũng mang lại rất nhiều ơn
ích.”
Ông già rất cảm kích
về sự thực hành đơn
giản này và bắt đầu hăng
say thực tập. Ông quét chùa mỗi
ngày, thực hành chăm chỉ theo
đúng sự chỉ dẫn. Rồi
đến một ngày, trong lúc đang
quét bụi và rác, ông ta nghĩ,
« Bây giờ tôi cảm thấy
tôi thực sự hiểu
được ý nghĩa của
lời Phật dậy ‘ Hãy sạch !
Hãy vất rác đi’ Bụi bặm
không phải ở bên ngoài ;
nó ở bên trong. Mùi hôi thối
không phải ở đây, trong ngôi
chùa này; nó ở ngay trong tôi,
không phải chỉ quét chùa mà
thôi, tôi cũng phải làm sạch
cả tâm của tôi nữa. »
Bang ! Ánh sáng nội tâm bắn
thủng bức màn vô minh của ông
già làm ông bừng tỉnh hiểu
được tứ diệu đế,
nền tảng của toàn thể con
đường. Vì thế, chỉ trong
một tích tắc ông ta đã chuyển
hóa từ một ông già quét
rác u mê thành một người
có trí tuệ.
Qua câu chuyện này, quý
vị chưa nhận thức được
từng chi tiết của sự phát
triển trí tuệ trong Đạo pháp.
Điều quan trọng là tất cả
những gì chúng ta học và kinh
nghiệm được đều trực
tiếp đi ngay vào tâm chúng ta rồi
ngay lập tức nó chuyển thành
hành động. Như vậy, dù là
chỉ nghe một lời dạy đơn
giản cũng có thể mở toàn
diện tâm ta. Cái gì chúng ta nghe
được không quan trọng bằng cách
chúng ta nghe như thế nào. Oâng già
nhận được một lời chỉ
dẫn vô cùng đơn giản nhưng ngay
khi nhận thức được nó
có liên hệ đến cuộc
đời của ông, ông đã
thực tập và tinh tấn nhanh chóng.
Tương tự như vậy,
chúng ta nên chuyển hóa tất cả
những gì chúng ta nhận
được – âm thanh, mùi vị,
mầu sắc... vân vân... – vào
Đạo pháp. Làm thế còn tốt
hơn là vồ chụp hoặc xua đuổi
chúng. Nếu chúng ta nhìn sự vật
từ bên trong lẫn bên ngoài
với một cái nhìn toàn diện
thì cuộc đời của chúng ta
sẽ giá trị biết bao. Đừng
nhìn thế giới bằng con mắt tham
sân si thì thế giới sẽ xuất
hiện vô cùng trong sáng.
Thường thường
những vọng tưởng của chúng
ta mang lại nhiều trở ngại, nhiều
rắc rối hơn là chính sự
vật, hơn là chính đối
tượng. Thí dụ, khi đi dạo
trên những đường phố
ở New York, chúng ta thường nghĩ
thành phố này quá dơ bẩn.
Thực sự không hoàn toàn
đúng như vậy. Chính vì
những bất an ở trong tâm,
sự vội vã tấp nập của xe
trên đường phố và
những cảnh sinh hoạt nhộn nhịp
đã làm chúng ta dễ dàng
tức giận với những
người chung quanh. Nếu chúng ta
dừng lại nói chuyện với
một người nào, chúng ta sẽ
nhận thấy tâm của họ cũng y hệt
như chúng ta. Đó chỉ là
những xét đoán tầm
thường, bề ngoài, dựa trên
những xúc cảm thoáng qua về
thành phố New York và dân chúng
của thành phố này.
Tâm của chúng ta đã
đầy ắp những ý niệm sai lầm
như vậy. Có người tin rằng
những ý niệm sai lầm này có
trong thiên nhiên và họ đã học
được từ người
khác hoặc ở một nơi nào
đó. Điều này không hoàn
toàn đúng như vậy. Những
ý niệm sai lầm không truyền
từ tâm này qua tâm kia, cũng
không nhất thiết đến từ
một chuỗi sai lầm nào đó.
Đúng ra, tâm -- bị ảnh hưởng
bởi nghiệp và vọng tưởng
đi vào một thân xác đầy
ô nhiễm -- đã sẵn mang đầy
vọng tưởng, như tin rằng
“cái tôi ” là một thực
thể độc lập và có thật.
Những tin tưởng sai lầm này
không có dính dáng gì đến
ngôn từ hay tư tưởng.
Đúng ra, nó từ những
nguyên nhân khác. Nó chỉ liên
hệ đến ngôn từ hay tư
tưởng khi tâm ô nhiễm cố
gắng diễn tả chính nó ra trên
bình diện ý thức, khi đó
nó dùng ngôn từ để
chuyên chở, chuyển đạt
những quan niệm sai lầm của chính
nó. Do đó, không nên nghĩ
rằng tâm của chúng ta không có
những ý niệm sai lầm bởi
vì chúng ta đã không bao giờ
học triết ở trường học.
Nhìn vào tâm để
khám phá và điều chỉnh
những huyễn ảo của chính nó
là một việc làm đầy thích
thú, phải vậy không quý vị?
Nếu chúng ta khám nghiệm mọi sự
qua lăng kính Đạo pháp thì chẳng
có gì làm chúng ta chán nản
cả. Thật là thích thú khi thấy
tâm nhậy bén trong việc sáng tạo
và thích ứng với những
hoàn cảnh mới. Còn thích
thú hơn nữa khi kiểm soát
được tiến trình này và
nhìn ra được mọi sự
đều có thể chuyển hóa vào
sự thực hành Đạo. Có
rất nhiều người, dù có
việc làm hay không có việc làm,
cảm thấy không có gì có
giá trị để làm trong cuộc
đời của họ. Nhưng sự
hiểu biết của Đạo pháp sẽ
làm chúng ta rất bận rộn. Vì
quán tâm nên chúng ta sẽ bận
rộn trong việc học hỏi những
điều mới lạ và cũng
biết được chúng rất
thực tế (mà trước kia
chúng ta không hiểu được.)
Không giống những học trò, họ
nhận được sự hiểu biết
qua sách vở, không phải do
những kinh nghiệm của đời
sống. Thật tốt nếu chúng ta học
được trên cả hai phương
diện, sách vở và kinh nghiệm,
nhưng qua kinh nghiệm thì có gía trị
hơn rất nhiều.
Được sinh ra là
người là một điều vô
cùng may mắn. Vì thế, chúng ta
có khả năng dùng sự hiểu
biết của chúng ta để phân
tích. Sự khác biệt lớn lao
giữa con chó và con người
là chúng ta biết khám nghiệm tư
cách của chúng ta, con chó không
có khả năng này. Bởi vì
chúng ta có thể thẩm định
được tất cả những
hành động của chúng ta từ tinh
thần đến thể xác là tốt
hay không tốt, chúng ta có nhiều
cơ hội và trách nhiệm để
tự khám nghiệm những đặc
tính của những lỗi lầm và
những điều chợt đến
của chúng ta. Có khi những vấn
đề này rất khó chia sẻ
với những người khác,
sẽ có rất nhiều ơn ích nếu
chúng ta khám phá ra được
căn nguyên, gốc rễ thâm sâu
của những yếu kém của chúng
ta. Thật đáng xấu hổ nếu
không biết sử dụng khả năng
hiếm có này, mà cứ nhìn
đời với một con mắt mù
quáng và không biết phân tích!
Vì thế, cho dù sự việc xẩy ra
tốt hay xấu, chúng ta nên kinh nghiệm
chúng bằng trí tuệ trong sáng của
Đạo pháp, hãy chuyển hóa
chúng vào sự thanh tịnh vô biên
của con đường dẫn đến
giác ngộ.
Như chúng tôi đã
đề cập trước kia, có một
số vấn đề đã xẩy ra sau
khi một số người Tây phương
qua Đông phương học đạo
với Lạt ma hay đạo sư. Có
thể họ đã thiếu một số nghi
lễ để hoàn tất sự học
hỏi rồi cảm thấy rằng họ
không thể thực hành đạo
với các vị đó nữa.
Thí dụ, ở Đông phương
có những mùa đã
được ấn định để
tổ chức các nghi lễ cúng dường.
Trong những nghi lễ, trước ảnh
tượng các vị đã giác
ngộ, chiêng, trống, chuông, tù
và… thường được
dùng cùng với những bài
tụng niệm, rồi nến, bát nhang, chén
nước, mâm hoa quả, thức ăn
cũng được bày ra. Những
nghi thức cúng dường như vậy
có thể rất dài và thực
sự cần thiết cho những buổi
thực hành Đạo của chúng ta.
“Cúng dường” danh
từ tiếng Phạn là “Puja”. Tại
sao người ta lại cúng một
người khác? Thông thường
là để làm vừa lòng
người đó. Đó là
ý nghĩa thấp, tương đối. Trong
Đạo pháp, cúng dường có
một ý nghĩa thâm sâu hơn. Khi
chúng ta chuyển hóa tất cả vào
những hình ảnh, âm thanh, mùi
vị tốt đẹp.... rồi dâng cúng
chúng theo những nghi thức
tượng trưng của tâm giác ngộ
thì đó chính là ơn
phước cho người cúng
dường. Nhờ tập trung tất
cả những năng lượng của
chúng ta vào lễ nghi để
hướng về tâm giác ngộ
là chúng ta đã đem chúng ta
đến gần sự bình an vĩnh cửu
và hạnh phúc thường hằng.
Vì thế, chúng ta cần
phải hiểu ý nghĩa đích
thực của sự cúng dường
là gì. Nó không phải là
những lời tụng niệm cũng
chẳng phải là hoa quả mà chính
là sự tôn kính, sự chân
thành của chúng ta đặt chúng
lên bàn thờ, đây mới
chính là tinh túy của sự cúng
dường. Bất cứ hành
động nào, bất cứ hình
thức thiền định nào mà
chúng ta thực hiện đều đem
tâm thức của chúng ta đến
gần sự an lạc thường hằng
đồng thời phá tan đi
những lầm lẫn và loạn
động -- đó mới thực
sự là cúng dường. Vì
thế, chúng ta không nên nghĩ rằng
không có những nghi lễ Tây
Tạng hoặc Aán Độ ở
nước Mỹ là chúng ta không
thể thực hành Đạo. Quý vị
không cần những âm thanh “ting, ting,
ting” của chuông cũng chẳng cần
mõ, tù và hay chiêng trống trong khi
cúng dường. Tất cả những
gì chúng ta làm –ngay cả những
việc đơn giản như ăn uống –
cũng có thể chuyển thành cúng
dường. Mục đích chỉ là
gìn giữ sự thanh tịnh.
Thí dụ, ở Mỹ
người ta luôn luôn uống một
cái gì. Từ khi đến New York
tôi không ngừng uống nước,
nóng quá! Từ bây giờ,
mỗi khi khát nước hoặc mỗi khi
lấy một cái gì để uống, hãy
kiểm soát, hãy nhìn vào tâm
chúng ta. Thay vì nuốt nước một
cách vô ý thức, hãy lắng
đọng tâm tư một giây và
dâng cúng ngụm nước đó
cho sự giác ngộ của chúng ta.
Nếu chúng ta đã được
dậy bảo về những lời
chú, như OM AH HUM, hãy niệm chúng.
Nếu không biết, chúng ta cũng có
thể chuyển hóa nước thành
những giọt cam lồ thanh tịnh bằng
cách hãy nhìn vào tâm của
chúng ta. Vì hướng năng
lượng của những gì chúng ta
uống lên cấp độ cao hơn, như
không vì mục đích ích kỷ,
không vì sự khoan khoái thân
xác, mà chúng ta tự nhiên nhận
được sự cứu độ.
Cả một tiến trình chuyển hóa
chỉ diễn ra trong một phút mà hiệu
quả của sự cúng dường
tồn tại lâu dài trong tâm của
chúng ta hơn mức độ bình
thường.
Vị đại bồ tát Long
Thọ nói rằng chúng ta không nên
dùng thân xác hiếm có này
vào những mục tiêu vô giá
trị. Vì thế, mỗi khi nuôi
dưỡng chăm sóc nó,
đừng làm vì những lý do
hư vọng như làm đẹp để
quyến rũ người khác. Thay vì
như thế, hãy nghĩ rằng chúng ta
bảo trì và trau dồi sức khỏe
để đem lại lợi ích cho
người khác và cũng cho chính
chúng ta. Hãy dùng toàn thể năng
lượng để phát triển con
đường tâm linh và đạt
mục tiêu tối hậu. Vì thế, hãy
chuyển hóa tất cả những năng
lượng đi vào thân xác của
chúng ta cho con đường an lạc
miên viễn dẫn đến giác ngộ.
Cách tốt nhất để
dùng những nguồn năng
lượng một cách toàn hảo
là luôn luôn tỉnh thức và
ý thức bất cứ cái gì
đang xảy ra cho chúng ta. Mỗi khi tỉnh
thức và ý thức như vậy
thì dù một cử chỉ đơn
giản nhỏ mọn cũng được
chuyển hóa vào Đạo pháp. Thí
dụ, khi chúng ta ăn uống, hãy
để ý đến những cảm
giác đang xẩy ra trong hệ thần kinh
của chúng ta. Khi Đức Phật
Thích Ca còn sống, không có việc cúng
dường bên ngoài như vậy.
Chính thiền định cũng là
cúng dường. Cũng như vậy, khi
chúng ta ăn, uống trong sự tỉnh thức
thì cũng như chúng ta đang thiền
định, tất cả mọi hành
động đều là cúng
dường Đạo pháp.
Những rung cảm ở bên
trong và những cảm giác ở
bên ngoài đều dấy lên trong bất
cứ hành động nào, cử
chỉ nào chúng ta làm. Khi chúng
nổi lên, đừng nghĩ ngay,
“cái này tốt,” hoặc “cái
này xấu.” Phản ứng ngay như
vậy chỉ gây ra những bối rối
và lầm lẫn, sự thật
thường bị che giấu như vậy. Thay
vì thế, hãy ý thức, hãy
tỉnh thức trên tất cả
những rung cảm ở bên trong cũng
như bên ngoài rồi hãy kiểm
chứng chúng bằng con mắt trí
tuệ. Thực hành đều đều
như vậy sẽ phát triển trong tâm
của chúng ta một thói quen tỉnh
thức, dần dần sẽ thanh tẩy
tâm chúng ta
mỗi ngày mỗi sạch hơn, sạch
hơn.
Muốn ý thức tất
cả những hành động một
cách hoàn toàn, chúng ta cần
phải tu sửa những hành vi
cử chỉ của chúng ta. Vì thế khi
ăn, uống chúng ta nên ăn trong yên
lặng, đừng nói nhiều quá,
đừng ồn ào quá. Có
thể bàn luận những đề
tài đơn giản còn những
đề tài phức tạp, khó khăn
hãy để lúc khác. Nếu không
làm như vậy tâm của chúng ta
sẽ bị dồn dập hết vấn
đề này đến vấn đề
khác, sẽ đi vòng quanh thế
giới, mọi chuyện sẽ chằng chịt
với nhau đến nỗi không còn
tập trung vào cảm giác ăn uống
được nữa. Vì thế,
muốn có một bầu không khí
yên tĩnh, hãy bớt nói chuyện
càng nhiều càng tốt.
Tuy nhiên, khi đã ăn xong
và tới giờ tranh luận, chúng
ta hãy chuyển tâm của chúng ta vào
tranh luận, hãy chuyên chú vào
đó. Đừng nghĩ về bữa
ăn vừa qua cũng đừng
nghĩ đến bữa ăn sắp
đến. Đừng nói chuyện lung tung
cũng đừng chuyển đề
tài quá nhanh, quá nhiều. Điều
này chỉ làm những thói quen
bừa bãi trong tâm chúng ta tăng
lên mà thôi, vì nó đã
nằm sâu trong đó. Chúng ta
đã huân tập biết bao hành
động vô ý thức qua muôn
vàn kiếp mà không hề chú
tâm vào chân lý trong từng
giây phút của thực tại. Vì
thế không thể nắm được
trọn vẹn vấn đề, không nhìn
được toàn diện mà chỉ
là những chắp nối trộn lẫn
với nhau rồi đi vào một cái
tâm lơ đãng, không biết tập
trung. Do đóù chúng ta cần phải huấn
luyện tâm, phương pháp tốt nhất
để bắt đầu là hãy
tập trung vào cái gì chúng ta đang
làm, đừng để tâm bị
phân tán, bị ảnh hưởng
bởi những ý tưởng
không cần thiết hoặc hão huyền.
Kinh nghiệm đã cho chúng ta
biết tập trung vào tâm là một
điều vô cùng quan trọng. Nếu
chúng ta học quá nhiều vấn
đề trong một lúc thì rất
khó mà hoàn tất được
một cái nào. Khả năng của
chúng ta sẽ bị phân tán làm
chúng ta không thể nào hiểu
được điều chúng ta đang
học. Nhưng khi chúng ta tập trung vào
một đề tài trong một thời gian
thì tâm của chúng ta sẽ trở
nên trong sáng để dễ dàng
hấp thụ vấn đề. Vì thế,
thay vì để tâm lang thang hết vấn
đề này đến vấn đề
khác, chúng ta nên tập trung vào một
thì dễ kiểm soát tiến trình tinh
thần của chúng ta hơn.
Hãy phát triển sự
kiểm soát này trên tất cả
những sinh hoạt của chúng ta và
đặc biệt chú ý đến
thân, khẩu và ý, đừng để
chúng tự do dẫn chúng ta đi
lòng vòng. Hãy cố gắng tập trung
vào một điểm, vào một hành
động. Điều này rất tốt cho
tâm của chúng ta, từ đó
chúng ta có thể giảm bớt
được những xung khắc,
những lầm lẫn ở nội tâm
và dần dần chúng ta có thể
phá vỡ được những
thói quen đã
kết tụ trong quá khứ. Những
thói quen này chỉ dẫn chúng ta
đến đau khổ, vì thế chỉ
có thể chiến thắng chúng bằng
cách hãy phát triển tâm tỉnh
thức.
Tất cả những điều
chúng ta đang đề cập đến
ở đây như làm việc, ăn,
uống và tỉnh thức chỉ để
giúp chúng ta có một giấc ngủ
ngon. Hầu như lúc nào chúng ta
cũng đi ngủ với một tâm
trạng bất an hoặc không được
kiểm soát. Đi ngủ trong một tâm
trạng an bình, tỉnh thức, thanh tịnh
thì tốt hơn là một tâm trạng
bất an, bất tịnh. Nếu chúng ta có
thể thiền được ở
trên giường thì rất tốt,
vì chúng ta có thể chuyển tất
cả giấc ngủ vào Đạo pháp.
Trong những lời giáo huấn của
Đại thừa có giải thích
rất tỷ mỷ về làm cách nào
để đạt được ơn
ích trong giấc ngủ và giấc mơ.
Nhưng ở đây chúng ta có
thể nói rằng nhờ biết tập
trung mà chúng ta có thể tin chắc
giấc ngủ của chúng ta sẽ an lành.
Đã rất nhiều lần, sau
một ngày đầy bực bội, có
thể chúng ta đã tự hỏi:
“Tôi không thể ngủ
được. Tôi phải làm gì
đây?” Tâm bị phân tán ra
rất nhiều hướng, vì bực
bội vẫn còn vang vọng trong đầu,
làm sao mà ngủ được.
Thiền định có thể giúp tâm
chúng ta trở lại yên tịnh và
chúng ta có thể ngủ được.
Rất nhiều người trong chúng ta
đã làm công việc này và
họ đã có rất nhiều kinh
nghiệm về sự thật này. Đã
bao nhiêu lần quý vị đi vào
giấc ngủ khi thiền định, ngay cả
thiền lúc ban ngày?
Hãy kiểm điểm xem
những lần mất ngủ, những
lần chờ đợi giấc ngủ
đến, chúng ta như thế nào?
Có thể chúng ta đã chú ý
đến những hành động của
chúng ta đã làm trong ngày, nhưng
nếu chúng ta không kiểm điểm
lại trước khi đi ngủ, chúng ta
đã làm mất một dịp để
hiểu những gì chúng ta đã
tạo ra. Có thể chúng sẽ trở
lại trong giấc mơ và làm lu
mờ đi những gì chúng ta
đã học được, những
ý tưởng về sự tỉnh
thức sẽ bị tràn ngập bởi
những năng lượng xấu.
Một trong những lý do cần
thiết để có một giấc ngủ an
lành là những giấc mơ phải
có giá trị và có hiệu
lực hơn lúc thức. Quý vị
có thể không tin điều này,
quý vị nghĩ: “Ban ngày tôi
có thể ý thức vào
những hành động của tôi. Tôi
có thể biết và kinh nghiệm
được mọi thứ, từ
thể xác đến tinh thần. Nhưng ban
đêm tâm thức của tôi mơ
mộng, nó tạo ra những trò
huyễn ảo.Vì thế tình trạng vô
ý thức này có giá trị
hơn thế nào được?”
Lý do mà tôi đề
cập tới vấn đề này
là mặc dầu chúng ta nghĩ trong lúc tỉnh
chúng ta đã chú ý vào
những công việc của chúng ta
nhưng những cảm quan khác của
chúng ta vẫn hoạt động, vẫn
mở, vì thế chúng vẫn phản
ứng với những gì chúng
nhận được. Tuy nhiên trong lúc
mơ, năm giác quan như mắt, tai, mũi,
lưỡi và xúc giác không
hoạt động. Thí dụ, khi chúng ta
nhìn một vật trong lúc mơ thì
chúng ta nhìn bằng con mắt của tâm
chứ không phải bằng con mắt
thường. Khi thiếu vắng sự
hoạt động của những giác quan
bên ngoài thì tâm của chúng ta
được tập trung toàn diện một
cách tự nhiên. Do đó, thí
dụ, hiệu quả của giấc mơ về
lòng tham có thể mạnh hơn và ghi
dấu ấn sâu hơn vào tâm của
chúng ta hơn là sự xúc
động bình thường tới tim
trong đời sống hàng ngày.
Dĩ nhiên, sự kiện này cũng
xẩy ra y như vậy với những
ấn tượng của tâm linh.
Quý vị hãy tự suy
nghĩ và tự cảm nghiệm sự
thật này, đừng tin những
gì tôi vừa trình bày bởi
vì chúng là lời nói
từ một lạt ma. Hãy kinh nghiệm
và hãy nhìn những kết quả
bằng sự kiểm soát tâm của
quý vị, ngày cũng như đêm.
Nếu chúng ta thực hành một
cách thành thật, chúng ta sẽ kinh
nghiệm được kết quả trong
một thời gian rất ngắn, vậy
hãy bắt đầu ngay bây giờ.
Nếu chúng ta hiểu Đạo
pháp một cách đúng đắn,
chúng ta sẽ không còn lo lắng,
hối hả về con đường
giác ngộ cuối cùng nữa. Không
thể có chán nản trên con
đường thực hành của
chúng ta, như nghĩ “ Tôi sẽ
tự tử nếu tôi không giác
ngộ ngay bây giờ.” Đừng
bao giờ hạ quyết tâm như vậy,
việc này chỉ đem đến
những điều bất lợi mà
thôi. Hãy tỉnh thức trên tất
cả mọi hành động của chúng ta
và giữ lòng hăng say của
chúng ta càng thanh tịnh càng tốt.
Bằng cách này chúng ta sẽ
đạt được mục đích
một cách tự nhiên.
Tôi rất vui vì
được đóng góp một
chút hiểu biết vào biển trí
tuệ của quý vị. Tôi hy vọng tất
cả quý vị sẽ thực hành
Đạo Pháp trong đời sống
hàng ngày của quý vị. Điều
này thật là quý báu, thật
là giá trị.
Kính chào quý vị, cám
ơn quý vị thật nhiều, thật
nhiều.
Phụ Lục
Thơ Milarepa
Trong ngày thiền định thứ hai
ở Linba Draug; một bà thần cốc,
Draug Srin Mo, hiện ra quấy phá Milarepa. Sau một
vài lời đe dọa và trao
đổi ý kiến, bà thần cốc
này đã tôn Milarepa làm thầy
và xin qui y, cảm hứng sự qui y
của bà, Milarepa liền hát bài ca
này.
Đại chân thật
Hỡi
Phật tổ
Hỡi
thầy tôn kính Marpa
Con
kính lạy dưới chân Ngài.
Ta không phải một ca sĩ
Nhưng
vì ngươi, hỡi loài yêu tinh
Hôm
nay ta hát cho ngươi
Bài
ca “Đại Chân Thật”.
Sấm
sét, tia sáng và những đám
mây
Đang
diễn ra trong bầu trời
Lóe
lên rồi lịm tắt (trong bầu
trời).
Cầu
vồng, sương mù và hơi
nước
Đang
khởi lên trong bầu trời
Rồi
tan biến đi.
Mật
ngọt, cây trái và ngũ cốc
Từ
đất mà sinh ra
Rồi
lại trở về đất.
Hoa
lá và rừng rậm
Mọc
lên từ đất
Cũng
lại trở về đất.
Những
làn sóng biển và những ngọn
thủy triều
Nhấp
nhô trong đại dương
Rồi
lại tĩnh lặng như nước.
Những
ý tưởng, những bám víu
và những tham vọng
Chúng
khởi phát ra từ A Lại Da
Thức
Bùng
lên rồi lại về đó.
Tự
tỉnh thức, lòng tự hào và
sự giải thoát
Chúng
xuất hiện từ bản tính của
tâm
Khuấy
động lên rồi lại trở về
tâm.
Cái
gì không khởi phát ra
không
dập tắt đi
Và
không được diễn tả
Cái
đó được phát xuất
từ Pháp Tính
Tất
cả lại trở về Pháp Tính.
Những
ảo tưởng, những ảo giác
và những huyễn hoặc
Tất
cả đều là sản phẩm của Yoga
Chúng
xuất hiện rồi lại trở về
đó.
Kẻ
nào vướng mắc trong huyễn ảo
Kẻ
đó lầm lẫn trong thiền
định.
Nếu
ngươi biết chúng không là
chướng ngại
Mà
chỉ là sự thị hiện
Của
tâm rỗng lặng
Thì
ngươi đã bị phỉnh lừa trong
thiền định.
Đó
là căn nguyên của tất cả
lầm lạc
Tất
cả đều xuất hiện trong tâm.
Kẻ
nào phát hiện được tông
tích của tâm
Sẽ
thần cảm được điều
không đến và không đi.
Hãy
quan sát tính
thể của các sắc
Ngươi
sẽ hiểu được
Chúng
là huyễn ảo của tâm
Lúc
đó ngươi sẽ thấu triệt
được cả Không và Sắc.
Lại
nữa,
Thiền
định là một ảo nghĩ
Không
thiền định cũng là một ảo
tưởng
Chúng
giống nhau cho dù ngươi thiền hay
không thiền.
Trí
phân biệt là mầm mống của mọi
sai lầm
Trong
tất cả chẳng có gì là tất
cả
Trong
quan điểm chẳng có gì là quan
điểm
Đó
là tính thể của tâm.
Lời
dạy bảo về quán sát Pháp
Tính
Là
nhìn thấu xuất vào không gian.
Draug
Srin Mo, ngươi hãy nhìn qua bờ
bên kia của ý tưởng
Mà
đi vào cõi tịch liêu của
thiền định
Ngươi
hãy hành động tự nhiên
Hãy
để tự khởi phát
Như
ý thức của nguyên lý.
Bên
ngoài ngôn ngữ là sự
thành đạt
Tự
do bên ngoài hy vọng và sợ hãi
Ta
không có thì
giờ để hát cho vui
Và
đùa nghịch lời vô nghĩa.
Hãy
trôi chảy theo Pháp
Đừng hỏi
và nêu nhiều ý kiến
Hãy
ngồi thoải mái
Và
tĩnh lặng an nhiên !!!
Đây
là những lời khùng
điên
Ta
ca hát như lời ngươi cầu
khẩn
Nhưng
nếu ngươi chân thành thực
hành chúng
Niềm
Đại An Lạc sẽ đến với
ngươi
Khi
khổ đau và đói khát.
Hãy
chia sẻ và giúp đỡ
Những
người đến với ngươi.
Milarepa
Vô
Huệ Nguyên dịch
NĂNG LỰC TRÍ TUỆ
Nguyên
tác Wisdom Energy của Lama Yeshe và Lama Zopa
Rinpoche
Do Wisdom
Publications xuất bản.
Vô
Huệ Nguyên dịch theo ấn bản lần
thứ 25.
Email: vohuenguyen@yahoo.com
XIN
HỒI HƯỚNG TẤT CẢ CÔNG
ĐỨC ĐẾN MUÔN VÀN
CHÚNG SINH TRONG MƯỜI PHƯƠNG PHẬT
VÀ MƯỜI PHƯƠNG BỒ TÁT,
CON KHÔNG GIỮ LẠI MỘT CHÚT GÌ
CHO RIÊNG CON.