Wisdom

Năng Lực Trí Tuệ

 

Những lời dậy căn bản của Phật giáo

 

 

 

 

 

Nguyên tác:

WISDOM ENERGY

BASIC BUDDHIST TEACHINGS

 

Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche

Wisdom Publications xuất bản

Vô Huệ Nguyên dịch

 

 

 

Mục   Lục

 

 

Giới Thiệu

 

 

Chương một :   Bước vào con đường tâm linh

 

1.                                 Mục đích của thiền định

2.                                 Để tiến tới việc nghiên cứu Phật Pháp

3.                                 Tìm hiểu nguyên nhân của bất hạnh

4.                                 Vọng tâm phát sinh như thế nào

5.                                 Tìm hiểu đau khổ và kiểm soát tâm

 

Chương hai :   Thiền định

 

1.                                  Ba khía cạnh chính của con đường dẫn đến giác ngộ

2.                                  Áp dụng Đạo Pháp vào đời sống thường ngày

 

 

Phụ Lục của người dịch:  Thơ của Milarepa

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Giới Thiệu

 

 

Tôi rất vui vì nhà xuất bản Wisdom đã quyết định đánh dấu 25 năm kỷ niệm quyển sách Năng Lực Trí Tuệ của Lama Thubten Yeshe và Lama Zopa Rinpoche bằng cách cho tái bản quyển này, một quyển sách quan trọng giới thiệu quan điểm và cách thực hành Phật giáo. Đã có rất nhiều thay đổi trong một phần tư thế kỷ qua từ khi quyển sách này ra đời, nhưng những nhu cầu căn bản của con người về chiều hướng khai phá vẫn không thay đổi, nói lên sự quan tâm bây giờ vẫn như ngày xưa.  

 

Vào cuối thập niên sáu mươi đầu thập niên bảy mươi ở Nepal và Ấn độ, hai thầy bắt đầu dạy người Tây phương, một số học trò của các ngài là những người đã rời bỏ xã hội nơi họ đã sinh trưởng. Có rất nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chính là vì chiến tranh Đông Dương, đã làm cho họ chán ghét quyền lực xã hội, chính trị và tôn giáo. Những phong trào híp-pi đã hướng về Kathmandu, Dharamsala và những nơi tương tự, họ được kích thích bởi những tư tưởng của Ram Dass Ở Đây Bây Giờ, Hermann Hesse Hành Trình về Phương Đông, Đức Phật (Câu chuyện dòng sông, DG) và đặc biệt là cuốn chuyện tâng bốc người Tây Tạng của Lobsang Rampa. Một số không nhỏ trong thành phần này đã kinh nghiệm được thế nào là ảnh hưởng của ma túy. Bị vỡ mộng về những huyền thoại xa xưa giầu có và chủ nghĩa duy vật, họ muốn đi tìm cái gì chân thật sâu xa hơn.

 

Bằng nhiều cách, một số phần tử trong nhóm này đã làm những cuộc hành trình qua Hy Mã Lạp Sơn, tại đây họ đã chạm trán với hai người khác thường. Mặc dầu mang một truyền thống hoàn toàn khác biệt với những người trẻ mới tới, Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche – một là người Tây Tạng một là người Sherpa (vùng biên giới Tây Tạng)- đã tiếp đón họ rất thân thiện và chứng tỏ một khả năng đặc biệt với nhóm người đa dạng đi tìm tâm linh này. Mặc dù với một khả năng Anh ngữ nghèo nàn – như Lama thường nói- hai ngài đã tiếp xúc trực tiếp với họ một cách rất thân thiện, bỏ qua mọi khác biệt văn hóa, ngôn ngữ và những lời dậy bảo của các ngài đã đánh thức tận thâm sâu trái tim  họ.

 

Một cá tính nổi bật trong sự thân thiết của các ngài – bên cạnh những đức tính nhiệt tình và cởi mở - là không khinh thường, không coi họ như những người xa lạ, người ngoại quốc tới tham khảo, học hỏi về tâm linh. Các ngài không đòi hỏi họ phải tôn kính các ngài như những vị đạo sư, thánh sư, và thường nhắc đệ tử bỏ đi cái khuynh hướng tôn sùng các ngài như những nguồn giải thoát không thể sai lầm. Lama Yeshe đặc biệt nhắc đi nhắc lại rằng tất cả những câu trả lời, tất cả giải đáp cho những gì chúng ta đang tìm kiếm đã có sẵn trong mỗi người chúng ta; chúng ta chỉ cần tự giải thoát chính mình khỏi những thói quen vọng tưởng, những ham muốn điên khùng vô nghĩa trong đời và hãy lắng nghe tiếng nói trí tuệ sâu thẳm ở bên trong.

 

Dĩ nhiên các vị lạt ma đã tin tưởng sâu xa, vững chắc vào những phương pháp toàn thiện mà các ngài đã thực tập từ rất nhỏ, nhưng thay vì đòi hỏi họ phải chấp nhận Phật pháp như những chân lý không thể bắt bẻ, không được thắc mắc thì các ngài lại khuyến khích những người nghe nên thực tế và hãy khám nghiệm thái độ của họ về sự bất mãn, về sự chỉ trích phê bình của họ. Do đó, thay vì cảm thấy bị truyền đạo, bị thúc giục chấp nhận một tín ngưỡng mới thay thế tín ngưỡng cũ, họ cảm thấy đang đứng bên cạnh một người bạn tâm linh nói những lời thông minh chân thật và sẵn sàng hướng dẫn họ trên cuộc hành trình tâm linh cá biệt.

 

Lama Yeshe thường nhấn mạnh, một trong những trở ngại lớn nhất ngăn cản chúng ta không tiếp xúc được với nguồn trí tuệ nội tâm là thái độ tự thương thân trách phận của chúng ta, quan niệm sai lầm rằng chúng ta là những người bất toàn, tội lỗi, không đáng được hưởng hạnh phúc lâu dài. Ngài nhận định đây là căn bệnh trầm trọng của hầu hết những học trò mới đến, nên ngài đã dồn cả năng lực vào việc hướng dẫn họ giải thoát khỏi tình trạng tâm linh rối bời này. Như tôi đã viết trong lời giới thiệu quyển sách Đưa Vào Mật Tông của Lama Yeshe (Ni Sư Trí Hải đã dịch, DG) xuất bản năm 1987, ba năm sau khi ngài qua đời:   

 

Lama Yeshe có một năng lực kỳ diệu khi tiếp xúc với những người đến gặp ngài là, kích động được trung tâm của sự bình an, trí tuệ và phúc lạc nơi họ, những điều này rất lờ mờ với họ trước đây. Có lẽ lời dậy sâu sắc nhất của ngài là, trong tâm mỗi người chúng ta đều đã có sẵn những câu giải đáp cho vấn đề của chính mình mà còn có tiềm năng sống một cuộc đời cao cả hơn mình tưởng. Không những Lama Yeshe đã đạt đến tiềm năng ấy cho chính bản thân ngài mà ngài còn có khả năng làm một nguồn cảm hứng cho tất cả những người đến nghe ngài, đem lại cho họ niềm tin vững chắc vào chính họ cũng có cái tiềm năng vô giới hạn đang chờ đợi được khai mở.

 

Tự bản thân Lama Yeshe và Zopa Rinpoche là những vị thầy đầy năng lực và rất cao thâm. Nhưng các ngài lại làm việc chung với nhau cho chúng ta một cảm tưởng rất đặc biệt. Các ngài đã kết hợp diễn giảng rõ ràng tự nhiên trong những buổi thuyết giảng chính của khóa tu tháng 11 hàng năm tại đồi Kopan ở thung lũng Kathmandu. Lama Zopa thường là thầy giảng chính, hướng dẫn từ 150 học trò trở lên trong những khóa tu tập, thực hành thiền theo truyền thống từng bước một dẫn đến giải thoát, giác ngộ, thường được gọi là lamrim. Sự tập trung vững vàng của ngài đã tạo nên một bầu không khí trang nghiêm, tĩnh mịch của thiền định, nhưng không tránh khỏi cảnh thực tế ồn ào của những người đến tham dự. Theo tôi – kinh nghiệm của hai tham dự viên không bao giờ giống nhau, ý kiến về một sự kiện thường có nhiều khác biệt – khi nhận thức được tình trạng tự hủy hoại của một cái tâm không thể chuyển hóa thường cho tôi cảm tưởng mình đã bị lôi kéo vào địa ngục. Giống như khi đang bị căng thẳng vì tự vấn, làm tăng trưởng sự khó chịu, tức bực, không thoải mái, rồi khi Lama Yeshe đến, mọi sự lập tức trở nên sáng sủa và đầy tiếng cười! Giống như khi biết thói quen của mình thường tạo ra cảnh địa ngục, rồi bây giờ mình lại có thể thấy và cảm nhận được mình cũng có thể tạo ra thiên đàng.  

 

Sau chín năm, vì số học trò Tây phương tăng lên ở Nepal và Ấn độ, Lama Yeshe và Zopa quyết định làm một cuộc hành trình qua Tây phương vào năm 1974 để thấy tận mắt lý do tại sao lại có những người đi tìm các ngài. Quyển sách Năng Lực Trí Tuệ là kết quả của chuyến du hành đầu tiên này  (đề tài Vọng Tâm Phát Sinh Như Thế Nào được thêm vào trong lần xuất bản 1982.) Cuộc hành trình đầu tiên ở Hoa Kỳ rồi sau đó là Úc châu và Tân Tây Lan vào năm 1975 đã gieo những hạt giống mà sau này đã lớn mạnh trong toàn cầu với hơn 100 trung tâm Phật giáo ở hơn 25 quốc gia. Vì Lama Yeshe qua đời năm 1984 rồi được khám phá ra sự tái sinh của ngài ngay năm sau đó, nên người đệ tử tâm huyết của ngài là Lama Thubten Zopa Rinpoche đã trông coi, phát triển và sinh hoạt thường xuyên trong những trung tâm này.

 

Hai mươi lăm năm trước đây những quyển sách về Phật giáo Tây Tạng bằng Anh ngữ rất hiếm so với bây giờ và những hành giả Tây phương ngộ đạo viết sách cũng rất hiếm. Thường chỉ là những quyển sách viết về Phật giáo Tây tạng dưới hình thức lịch sử hoặc nhân chủng học. Quyển Năng Lực Trí Tuệ xuất hiện theo một căn bản hoàn toàn khác biệt. Như Lama Yeshe đã từng giải thích nhiều lần, khi chúng ta nghiên cứu Phật giáo là thật sự chúng ta tìm hiểu chính mình. Có nghĩa là chúng ta xử dụng những phương pháp phân tích và thiền định mà Đức Phật đã dậy từ hơn 2500 năm trước, được các vị thầy Ân độ và Tây Tạng thảo luận tỉ mỉ sau đó, về quán tâm của chính mình rồi sẽ khám phá ra chúng ta đã bị cầm tù và sẽ được giải thoát như thế nào. Ngoài Phật giáo ra không một phương pháp thực hành nào có thể giúp chúng ta tìm hiểu tâm của chính mình và những cảm thọ của chính mình.

 

Sự quán tâm như thế - không làm an tâm như đã được chứng minh - có một giá trị rất cao vì rất nhiều người đã chân thành tìm đọc quyển Năng Lực Trí Tuệ trong 25 năm qua, và bây giờ vẫn còn tiếp tục. Mặc dù trong một phần tư thế kỷ qua kỹ thuật đã tiến một cách vượt bực, đáng ngạc nhiên, ảnh hưởng sâu xa đến đời sống thường ngày của chúng ta – với những giàn máy vi tính tinh vi siêu tốc độ trong mỗi nhà, mỗi văn phòng,  mang những sinh hoạt trên thế giới gần lại với nhau – nhưng chúng cũng không thể giải đáp được những vấn nạn thâm sâu: làm thế nào cho cuộc đời của chúng ta có ý nghĩa hơn? Hình như khi truyền thông tin tức đi nhanh thì sự giao tế giữa con người với nhau, đây là điều quan trọng,  lại đi chậm lại. Sự phát triển kỹ thuật và tiến bộ vật chất chỉ giải quyết, chỉ thỏa mãn cấp thời những mục tiêu đòi hỏi lâu dài trong đời sống của chúng ta, chúng không thể giải quyết, càng không thể thỏa mãn những nhu cầu sâu thẳm trong tâm ta. Tôi hy vọng rằng quyển Năng Lực Trí Tuệ xuất bản lần thứ 25 sẽ đem lại nguồn cảm hứng và hy vọng cho những ai còn quan tâm đến vấn đề này trong thiên niên kỷ mới.

 

Jonathan Landau

7/2000  

 

  

     

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương một:

BƯỚC VÀO CON ĐƯỜNG TÂM LINH

 

 

-------------------------------------------------------------------

 

 

1.   MỤC ĐÍCH CỦA THIỀN ĐỊNH

 

 

            Tôi muốn nói vài lời giới thiệu về sự thực hành thiền. Rất nhiều người trên thế giới này, Đông phương cũng như Tây phương, thích thiền. Họ bị lôi cuốn vào sự thực hành thiền và họ thực sự tha thiết với nó. Nhưng, gia nhập thì nhiều mà thực sự hiểu nó thì quá ít.

 

Mỗi người trong chúng ta ở đây đều có một thân xác được cấu tạo bởi xương, thịt, máu huyết ...vân vân...Ngay hiện tại, chúng ta không thể hoàn toàn kiểm soát tất cả thân xác của chúng ta như ý muốn, chúng ta luôn luôn có những vấn đề. Một nhà tỷ phú có thể sở hữu rất nhiều tài sản trên thế giới, nhưng, hãy tạm quên sự giầu sang của ông ta đi, nếu tâm của ông ta bị nhốt trong một thân xác không thể kiểm soát được thì chắc chắn ông ta sẽ đau khổ lắm lắm. Dù giầu hay nghèo, không một người nào trong chúng ta có thể trốn thoát được những vấn đề. Cho dù có cố gắng bằng nhiều cách, chúng ta cũng không bao giờ có thể ngăn cản được những điều khó khăn hay những vấn đề xẩy ra cho chúng ta. Nếu chúng ta thanh toán được vấn đề này, vấn đề khác đã tự động đến thay thế. Những bất mãn và đau khổ tràn ngập thân xác của chúng ta ở bất cứ nơi nào chúng ta đến. Nếu chúng ta dùng trí tuệ để nhìn thật sâu vào trong trái tim của chúng ta về những vấn đề này và hiểu tường tận đường đi nước bước của chúng thì chúng ta sẽ nhanh chóng phát giác được những tình trạng bất mãn khủng khiếp này. Một điều cũng rất rõ và cần biết là nếu chúng ta không có một thân xác không được kiểm soát như thế thì chúng ta cũng sẽ không có một cách nào để kinh nghiệm được những sự đau khổ liên hệ đến nó.

 

Vấn đề căn bản mà tất cả chúng ta đều có là chúng ta đã không đạt được những gì chúng ta ước muốn nên chúng ta đau khổ. Đó là những gì chúng ta cần cho đời sống vật chất như cơm ăn áo mặc nhưng chúng ta lại muốn tự hào hoặc thích thú về chúng, chúng ta lại muốn có những lời khen tặng và được tâng bốc. Có nhiều cảnh khổ chúng ta có thể nhìn thấy ngay, như một người đói rách vô cùng nghèo túng. Nhưng một cách nào đó, tất cả chúng ta đều là những kẻ đói khát và không thể kiểm soát được những gì chúng ta ước muốn.

 

Hãy lấy một thí dụ, có những người tốt phước được sinh ra trong một gia đình giầu có. Trong cả cuộc đời của anh ta, có thể anh ta sẽ không kinh nghiệm được một chút gì về sự thiếu thốn vật chất. Anh ta có thể mua được bất cứ gì anh ta muốn và được tự do đi du lịch ở bất cứ nơi nào anh ta thích để hưởng được tất cả những thú vui mà các nền văn hóa khác nhau đem đến. Rồi khi mà không còn một nơi nào để đi, không còn một cái gì để sở hữu, không còn một thú vui nào để hưởng, anh ta vẫn cảm thấy thiếu, vẫn cảm thấy không thỏa mãn nên anh ta vẫn than khổ. Trong trạng thái bất an như vậy, trong tâm trạng bất mãn như vậy, nhiều người đâm ra điên loạn, họ không còn kiểm soát được tình trạng này và bắt đầu thấm mùi tê tái của khổ đau.

 

Như vậy, một đời sống hoàn toàn sung túc, tràn đầy thú vui thì đau khổ vẫn có ở đó, vẫn hiện diện ngay ở đóù. Sự thật là càng sở hữu vật chất bao nhiêu thì tâm bất mãn càng tăng lên bấy nhiêu, bởi vì sự sở hữu vật chất không có một chút khả năng nào ảnh hưởng đến hoặc cắt đứt được cái mầm mống căn để của khổ đau. Một dòng liên tục của bất mãn, lầm lạc, lo lắng và những liên hệ với chúng vẫn còn đó. Nếu sự tích tụ tất cả những tiện nghi vật chất ở bên ngoài mà thực sự có khả năng loại bỏ được khổ đau thì khổ đau phải chấm dứt và bất mãn phải ngưng đọng mới được. Nhưng cho đến khi nào tâm của chúng ta còn bị ràng buộc với cái thân xác, vẫn còn liên hệ với cái thân xác không thể kiểm soát này thì đau khổ vẫn còn liên tục tiếp diễn.                

 

Thí dụ, để bảo vệ đôi chân khỏi giẫm phải đá nhọn trên đường chúng ta phải mang giầy dép. Nhưng sự kiện này không hoàn toàn chấm dứt vấn đề. Chính đôi giầy cũng thường mang lại cái đau. Chúng có thể làm đau những ngón chân hoặc cho chúng ta những lúc không thoải mái. Đây hoàn toàn không phải lỗi lầm của những bác thợ giầy. Nếu chân của chúng ta không dài quá, lớn quá, nhậy cảm quá thì những đôi giầy thời trang kia phải hoàn toàn thoải mái cho chúng mới đúng. Như vậy, nếu chúng ta nhìn sâu vào vấn đề chúng ta sẽ khám phá ra cái nguồn gốc không thoải mái này không phải tại những lý do ở bên ngoài mà thực sự những nguyên nhân đang nằm sâu trong cơ thể và tinh thần của chúng ta, chính cơ thể và tâm thần của chúng ta tạo ra tình trạng không thoải mái này.

 

Đây chỉ là một thí dụ về kinh nghiệm đau khổ qua thân xác của chúng ta. Từ khi sinh ra đến khi lìa cõi đời này, chúng ta đã phải dùng biết bao nhiêu sức lực để bảo vệ cái thân xác này khỏi đau khổ. Thật ra, tất cả mọi người chúng ta chỉ dùng thời giờ để bảo vệ cái thân xác này một cách vô ích, không hữu hiệu, hoàn toàn không mang lại một kết quả nào. Mục  đích của thiền không phải để bảo vệ cái thân xác này. Không bao giờ nên  nghĩ như vậy. Nó có một mục đích cao hơn, giá trị hơn. Dùng thiền để chữa bệnh thân xác hay mưu cầu lợi ích bề ngoài thì thật là vô nghĩa lý và làm mất đi sự diệu dụng của một phương tiện thiện xảo, dùng như vậy nó chỉ cho chúng ta một giá trị nhất thời giống như dùng thuốc aspirin để chữa bệnh nhức đầu. Bệnh nhức đầu có thể hết nhưng không có nghĩa là chúng ta được bảo đảm hoàn toàn. Một thời gian sau nó sẽ trở lại bởi vì phương pháp điều trị này không có khả năng chấm dứt tận gốc rễ của vấn đề, vì thế sự giải quyết chỉ có tính cách tạm thời. Vì sự dễ chịu nhất thời và sự giảm đau tạm có thể dùng những phương tiện bên ngoài, nên không cần phải dùng đến thiền định hay bất cứ một sự thực hành tâm linh nào cho mục đích đó. Chúng ta không nên phung phí sức mạnh của thiền định cho những mục đích hạn hẹp như vậy.

 

Mục đích chính của thiền là trị bệnh tâm. Mặc dầu thân xác và tâm của chúng ta có những liên hệ nội tại nhưng chính chúng cũng có những hiện tượng hoàn toàn khác nhau. Thân xác của chúng ta là một đối tượng mà mắt của chúng ta có thể nhìn thấy được, nhưng tâm thì không như vậy. Những thành phần trong một gia đình có thể có những nét giống nhau, nhưng mỗi một đứa trẻ lại có một cá tính khác nhau, đức tính khác nhau, sở thích khác nhau...vân vân... Mặc dầu cùng học chung một trường nhưng sự thông minh, sự hấp thụ bài học của mỗi học sinh lại hoàn toàn khác nhau, vì chúng ảnh hưởng từ cha mẹ hay ông bà chúng. Sự khác biệt tinh thần không thể giải thích bằng những phương pháp vật lý.

 

Một điều cũng cần nói đến ở đây, có những đứa trẻ nhớ rất rõ và chính xác những gì xẩy ra trong kiếp trước của chúng. Chúng có thể nói nơi nào chúng đã sinh ra, chúng sinh sống như thế nào ...vân vân... chúng còn có thể nhận diện được người và sự vật trong kiếp trước của chúng. Những sự kiện này có thể kiểm chứng được, đây là những bằng chứng hiển nhiên và xác thực cho bất cứ người nào muốn nghiên cứu lãnh vực này với một tâm vô tư không thiên kiến.

 

Trong bất cứ trường hợp nào cũng đều có một lý do ẩn sâu khác biệt ở tính bẩm sinh của mỗi thành phần trong gia đình, ở mỗi người và đặc biệt ở một số trẻ chúng nhớ được những kiếp trước của chúng, tất cả những sự kiện này cho chúng ta biết một sự thật: tâm của chúng ta không có một chỗ bắt đầu nhất định. Kiếp trước thật sự có. Chúng ta không đi sâu vào vấn đề huyền bí ở đây về sự tiếp nối của kiếp này và kiếp khác, một điều quan trọng cần nhớ là: tâm của chúng ta liên tục từ kiếp này qua kiếp khác, vậy thì nó có thể mang những gì ở hiện tại qua tương lai. Đời sống của chúng ta trong hiện tại là kết quả từ những hành động, của cả tinh thần lẫn thể xác, mà chúng ta đã tạo ra trong kiếp trước. Cũng như thế, những hành động của chúng ta đang làm trong kiếp này sẽ xác định đời sống cho kiếp sau của chúng ta. Vì thế, trách nhiệm hình thành tất cả những gì trong cuộc sống đang nằm trong tay của chính chúng ta. Thật là vô cùng quan trọng khi nhận ra được vấn đề này nếu chúng ta muốn đi tìm những ý nghĩa đích thực cho việc cắt đứt toàn diện những đau khổ tinh thần lẫn thể xác.

 

Mỗi một người chúng ta đã từng sinh ra làm người. Như vậy, chúng ta có cơ hội đem lại cho đời sống của chính chúng ta một ý nghĩa và mục đích. Để chiếm lấy tất cả những lợi ích này, chúng ta cần phải đi ngược lại những gì mà loài thú thấp hơn có thể làm được. Nhờ hiểu biết về sự tái sinh và nhờ kiểm soát được tâm của chính mình, chúng ta có thể kiếm tìm được căn nguyên của tất cả mọi đau khổ. Chúng ta có thể giải thoát khỏi vòng luân hồi chết và tái sinh chỉ trong một vài kiếp sống. Chúng ta cứ phải trôi lăn vào vòng sinh tử mà không có một sự lựa chọn hay kiểm soát nào, nó là như vậy, chúng ta đã kinh nghiệm biết bao nhiêu là đau khổ về một cái thân xác không thể kiểm soát được. Nhưng với một ý chí quyết tâm thực hành, cái vòng luân hồi này sẽ bị phá hủy hoàn toàn, chúng ta sẽ được giải thoát khỏi đau khổ và bất mãn một cách trọn vẹn viên mãn.

 

Tuy nhiên, chỉ chạy trốn khỏi luân hồi sinh tử cho chúng ta thôi thì không được, chưa đủ. Đây không phải là một cách áp dụng khôn ngoan cho đời sống làm người của chúng ta. Không phải chỉ một mình chúng ta bị đau khổ và bất mãn mà tất cả những chúng sinh khác cũng đang chịu như chúng ta. Nhưng, hầu như họ thiếu trí tuệ -con mắt Đạo pháp- để tìm con đường đúng mà chấm dứt hoàn toàn đau khổ. Không trừ một ai, tất cả mọi chúng sinh trên mặt đất này đều dành trọn vẹn cả cuộc đời để tìm cách thoát khỏi khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc và an lạc. Nhưng tâm của họ tràn đầy u minh tăm tối, sự kiếm tìm của họ rơi vào hão huyền lạc lõng. Tâm vô minh, thay vì hướng dẫn họ đi tới mục tiêu phúc lạc, nó lại dẫn họ từ khổ đau này đến bất mãn khác. Họ cố gắng loại bỏ những nguyên nhân của khổ đau, nhưng bất hạnh thay mỗi ngày họ lại đi xa niết bàn hơn.

 

Tất cả chúng sinh đều bị khổ và đều mong muốn thoát khổ như chính chúng ta. Nếu chúng ta nhận thức được điều này, chúng ta sẽ hiểu được sự ích kỷ của chúng ta khi chúng ta chỉ mong giải thoát, vào niết bàn một mình. Tốt hơn chúng ta hãy cầu mong cho tất cả đều được giải thoát. Nhưng trước khi có thể dẫn dắt người khác vào con đường chấm dứt khổ đau, chính chúng ta phải là người giác ngộ trước. Nói khác đi, chính chúng ta cần phải tinh tiến trên con đường tu tập giải thoát để có thể hướng dẫn người khác.

 

Vấn đề này có thể cắt nghĩa như sau: gỉa sử chúng ta muốn đem một người bạn đi ngắm cảnh ở một công viên nào đó, nếu chúng ta bị mù thì không có cách chi chúng ta có thể dẫn cô ta đến đó được, mặc dầu chúng ta muốn lắm. Điều kiện tiên quyết là chúng ta phải có một cặp mắt tốt và phải biết đường đi đến công viên. Cũng giống như vậy, chúng ta phải có kinh nghiệm về con đường giác ngộ trước khi chúng ta có thể chỉ cho người khác, mỗi người sinh ra khác nhau, từ tính tình cho đến đời sống, nên con đường dẫn đến giải thoát cũng khác nhau.

 

Vậy, mỗi khi nói về mục đích của thiền định là chúng ta nói về sự đạt giác ngộ, một sự thành đạt chẳúng những cho chính chúng ta mà còn cho tất cả những người khác nữa. Đây là mục đích và cũng là lý do chính yếu khi chúng ta bước chân vào con đường thiền định. Tất cả các vị đạo sư du gìa cũng như tất cả các bậc thầy về thiền định trong qúa khứ đều đã thực hành Đạo pháp theo tâm nguyện đó. Giống như vậy, khi chúng ta bước chân vào con đường thiền định - theo Đức Phật, có hàng ngàn hàng ngàn phương pháp thực tập thiền định khác nhau, tùy theo căn cơ của mỗi người - chúng ta nên có những động năng thúc đẩy này.

 

Sự thực hành tâm linh thật là cần thiết. Chúng ta không thiền chỉ vì bắt chước một phe nhóm nào, một người nào hay ngay cả vì Thượng đế. Nhưng chỉ vì trách nhiệm của chúng ta đối với chính sự đau khổ của chúng ta, chính chúng ta chịu trách nhiệm bảo vệ chúng ta. Chúng ta tự đứng lên đi tìm hiểu chính mình và cũng chính chúng ta tạo ra hoàn cảnh cho mình để tự giải thoát. Do đó, vì đau khổ đã dày vò cuộc đời chúng ta, nên chính chúng ta phải làm một cái gì cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta. “Một cái gì” này chính là sự thực hành tâm linh, hay nói một cách khác, chính là thiền định. Nếu chúng ta không quay trở vào bên trong để huấn luyện tâm ta mà cứ dồn hết năng lực vào việc sắp xếp rồi lại sắp xếp những chương trình cho cuộc đời vật chất hiện tại này thì khổ đau vẫn còn đó, cứ mãi mãi tiếp tục. Khổ đau không có chỗ bắt đầu, nếu không thực hành một phương pháp tâm linh hữu hiệu thì khổ đau cũng không có chỗ chấm dứt.

 

Nói một cách tổng quát, thật là khó thực hành Đạo pháp trong một môi trường sống tràn đầy vật chất như ngày nay. Vì có qúa nhiều trở ngại, có qúa nhiều điều hấp dẫn hơn sự tu tập thiền định. Tuy nhiên, căn bản của những điều cản trở này lại không phải là nguyên nhân và môi trường của chính nó. Khổ đau không tại những nhà máy trong khu kỹ nghệ, nó không phải tại đồ ăn thức uống của chúng ta, cũng không phải tại bất cứ cái gì khác. Nó đang nằm ngay trong tâm của chính chúng ta. Đây là điểm rất ngạc nhiên cho tôi trong thời gian này, chuyến thăm viếng đầu tiên của tôi qua Tây phương, để thấy tận mắt bên cạnh sự tiến bộ vật chất là sự thích thú thực hành Đạo pháp và thiền định trong nhiều chiều hướng khác nhau của người Tây phương. Có rất nhiều người chân thành đi tìm một ý nghĩa cao cả hơn cho cuộc đời của con người, họ cố gắng chuyển hóa mỗi ngày. Với lòng ngưỡng mộ đặc biệt, tôi nghĩ  rằng đây là một việc làm rất khôn ngoan khi con người biết cố gắng hoà hợp đời sống vật chất và đời sống tinh thần, có một đời sống sâu xa về nội tâm cũng như một đời sống đầy đủ tiện nghi cho thể xác. Với những người như vậy đời sống chắc chắn không phải là một sự hứa hẹn trống rỗng.

 

Món ăn mà được chế tạo bởi nhiều thực phẩm khác nhau thì chắc chắn phải ngon. Cũng vậy, nếu chúng ta có những công việc làm, có những hoạt động và cố gắng thật nhiều cho việc kiện toàn con đường tâm linh theo Đạo pháp thì đời sống của chúng ta thật là phong phú. Sự lợi lạc, ơn ích mà chúng ta có được nhờ biết kết hợp hai lãnh vực này thì thực là vĩ đại bao la.

 

Có một sự khác biệt rất lớn giữa tâm, xúc cảm và những kinh nghiệm của một người biết áp dụng Đạo pháp vào cuộc đời của họ và một người không biết áp dụng. Trong lúc phải đương đầu với những khó khăn của cuộc sống tràn đầy vật chất này, người biết áp dụng Đạo pháp sẽ ít lầm lẫn hơn và kinh nghiệm cuộc đời ít đau khổ hơn. Họ biết kiểm soát tâm và biết phải làm gì ở bên trong tâm của họ để sẵn sàng giải quyết những vấn đề xẩy ra một cách thành thạo, khôn ngoan. Sự áp dụng này không phải chỉ cần cho đời sống thường ngày của họ mà đặc biệt ngay cả trong lúc họ chết.

 

Nếu chúng ta không bao giờ thực hành đời sống tâm linh thì chúng ta sẽ không bao giờ huấn luyện được tâm của chúng ta qua kỷ luật thiền định, rồi khi sự chết đến, chúng ta sẽ phải chiến đấu rất gay go. Sự lợi ích quan trọng nhất mà một người thực hành Đạo pháp có được là họ coi cái chết như là một cuộc hành trình đầy vui thú trở về nhà. Nó giống như là đi đến dạo chơi trong một công viên tuyệt đẹp. Và ngay cho cả những người chưa đạt giác ngộ trong thiền định thì cái chết đối với họ cũng nhẹ nhàng, không đáng sợ hãi. Có những người đối diện sự chết --chúng ta không thể tránh được -- với một cái tâm thật bình thản. Họ không sợ hãi chút nào, không lo âu về những điều mà họ sẽ gặp hay về những người thân yêu, về của cải và ngay cả về chính thân xác của họ. Trong cuộc đời này chúng ta đã kinh nghiệm sự sinh ra và bây giờ chúng ta đang kinh nghiệm về tiến trình gìa. Chỉ duy nhất có một sự kiện mà tất cả chúng ta đang phải đi đến chính là sự chết. Vì thế, sự thực hành tâm linh sẽ giúp chúng ta đối diện với một sự kiện không thể tránh được một cách bình thản an nhiên, như vậy sự thực hành thiền định mới có ích lợi -- mặc dầu nó còn có những mục đích cao hơn nữa mà chúng ta có thể áp dụng.

 

Để tóm tắt, không còn một sự kiện bên ngoài nào của thiền định có vẻ quan trọng hơn nữa. Mặc dù chúng ta ngồi xếp tay theo kiểu này hay xếp chân theo kiểu kia thì cũng chỉ có một chút ảnh hưởng mà thôi. Điều vô cùng quan trọng trong con đường tu tập là kiểm soát xem, theo dõi xem phương pháp thiền định mà chúng ta đang áp dụng có thực sự giải thoát chúng ta ra khỏi đau khổ hay không. Nó có chấm dứt những sự kiện hão huyền, huyễn ảo đang diễn ra ở trong tâm của chúng ta không? Nó có chấm dứt được tham sân si không? Nếu nó thực sự giúp chúng ta giảm được những thái độ tiêu cực của tâm thì đó là sự thiền định hoàn hảo, sự thực hành đúng và có giá trị. Nhưng, nói một cách khác, nếu nó chỉ làm tăng thêm những thái độ tiêu cực, xấu (như tăng lòng kiêu mạn,) thì đó lại là một nguyên nhân khác đem lại đau khổ. Trong trường hợp này, dù chúng ta có nói là chúng ta đang thiền, đang tham dự những khóa tu tập, thì đó chẳng phải là thực hành tâm linh hay thực hành Đạo pháp một chút nào.

 

Đạo pháp hướng dẫn chúng ta ra khỏi khổ đau, ra khỏi những sự rắc rối. Nếu sự thực hành không dẫn chúng ta theo đường hướng này thì đã có một cái gì sai lầm trong đó mà chúng ta cần phải khám xét lại. Thực ra, cốt tủy của việc thực hành Đạo pháp của tất cả các vị hành gỉa là khám phá xem những hành động nào của họ mang lại khổ đau và những hành động nào của họ là nguyên nhân của hạnh phúc. Từ đó, họ áp dụng sự thực hành vào việc tránh khổ đau và tạo thêm hạnh phúc càng nhiều càng tốt. Đây mới là cốt tủy của thiền định, đây mới là tinh yếu của Đạo pháp.

 

Tóm lại, tất cả chúng ta là những người bắt đầu bước chân vào con đường thực hành Đạo -- bắt đầu thiền định và thực tập kiểm soát tâm -- chúng ta cần phải tin tưởng vào những nguồn giáo lý, những sự dậy bảo. Chúng ta nên đọc những cuốn sách có giá trị, khi có sự nghi ngờ hay thắc mắc, chúng ta nên hỏi những bậc thầy, những bậc đã thực sự tu tập, chuyên cần thực hành và đã có những chứng nghiệm trên con đường tâm linh mà họ đi. Đây là một điều vô cùng quan trọng. Nếu chúng ta chỉ theo sự chỉ dẫn của sách vở thì đây là một việc vô cùng nguy hiểm cho con đường tu tập của chúng ta. Ngay cả việc chọn lựa một vị thầy, một vị đạo sư hay một vị lạt ma. Hãy chọn cho đúng. Họ phải là những người có thực chứng, đã từng thực hành và sống trong Đạo pháp.

 

Sự thực hành thiền định của chúng ta, sự thực hành con đường tâm linh của chúng ta không thể tiêu cực, không thể có những thái độ thụ động được. Chúng ta không thể nào phá vỡ được sự kiên cố của đau khổ bằng một sự mù quáng, nhẹ dạ khi đặt niềm tin vào một vị nào đó --ngay cả một đại sư -- bảo chúng ta làm điều này, việc kia. Tốt hơn chúng ta nên sử dụng sự thông minh nội tâm của chính chúng ta để xác nhận, để tìm kiếm những phương pháp thích hợp hầu mang lại nhiều kết qủa hơn. Nếu chúng ta đã có đầy đủ những lý do tốt lành để tin tưởng rằng sự dậy bảo này có giá trị và hữu ích thì chúng ta nên thực sự thiết tha và chân thành theo đuổi nó. Giống như việc chọn thuốc, một khi chúng ta đã chọn được đúng loại thuốc chữa lành căn bệnh của chúng ta thì chúng ta phải dùng ngay lập tức. Nếu không, chúng ta cứ uống đại bất cứ loại thuốc nào mà chúng ta có thì chúng ta chẳng những không khỏi bệnh mà còn mang thêm bệnh vào người.

 

Đây là lời khuyên cuối cùng của tôi cho những người nào muốn bước chân vào con đường thiền định và tu tập Đạo pháp. Con đường tâm linh rất là thâm diệu bao la, nếu chúng ta không thể thực hành Đạo pháp mà chỉ học hỏi tìm hiểu nó thôi thì nó cũng hữu ích cho cuộc đời của chúng ta rất nhiều. Đó là tất cả những gì tôi muốn chia sẻ.

 

Cám ơn qúy vị rất nhiều.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2.   ĐỂ TIẾN TỚI VIỆC NGHIÊN CỨU PHẬT PHÁP

 

 

            Tôi rất hân hạnh được gặp Trungpa Rinpoche (Rinpoche là danh từ Tây tạng chỉ những bậc thầy đáng tôn qúi, thường là những vị tái sinh -Dg) và tất cả qúy vị ở đây. Tôi được Trungpa Rinpoche cho biết qúy vị rất mong muốn tìm hiểu con đường dẫn đến giải thoát, sự giải thoát nội tâm. Tôi rất thích khi được biết như vậy. Thực ra, tôi không có ý thuyết giảng cho qúy vị ngày hôm nay. Tôi chỉ đến đây để thăm viếng tu viện Naropa và như qúy vị đã biết người đi du lịch thường hay nói những gì!

 

Tất cả qúy vị ở đây thật có phước. Qúy vị đến với trí tuệ của Phật và chắc chắn qúy vị sẽ có cơ hội để thực hành trí tuệ này. Rất nhiều người đã không hiểu được những cơ duyên và những cơ hội hiếm có khi được tiếp xúc với Phật Pháp. Họ cho rằng đây chỉ là một sự tình cờ có được một tư tưởng hay được gặp một người. Nhưng không phải như vậy. Không có gì xẩy ra mà không có nguyên nhân, cái gì cũng có nhân và qủa. Vì thế qúy vị đừng nên nghĩ và đón nhận Phật Pháp như là một món qùa tặng. Bởi vì rất khó và rất hiếm mà có được, nên qúy vị hãy đón nhận nó bằng tất cả tấm lòng chân thành và trân qúi của qúy vị.

 

Cũng có thể có những sự hiểu lầm về những kết qủa khi tiếp xúc với Phật Pháp. Như nghĩ: “Hôm nay tôi được dậy bảo nhưng phải đợi đến một năm nữa tôi mới thực sự nhận ra nó, mới chứng nghiệm được nó.” Họ thất vọng vì con đường đạt giác ngộ qúa xa. Người thời nay không nhận ra được cái gì đang ở ngay trước mắt của họ! Mỗi khi chúng ta đến với Phật Pháp, nếu chúng ta mở hết tâm hồn của chúng ta ra bằng một tấm lòng thực sự chân thành thì chúng ta sẽ nhận được sự đáp ứng ngay lập tức. Chúng ta sẽ nhận ra một cái gì mới lạ và sâu đậm về chính chúng ta, về thế giới chung quanh chúng ta và về hiệu qủa của những gì chúng ta đang suy niệm. Nếu chúng ta suy gẫm những lời dậy bảo vào buổi sáng, có thể buổi chiều chúng ta đã nhận ra kết qủa. Không cần phải đợi đến tương lai mới nhận ra nó.

 

Qúy vị là những người thực sự có diễm phúc được đến với Phật Pháp qua vị Rinpoche khả ái của qúy vị nên qúy vị không nên chậm trễ trong việc thực hành. Nếu qúy vị chỉ lo sưu tầm tích trữ Đạo Pháp thì qúy vị đã tạo thêm rắc rối cho qúy vị rồi đó. Nếu như vậy thì những lời dậy bảo đầy minh triết và đầy lý luận cũng sẽ chỉ là sự thông minh và lý luận mà thôi. Chúng ta thường bị quyến dũ bởi những triết thuyết uyên thâm của Đạo Phật và bởi những danh từ chuyên môn huyền bí phức tạp của nó, phần đông chúng ta hăng say đón nhận những lời giải thích về Đạo pháp theo chiều hướng này. Những kiểu thông minh như vậy, những lối đón nhận Đạo Pháp mà không thực hành Đạo Pháp thì chỉ tích tụ thêm những nguyên nhân tạo thêm rắc rối, tạo thêm bất mãn trong tâm mà thôi.

 

Rất dễ có loại hiểu lầm này khi đến với Phật Pháp. Chúng ta thường quan tâm hay thường chỉ để ý đến những danh từ và sự diễn dịch của nó mỗi khi chúng ta học hỏi một vấn đề gì. Nhưng trong một Đạo viện, như Đạo viện Naropa này, thì vấn đề từ ngữ không nên qúa coi trọng. Chúng thuần túy chỉ là những tấm bảng chỉ đường đi đến trí tuệ mà thôi, chúng không phải là trí tuệ. Mục đích chính trong việc học tập ở đây là có được những chứng nghiệm Đạo Pháp ở nội tâm. Qúy vị phải tự chứng nghiệm những lời dậy bảo trong tâm của qúy vị thay vì đợi Đạo Pháp mang ơn ích lại cho tâm của qúy vị. Nếu qúy vị ý thức sâu xa được vấn đề này và chân thành mở thật rộng tâm hồn ra thì sự giải thoát sẽ đến một cách dễ dàng. Hoàn toàn tùy thuộc vào sự ý thức và tỉnh thức của qúy vị. Chiếc chìa khóa để thâu thập kết qủa trong Đạo Pháp là luôn luôn cố gắng tìm hiểu xem làm thế nào những lời dậy bảo có thể đem áp dụng thích hợp cho mọi sinh hoạt trong đời sống thường ngày của chúng ta.

 

Nếu chúng ta đón nhận Đạo Pháp chỉ bằng trí thông minh khô cằn thì những triết giáo chúng ta học hỏi được cũng chỉ mang lại cho chúng ta những cảm nghĩ mâu thuẫn và những cảm thọ xung khắc mà thôi. Vì thế, thay vì tinh tấn trong tinh thần thì lại bị bệnh tâm thần. Kết quả này không phải tại giáo pháp. Nó cũng không có nghĩa là có một cái gì đó sai quấy trong sự trong sáng và minh triết của tư tưởng, nó chỉ là sự khác biệt của loại trí thông minh khô cằn. Nguồn gốc của vấn đề là thái độ thu nhận Đạo Pháp. Nếu chúng ta thực sự chân thành tiếp nhận những lời dậy bảo bằng cả tâm hồn mở rộng của chúng ta để tự chứng nghiệm những gì đã học hỏi được thì giáo pháp và những triết thuyết sẽ ơn ích vô cùng. Càng học hỏi, càng có nhiều ơn ích. Không có gì phức tạp khó hiểu cả. Nhưng, nếu chúng ta đọc vội vàng, ngấu nghiến những lời dậy bảo mà không chịu ngừng lại để tiêu hóa chúng thì chúng ta chỉ kinh nghiệm được khổ đau trong một tinh thần chất đầy bất mãn mà thôi. Thí dụ, quý vị có thể hãnh diện về những tài liệu, sách vở và sự hiểu biết mà quý vị tích trữ, thâu thập được; một cách không cần tiêu hóa chúng, quý vị tuyên bố rằng qúy vị biết nhiều về Đạo Phật, quan niệm của quý vị tốt hơn, vượt xa những người khác. Quan niệm này sẽ chẳng hướng dẫn quý vị đến đâu cả mà chỉ gây thêm rắc rối cho chính quý vị và cho những người khác.

 

Tại sao những loại thông minh này lại đang gây rắc rối cho thời buổi này? Có thể một vấn đề nào đó đang hoành hành ở thời đại phát triển vật chất ngày nay. Người ta vẫn tiếp tục ham muốn những cái gì mới lạ, mà không bao giờ bằng lòng với những sản phẩm mà kỹ thuật tân tiến đang cung cấp cho. Vì thế, người ta thích chạy theo những tư tưởng khích động lòng ham muốn của họ rồi họ bị mê mệt bởi những mục tiêu không giới hạn mà họ nghĩ rằng họ có thể chiếm đoạt được. Họ cảm thấy không có gì là nguy hiểm khi buồn bực và khó chịu, bởi vì sự học hỏi thì cứ tiến tới không giới hạn và không ngừng. Với một thái độ như vậy mà hướng về một cái tâm có khả năng bất tận thì cũng chẳng có giá trị gì với trí tuệ -sự thông minh chân thật. Nó chỉ mang lại những mê tín về chân tính mà thôi. Loại thông minh vồ chụp này chỉ phản ảnh những gì đang nằm sâu trong sự mê tín mà nó đã được tích trữ từ lâu để mang lại những niềm vui, sự an toàn và ngay cả sự giải thoát tạm thời.

 

Đừng coi những lời nói của tôi như là một sự khủng hoảng. Điểm mà tôi muốn nhấn mạnh là chúng ta nên kiểm điểm tâm ta một cách vô cùng khôn ngoan và sâu thẳm.Tại sao chúng ta lại muốn tìm hiểu học hỏi những lời dậy bảo của Đức Phật, và chúng thực sự có ý nghĩa gì trong những sinh hoạt hàng ngày của chúng ta? Chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta đang theo đuổi con đường dẫn đến giác ngộ, nhưng khi thực sự đi vào vấn đề thì chúng ta thực hành nó ra sao? Nếu chúng ta thực tình đi sâu vào vấn đề, có thể chúng ta sẽ nhận ra được những gì chúng ta đã thực hiện. Nhưng nếu chúng ta đã kiểm soát kỹ rồi mà chúng ta vẫn không nhận thấy chúng quan trọng, chúng chỉ là những khía cạnh của cuộc đời, thì có lẽ chúng ta đã không tiêu hoá những lời dậy bảo mà chúng ta đã nhận được.

 

Chúng ta đang nghiên cứu học hỏi và thực hành Phật pháp, nhưng chúng ta đã chẳng bao giờ tự hỏi chúng ta cái ý nghĩa chân thực của qui y Phật, Pháp và Tăng là gì? Nếu chúng ta đã suy nghĩ về những điều này và đã có ngay một câu trả lời - như  chúng ta đang viết một bài khảo luận- thì có lẽ cũng chẳng có gì xảy ra nơi tâm của chúng ta. Rồi chúng ta vội vàng đi đến kết luận là qui y chẳng có ý nghĩa gì hết. Đây là một sai lầm đáng buồn. Mặc dầu chúng ta có thể có hàng chuỗi dài những định nghĩa bóng bảy đi nữa, sự qui y cũng vẫn chẳng có ý nghĩa gì với chúng ta nếu chúng ta không qui y bằng cả trái tim chân thành mở rộng của chúng ta. Như vậy, sự tìm hiểu chân thật sẽ cho chúng ta hiểu được rằng chúng ta đã không tiêu hoá cái gì mới thực sự là qui y. Chúng ta đã tự loại bỏ chúng ta ra khỏi sự độ trì và an bình của Tam Bảo.

 

Nếu chúng ta nghiên cứu Phật Pháp bằng một cái tâm hoàn toàn cởi mở và chân thành, cố gắng đi tìm những câu trả lời cho những vấn đề hàng ngày của chúng ta, thì qui y thực sự đem lại rất nhiều ý nghĩa. Từ những kinh nghiệm riêng của chúng ta, chúng ta đã biết được những gía trị thăng tiến vượt bực của Đức Phật về một tâm toàn giác. Chúng ta sẽ nhìn thấy một cách vô cùng trong sáng thế nào là lòng từ bi giác ngộ, nó vượt xa những gì gọi là ràng buộc và ham muốn thường tình, nó  cho chúng ta những khả năng đem lại hạnh phúc cho chính mình và cho những người khác. Bằng cách này, câu trả lời cho câu hỏi qui y sẽ đến ngay từ trái tim của chúng ta chứ không phải bằng môi miệng.

 

Điều này không có nghĩa là chúng ta nên chấp nhận một cách mù quáng, đơn giản vì nó là những lời dạy bảo của lạt ma. Đây là một sự sai lầm trầm trọng như chính những sự thông minh hoá. Điều vô cùng quan trọng là chúng ta nên hiểu những lời dậy bảo bằng chính sự tỉnh thức sâu xa của chúng ta. Chúng ta phải kiểm chứng những sự thật mà chúng ta đã và đang được dậy bảo, không nên chấp nhận nó chỉ vì nó được nói ra bởi những người mặc chiếc áo thầy tu, hay hoàn toàn ôm giữ nó bằng trí thông minh của chúng ta. Không có một chỗ nào trong Phật giáo dành cho những kiểu mơ mộng hão huyền của loại tâm linh siêu thị. (Đệ nhất nguyên nhân gây khổ đau cho chúng sinh là vô minh, ý nghĩa đơn giản của vô minh là không sáng suốt, không biết, không hiểu mọi hiện tượng xẩy ra. Vì thế, chiếc chìa khóa đầu tiên và duy nhất để đối trị căn bệnh này chính là trí tuệ, ý nghĩa đơn giản của trí tuệ là hiểu mọi hiện tượng như nó là. Trí tuệ chỉ đến sau khi chính mình -không phải ai khác- thành tâm thực hành Đạo Pháp, trí tuệ không đến qua kinh sách, lạt ma, đền chùa hoặc bất cứ sự kiện bên ngoài nào; nếu có thì đây chỉ là trí thông minh bình thường mà thôi, không phải trí tuệ -Trí Bát Nhã - trí thông minh cũng chỉ đem lại khổ đau, một loại vô-minh-thông- minh. -  Dg)

 

Khi chúng ta đã nghiên cứu học hỏi lâu rồi mà vẫn còn trở ngại với những kinh nghiệm cảm thọ thường tình, chúng ta có khuynh hướng đi khiển trách vị lạt ma hay vị thầy của chúng ta. Trong lúc này chúng ta nên tự vấn chính mình xem chúng ta có làm một điều gì hơn sự đòi hỏi của tri kiến hay không. Thái độ của chúng ta có hoàn toàn thay đổi không? Trong trường hợp này có thể chúng ta đã đầu độc tâm ta. Để tránh sự ô nhiễm này, Đạo Pháp đặc biệt chú trọng đến vấn đề học tập và thực hành không được xa rời nhau.

 

Cái gì chúng ta đã thực hiện qua thân khẩu và ý của chúng ta thì quan trọng hơn những gì chúng ta đã sưu tập được từ sách vở rất nhiều, hay ngay cả từ những điều học hỏi được ở những vị lạt ma, những vị thầy, những vị đạo sư hoặc từ bất cứ ai. Trách nhiệm về sự giải thoát và giác ngộ nằm ngay trong ta, không phải ở một vị lạt ma hay ở bất cứ một vị thầy nào. Sự đạt đạo được lớn mạnh từ cá tính và khả năng của chính ta chứ không phải từ bất cứ ai. Thật là sai lầm khi chúng ta khấn xin, “Lạy lạt ma, con có thể làm gì đây?” Đây là một sự thật, hãy làm với tất cả những gì chúng ta có -bằng chính khả năng của chúng ta - điều này xác định hiệu qủa của sự thực hành tâm linh.

 

Theo ý nghĩa thâm sâu của Đạo Pháp, chẳng những chúng ta phải chịu trách nhiệm về những bối rối lầm lẫn và đau khổ của chúng ta mà chúng ta còn phải chịu trách nhiệm cho cả những sự buông xả của chúng ta nữa. Nếu sự học hỏi Phật Pháp mang lại những phẫn uất cho tâm của chúng ta thì đó chính là chúng ta đã thất bại trong việc phát triển sự học hỏi đó ra trong ý nghĩ và hành động của chúng ta. Tuy nhiên, nếu chúng ta biết làm thế nào tiêu hoá được những gì chúng ta đã học, ngay cả một điều nhỏ mọn, thì nó cũng mang lại rất nhiều ơn ích cho tâm chúng ta. Giống như một miếng chocolate hay một miếng bánh rất ngon; sự hiểu biết tầm thường không thể so sánh được với nó. Sự hiểu biết tầm thường không thể cho một hình ảnh nào về sự chân thực, về thực tướng, vì thiếu trực giác.

Như tôi đã nói, nếu chúng ta đem thực hành những gì chúng ta đã học hỏi được thì chúng ta không cần đợi kết qủa. Ơn ích sẽ đến ngay. Tôi qủa quyết rằng những người nào trong qúy vị ở đây đã có kinh nghiệm về thiền định đều nhìn nhận tất cả những khó khăn xảy ra thường ngày đều được giải quyết một cách tốt đẹp, nhanh chóng. Sự thật đã xảy ra như vậy, mặc dầu chỉ có một thời gian thiền định ngắn thôi cũng mang lại sự bình an lâu dài, qúy vị đã có những kinh nghiệm này, phải không? Mỗi khi chúng ta có sự an tĩnh tại nội tâm, mỗi khi chúng ta đem áp dụng sự bình an nộâi tại này là chúng ta thực sự tu tập, vì thế chúng ta sẽ dễ dàng giải quyết được những vấn đề. Không có sự an bình này, việc tu tập chỉ đem đến cho chúng ta những xung động mà thôi. Vì nội tâm luôn bận rộn với những ý tưởng xung đột nên nó không còn một chỗ nào cho Đạo Pháp.

 

Những lời dạy bảo của Đức Phật rất đơn giản và ngay thẳng. Nếu chúng ta thấy nó phức tạp chỉ vì chúng ta đã tạo ra như vậy. Có thể chúng ta nghĩ, “ Tôi có bằng tiến sĩ, tôi hiểu tất cả những tư tưởng này, nhưng tôi vẫn không tìm ra được một phương pháp nào để thực hành Đạo Pháp.”  Liều thuốc để chữa căn bệnh này là hãy tự nhìn sâu hơn vào nội tâm của chính chúng ta. Hãy cố gắng quan sát những ý niệm tâm linh bệnh hoạn của chúng ta và hãy khám nghiệm những nguồn năng lượng thân khẩu và ý của chúng ta xem có chỗ nào bị tắc nghẽn và bị hướng dẫn sai lầm không. Để làm công việc này có kết qủa, chúng ta cần có một chút kinh nghiệm về sự kiểm soát tâm. Chúng ta cần có tinh thần kỷ luật, luật tâm linh để giúp chúng ta thực hành một cách sống động linh hoạt hơn.

 

Nếu chúng ta không bắt đầu có hoặc bắt đầu phát triển ngay bây giờ một kỷ luật tâm linh thì chúng ta sẽ mất, sẽ hoang phí rất nhiều thời giờ trong cuộc đời cho một cái tâm vô kỷ luật. Không có chánh kiến từ khởi đầu nên lực vô minh cứ dẫn chúng ta tái sinh vào vòng luân hồi hết kiếp này đến kiếp khác mà không có quyền lựa chọn. Chúng ta đã mở cửa để tất cả những ảnh hưởng xấu tự do thấm nhập vào cả trong tâm hồn lẫn ngoài thân xác của chúng ta. Động từ “MỞ” ở đây mang một ý nghĩa thụ động. Tuy nhiên, với một sự áp dụng đúng đắn luật tâm linh, với một tinh thần kỷ luật cao độ, chúng ta có thể “MỞ” trong ý nghĩa tích cực.

 

Tinh thần kỷ luật không phải là sự siết chặt thần kinh như chúng ta nghĩ. Nó hoàn toàn không có nghĩa là chúng ta nhốt chúng ta vào một nhà tù mất hết sự tự nhiên và không còn sáng tạo. Nó chỉ có nghĩa là chúng ta nên tỉnh thức trong tất cả mọi hành động của chúng ta. Một cách từ từ và kiên nhẫn, chúng ta nên cởi bỏ, tháo gỡ tất cả những nút thắt về những ý niệm sai lầm của chúng ta, từ đó chúng ta giải phóng chúng ta khỏi tất cả những năng lượng thụ động mà nó đã cột chặt chúng ta từ muôn kiếp. Những lý thuyết phức tạp không cần thiết cho tiến trình tinh tiến này. Điều vô cùng quan trọng là chúng ta phải chấm dứt ngay tình trạng vô ý thức, tình trạng không thức tỉnh trên tất cả những thói quen thường ngày của chúng ta.

 

Một số người nghĩ rằng giữ kỷ luật sẽ làm chúng ta mất hết sự cởi mở và tính tự nhiên. Họ cho rằng chúng ta nên thoải mái và hãy để cho mọi thứ trôi chảy một cách tự do. Hành động như vậy chẳng có gì ngược lại với kỷ luật. Nhưng thực ra, giữ kỷ luật lại giúp chúng ta cởi mở một cách chân thật hơn. Nhiều khi chúng ta phải dẹp bỏ ý thức để được tự nhiên và nhiều lúc chúng ta lại phải liều lĩnh để hành động. Khi chúng ta sống trong kỷ luật trí tuệ của Đạïo pháp, chúng ta sẽ không còn bị ảnh hưởng của vọng tưởng và vô minh nữa. Nếu chúng ta cố gắng hành động một cách tự do không cần kỷ luật thì thay vì cởi mở với hoàn cảnh đang đối diện, chúng ta lại bị bưng bít bởi những sự lầm lẫn, bối rối của chính chúng ta. Vì thế, để được tự nhiên chúng ta phải có một tinh thần kỷ luật từ sự thức tỉnh và trí tuệ.    

 

Rất nhiều người phàn nàn rằng nếu liên tục chú ý vào những hành động của thân khẩu và ý thì khó qúa. Nhưng thực ra nó chỉ khó khi nào họ không chú ý đến luật nhân qủa. Tất cả những thói quen của chúng ta ở hiện tại sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến những gì sẽ xẩy ra trong tương lai. Cũng giống như vậy, những gì chúng ta đang gặp phải bây giờ đều là kết qủa của tất cả những gì chúng ta đã làm trong qúa khứ. Nếu chúng ta nhận thức được điều này, chúng ta sẽ thận trọng với những hành động hiện tại của chúng ta một cách sâu xa hơn vì đây là trách nhiệm của chính chúng ta chứ không phải của bất cứ ai khác. Chúng ta sẽ nhận thức được hạnh phúc hay đau khổ là do quyết định của chính chúng ta. Nếu chúng ta là người tử tế, dễ thương và cởi mở trong tinh thần kỷ luật thì kết qủa là chúng ta sẽ có hạnh phúc thật . Nếu chúng ta là người độc ác, ích kỷ và hẹp hòi, chúng ta sẽ chỉ gặp những khó khăn và đau khổ. Do đó, kỷ luật chỉ khó khăn đối với người nào không biết  hoặc không sợ luật nhân qủa, nên họ cũng chẳng có một sự thúc đẩy nào đến với con đường tâm linh. Nếu chúng ta hiểu được sự liên hệ tự nhiên giữa những hành động và những ảnh hưởng của nó đối với chúng ta và những người khác thì chúng ta sẽ tự động phải ý thức và cẩn trọng trong mọi hành vi của chúng ta. Đây là lý do tại sao chúng ta phải thức tỉnh.

 

Mỗi khi chúng ta tỉnh thức trong từng hành động của chúng ta là chúng ta phát triển thêm trí tuệ. Từ đó chúng ta kiểm soát được luật nhân qủa. Nói cách khác, khi đó chúng ta có thể thanh tẩy được nghiệp của chúng ta. Vì thế, với sự tỉnh thức, chúng ta sẽ có những ý thức chân thực khởi phát chứ không phải do vô minh mà ra. Mật chú thường được dùng để khai mở những buổi pháp đàm, như Om muni muni maha muniye svaha, ý nghĩa sâu xa của ba lần lặp lại Muni là để “kiểm soát.” Muni đầu tiên để kiểm soát tam độc ở tâm - tham, sân, si - ba thứ này mang lại đau khổ cho cuộc đời. Muni thứ hai để thanh tẩy ô nhiễm và nghiệp, kể cả những hạnh nghiệp tốt mang lại niềm vui cho nhân loại, vì những thứ này cũng làm cho tâm không thanh tịnh (nghiệp có nghiệp xấu và nghiệp tốt, nghiệp nào cũng làm cho tâm không còn cân bằng thanh tịnh, Phật và chúng sinh tính thường rỗng lặng, rỗng lặng thì không có tốt không có xấu, tâm rỗng lặng chỉ nhìn sự vật như thị, như nó là, không có kiểu,” A, cái này tốt tôi nên giữ; ô cái kia xấu quá, bỏ đi.” --Dg)  Với sự kiểm soát như vậy, giúp chúng ta thoát khỏi luân hồi. Nhưng chúng ta không thể phát triển sức mạnh này hay niềm an lạc này trong một khoảng khắc mà nó sẽ đến từ từ, từ từ, rất chậm trong tiềm thức của chúng ta để rồi một ngày nào đó sẽ trở nên hoàn hảo. Maha muniye, đại thanh tẩy, sự kiểm soát toàn diện, thanh tẩy tất cả những dấu ấn của ảo vọng và nghiệp lực nằm rất sâu trong thể vi tế nhị nguyên của tâm ta. Trong sự phát triển cao độ này, trong sự giác ngộ này, chúng ta có khả năng tỉnh thức trọn vẹn (toàn giác) để mang lại ơn ích cho muôn loài chúng sinh. 

 

Nhưng trước nhất chúng ta phải bắt đầu, từ từ, tinh tấn đều đều, đều đều, không hấp tấp, không vội vàng. Đừng làm những bước nhảy vọt. Hãy áp dụng, hãy thực hành một cách vững chắc. Nếu chúng ta bắt đầu tiến hành từ từ như vậy, chúng ta sẽ có khả năng tiếp tục lâu dài một cách rất dễ dàng và rất thoải mái. Chúng ta sẽ thức tỉnh và kiểm chứng được tất cả những gì chúng ta đang thực hành trong từng giây phút. Nếu chúng ta nhảy vọt ngay từ lúc bắt đầu chúng ta sẽ bị gẫy chân; lúc đó nếu có lạt ma đến để chia sẻ với chúng ta về sự tiến bộ, về những chứng nghiệm Đạo pháp thì chúng ta đã bị què mất rồi, chẳng còn chia sẻ gì được. Trách nhiệm về sự thực tập lời dạy bảo này chẳng phải ở ông thầy mà tại chính chúng ta.

 

Khi chúng ta qui y Phật, Pháp và Tăng là chúng ta quyết liệt với nghiệp của chúng ta. Có nghĩa là chúng ta sẵn sàng canh giữ ba cửa ngõ thân khẩu ý của chúng ta và chúng ta tiếp tục tỉnh thức trong từng hành động của chúng ta. Phương pháp để hoàn thành công việc này là thiền định. Nếu chúng ta đã quyết định và đã có một phương pháp thích hợp thì sự học hỏi triết lý và giáo pháp mới có ích lợi. Lúc đó càng học hỏi về thiền định và biết thiền định trên những vấn đề gì, thì sự thực hành càng có kết qủa. Đời sống của chúng ta và sự thực hành tâm linh của chúng ta sẽ dẫn chúng ta đến những bước cao hơn, do chính sức mạnh và kết qủa của sự cố gắng này.

 

Để chứng nghiệm Đạo Pháp, cần hai điều kiện: học hỏi và thực hành. Không áp dụng hai điều kiện này thì sự nguy hiểm nằm ngay trong phương pháp đó. Nếu chúng ta đến với Đạo và học Đạo bằng cái “tôi” của chúng ta thì chúng ta sẽ chẳng thâu thập được gì mà lại còn chuốc thêm đau khổ bởi chính sự ô nhiễm tinh thần này. Thí dụ, chúng ta sẽ chỉ trở nên một người rất tinh thông về những danh từ và ý niệm mà thôi. Nếu chúng ta học và thực hành không trọn vẹn, sự kiện này sẽ là nguyên nhân gây đau khổ cho cái bản ngã kiêu mạn của chúng ta. Vì thế, mặc dầu Đức Phật có xuất hiện ngay trước mặt chúng ta mà giảng dạy Đạo Pháp cho chúng ta, chúng ta cũng nhún vai mà nói với Ngài rằng: “ Tôi biết rồi, ông không phải nói với “Tôi” những điều này nữa.”  

 

Thay đổi thái độ tâm linh này rất khó. Sức mạnh tinh thần của chúng ta có thể cấu tạo một hàng rào hoài nghi rất vững chắc để bảo vệ chặt chẽ những ý niệm sai lầm “dễ thương” của chúng ta. Cái thái độ sắt thép này chẳng những ngăn cản chúng ta tiếp xúc với người khác mà nó còn phá hủy hoàn toàn những gía trị căn bản của một con người. Bởi vì chúng ta cho rằng chúng ta biết tất cả mọi thứ nên chúng ta bị cầm giữ trong vô minh, như vậy chúng ta sẽ chẳng còn một cơ hội nào đánh thức tâm ta để trốn thoát khỏi khổ đau.

 

Do đó, chúng ta cần nhiều cố gắng để thực hành những gì chúng ta đã học hỏi được. Thực hành những gì chúng ta đã nghe, đã đọc và đã làm, đã nghĩ bằng tất cả năng lực của chúng ta. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói. Hãy coi chừng nghiệp của chúng ta. Nghiệp là một danh từ Phật giáo, tiếng Phạn là Karma, đây là một danh từ Aán độ, ý nghĩa rất phức tạp. Hàng ngày chúng ta ăn, uống, ngủ, đi và nói chuyện với người khác. Tất cả những hành động ấy tạo ra nghiệp, là nghiệp. Nói một cách đơn giản, tất cả những năng lượng phát ra từ thân khẩu và ý đều là nghiệp. Tất cả nghiệp lực đều có phản ứng, rồi nó lại tạo ra những phản ứng khác nữa, khác nữa, khác nữa.... Chúng ta không cần đi sâu xa, phức tạp hơn nữa. Như vậy cũng đã qúa đủ để xác định khi vui sướng là nghiệp qủa của những động lực lành mạnh đã được tạo ra từ trước, khổ đau là kết qủa của những hành động bất thiện. Để nói về nghiệp, có khi phải cần cả một ngày, một tuần, một tháng hoặc cả năm mới luận bàn hết được. Tuy nhiên, lời dậy bảo đơn giản bao giờ cũng thấm hơn là những bài thuyết trình cầu kỳ bóng bảy, toàn là những lời trống rỗng, trò chơi của chữ nghĩa. 

 

Từ khi sinh ra đến bây giờ, những gì chúng ta đã nói, đã nghĩ, đã làm đều là những cơ hội tạo ra nghiệp cho tương lai. Không có một giây phút nào mà chúng ta không tạo ra nghiệp, chúng ta tạo nghiệp trong từng giây từng phút. Có thể chúng ta không tin nghiệp và luật nhân qủa. Nhưng dù tin hay không tin, nó vẫn ở đó, như chiếc kim đồng hồ không ngừng di chuyển. Cho tới khi nào chúng ta hiểu được tiến trình tạo nghiệp này, chúng ta mới tỉnh thức về tất cả những hành động xấu mà chúng ta đã tạo ra do thói quen, lúc đó chúng ta mới dễ dàng nhận ra bao nhiêu là rắc rối mà chính chúng ta đã mang lại cho chúng ta.

 

Mỗi một phút chúng ta tạo ra hàng trăm thứ nghiệp, có nghiệp chúng ta đã cố tình tạo ra. Trong sự yên tịnh của thiền định, chúng ta có thể nghe được tâm ta, đây là nguồn gốc và nơi chốn của tất cả mọi hoạt động. Ở đây chúng ta có thể học hỏi, kinh nghiệm và nhận diện được mọi hành động của chúng ta từ rất xa, sâu thẳm mà chúng ta không hề biết trước kia. Công việc tự tỉnh thức này dẫn đến việc tự kiểm soát, đây là khả năng làm chủ nghiệp lực của chúng ta thay vì để nó điều khiển chúng ta.

 

Phật giáo Đại thừa dậy rất rõ ràng minh bạch về con đường chuyển hoá tất cả những sinh hoạt hàng ngày thành những phương tiện thiện xảo đưa đến giác ngộ. Ngay cả những năng lượng tiêu cực cũng có thể chuyển thành những kết qủa tích cực. Điều này có thể thực hiện được bởi vì tất cả những năng lượng này đều là sự diễn dịch của những thái độ tinh thần, những thái độ này có thể dẫn đến mục đích đạo đức hoặc không đạo đức. Tất cả đều đòi hỏi một sự tỉnh thức cao độ.

 

Vì hiểu và sinh hoạt với những nguồn năng lượng của chúng ta mỗi ngày nên chúng ta có khả năng tạo được những bước rất dài trên con đường tâm linh. Không cần chúng ta phải cắt bỏ những hoạt động hàng ngày của con người để đi đến một nơi nào đó tu dưỡng tâm linh. Chúng ta có thể học hỏi ở mọi nơi mọi lúc. Phật giáo là con đường trung đạo, nó tránh tất cả những gì gọi là cực đoan. Vì thế, nếu chúng ta thực sự chân thành muốn thực hành Đạo pháp trong đời sống hàng ngày của chúng ta, chúng ta thực sự cần một đời sống quân bình. Đừng thẩm định qúa thấp hoặc quá cao công việc gì mà chúng ta muốn hoàn thành, hãy cố gắng làm việc ở trong nội tâm càng nhiều càng tốt.

 

Nếu thực sự chân thành thực hành Đạo pháp trong đời sống hàng ngày, chúng ta sẽ được đổ đầy lòng nhiệt tâm. Nếu chúng ta là những người có tuổi thì tâm hồn chúng ta sẽ trở nên trẻ trung và tươi mát như một thiếu niên 15 tuổi. Còn không, thân xác và tâm hồn chúng ta sẽ bị gìa đi và suy nhược chung với nhau. Chúng ta sẽ chẳng có trí tuệ, chúng ta sẽ sống quãng đời còn lại rồi chết đi trong sự sợ hãi và ngu muội.

 

Vậy, chúng ta hãy cố gắng sống trong sự bình an của tâm hồn càng nhiều càng tốt. Hãy cố gắng sống vui vẻ. Có qúa nhiều cơ hội sống tốt đẹp ở xã hội này, vậy hãy dùng nó cho khôn ngoan. Hãy nhớ rằng mục đích chính của một xã hội đầy máy móc là để tiết kiệm thời gian. Vậy hãy tổ chức đời sống sao cho có thật nhiều giờ dành cho thiền định. Rồi, khi nào bắt đầu biết để ý đến nghiệp lực được tạo như thế nào qua thân khẩu và ý thì lúc đó là lúc chúng ta mới thực sự thực hành Phật Pháp. Ngoài ra, mỗi khi chúng ta cố gắng ngồi thiền chúng ta chỉ ngồi đó mà chẳng thực hiện được một kết qủa hữu dụng nào.

 

Ngồi, tự nó chẳng phải là thực hành.Tinh tấn và chuyển hoá mới thực sự là thực hành. Khi tinh tấn, chúng ta cảm nhận được. Không cần phải hô hoán lên, “Ô Lạt ma, con đang học Phật Pháp, con có tiến bộ không?” Sự cảm nhận chỉ có thể được chứng nghiệm bởi chính anh, không phải Lạt ma hay bất cứ người nào khác. Chúng ta mỗi người đều có khả năng nhận ra sự tinh tấn này.

 

Tôi nghĩ rằng tôi đã nói quá nhiều, nhưng tôi cũng nghĩ rằng tôi đã nhấn mạnh một điều gì đó. Bây giờ chẳng còn gì để nói với quý vị nữa. Ước mong rằng sự gặp gỡ hôm nay sẽ mang lại một nghiệp qủa tốt và tạo nhiều ơn ích. Nếu được như vậy, xin đừng phí phạm. Hãy hồi hướng tất cả những thành qủa này cho muôn loài chúng sinh. Cám ơn qúy vị.

 

Tôi rất sung sướng vì ở Hoa kỳ có rất nhiều người mong muốn đi tìm sự bình an trường cửu để đạt giác ngộ. Thật là may mắn cho qúy vị được chia sẻ nghiệp qủa với Trungpa Rinpoche. Mong rằng sự cố gắng của ngài và sự thực hành liên tục của qúy vị sẽ mang lại hạnh phúc và sự an lành cho tất cả mọi người.

 

Cám ơn qúy vị nhiều lắm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  3.   TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN CỦA BẤT HẠNH

 

            Sự thấu hiểu bản tính thật hay chân tính của những hiện tượng ở nội tâm có sức mạnh cắt đứt tất cả những tình trạng mê mờ ảo vọng của tâm. Giống như một lưỡi kiếm cắt đứt những vọng tưởng. Lưỡi kim cương sắc bén này có khả năng phá hủy trọn vẹn những nguồn năng lượng tiêu cực. Với sự hiểu biết sâu xa của trí tuệ, tâm chúng ta sẽ tự nhiên đi vào trạng thái trong sáng thanh tịnh, khi đó cảnh bình an chân thật của nội tâm sẽ được thành lập. Chính vì lý do này mà Phật Pháp không chấp nhận một tình trạng hiểu biết mù quáng. Điều vô cùng quan trọng là chính cá nhân chúng ta phải tự thẩm định và tự chứng nghiệm sự thật về những lời dậy bảo ở trong chính tâm hồn của chúng ta, chứ không phải nhắm mắt tin vào giáo điều. Sự thành đạt trí tuệ như vậy mới mang lại kết qủa thực sự cho việc huấn luyện tâm để đạt tới mục tiêu. Chúng ta sẽ chẳng có tinh tấn trên con đường học đạo nếu trí tuệ của chúng ta không làm việc một cách sắc bén. Điều này đi ngược lại với sự nhận xét của một số người về tôn giáo -- theo họ, tôn giáo có những tín điều không thể thay đổi hoặc không được chống lại vì nó ở bên ngoài tất cả những lý lẽ, thắc mắc, bàn luận và nghiên cứu khoa học. Đáng tiếc thay, những tư tưởng suy đồi trong hệ thống tín lý của tôn giáo lại làm vững mạnh thêm cho những quan niệm độc đoán một chiều này. Ở đây tôi không đề cập tới những hình thức thoái hóa của tôn giáo vì thực ra nó chỉ là những mê tín dị đoan. Đúng ra, tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến khả năng kỷ luật của nội tâm, nó có thể tạo được sự bình an thật cho chính tâm mình và người khác.

 

Thật là sai lầm khi nghĩ rằng người có đạo nên tránh những điều mới lạ và những cơ hội có thể làm lay chuyển đức tin của họ. Một tôn giáo đúng nghĩa thì tràn đầy trí sáng suốt, tại sao tín đồ lại phải sợ bóng tối? Aùnh sáng thực sẽ không bao giờ bị ảnh hưởng bởi bóng tối. Giống như thế, tâm trong sáng của trí tuệ không hề bị quấy nhiễu bởi một cái tâm mù mờ và lầm lẫn. Cũng như sự nghiên cứu theo đúng tinh thần khoa học dù dưới bất cứ hình thức nào cũng không đi ngược lại sự chân thật của tôn giáo. Nói cho cùng, bất cứ sự nghiên cứu nào của khoa học cũng không chối bỏ được ánh sáng của mặt trăng và mặt trời, thế thì tại sao họ lại chối bỏ ánh sáng của nội tâm?

 

Những kẻ yếu đuối - những ai thiếu con mắt phân biệt của trí tuệ - chấp nhận giáo lý một cách thụ động. Họ không có nền tảng triết học và hoàn toàn không có gì bảo vệ cho những điều họ tin, vì thế khi có ai thắc mắc lòng tin của họ là họ sẽ khó chịu ngay. Những người như vậy thường có một đời sống hay đắn đo, hoang mang, sợ hãi bất cứ người nào hay bất cứ gì có thể ảnh hưởng đến căn bản tinh thần mập mờ của họ. Tuy nhiên, thái độ này không phải tại tôn giáo nhưng tại sự hiểu biết qúa hẹp hòi của họ. Đạo pháp luôn luôn hướng dẫn chúng ta đi con đường ngược lại với thái độ này. Đạo pháp có khả năng hướng dẫn một người biết phối hợp tất cả những kinh nghiệm trong đời sống vào một sự hợp nhất toàn thể (một là tất cả, tất cả là một ), từ đó sẽ không còn sợ hãi và bất an.

 

Dĩ nhiên, loại triết lý và luận lý của đức tin tôn giáo không hoàn toàn giống như những loại được dạy ở trường học. Thí dụ, loại lý luận toán học ở trường học dạy chúng ta giải quyết những vấn đề có tính cách bên ngoài sao cho hợp lý. Còn nguồn gốc sâu thẳm ở bên trong thì lại không được chú ý đến hoặc nếu có thì nó cũng chỉ đem lại những kết qủa giới hạn mà thôi. Ngược lại, Đạo Pháp có một giá trị cao hơn và có tính cách bao trùm. Nó trực diện thẳng với những vấn đề ẩn sâu trong nội tâm và thường được dùng để giải quyết những vấn đề quan trọng trong cuộc sống như : Làm thế nào để tìm kiếm hạnh phúc, tránh khổ đau cho chính mình và cho những người khác. Khi chúng ta giải quyết những rắc rối trong đời sống qua Đạo pháp, chúng ta sẽ không thuần túy chỉ đề cập đến một vấn đề hoặc ở một khía cạnh mà chúng ta phải khám phá ra tất cả những liên hệ giằng co ở sâu thẳm bên trong của toàn thể vấn đề. Đây là điều kiện cần phải có cho những người nào muốn liên tục khám phá và tìm hiểu những lý do “tại sao” và “thế nào” mà họ đã thiếu sót. Kết quả là chúng ta sẽ hài lòng hơn rất nhiều với lối giải quyết này vì nó ảnh hưởng đến toàn thể những gía trị của đời sống con người.

 

Làm thế nào để áp dụng kiểu lý luận nội tâm theo Đạo pháp? Có thể qúy vị không được hài lòng, và có thể sự chán ghét đang nổi lên trong tâm của qúy vị. Thay vì quan sát hiện tượng này một cách thụ động hoặc bỏ qua một bên, qúy vị hãy tự hỏi và tìm hiểu xem cái gì đang xẩy ra trong tâm của chúng ta, tại đây, ngay bây giờ. Hãy cố gắng khám phá xem tại sao anh không hạnh phúc, anh không hài lòng để có tình trạng chán ghét xẩy ra. Nói cách khác, hãy tự hỏi chính mình nếu phải làm một điều gì, liệu tôi có tinh tiến hay không. Phân tích như vậy không phải là một hành động bấn loạn thần kinh. Nhưng, đây chính là đường lối giải quyết vấn đề của chúng ta.

 

Hỏi như vậy là tạo ra một tiến trình cho nguyên nhân để dần dần dẫn đến một giải pháp. Nó giống như tiến trình thí nghiệm đi thí nghiệm lại của một nhà khoa học để dần dần chứng minh cho một vấn đề mà ông ta đang nghiên cứu. Trong lúc tạo những kinh nghiệm nội tâm, chúng ta nên hỏi chúng ta thật nhiều câu hỏi cho cùng một vấn đề. Bằng cách này, chúng ta sẽ phát triển và sẽ trưởng thành trong tâm linh, kết qủa là những sự khó chịu và những bất mãn của chúng ta đang từ từ bị loại bỏ.  Thí dụ, chúng ta sẽ phân tích được sự chán ghét đang nổi dậy trong chúng ta và sẽ khám phá ra chẳng những nguyên nhân của nó mà cả kết qủa của nó để chúng ta biết cách mà hoá giải nó.

 

Chúng ta thường bị đau khổ vì những tham vọng qúa lớn hoặc bám víu chặt vào cái gì đó. Đây là kết qủa của những kinh nghiệm cảm thọ “hài lòng” không được kiểm soát, không tỉnh thức trước kia mà bây giờ chúng đang có liên hệ tới đối tượng này bây giờ. Mỗi khi cảm thọ này nổi lên, chúng ta nên quan sát nó và nhìn cho thật rõ cái gì đang xẩy ra, đang dấy lên trong tâm của chúng ta. Đây là một điều vô cùng quan trọng để thẩm định lý do tại sao cảm thọ hài lòng lại sản xuất ra, lại là nguyên nhân cho những tình trạng khó chịu của lòng ước muốn và tham lam. Cũng giống như vậy, mỗi khi sầu khổ, mỗi khi có chuyện bực mình, hãy cố gắng khám phá xem tại sao cảm thọ này lại tự động dẫn đến sự thù hận, oán hờn và ganh ghét. Đôi khi chúng ta có những cảm thọ không vui cũng không buồn trên một vài sự kiện nào đó. Những loại cảm thọ này thường dẫn đến tình trạng mờ mờ ảo ảo, một tình trạng vô minh ngu ngơ làm chúng ta không muốn để ý đến đối tượng một chút nào. Cả ba loại phản ứng này về những kinh nghiệm của chúng ta, chúng không luôn luôn xuất hiện một cách rõ ràng, thiết thực hoặc sống động, nhưng nó thường xuất hiện một cách rất tế nhị, ở thể vi tế. Là một con người, chúng ta bị chúng chi phối thường xuyên không ngừng, ngay cả lúc chúng ta không để ý đến chúng. Vì thế, nếu chúng ta muốn huấn luyện tâm, chúng ta cần phải mài sắc trí tuệ của chúng ta và luôn luôn tỉnh thức: “cái gì đang thực sự xẩy ra ở bên trong tâm của tôi?”

 

Mỗi khi chúng ta nhìn thẳng vào bản tính của những cảm thọ và quan sát xem chúng hoạt động như thế nào, chúng ta sẽ khám phá ra rất nhiều điều thú vị. Nếu tôi tạo ra một vài tâm trạng ở đây thì qúy vị sẽ thấy tất cả những rắc rối tâm lý đều do những cảm thọ mà ra. Khi một cảm giác vui sướng xẩy ra thì cái tâm không thức tỉnh của chúng ta liền bị quay cuồng, bị đưa đẩy bởi chính những cảm giác vui sướng này. Khi một cảm giác khó chịu xẩy ra, tâm chúng ta liền bị mất thăng bằng, liền bị mất kiểm soát và những rắc rối liền xuất hiện tiếp theo đó. Ngay cả những cảm thọ trung tính, không vui không buồn, tơ lơ mơ cũng dẫn chúng ta đến khổ đau hoặc trở ngại. Vì chúng ta muốn bỏ qua những gì đang phát khởi ra ở giữa những cảm thọ này  nên chúng ta đã bỏ qua thực tính của chúng. Kết qủa của những gì chúng ta đã bỏ qua, đã nhắm mắt lại trước các hiện tượng xẩy ra lại là nền tảng của vô minh, và nó hoàn toàn đi ngược lại với việc phát triển trí tuệ giải thoát.

 

Như vậy tham lam, ganh ghét và những rắc rối tâm lý khác đúng là do cảm thọ gây ra, nhưng thực sự ra đây mới chỉ là một nửa mà thôi. Những tình trạng tâm lý này lại thay phiên nhau trở lại để quấy rầy những cảm thọ khác nữa. Đây chính là cái vòng luẩn quẩn xấu xa. Cái này là nguyên nhân của cái kia, chúng quay vòng vòng trong tâm thức của chúng ta không bao giờ ngừng, chúng quấy phá cuộc đời chúng ta và những nguồn năng lượng của chúng ta.

 

Thật là ích lợi biết bao nếu chúng ta tìm hiểu gần hơn, sâu xa hơn về thực tính của những cảm thọ của chúng ta. Hãy quan sát xem cái gì đang xẩy ra trong ý thức, trong tư tưởng, trong tâm của chúng ta, qúy vị gọi nó bằng bất cứ tên gì cũng được. Đây là một việc làm rất có gía trị, có ai phản đối không? Chúng ta nên tự hỏi: những phương pháp mà giáo lý tôn giáo dậy có hiệu quả cho việc tìm kiếm sự bình an thật ở tâm hồn không? Khoa học và triết học có đi ngược lại những phương pháp khám nghiệm này không? Không, hoàn toàn không. Sự thật là, nền tảng của triết học, như tôi đã trình bày trước kia, chỉ làm mạnh thêm cho những ý thức phát khởi từ nội tâm. Không có niềm tin vững chắc đó, chúng ta sẽ không có một câu trả lời xác thực mỗi khi có người nào hỏi chúng ta về nó. Một giải quyết tinh thần không được mập mờ, không được lúng túng như vậy.

 

Chúng ta hãy tìm hiểu gần hơn, sâu xa hơn về bản tính của những cảm thọ của chúng ta. Cho dù chúng vui, buồn hay không vui không buồn, hầu như tất cả đều là kết quả của những sự phân biệt sai lầm. Sở dĩ có những sự phân biệt sai lầm vì chúng đặt căn bản trên những vọng tưởng của tâm, mà những vọng tưởng này lại luôn luôn che mắt chúng ta, không cho chúng ta nhìn đúng sự thật. Đây là sự thật của bất cứ một hiện tượng nào, dù ở bên trong hay ở bên ngoài, dù có sinh khí hay không có sinh khí, dù hoạt động hay bất động. Cảm thọ không chỉ phát khởi khi một người phản ứng với một người khác. Chúng xuất hiện khi có sự liên hệ với bất cứ cái gì (duyên khởi). Trong hầu hết các nghịch cảnh đều có một đối tượng mà những cảm thọ bị quấy rầy lại chính là chủ nhân. Điều này cho chúng ta thấy rằng chúng khác biệt hay tách biệt với cái khác, ví dụ một người nói, “Tôi ghét thằng đó,” nhưng thực ra, một cách nào đó, cảm thọ của anh ta đã tạo ra đối tượng này. Vì thế tôi muốn nói rằng đối tượng của những cảm thọ của chúng ta không thể gây ảnh hưởng đến thực tính của bất cứ một hiện tượng bên ngoài nào. Đó thuần túy chỉ là những lớp sơn vọng tưởng của một cái tâm phân biệt một cách mù quáng mà ra.

 

Do đó, thực là dễ dàng, thực là đơn giản để đối diện, để đối đầu với những nguồn mâu thuẫn tinh thần có thể xẩy ra. Chỉ cần nhớ bất cứ cái gì đến quấy rầy những cảm thọ nội tâm của chúng ta đều là những ý niệm sai lầm của tâm vọng tưởng. Quan sát những đối tượng này sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn sáng tỏ hơn về những sự việc đang xẩy ra mà không cần phải dùng đến những phương pháp phức tạp nào khác. Chỉ cần chiêm nghiệm đời sống của chính chúng ta. Bất cứ cái gì chúng ta đang nhận thức, đang sinh hoạt, đang cảm nhận, hãy chiêm nghiệm ngay xem có phải chúng ta đang lừa dối chính mình không. Hoặc nói một cách chính xác hơn, hãy quan sát xem tâm của chúng ta có đang gán ghép, có đang phóng đại một nhận xét không có thực cho đối tượng mà chúng ta đang nhận thức hay không, có thể nó đang lừa dối chúng ta vì một lý do mâu thuẫn và nhiễu loạn.(Nhiều khi chúng ta nói sai sự thật cho một người hay cho một sự kiện mà chúng ta đã gặp vì một lý do nào đó.  --Dg)

 

Chúng ta thường nghĩ rằng những rắc rối của chúng ta là do người khác đem lại hoặc họ chiếm mất hạnh phúc của chúng ta. Tuy nhiên, khi nhìn sâu xa hơn thì chẳng kiếm thấy một kẻ thù nào cả. Từ vô thuỷ, qua biết bao nhiêu kiếp và từ khi sinh ra cho đến bây giờ, chúng ta đã tự đánh lừa chính mình qúa nhiều rồi. Có thể chúng ta nghĩ, “ Tôi không bao giờ hành động như vậy, tôi là một người tốt.” Nhưng chúng ta sẽ chẳng bao giờ hiểu được sự thật nếu chúng ta cứ mãi nhìn sự kiện theo chiều hướng này. Hãy khám xét những thái độ tinh thần của chúng ta mỗi khi đối diện với sự kiện và hãy tìm hiểu xem chúng ta đã gán ghép, đã phóng đại sai lầm cho những người mà chúng ta đã gặp hay cho những hiện tượng xẩy ra trong cuộc sống như thế nào.

 

Hầu như lúc nào chúng ta cũng sơn phết cho mọi vấn đề: chúng ta tự diễn dịch mọi hiện tượng theo lối nhìn hạn hẹp của chính chúng ta. Chúng ta có thể khám phá ra xu hướng này một cách dễ dàng, không cần phải dùng tới những phương pháp phân tích đặc biệt. Chỉ cần dùng luật tương đối, sự xuất hiện rất bình thường của sự vật, hãy tự hỏi chính mình: “ Tôi là ai? Tôi là cái gì?” Một vài hình ảnh về cái tôi mà chúng ta nghĩ chúng ta sẽ là sẽ xuất hiện ngay, nó rất tương đối với sự thật. Hãy tự nhìn cho thật rõ chính mình. “Đây chính là tôi ư? Đây thực sự là tôi sao? Tôi luôn luôn xuất hiện như thế này với tất cả mọi người ư?” Khi thật sự quan sát mình một cách vô cùng thành thật, chúng ta sẽ nhận ra lớp sơn kia là giả dối. Chúng ta sẽ nhìn thấy chúng biến mất trong sự gỉa dối. Chúng ta sẽ khám phá ra chính chúng ta đã bóp méo tất cả những nhận thức của chúng ta về những hiện tượng ở bên ngoài. Chúng ta sẽ nhìn thấy lớp sơn của chúng ta, một thế giới cảm quan toàn là những vọng tưởng sai lầm và chúng ta sẽ nhìn ra được những cảm thọ được khởi lên bởi những vọng tưởng hư ảo đưa đẩy chúng ta tới lui giữa những hứng khởi và tuyệt vọng. Cái vòng bất toàn này, căn bản là hư ảo, được gọi là luân hồi, sự nghiên cứu và quan sát của chúng ta chỉ cho chúng ta biết đây chỉ là những ảo cấu của tâm chúng ta.

 

Nếu chúng ta huấn luyện chúng ta nhìn sự vật theo chiều hướng này, chúng ta sẽ không còn bao giờ nghĩ rằng những rắc rối của chúng ta là do lỗi lầm của xã hội, của quê hương hay của cha mẹ chúng ta nữa. Chúng ta sẽ công nhận những vấn đề này là của tâm chúng ta, xẩy ra ở trong tâm của chúng ta. Để sửa soạn cho phương pháp phân tích này, trước nhất chúng ta cần phải biết làm thế nào suy nghĩ một cách rõ ràng trong sáng. Phương pháp này giúp chúng ta biết sắp xếp những hiện tượng khác nhau mà chúng ta muốn nghiên cứu học hỏi. Lại nữa, sự thật không hiển lộ ngay lập tức, mà tùy theo sự tin tưởng của chính chúng ta. Có nghĩa là chính chúng ta phải đi trên tiến trình học hỏi này. Bởi vì chính sức mạnh của trí tuệ không lầm lẫn của chúng ta là lực thúc đẩy chúng ta trong sự học hỏi và tìm hiểu này, nó sẽ cho chúng ta rất nhiều năng lực để chúng ta kiểm soát cuộc đời của chúng ta.

 

Không có gì nguy hiểm khi chúng ta chấp nhận khảo nghiệm đời sống hàng ngày của chúng ta bằng chính những kinh nghiệm của chúng ta. Không có gì lừa dối và hướng dẫn sai lầm trong triết lý thực hành này. Chúng ta sẽ nhìn ra được tất cả những rắc rối tinh thần của chúng ta, chúng đều được tạo ra bởi lớp sơn vọng tưởng của thế giới cảm quan. Vì bị u mê bởi ảo vọng, chúng ta đã phán đóan sai lầm cái này tốt cái kia xấu. Nhưng thế giới ảo tưởng không phải là thế giới của con người. Nó là thế giới của ai? Chúng ta hãy tự khám nghiệm lấy! Cái nhìn của tôi về “California” không phải là cái nhìn của người khác. Đây là lý do tại sao Phật giáo giám mạnh dạn mà nói rằng, tất cả những hiện tượng đều do tâm của chính chúng ta tạo ra. Lời nói này là một sự thật, ý nghĩa cốt tủy của nó không thể phát sinh bởi những kẻ đạo đức giả hay bởi một cái tâm bị ô nhiễm. Chúng ta nên khám nghiệm và tự kinh nghiệm lấy bản tính huyễn ảo trong những vọng tưởng của chúng ta. Chỉ bằng cách này chúng ta mới có thể khám phá ra sự thật đang nằm sâu ở bên trong.

 

Truy tìm, khám nghiệm chính là thực hành. Thiền định không có nghĩa là ngồi yên trong một góc nào đó mà không làm gì cả. Hoàn toàn không phải như vậy. Không cần biết anh đang làm gì, cũng chẳng cần biết anh thuộc môn phái nào, anh có thể khám nghiệm bất cứ lúc nào, phải không? Đây là một việc có thể làm được ở bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu.Thật là vô cùng sai lầm khi nghĩ rằng thiền định của Phật giáo chỉ dành cho những kẻ lười biếng, không muốn làm gì cả. “ Tất cả những thiền gỉa chỉ là những người ngồi không, ăn, ngủ và đi cầu !” Những người không hiểu biết có thể nghĩ như vậy, một số thiền gỉa cũng có thể nghĩ như vậy. Nhưng những vị chân thiền giả là những người hoàn toàn chịu trách nhiệm về tất cả con đường tinh tiến và phát triển của họ. Họ không sợ bất cứ gì nên cũng chẳng cần phải dấu diếm điều gì trong một góc nhà nào đó. Đức Phật không dậy thiền như vậy. Sự hiểu biết nông cạn và bất hảo về Đạo pháp hay về tôn giáo có thể là nguyên nhân dẫn đến sự bất toàn và xa rời sự thật. Sự chân thành thiền định là một sự thực hành nghiêm chỉnh, một sự đối chất ngay thẳng để phá tan lớp mây mờ ảo vọng mà tiến đến trái tim của chân tính.

 

Hãy nhớ rằng cảm thọ bao gồm luôn cả những cảm xúc. Chúng có thể là những cảm thọ tinh thần, có thể là những xúc động hay ngay cả những niềm tin nhảm nhí. Tất cả những hiện tượng đang diễn ra đều là đối tượng của cảm thọ. Tuy nhiên hầu như trong mọi lúc chúng ta chẳng biết chúng ta đã cảm nhận chúng như thế nào. Đó là lý do tại sao chúng ta hãy luôn luôn quay vào trong mà kiểm soát chính mình. Bằng cách này chúng ta sẽ từ từ phát triển được trí phân biệt tối thượng. Với trí tuệ phân biệt này, chúng ta có khả năng kiểm soát được những cảm thọ không trong sáng và những cảm thọ rối loạn để giải thoát chúng ta khỏi vòng cương tỏa của chúng.

 

Người ta thường nói: “Đừng phân biệt ! Phân biệt là nguồn gốc mọi rắc rối .” Tuy nhiên, chúng ta đều biết thế giới này luôn có hai ý nghĩa khác nhau. Sự phân biệt sai lầm phát khởi khi lớp sơn huyễn ảo của tâm vọng tưởng nhầm lẫn về chân tính, nó làm chúng ta nghĩ, “Tôi thích cái này,” “Tôi ghét cái kia,” “Oâng ta đúng,” “Cô ta sai,” ...vân vân... Những phản ứng này tuyệt nhiên không có gì liên hệ đến chân tính nên loại phân biệt này hoàn toàn là giả dối, lường gạt.

 

Nhưng loại phân biệt đúng đắn lại là bản tính của trí tuệ. Nó biết cái gì là sự thật và luôn luôn giúp tâm chúng ta hoạt động một cách trong sáng. Nếu không như vậy, sự vật sẽ luôn xuất hiện một cách lung tung lẫn lộn. Ngay ở trong bình diện thế tục, trí phân biệt này cũng cần thiết, nếu không có nó làm sao chúng ta có thể chuẩn bị được bữa cơm trưa nay. Nếu chúng ta nghĩ, “Tôi đã thoát ra khỏi mọi sự phân biệt, tôi có thể trộn tất cả mọi thứ vào cái bát này,” như vậy bữa ăn của chúng ta sẽ tệ lắm phải không qúy vị?

 

Vậy, để nhìn sâu vào những thái độ tinh thần của chúng ta, để khám phá xem cái gì mạnh mẽ, cái gì cần được kiểm soát, dĩ nhiên chúng ta cần sự phân biệt. Nếu không, ai sẽ kiểm soát chúng ta? Ví dụ như khi chúng ta đi sâu vào thiền định, một phần tâm của chúng ta nên ở bên ngoài để chú ý theo dõi những giá trị của thiền định. Nó phải quan sát xem các sự kiện có tiến triển đúng hay không? “ Các nguồn năng lượng có đi đúng hay không?” “ Tôi có bỏ rơi đối tượng của thiền định không?” Nếu chúng ta không làm như vậy, cái tâm không được kiểm soát của chúng ta sẽ đi lang thang lung tung trong hàng ngàn hướng khác nhau. Rất nhiều người nghĩ rằng thiền định sâu có nghĩa là tâm không còn biết phân biệt gì nữa cả. Không bao giờ chúng ta được rời xa sự chú tâm. Không cần biết chúng ta đang làm gì - kiểm chứng một điểm nào đó trong Đạo Pháp, cố gắng nhất tâm thiền quán, thực hành sâu xa hay đắm chìm trong đại trí -- thì sự thiền định và sự chú tâm trong vấn đề đó cũng phải đồng điệu hoà nhập với nhau. Đây là điểm vô cùng quan trọng và thực sự có gía trị để giữ cho sự tỉnh thức luôn luôn có ở tâm của chúng ta.

 

Hãy thử nghĩ xem, chúng ta đã tiêu hết bao nhiêu năng lượng cho các siêu thị. Đứng trước bức tranh quảng cáo chiếc răng trắng long lanh của hãng bán thuốc đánh răng, hình như chúng ta đã phải dùng trí lực để so sánh chọn lựa mua cái nào cho đúng, “Tôi có nên mua cái này không? Có lẽ loại kia mới tốt. Cái nào rẻ hơn? Hộp kia trông hấp dẫn hơn...vân vân....” Hao tốn qúa nhiều năng lượng! Khi đứng trước những đối tượng hào nhoáng không thể quyết định, hãy tự hỏi cái nào thực sự đem đến sự thoải mái cho chúng ta:  những món hàng trong siêu thị hay sự hiểu biết của tâm? Siêu thị chỉ đem lại những thoải mái giới hạn và nhất thời. Nhưng sự hiểu biết sâu xa của trí tuệ sẽ đem lại sự thoải mái  lâu dài và sự an lạc vĩnh cửu. Đây là một sự thật. Nói xa hơn nữa, không ai có thể phá hoặc quấy rầy sự hạnh phúc mà chúng ta có được từ trí tuệ, bởi vì nó ở trong này, trong tâm của chúng ta. Chỉ cần chúng ta biết huấn luyện, biết tu tâm thì sẽ không bao giờ xa rời niềm hạnh phúc này.

 

Chúng ta có rất nhiều cơ hội, có rất nhiều may mắn để thực hiện sự thật này trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Nhưng trước khi chúng ta chấp nhận sự thực hành Đạo Pháp, thực hành một giáo lý tôn giáo hoặc bất cứ một hình thức văn hoá nào, chúng ta nên suy nghĩ và quyết định một cách vô cùng sáng suốt, nó có thực sự đem lại hạnh phúc cho cuộc đời của chúng ta không. Chúng ta có thực sự tin rằng chúng ta có thể tìm được hạnh phúc trong những mê hoặc của ước muốn trần gian không, hay chúng ta lại phải tìm kiếm sâu xa hơn nữa cho sự viên mãn trường cửu? Nếu chúng ta không phân biệt được và không thể thông suốt được vấn đề này thì sự chọn lựa con đường đạo --một tôn giáo hay bất cứ gì--chỉ là một việc làm mù quáng mà thôi. Con đường phát triển tâm linh chỉ tinh tiến rất hạn hẹp nếu không có một căn bản cốt tủy nằm sâu trong cá tính của chính chúng ta. Sẽ chẳng có một ơn ích nào phát khởi trong tâm chúng ta vì nó vẫn còn bị che phủ bởi một lớp mây mù và những cảm thọ đầy mâu thuẫn. Vậy, chúng ta cần phải nhìn vào bên trong, trong sâu thẳm tâm thức của chúng ta xem cái gì mới thực sự tốt nhất cho chúng ta, hãy cố gắng khám phá ra bản tính chân thật của tâm chúng ta.

 

 Cám ơn qúy vị nhiều lắm. 

 

 

 

 

 

 

      

  4.   VỌNG TÂM PHÁT SINH NHƯ THẾ NÀO

 

 

            Mục đích của thiền định là để có trí tuệ hầu chấm dứt tất cả những ảo tưởng và u mê. Trước tiên, sự chấm dứt này tùy thuộc vào ta có nhận ra được đặc tính và sự làm việc của vọng tâm hay không. Thêm vào đó, cần phải hiểu rằng có rất nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sự phát sinh một tâm huyễn ảo.Theo quan niệm này, Je Tsongkhapa ( Đại Lạt Ma của Tây Tạng sống vào thế kỷ 15, Ngài sáng lập ra các truyền thống tu tập Lamrim và Ngagrim --Dg)  liệt kê sáu yếu tố, sáu động lực có ảnh hưởng mạnh đến việc phát sinh ra ảo tưởng: (1) nghiệp lực, (2) đối tượng, (3) ảnh hưởng của xã hội, (4) tuân theo những lời dậy bảo sai lầm, (5) thói quen và (6) do những ý niệm sai lầm.

 

Nguyên nhân cốt tủy phát sinh ra vọng tâm là những dấu ấn của nghiệp lực đã để lại trong tiềm thức của chúng ta bởi những hành động không tinh khiết trong qúa khứ. Vì những hành động trước kia đã được hoàn thành trong vô minh, được điều động bởi lòng tham lam, sân hận hoặc do muôn vàn những ảo vọng khác; có qúa nhiều dấu ấn - hạt giống của nghiệp - đã được trồng trong tâm của chúng ta. Mỗi khi gặp điều kiện thích hợp, những hạt giống này nảy mầm là vọng tâm lại phát sinh.

 

Chính đối tượng là yếu tố thứ hai giúp cho sự nảy mầm này. Mỗi khi đối tượng đến gần ta cộng với nghiệp đã có sẵn trong tâm ta là, bang! ảo tưởng phát sinh, vọng tâm thành hình. Thí dụ, một việc thường xẩy ra là khi chúng ta đi mua sắm, đi shopping. Đối tượng (hàng hoá) sắp sẵn trên kệ, chúng đập vào mắt ta, ngay trước khi chúng ta chưa kịp nhận diện được cái gì đang xẩy ra thì tâm của chúng ta đã bị chìm đắm trong đối tượng. Chúng có thể ẩn sâu trong nhiều ngõ ngách và rất khó phân biệt đâu là tâm và đâu là đối tượng ham muốn; tay của chúng ta đã tự động cho vào túi lấy tiền để mua, có khi còn chưa kịp nhận ra chúng ta đang làm gì. Thật là đơn giản, phải không qúy vị? Vậy, mỗi khi chủ thể (tâm) có liên hệ với đối tượng là ngay lập tức ảo vọng bùng nổ như một trái bom nguyên tử.

 

Ở Tây phương cái gì cũng xôi động, cũng nhanh, cũng được phóng đại ra nên cái vọng tâm càng hoạt động nhiều hơn nữa. “Hãy nhìn đây, thật là tuyệt hảo ! Thật là vĩ đại !” Kỹ thuật quảng cáo qúa tinh vi qúa hấp dẫn và được dùng thường xuyên đến nỗi khi chúng tôi muốn trình bày về thiền, chúng tôi cũng phải quảng cáo, “ Thiền định thật là tuyệt vời! Tâm của chúng ta thật là lạ thường! Kính mời qúy vị đến tham dự buổi thuyết trình để học hỏi về chúng.” Hình như văn hoá của Tây phương qúa nhiều đối với tôi.

 

Đức Phật đã cho chúng ta một cái tên thật là đơn giản cho vấn đề này. Ngài gọi cõi giới mà chúng ta đang sống là “cõi dục”, thế giới của dục vọng. Thật là rõ ràng và dễ hiểu tại sao Ngài lại gọi nó như vậy. Thế giới của dục vọng -- dục vọng là ở đây! Mỗi khi tâm vọng tưởng tiếp xúc với vật được ham muốn là ngay lập tức nó bị hướng dẫn vào u mê, vào say đắm, đã u mê lại càng u mê hơn. Đó là lý do tại sao Milarepa ( đại thiền giả, đại thi sĩ của Tây tạng sống vào thế kỷ thứ 11-- Dg) đã vào hang cốc để ở. Ngài đã biết mỗi khi tâm vọng tưởng tiếp xúc với vật được ham muốn là ngay lập tức nó không còn được kiểm soát nữa. Đó là lý do ngài cho rằng tốt hơn nên tránh tất cả những tiếp xúc cho tới khi tâm đã được hoàn toàn thanh tịnh.

 

Đối tượng làm nguyên nhân cho sự khởi phát một tâm vọng tưởng chắc chắn phải có sự liên hệ với nghiệp lực. Đây là lý do mà chúng được gọi là “vật liên hệ, sự kiện liên đới.” Thí dụ, có thể chúng ta đã có một nghiệp lực liên kết nào đó ở trong tâm của chúng ta, nghiệp này được đánh thức bởi những ham muốn, nhưng lại không được đánh thức bởi những gía trị mâu thuẫn hoặc khác biệt với nó. Như vậy là chủ thể tâm đã có sự ràng buộc về nghiệp với đối tượng. Nếu không có sự tiếp xúc (duyên) với đối tượng thì chủ thể ảo tưởng không thành hình .

 

Yếu tố thứ ba được Lạt ma Tsongkhapa nói đến là những sự ảnh hưởng từ bên ngoài. Tính tiêu cực, sự sai lầm của những người chung quanh là nguồn gốc của ảo vọng. Những người chúng ta quen biết, những người chúng ta tiếp xúc hàng ngày thường đem đến cho chúng ta những lầm lạc, những tin tức không đúng sự thật. Do đó, khi tiếp xúc với bạn bè hay thân cận với bất cứ một người nào cũng phải vô cùng thận trọng. Thí dụ, nếu tất cả những người chung quanh chúng ta đều say sưa rượu chè thì chúng ta cũng bị ảnh hưởng không ít thì nhiều. Nếu chúng ta có đủ lực để kiểm soát tâm thì sẽ bị ảnh hưởng ít, nếu không chúng ta cũng sẽ buông xuôi trong một sớm một chiều.

 

Thật khó mà giữ được sự kiểm soát lâu dài đối với những ảnh hưởng mãnh liệt. Nếu chúng ta thật tình muốn khám nghiệm đời sống chúng ta, tôi tin chắc rằng chúng ta sẽ tìm ra rất nhiều những thí dụ loại này. Sự ảnh hưởng này không có giới hạn cho cả bạn xấu cũng như bạn tốt. Trong cuộc đời của chúng ta, chúng ta gặp rất nhiều “những loại thầy” này, họ toàn là những người cung cấp thêm ảo tưởng cho chúng ta. Do đó, phải rất thận trọng khi chung sống với những người chung quanh, họ phải là những người cho chúng ta những rung động đúng, những rung động của trí tuệ. Còn không, cả đời sẽ chỉ tiếp xúc với ô nhiễm, với những làn sóng lầm lạc, u mê. Điều này không có nghĩa là chúng ta phải hoàn toàn buông bỏ tất cả những người bạn xấu hoặc ghét họ hay nghĩ xấu cho họ. Không, hoàn toàn không nên có phản ứng như vậy. Hãy luôn luôn phát tâm từ bi. Chúng ta nên nhớ rằng chúng ta cũng đã bị ô nhiễm; chúng ta không nên đỗ lỗi cho bất cứ ai. Sự ảnh hưởng của họ chỉ làm cho ô nhiễm càng ngày càng dầy thêm mà thôi.

 

Tâm của người Tây phương thật hấp dẫn, thật lạ lùng. Nó rất thực tế, nó nghi ngờ tất cả mọi thứ. Đây có thể là phong cách tốt, ngay cả với những sự kiện sai sự thật. Nhưng, tâm của họ cũng thật xa thực tế. Nếu nó nhìn ra được một sự kiện tốt, một hình ảnh đúng ở bên cạnh thì nó sẽ không ngần ngại gì mà không chấp nhận ngay toàn thể vấn đề là tốt. Thái độ này rất nguy hiểm. Họ nhận xét, tất cả những nền triết lý, giáo điều của các tôn giáo ít ra nó cũng có điểm tốt. Ngay cả một kẻ xấu nhất trần gian cũng có một cái gì đó tốt ở trong họ. Do đó, một cái tâm chạy lung tung không được kiểm soát khi nó tìm ra được một điểm nào tốt, nó liền vồ chụp ngay lập tức, hành động này chẳng đúng chút nào.

 

Tôi không hiểu tại sao, nhưng hình như tâm của người Tây phương pha trộn nhiều thứ; nó pha trộn rất nhiều hương vị khác nhau thành ra nó rất hấp dẫn. Xin qúy vị thử khám nghiệm xem nhận xét này có đúng không. Trong bất cứ trường hợp nào, thái độ này cũng có thể gây ra rắc rối hoặc phiền toái. Thí dụ, có thể anh đang chú tâm lắng nghe một người đang diễn tả một tư tưởng mà thực ra nó hoàn toàn sai lạc. Anh nghĩ, “Chẳng cần biết họ nói đúng hay sai nhưng nó thật hấp dẫn. Hãy cứ để ông ta nói thêm đi.” Tôi cho rằng tâm của người Tây phương như vậy -- một sự hiếu kỳ lạ thường và sẵn sàng nghe bất cứ gì. Nhưng thực ra, mỗi một ý niệm sai lầm, mỗi một tin tức sai lạc mà chúng ta chấp nhận theo kiểu này, đều làm cho tâm vọng tưởng của chúng ta mỗi dầy thêm. Đó là lý do tại sao tôi cho rằng thái độ này vô cùng nguy hiểm.

 

Tất cả những liên hệ đến yếu tố thứ tư làm nguyên nhân cho sự phát sinh một cái tâm vọng tưởng là nghe theo những sự dạy bảo sai lạc. Yếu tố này khác với yếu tố trước, yếu tố thứ ba, là nó đặc biệt chú trọng đến sự chọn lựa ai và cái gì có ảnh hưởng xấu đến chúng ta. Yếu tố thứ ba đề cập một cách tổng quát đến kiểu sống của chúng ta, đến hoàn cảnh sống của chúng ta. Tuy nhiên, yếu tố thứ tư đề cập đến sự tin tưởng đặc biệt vào một vị thầy rồi lắng nghe và tuân theo những ý niệm sai lầm mà ông ta giảng dạy.

 

Thí dụ, trong thời Đức Phật Thích Ca sống có một người đã dùng một phương pháp rất quái đản để tìm giải thoát, ông ta đi gặp một vài vị thầy. Thầy của ông bảo ông hãy đi giết một ngàn người rồi lấy những ngón tay mà làm xâu chuỗi, “Khi nào xong việc, anh hãy trở lại để nhận bài học khác.” Người đàn ông này tên là Angulimala, tin tưởng vào lời dậy bảo của thầy, đã giết đến 999 người trước khi gặp Đức Phật, Phật chỉ cho ông cách thực hành Đạo Pháp chân thật. Do đó ông đã vô cùng hối hận và sầu khổ vì sự tin tưởng mù quáng của mình.

 

Những lời dậy bảo, về bất cứ loại nào, đều có thể rất hấùp dẫn. Nhưng khi con người đi tìm sự thích thú ở sự vật thì thường thường đó chỉ là lòng ham muốn, mong cầu. Điều này thấy rất rõ ở những đứa trẻ. Trước khi những đứa trẻ Tây phương đi ngủ chúng thường được cha mẹ chúng đọc cho nghe những câu chuyện. Phải đúng như vậy không qúy vị? Những câu chuyện nghe thật hay, thật hấp dẫn, nhưng hầu như toàn là chuyện vớ vẩn. Trẻ con rất nhậy cảm và thích mơ mộng theo chuyện thần tiên. Chúng tin những chuyện đó là có thật và dĩ nhiên chúng được in sâu vào trong tâm khảm. Phần nhiều các bậc cha mẹ không để ý đến điều này, họ thường nghĩ, ”Không sao đâu, miễn là chúng thích và ngủ đi là được rồi.” Họ không biết cái hậu qủa gì đang diễn tiến trong tâm trí của đứa trẻ, cái hậu qủa gì đang sản xuất ra trong tâm của chúng. Điều quan trọng là chúng ngủ càng nhanh càng tốt để cha mẹ được rảnh rỗi, để cha mẹ được ngủ yên, đừng quấy rầy là tốt rồi. Nhưng điều này chẳng đúng một chút nào. Thật là chẳng tốt lành một chút nào khi cho con mình một mớ kiến thức rác rưởi. Chỉ cho con mình thêm ảo vọng và làm cho tâm vọng tưởng của chúng càng ngày càng dầy thêm.

 

Dĩ nhiên, nếu chúng ta là người có trí tuệ, chúng ta đọc bất cứ tư tưởng rác rưởi nào cũng không bị ảnh hưởng. Chúng ta có thể nghiệm ra điều này mà không cần phải giải thích thêm. Không có chuyện gì xẩy ra. Nhưng khi chúng ta qúa ham thích, quá ước ao --”Thích quá, thích quá, kể nữa đi !” thì nó lại in rất sâu vào tâm của chúng ta. Đây là một điều vô cùng thiếu sót của trí phân biệt, nó không biết phân biệt rõ ràng cái gì tốt cái gì xấu. Chúng ta đã thu nhận tất cả mọi thứ mà không cần biết đúng sai, chúng ta đã không có óc nhận xét.

 

Các loại thu nhận khác cũng y như vậy. Thu nhận qúa nhiều, nhưng không dùng được, toàn là rác rưởi, không biết phân biệt cái gì lợi cái gì hại. Hầu như  tất cả các sản phẩm văn hóa của người phương Tây như sách vở, báo chí, phim ảnh, truyền thông ...vân  vân... đều có khuynh hướng sản xuất thêm, tạo thêm sự ham muốn và u mê. Dĩ  nhiên, cũng có những điểm ngoại trừ trong một số phim ảnh. Nhưng hầu như tất cả đều được sản xuất ra theo thị hiếu, theo sự ham thích của con người, theo cái gì mà tâm u mê đòi hỏi ---tất cả đều chạy theo lòng ham muốn của con người. Các nhà sản xuất loại phim ảnh này, sách vở này đều hiểu thấu tâm lý của con người. Họ biết rất rõ cái gì mọi người đang muốn, đang mê và cái gì sẽ làm cho con người càng ngày càng đi vào cảnh mê mờ ảo vọng hơn là những cái họ đã là.

 

Tóm lại, tất cả những ý niệm sai lầm và tất cả những tin tức sai lạc là những nguyên nhân đem lại ảo tưởng, vọng tưởng cho tâm nếu tâm thiếu một trí phân biệt sáng suốt. Thí dụ, chúng ta đã nhận qúa nhiều tin tức từ các máy truyền hình, nó đã khích cho chúng ta trở nên hăng say, háo hức. Đôi khi nó hấp dẫn đến độ chúng ta phải đi ngay, phải vội vã kẻo hết! Vậy, tất cả những tin nào khích động chúng ta thêm hào hứng, thêm hăng say, chúng ta càng nên tránh, càng phải đề phòng.          

 

Yếu tố làm tăng thêm sức mạnh cho huyễn ảo chính là các thói quen của chúng ta. Thói quen được tạo ra như thế này: trong một lúc nào đó chúng ta có được một kinh nghiệm với một vật hoặc một sự kiện, khi chúng ta gặp lại đối tượng giống như vậy, chúng ta lặp lại kinh nghiệm thứ nhất, rồi mỗi lần lặp đi lặp lại làm cho hành động này tăng thêm sức mạnh trong ký ức, in sâu hơn vào tiềm thức, cho tới một ngày chúng trở nên mạnh đến độ có thể ảnh hưởng đến tất cả những suy nghĩ và những tưởng tượng của chúng ta. Thói quen xây đắp những thành trì vững chắc đến nỗi khi một hiện tượng xẩy ra gần giống như vậy là tâm của chúng ta liền tự động chạy theo ảo tưởng. Có những người trở nên rất mẫn cảm, u mê và say đắm  những loại ảo vọng này đến nỗi họ không lúc nào quên được. Tại sao nó lại xẩy ra như vậy? Tại vì kinh nghiệm đã được lặp đi lặp lại rất nhiều lần làm cho dấu ấn trong tiềm thức càng ngày càng dầy thêm, đậm thêm. Tâm chìm sâu trong sự tích trữ kinh nghiệm, bồi bổ thêm cho ảo tưởng. Họ không thể ngủ nếu thiếu những ảo ảnh này xuất hiện trong những giấc mơ của họ. Tôi tin chắc rằng tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm về những hiện tượng này. Nếu những thói quen được lặp lại thường xuyên và khi những dấu ấn đã đủ mạnh là chúng ta sẽ trở nên gắt gỏng nóng giận ngay.

 

Đôi khi đối tượng huyễn ảo còn tự nó in sâu vào trí tưởng tượng của chúng ta. Thí dụ, bên Tây phương, khi người ta đã trở thành bạn trai bạn gái với nhau, người ta thề thốt, ” Xin đừng quên anh/em! Hãy nhớ anh/em luôn nghe. Nếu anh/em quên em/anh, có nghĩa là anh/em không còn yêu em/anh nữa.” Đó là lý do tại sao chúng ta không có tự do. Chúng ta có thể thấy rất rõ chúng ta không có tự do, bởi vì chúng ta đã bị sở hữu bởi đối tượng.

 

Yếu tố thứ sáu là những ý niệm, chúng ta đã có sẵn những ý niệm trong tâm khảm, chúng đã rất hấp dẫn trước khi đối tượng xuất hiện. Khi nhớ về một vấn đề gì, chúng ta đã có sẵn một phán đoán về nó: “ Cái này tốt lắm! Nó thật là tuyệt! Nó tốt như thế này, nó hoàn hảo như thế kia, nó thế này nó thế kia....” Chúng ta ca tụng giá trị của nó qúa đáng so với giá trị thực của nó. Đó chính là sản phẩm của một ý niệm sai lầm.

 

Thí dụ, khi chị có bạn trai là chị đã bị lệ thuộc. Chị sẽ thấy dáng đi của anh ta hấp dẫn, thân hình của anh ta tuyệt đẹp. Cái gì từ anh ta cũng đáng ca ngợi, ngay cả khi anh ta làm cái gì xấu thì cái đó cũng là nguồn hạnh phúc của chị. Vì chị chỉ chú trọng đến sự hấp dẫn của anh ta nên những hình ảnh tiêu cực về anh ta đều bị loại bỏ.

 

Tâm của chị sẽ làm việc như vậy cho đến một ngày nào đó người bạn trai này nói xấu chị, không làm chị thỏa mãn,  chị mới bắt đầu đổi thái độ. Lúc đó chị sẽ nghĩ, “Anh ta chẳng tốt chút nào.” Rồi tâm của chị chỉ chú ý vào ý tưởng này “Không tốt, không tốt, thằng đểu....” tất cả những gì tốt ở anh ta bắt đầu xuất hiện ngược lại; anh ta không còn có gì hấp dẫn chị nữa. Chúng ta thấy hiện tượng này rất rõ, phải vậy không qúy vị? Tâm vọng tưởng của chúng ta làm việc không thể tưởng tượng nổi. Trước tiên, một đối tượng xuất hiện một cách hoàn toàn tích cực (tốt) rồi nó chuyển thành tiêu cực (xấu). Nhưng tôi nghĩ rằng không có một cái gì, không có một chúng sinh nào hoàn toàn tích cực cũng như hoàn toàn tiêu cực cả. Tất cả mọi sự đều có tốt có xấu. Chỉ có cái tâm chấp hữu mới nhìn sự vật hoặc trắng hoặc đen, chỉ có cái tâm bám víu mới nhìn sự vật hoặc xấu hoặc tốt. Tây phương có câu châm ngôn: “ Anh chỉ nghe cái gì anh muốn nghe.” Câu này diễn tả rất đúng trạng thái của tâm, câu này chính là ngôn từ của Đạo Pháp. Nó diễn tả thật sát nghĩa những gì mà chúng ta đang hội thảo.

 

Chỉ nhìn cái gì nó muốn, rồi, luôn luôn diễn dịch sai sự thật. Cái lối nhìn một chiều về sự kiện của nó làm chúng ta mất trí phán đoán. Đồng thời chúng ta cũng nhìn nó như là tự nó xuất hiện, tự nó có mặt ở đây (quên mất yếu tố duyên khởi, cái này có thì cái kia có, cái này diệt thì cái kia diệt -- Dg)  Chúng ta cho rằng tự nó đến với chúng ta và nó luôn luôn như vậy, không bao giờ thay đổi. Chúng ta đã qúa sai lầm khi nhìn sự vật theo kiểu này và đây chính là lối nhìn của tâm vọng tưởng mà ra. Thay vì nhìn như thế, chúng ta hãy nhìn sự vật, nhìn sự kiện, nhìn hiện tượng như nó là, chúng xuất hiện như vậy, thế thôi, chứ không phải xuất hiện theo ý kiến riêng của chúng ta. Thực sự chúng ta đã không biết cái gì đã xẩy ra. Hãy chỉ nhìn sự vật như nó là. Tâm vọng tưởng nhìn sự vật một cách bao giàn hơn là nhìn “nó là như vậy”. Sự vật vô thường thì vọng tâm lại cho là thường hằng, sự kiện luôn biến đổi lại được nhìn như không bao giờ thay đổi. Những hiện tượng gây khổ đau lại luôn được chấp nhận đem lại hạnh phúc. Chúng ta luôn luôn nhìn sự vật một cách sai sự thật, chúng tự có và tự xuất hiện.

 

Lạt ma Je Tsongkhapa cho chúng ta biết tiến trình bám víu vào sự kiện, chấp vào sự vật như vậy sẽ làm chúng ta đi xa thực tế, đi xa sự thật. Nó hoàn toàn không có liên hệ gì đến hiện tính của sự vật. Chúng ta chấp vào sự vật, chúng ta nhận thức sự vật, rồi chúng ta tin tưởng rằng chúng phải xuất hiện theo một cách nào đó mà chúng ta muốn nhưng kết qủa là ảo tưởng của chúng ta lớn dần. Tâm vọng tưởng của chúng ta càng ngày càng trở nên dầy hơn, mạnh hơn. Nhận xét này đưa chúng ta trở về một quan niệm mà chúng ta đã nói đến trước kia: bất cứ cái gì xuất hiện --tốt xấu, thiên đàng địa ngục, luân hồi niết bàn...-- cũng đều là sản phẩm của tâm, đều là sự thị hiện của tâm. Khi tâm bị bao phủ bởi u mê, bởi vô minh thì tự nhiên nó sẽ đưa đến đau khổ. Vì thế, để thoát khỏi khổ đau, điều vô cùng quan trọng là phải hiểu thấu đáo cả hai đăïc tính tự nhiên của vọng tâm và những yếu tố phát sinh ra nó cũng như sự tăng trưởng của u mê mù quáng. Hãy đặc biệt quan tâm và thực hành thiền định trên sáu động lực này. Nó thật sự có gía trị. Sự hiểu biết của chúng ta chính là sức mạnh làm cho tâm trở nên ngay thẳng. Nếu không như vậy thì không còn một cách nào khác hơn có thể giúp chúng ta thoát khỏi những ảo vọng và mê lầm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  5.   TÌM HIỂU ĐAU KHỔ VÀ KIỂM SOÁT TÂM

 

 

            Mục đích của những bài giảng về Đạo Pháp là để giúp chúng ta nhận ra được những điểm sai lầm trong từng hành vi, trong từng hành động của chúng ta và tìm cách giải quyết những vấn đề trong cuộc sống. Đó là lý do quý vị đến đây để nghe và cũng là lý do tôi đến đây để nói. Nhưng Đạo Pháp chỉ thực sự có gía trị khi người thầy chính là một thí dụ sống động cho những gì ông ta giảng dậy. Đáng tiếc thay tôi không đáng được qúy vị tôn kính như vậy. Tôi không biết gì về Đạo Pháp vì tôi cũng ăn, uống, bài tiết và ngủ như qúy vị. Nhưng tôi được may mắn học hỏi từ những vị đã ngộ đạo nên tôi chỉ xin tường trình với qúy vị những gì tôi đã học hỏi được. Vì thế những bài giảng này có giúp ích cho qúy vị hay không lại do những nguyên nhân khác.

 

Hiểu được mục đích của Đạo Pháp là một điều vô cùng quan trọng. Tại sao chúng ta thiền, tại sao chúng ta theo con đường tâm linh, tại sao chúng ta lại muốn sống một đời sống đạo? Chỉ vì chúng ta mong muốn một cái gì khác với những sinh hoạt thường ngày. Nếu không vì mục đích đó, chúng ta không cần phải tham dự những buổi diễn giảng này.

 

Tất cả những tôn giáo, triết học, hệ thống đạo đức...vân vân... trên thế giới đều có những tên khác nhau và hoàn toàn  có những phương pháp giảng dậy khác nhau. Nhưng dù khác nhau chúng đều có chung một nguyên lý, một mục đích. Nếu tất cả những hệ thống tư tưởng này có giá trị, thì nó phải quan tâm, nó phải làm dịu đi những đau khổ tinh thần và vật chất của muôn loài chúng sinh. Nó phải cung cấp những giải pháp thâm sâu hữu hiệu để xoá tan đi những nỗi thống khổ của nhân loại. Bởi vì tất cả những phương pháp hiện có chỉ chú trọng đến sự giải quyết bên ngoài, chúng đã cho chúng ta biết không có một chút hiệu qủa nào.        

 

Từ khi có sự sống xuất hiện trên qủa đất này, tất cả những tư tưởng lớn của cá nhân hay của đoàn thể đã nỗ lực không ngừng để cải tiến những điều kiện sinh sống của chúng ta. Ngay hiện tại, ở mỗi quốc gia trên thế giới đều có rất nhiều hoạt động của các tổ chức nhắm vào việc cải tiến nhân sinh. Mặc dù rất nhiều người trong xã hội đã nắm vững mục đích và đã cố gắng hoạt động không ngừng, nhưng thế giới vẫn chưa tiến gần đến hoà bình và hầu như con người chưa bao giờ được hưởng một nền hoà bình chân thật. Ngược lại, có nhiều triệu chứng cho biết chúng ta đang bị thoái hoá. Tại sao sự tin tưởng vào những tiến bộ khoa học vật chất lại không được thoả mãn, lại không mang lại nền hòa bình vĩnh cửu?

 

Nguyên nhân chính yếu là chúng ta cứ nghĩ rằng những vấn đề, những khó khăn đều ở bên ngoài, chúng đang hiện diện đâu đó ngoài kia chứ không phải trong tâm của chúng ta, chúng không có liên quan gì đến tâm của chúng ta. Do đó, chúng ta nghĩ sự giải quyết mà chúng ta có thể tìm được cũng đang ở bên ngoài kia. Mặc dầu tất cả những sự giải quyết này có thể tạm thời hóa giải được một phần nào, nhưng những khó khăn rắc rối lại xuất hiện, lại xuất hiện, lại tiếp diễn. Vì thế, những cố gắng của chúng ta coi như có đem lại thay đổi nhưng thực ra nó không có một chút tác dụng sâu xa nào vào tận gốc rễ của vấn đề, nó đã không có khả năng nhổ đi tận gốc rễ của vấn đề.

 

Rất nhiều người có thành tâm thiện chí muốn cải tiến toàn thể tình trạng nhưng thực ra lại làm cho vấn đề càng ngày càng thêm mạnh, càng ngày càng thêm u tối, càng thêm phức tạp. Thí dụ như việc phát triển nguyên tử năng. Mặc dầu ngay từ lúc khởi đầu, các nhà bác học và các kỹ sư nguyên tử lực đều can đảm nhận lãnh trách nhiệm của họ trong sự phát minh và trong sự ứng dụng nguyên tử, nhưng sự phát triển này đã gây ra rất nhiều tử vong, đã đem lại nhiều kết qủa nguy hiểm cho thiên nhiên, cho môi sinh và cho sự bảo trì nền hòa bình của nhân loại mà họ và chúng ta không thể tiên đoán được.          

 

Tại sao niềm mơ ước hòa bình cho toàn thế giới không thể thực hiện được? Tại sao chúng ta cứ mãi bị tước đoạt đi công việc tìm kiếm chấm dứt khổ đau và những lỗi lầm? Thực ra chúng ta không thiếu lòng thành tín và không thiếu những tư tưởng mưu tìm sự hòa đồng giữa con người. Có thể chúng ta đã cố tình không hiểu hoặc không quyết tâm thi hành, bởi vì chúng ta đã không cố gắng đủ trong việc kiếm tìm lợi ích cho chính mình hoặc cho những người khác nên đã chẳng có một dấu hiệu tinh tiến nào. Điều vô cùng thiếu sót trong kế hoặch tìm cầu hạnh phúc cho nhân loại trong đời sống hàng ngày là không có một phương pháp thực sự hữu hiệu để đem lại kết qủa cho mục đích của chúng ta. Một phương pháp thực sự mang lại kết qủa nếu nó cắt đứt được toàn diện gốc rễ của những vấn đề của chúng ta. Phương pháp tối cần thiết là phải tiêu hủy tận bên trong chứ không phải bên ngoài.

 

Tại sao một phương pháp hữu hiệu lại phải ở bên trong chứ không phải ở bên ngoài? Tại vì sự đau khổ mà chúng ta muốn loại bỏ nó không chỉ ở bên ngoài mà thôi. Nếu chúng ta nghĩ rằng tất cả những rắc rối của chúng ta chỉ ở bên ngoài, vậy chúng ta hãy thử loại bỏ, hãy thử thay đổi hoặc hãy làm bất cứ cách nào xem sao. Tuy nhiên, kết qủa đã cho thấy thực là nhỏ bé so với vấn đề, so với những khổ đau; bởi vì gốc rễ của khổ đau không ở bên ngoài mà chúng hiện đang nằm sâu trong tận tâm khảm của mỗi người chúng ta.

 

Mặc dầu chúng có thể xuất hiện với những đối tượng bên ngoài -- qua người, qua sự vật hoặc qua hoàn cảnh mà chúng ta gặp trong cuộc sống -- nhưng chúng không phải là những nguyên nhân chính yếu của bất mãn hay khổ đau của chúng ta. Thí dụ, có một số người đi du lịch họ rất thích những nơi mà họ đã chọn cho những kỳ nghỉ hè. Nhưng với một số người khác tuy cùng một trình độ, một giai cấp mà họ đã không hài lòng chút nào với những nơi trên. Kinh nghiệm không hài lòng này, sự bất mãn này đã nằm sẵn trong đầu họ nên họ không thể hoàn toàn đổ cho những hoàn cảnh ở bên ngoài. Nếu thực sự chỗ đó không tốt, không đẹp, không hấp dẫn thì chẳng ai muốn tới đó để nghỉ hè. Cũng giống như vậy, thức ăn hàng ngày trong gia đình, có người thích có người lại không hề chạm đũa vào. Tại sao lại có tình trạng này, cùng một món ăn mà người thích, người ghét?

 

Một thí dụ khác về sự liên hệ giữa người với người, nếu là người chúng ta thích, chúng ta sẽ coi anh ta/chị ta là một người rất tốt, rất dễ thương. Bất cứ khi nào gặp họ, chúng ta cũng cảm thấy thoải mái trong tâm của chúng ta. Nhưng chính người dễ thương này lại gây nhiều bất mãn, khó chịu cho một số người khác khi họ xuất hiện. Có thể anh ta/chị ta lại là một người rất đáng ghét. Vì thế, một người có thể rất hấp dẫn với chúng ta nhưng lại là người đáng ghét cho người khác.

 

Không cần phải so sánh cảm tình của chúng ta với những kinh nghiệm của người khác chúng ta mới nhìn ra được sự khác biệt như thế nào trong phản ứng này. Hãy nhìn ngay vào phản ứng của chính chúng ta đối với những người khác trong qúa khứ. Lúc đầu anh ta là người xa lạ với chúng ta, rồi có thể chúng ta đã hoàn toàn quên anh ta. Nhưng rồi một thời gian sau anh ta lại trở nên một người bạn thân của chúng ta. Sau một thời gian quen biết chúng ta nhận thấy anh ta là một người rất tốt và khó có thể quên được anh ta, anh đã là một tri kỷ. Không còn nghi ngờ gì nữa, anh ta thật tốt, thật dễ thương, thật đạo đức. Chúng ta hoàn toàn tin tưởng sự kiện này bởi vì chất keo gắn liền chúng ta và anh ấy đã qúa chặt.

 

Nhưng rồi hoàn cảnh đã thay đổi với thời gian. Có thể anh ta đã nói một câu nào đó làm chúng ta không bằng lòng hoặc có một cử chỉ hành vi nào đó của anh ta làm chúng ta bất mãn. Rồi không cần biết vì lý do gì --dù là một lý do rất tầm thường -- chúng ta cho rằng anh ta đã hoàn toàn thay đổi, anh ta đã trở mặt. Giọng nói của anh ta không còn đúng điệu, thái độ của anh ta có vẻ hung hăng, ngay cả bộ mặt của anh ta sao dữ tợn qúa. Anh ta đã thay đổi hoàn toàn, không còn một chút gì của con người ngày xưa nữa, rồi bao nhiêu gắn bó của chúng ta dành cho anh ta trước kia bây giờ trở thành hận thù. Khi chúng ta bắt đầu ghét anh ta là sân hận và những ý nghĩ xấu ở trong tâm của chúng ta về anh ấy cũng bắt đầu được hình thành và lớn mạnh. Kết qủa là chúng ta sẽ cảm thấy rất khó chịu, rất bực mình mỗi khi gặp anh ta.

 

Như vậy, rất dễ nhận diện được những đau khổ của chúng ta, không cần đến những thay đổi ở bên ngoài, không cần đến sự thay đổi của đối tượng, bởi vì chính thái độ ở bên trong của chúng ta đã thay đổi. Vì những trạng thái khác biệt của tâm thức nên chúng ta nhìn sự vật cũng khác biệt như vậy, mặc dù vẫn cùng một đối tượng. Nói rộng hơn, tất cả đời sống của chúng ta đã chất đầy những kinh nghiệm như thái độ vừa trình bày ở trên.

 

Những sự thay đổi này xẩy ra rất thường và rất nhanh. Có khi ngay trong lúc chúng ta đang tức giận một người thì hình ảnh tốt đẹp của họ trong qúa khứ hiện ra trong tâm của chúng ta. Chúng ta sực nhớ họ đã giúp chúng ta trong qúa khứ, họ đã đối xử rất tốt với chúng ta. Trong khoảng kháéc ngắn ngủi đó của trí nhớ, có thể chúng ta không còn tức giạân họ nữa mà coi họ như một người bạn rất thân. Kinh nghiệm này --thường có ở chúng ta-- cho chúng ta biết rằng chúng ta nên thận trọng chẳng những với những thay đổi thường xuyên trong tâm của chúng ta mà chúng ta còn phải biết kiểm soát những tiến trình thay đổi này để mang lại hạnh phúc hơn cho cuộc đời của chúng ta.

 

Nếu chúng ta thường tỉnh thức về những gì xẩy ra trong tâm của chúng ta, chúng ta sẽ có khả năng chuyển hoá tất cả những tư tưởng tiêu cực, những ý nghĩ xấu của chúng ta trước khi nó gây ra phiền phức hoặc đau khổ cho chúng ta. Thật ra có rất nhiều cách để nghĩ  tốt cho người khác thay vì nghĩ xấu cho họ. Nếu chúng ta đã biết phát triển những kỷ luật tâm linh cần thiết và thực sự biết tỉnh thức trên tất cả những gì xẩy ra trong tâm thì không có một lý do nào có thể ngăn cản công việc phát huy những tư tưởng này để mang lại hạnh phúc cho chính mình và cho những người khác. Có thể cả thế giới sẽ chống lại chúng ta, nhưng nếu khả năng kiểm soát tâm của chúng ta được phát triển đúng mức và tốt đẹp, chúng ta vẫn có thể coi mọi người đều là bạn thay vì chống lại họ, ghét họ hoặc sợ họ.

 

Nếu chúng ta thực sự kiểm soát được tâm của mình, thử tưởng tượng một nền hòa bình vĩ đại trên thế giới sẽ xẩy ra! Sẽ không còn nghi ngờ gì cả và cũng chẳng còn bất cứ vấn đề gì cho chính chúng ta và cho người khác nữa. Kinh nghiệm thâm sâu về cuộc đời chính là kết qủa của sự thực hành Đạo Pháp. Nó có thể xảy ra cho bất cứ ai biết quay vào con đường tâm linh ở bên trong mà tìm hiểu chính mình.

 

Giải quyết những vấn đề bằng sự kiểm soát tâm chẳng những mang lại nhiều kết qủa khi đối diện với những sự khó khăn mà nó còn là phương pháp dễ dàng nhất, ít nguy hiểm nhất. Qua phương pháp này chúng ta có được sự bình an thật trong tâm của chúng ta mà không làm tổn thương bất cứ ai. Qua phương pháp này chẳng những chúng ta hạnh phúc mà còn mang hạnh phúc đến cho những người khác nữa. Ngược lại, nếu chúng ta cho rằng nguồn gốc của những vấn đề ở bên ngoài kia thì chúng ta phải tiêu diệt tất cả những ai là kẻ thù của chúng ta, lúc đó chúng ta mới cảm thấy an tâm. Nhưng dù chúng ta có dùng phương pháp này mà đối diện với những vấn đề, với những khó khăn rắc rối thì cái tâm bấn loạn cũng vẫn có đó. Vì thế nếu không có một phương pháp nội tại nào để tẩy sạch những vấn đề lầm lẫn này thì chúng ta cũng vẫn còn đau khổ cho dù không còn kẻ thù.

 

Như vậy, để đạt được những kết qủa tốt khi đối diện với những vấn đề, công việc đầu tiên của chúng ta là phải khám phá ra được và phải nhận định ra được những yếu tố tinh thần hiện đang ở trong chúng ta, đây mới là nguyên nhân sâu xa của tất cả đau khổ. Phương pháp của chúng ta cũng giống như phương pháp của một vị bác sĩ chữa bệnh cho bệnh nhân. Nếu ông ta không hiểu nguyên nhân của căn bệnh thì ông không thể chữa lành bệnh được. Do đó việc làm đầu tiên của ông ta là phải chẩn bệnh, phải tìm hiểu rõ ràng căn bệnh của bệnh nhân, sau đó ông mới có thể cho những viên thuốc thích hợp để trị. Cũng giống y như vậy, nếu chúng ta muốn giải quyết những vấn đề của chúng ta theo phương pháp tinh thần nội tâm, trước tiên chúng ta phải hiểu thấu đáo, phải có một hình ảnh trong sáng rõ rệt về cái gì đang làm chúng ta khổ. Nếu không như vậy chúng ta sẽ bị đè bẹp, sẽ bị áp đảo, sẽ bị che dấu bởi chính cái bản tính nhẹ nhàng vuốt ve thương thân trách phận của chúng ta, chúng ta phải trực tiếp đối diện với những vấn đề của chúng ta. Chỉ như vậy chúng ta mới có thể thanh tẩy trọn vẹn từng vấn đề một trong toàn thể.

 

Chúng ta hãy bắt đầu tìm hiểu sơ qua về những hình ảnh đau khổ qua những kinh nghiệm về bào thai và trẻ sơ sinh. Chúng ta thường không nghĩ về những khổ đau xẩy ra cho bào thai trong sự sinh nở, đây là một sự thật. Bởi vì tâm của người mẹ và thai nhi không giống nhau, người mẹ cũng không hoàn toàn cảm thông được cái tinh thần của thai nhi đang ở trong tử cung của bà ta. Cái bào thai đó hiện đang ở trong một hoàn cảnh tinh thần và thể chất không được thoải mái.

 

Đứa trẻ cảm thấy bị gò bó trong một khung cảnh chật hẹp, mất hết tự do. Một cái di chuyển nhẹ của bà mẹ cũng gây biết bao phiền toái khó chịu, không kể đến đồ ăn khi qúa nóng khi qúa lạnh hoặc qúa cay; bên cạnh những mùi ô uế của đồ phế thải của bà và những biến chuyển không tiên đoán trước được trong hệ thống tiêu hóa của bà ta.

 

Những khổ đau này hầu như không được chúng ta để ý đến, quan tâm đến, nhưng những đau đớn của bà mẹ trong lúc sinh đẻ lại dễ dàng được chú ý hơn. Khi đến thời kỳ sinh nở, thai nhi bị thúc đẩy, bị dồn ép hơn bất cứ sự kiện nào mà nó đã kinh nghiệm. Nó được di chuyển dần dần ra âm đạo, nó cảm thấy đau đớn như bị ghiền giữa hai cục đá. Sự đau đớn này chỉ có thể chấm dứt khi nó đã hoàn toàn lọt khỏi lòng mẹ. Da của nó qúa mềm mỏng đến nỗi không khí ấm cúng của phòng sinh cũng làm nó cảm thấy giá lạnh cắt da. Đứa bé được cuốn trong những tấm khăn mềm mại nhất nhưng nó cũng tưởng chừng như đang bị trăm ngàn mũi gai nhọn đâm thấu thịt da. Thêm vào những cái đau của thể xác, đứa bé nhìn thấy những linh ảnh được tạo ra giống như những hình ảnh đã được nhìn thấy trong lúc chết. Vì thế khi chúng ta nhìn thấy đứa bé vừa mới chào đời chúng đã khóc thét lên, tiếng khóc này không phải là không có lý do.

 

Hầu như tất cả chúng ta đã không nhớ được kinh nghiệm trong lúc chào đời. Điều này không có nghĩa là chúng ta đã được thoải mái trong bụng mẹ và thảnh thơi khi sinh ra. Chúng ta đã quên tất cả những kinh nghiệm này cũng như chúng ta đã quên hoặc không có ý thức trên rất nhiều sự kiện đã xẩy ra trong đời. Tâm vô minh của chúng ta đã tạo ra biết bao ô nhiễm cho cả bên trong tâm lẫn bên ngoài thân xác, vì thế những cảm nhận của chúng ta về chân lý đã bị những đám mây dầy đặc che dấu. Mỗi khi chúng ta trực nhận ra được những sự kiện không vừa ý, ngay cả những cái vụt thoáng qua trong đầu, chúng ta không nên ngạc nhiên vì chúng toàn là những kinh nghiệm trước kia của chúng ta.

 

Ngay khi vừa sinh ra là những đau khổ trong tiền kiếp bắt đầu được khơi dậy. Thân xác của chúng ta trải qua hết khó chịu này đến khó chịu khác như những bệnh tật trong thời thơ ấu và những chuỗi dài phiền não trong cuộc đời tiếp tục kéo đến. Chúng ta không cần phải chống cự lại sự nhiễm trùng chúng ta mới có kinh nghiệm đau đớn của bệnh tật. Chỉ lo lắng và sợ hãi bị bệnh thôi cũng đủ làm chúng ta thực sự đau khổ.

 

Nếu chúng ta có thể sống đến gìa để kinh nghiệm được những khổ đau của tuổi gìa thì tất cả những kinh nghiệm, những sự đổi thay của cuộc đời mà chúng ta đã trải qua sẽ làm chúng ta tăng thêm phiền muộn. Sức khoẻ của chúng ta, thị giác của chúng ta, thính giác của chúng ta sẽ mất dần, tất cả những sinh hoạt của chúng ta thời trẻ sẽ không bao giờ có được nữa. Thể xác của chúng ta sẽ không còn cử động như ý muốn, ngay cả tinh thần của chúng ta cũng chẳng còn tinh tường, tất cả sẽ trở nên vô dụng.

 

Tất cả những kinh nghiệm về khổ đau trong cuộc đời chỉ làm cho chúng ta thêm khổ đau vào lúc chết. Tất cả mọi người chúng ta ai cũng sợ chết. Khi tử thần đến, sự sợ hãi càng trở nên vĩ đại hơn, thực hơn. Mặc dù chúng ta không muốn rời khỏi thân xác của chúng ta, của cải của chúng ta, những người thân yêu của chúng ta, nhưng một điều vô cùng thật và rất rõ ràng là chúng ta phải từ gĩa tất cả những thứ thân yêu này. Hơn nữa, chúng ta chẳng biết sự việc gì sẽ xẩy ra cho chúng ta, tâm thức của chúng ta sẽ đi về đâu, chính sự vô minh này sẽ đẩy chúng ta vào một tình trạng trầm thống bối rối hơn nữa.

 

Giường chết đang được bao quanh bởi những bác sĩ giỏi, bởi những người thân, nhưng chúng ta chẳng nói được gì với họ. Khi mà giờ chia tay giữa thân xác và linh hồn đến, sẽ chẳng có bất cứ một cái gì, một người nào có thể giúp chúng ta được. Chúng ta phải ra đi, chúng ta chết --tuyệt đối không còn một sự chọn lựa nào. Đã qua bao nhiêu năm trong cuộc đời, chúng ta o bế, chúng ta nâng niu, chúng ta săn sóc cho cái thân xác này, nhưng giờ đây, trong giờ phút khủng khiếp này, dù còn một chút sức lực nào đi nữa cũng chẳng níu kéo sự sống được thêm một phút một giây. Chúng ta không còn một chút khả năng nào để kiểm soát cái gì đang từ từ đến với chúng ta, chỉ có sự khổ đau đang tràn ngập như chưa bao giờ thấy. Chúng ta sẽ đi vào một nơi mà chúng ta chưa hề biết đến với một tâm trạng chỉ có sợ hãi và lo lắng.

 

Tất cả chúng ta ở đây đã có kinh nghiệm khi đi vào cuộc đời này, sống trong cuộc đời này và cũng đang kinh nghiệm về cái già đang từ từ đến, nhưng kinh nghiệm về sự chết thì chưa có. Nó đang chờ chúng ta, sự đau đớn trong giờ của tử thần đang đợi chúng ta. Như vậy, cuộc đời của chúng ta sẽ qua đi, nó sẽ chấm dứt như nó đã bắt đầu --- trong khổ đau !

 

Thêm vào những nỗi khổ trong lúc sinh ra, bệnh tật, già yếu, chết, chúng ta còn rất nhiều những cái khổ khác nữa, cuộc đời tràn đầy bất mãn. Thí dụ, chúng ta luôn luôn cố gắng, càng nhiều càng tốt, đạt cho được những điều ước muốn, chúng có thể là những món ăn khoái miệng, quần áo đẹp đẽ, người tình hấp dẫn...vân vân... Chúng ta luôn luôn tìm sự khoan khoái trong đối tượng nhưng chẳng bao giờ chúng ta nhìn ra được đau khổ đang nằm sâu trong đó. Chúng ta ham muốn chúng nhưng rồi chúng ta lại thất vọng về chúng. Sự đau khổ vì bất mãn là một trong những đau khổ tàn hại nhất bởi vì nó liên tục hướng dẫn chúng ta bám víu hết đối tượng này đến đối tượng khác, sự thèm khát xẩy ra liên tục không ngừng nghỉ. Nó thúc đẩy chúng ta trong suốt cả cuộc đời, nó không còn dành cho chúng ta một khoảng trống nào để nghĩ đến con đường tâm linh, thiền định, thực hành Đạo pháp hầu giúp chúng ta thoát khỏi những đau khổ trong đời.

 

Chẳng những chúng ta không tìm được bất cứ gì chúng ta mong muốn mà chúng ta cũng chẳng chạy thoát được những gì chúng ta không mong muốn. Từ tinh thần đến thể xác, chúng ta toàn gặp những kẻ thù, hoàn cảnh ngang trái, bất mãn triền miên, thức ăn không hợp khẩu vị....Những đau khổ này đem đến cho chúng ta hết lầm lẫn này đến những sai lạc khác trong cuộc đời.

 

Sự không được hài lòng và những bất mãn trong cuộc đời sẽ ngăn cản chúng ta đến với bất cứ một loại an bình nào. Không cần biết chúng ta đã có những gì, không cần biết chúng ta đã sở hữu những tài sản nào, lòng ham muốn của chúng ta vẫn tiếp tục. Chúng ta làm việc và đặt kế hoạch, chúng ta bày mưu đặt kế để chiếm thêm, chiếm thêm, làm như chúng ta sẽ sống cho đến muôn đời hoặc ít ra cũng thêm vài thế kỷ. Hãy nhìn cho kỹ, tất cả những gì chúng ta đang lo lắng để chiếm đoạt, toàn là cho cái thân xác này ! Tất cả những gì chúng ta đang cố gắng học hỏi trong cuộc đời chỉ để đủ điều kiện đi xin việc làm. Đủ điều kiện để có thêm một chút tiền. Chúng ta không thể hy vọng để sống thêm 50, 60 hay 70 năm nữa, bằng đó năm cũng chỉ để cho bằng đó hoạt động. Mục đích gì đây?

 

Chúng ta đã dùng năng lực của đời ta cho nhiều thứ. Chúng ta lo lắng cho thân xác khỏi bị đói khát, lạnh lẽo, bệnh tật, an toàn và, cuối cùng, chết. Cả đời đã phải tranh đấu để khỏi bị nguy hiểm, cả đời đã phải hy sinh rất nhiều thứ để nô lệ cho những mục đích này. Có thể chúng ta đã tự lừa dối chính mình, nhưng trong tận sâu thẳm của nội tâm chúng ta nó có thể nhìn thấy tất cả những hoạt động này toàn mang lại khổ đau.

 

Mặc dầu chúng ta đã làm việc rất nhiều năm để có được sự an toàn, nhưng hoàn cảnh chỉ thay đổi một chút thôi chúng ta cũng bị đau ốm, bị bệnh tật hoặc gặp phải những sự không may. Để được an toàn thì thật là khó mà khổ đau thì đến luôn luôn. Ngay cả những điều may mắn xẩy ra trong đời, tưởng rằng sự may mắn này giúp chúng ta thăng tiến cuộc đời nhưng có ngờ đâu nó lại là nguyên nhân mang lại nhiều đau khổ. Thí dụ, tưởng rằng để dành tiền đi nghỉ hè vui chơi, nào ngờ tai nạn khủng khiếp đã xẩy ra; chọn một nhà hàng sang trọng để ăn nào ngờ bị ngộ độc. Đau khổ đến không chọn lựa ai cả.

 

Nếu chúng ta ghi lại tất cả những đau khổ đã xẩy ra trong đời, cái danh sách đó chắc dài bất tận. Những gì được nói ra ở đây chỉ là tượng trưng. Tuy nhiên, tất cả mọi hình thức đau khổ đều có thể xếp vào một trong ba nhóm: đau khổ của đau khổ, đau khổ của sự thay đổi (hay thay thế) và đau khổ hiểu một cách rộng rãi. Chúng ta sẽ tìm hiểu sau đây.

 

Những kinh nghiệm đau buồn trong qúa khứ không còn diễn ra bây giờ nữa nhưng chúng vẫn làm chúng ta đau khổ. Không có gì là hài lòng với bệnh tật, lo lắng, đau đớn, sợ hãi hoặc những gì giống như vậy. Bất cứ sự kiện nào đã làm chúng ta không hạnh phúc, không vui vẻ đều được coi như là đau khổ của đau khổ.

 

Những sự kiện khác, như thức ăn ngon miệng, quần áo đẹp hoặc những cái giống như vậy, chúng ta có thể đo lường được sự vui thích, sự thoả mãn. Nhưng nếu tìm hiểu sâu xa hơn, chúng ta có thể nhận thấy rằng chính những cái thỏa mãn này cũng có thể đem lại đau khổ. Vì chúng chỉ cho chúng ta những thú vui tạm thời, trong một thời gian ngắn nào đó mà thôi. Chúng không có khả năng tồn tại lâu dài. Thí dụ như ăn một món ăn ngon miệng. Hầu như tất cả chúng ta đều cho rằng đây là hạnh phúc thật sự, không có một chút gì buồn khổ trong đó. Nhưng nếu thực sự nó là như vậy -- ăn thức ăn ngon là hạnh phúc thật-- thì càng ăn nhiều càng có thêm hạnh phúc mới phải. Ngược lại, nó không phải như vậy. Nếu chúng ta tiếp tục ăn sau khi đã no, thì sự khoan khoái đã nhanh chóng biến thành những cơn đau bụng. Chính vì lý do nó chỉ cho chúng ta những thoả mãn nhất thời, tạm bợ nên chúng ta gọi nó là đau khổ đến thay thế.

 

Nếu chúng ta ngồi lâu trong một tư thế, chúng ta sẽ cảm thấy mỏi mệt, chúng ta muốn đứng lên đi dạo một chút. Khi hành động như vậy chúng ta cảm thấy khoan khoái dễ chịu. Nhưng thực ra nó chẳng phải thật sự khoan khoái. Sở dĩ chúng ta cảm thấy như vậy vì sự mệt mỏi lúc ngồi đã biến mất khi chúng ta đứng lên. Và chúng ta tưởng rằng cảm nhận này là sự khoan khoái, nhưng cứ cho nó là như vậy đi, thì nó cũng chẳng được dài lâu. Khi chúng ta đã đi mệt thì cái mà chúng ta gọi là khoan khoái trước kia lại biến thành đau đớn. Như vậy, không cần biết chúng ta nghĩ, chúng ta cảm nhận như thế nào, chẳng có gì trong cuộc đời của chúng ta mang lại cho chúng ta sự khoan khoái thật, chẳng có gì mang lại cho chúng ta chân hạnh phúc. Mọi cảm nhận thoải mái chỉ là nhất thời, ngắn ngủi rồi mau chóng chuyển thành chán chường, mỏi mệt, đau buồn.

 

Về nhóm đau khổ thứ ba, rộng rãi bao la hơn, chúng nằm sâu trong hai thứ đau khổ vừa trình bày ở trên. Đó chính là đau khổ vì có một thân xác và có một cái tâm, chúng là chủ thể hấp dẫn cho đau khổ, giống như cục nam châm hút sắt; đã có thân xác và có tâm thì tất nhiên phải khổ, cũng như đã là nam châm thì phải hút sắt. Thí dụ, đau khổ vì bao tử là sự đau khổ tất nhiên phải xẩy ra của cái đau (đau khổ thuộc về tâm, cái đau thuộc về thân xác --Dg). Sự khỏi đau tạm thời hay sự thoải mái tạm thời mà chúng ta cảm nhận được sau khi dùng thuốc, rồi lại đau trở lại, là sự đau khổ đương nhiên phải xẩy ra của sự thay đổi (dùng thuốc). Thật ra bao tử của chúng ta phải phản ứng như thế vì nó sẽ và có thể lại trở nên đau, đây chính là cái đau tất nhiên của sự đau khổ rộng lớn, bao trùm.

 

Ngay cả thú vật cũng có thể nhận ra được cái đau như thế nào. Vì thế khi chúng ta nói sự thành đạt của con đường tu tập phần lớn tùy thuộc vào sự hiểu biết thấu đáo về đau khổ là không đúng, thực ra nó không phải như vậy, nó không có nghĩa như vậy. Cái ý nghĩa đích thực, bản tính thật của đau khổ chỉ được khám phá ra khi nào chúng ta trực nhận ra rằng tất cả những sự khoan khoái, tất cả những sự vừa lòng toại ý tạm thời chỉ là một hình thức khác của đau khổ, và hơn nữa sự sở hữu một cái thân bất tịnh, một cái tâm ô nhiễm là đã sở hữu sự bất mãn, là đã không thoải mái và đã là đau khổ. Chỉ khi nào chúng ta thấu hiểu, chỉ khi nào chúng ta xác nhận một cách vững chắc được hai nguyên nhân căn bản của đau khổ này --nhất là căn nguyên thứ hai, sở hữu một thân tâm bất tịnh -- thì lúc đó chúng ta mới mong, mới có thể vượt thắng được khổ đau, mới có thể kiểm soát được bất mãn.

 

Tất cả những sự khổ đau một cách tự nhiên, một cách tất nhiên này đều là do chúng ta có một thân xác và có một cái tâm. Cả thân và tâm bị ô nhiễm đều bắt nguồn từ những yếu tố nội tâm là ảo vọng và phiền não. Theo tâm lý học Phật giáo, có 84,000 loại tâm bệnh khác nhau. Chúng bắt nguồn từ 6 loại ảo vọng chính: tham lam, kiêu mạn, nóng giận, do dự ngờ vực, quan niệm sai lầm (bất chánh kiến) và vô minh.

 

Theo kinh điển, nguồn gốc của ảo vọng và bất chánh kiến là tin vào những điều sai lầm, không thật và không tin vào những điều chân thật. Không tin vào những điều chân thật như: từ chối những qui ước hiện hành của con người, những hiện tượng là căn nguyên của khổ đau, sự chấm dứt của chúng, sự liên tục nối tiếp hết đời này qua kiếp khác của chúng và không tin vào luật nhân quả.  

 

Năm nguyên nhân đầu của ảo vọng, tất cả những dục vọng và tất cả những khổ đau đều bắt nguồn từ không thấu hiểu đúng đắn về sự hiện hành của chúng. Vì thế vô minh được coi là căn bản, là “nguồn gốc của luân hồi”. Luân hồi là cảnh giới của khổ đau mà tất cả chúng sinh đã tự tạo ra cho chính mình. Đó là những chu kỳ không có lựa chọn mà phải sinh ra, chết đi và tái sinh lại trong khổ đau, ở trong đó tất cả chúng ta cần phải thanh tẩy tâm cho sạch hết ô nhiễm. Sân hận, tham lam, kiêu mạn và cố chấp là những ảo vọng cũng bắt nguồn từ vô minh. Đây là những hành vi, những thái độ xấu, chúng là những đám mây đen che khuất chân tâm như mây đen che khuất bầu trời trong sáng.

     

Tại sao chúng ta lại gọi nó là những thái độ xấu? Vì những thái độ này được tạo thành do ảnh hưởng của nghiệp lực và của ảo vọng, chúng đem chúng ta đến đau khổ. Bất cứ người nào hành động dưới một cái tâm như vậy đều kinh nghiệm được những đau khổ là do chính họ tạo ra. Đây chính là con đường của luân hồi, vòng khổ đau và vòng tái sinh được thành lập. Như vậy tất cả những hành động sản xuất ra những kết quả này và tất cả những ảo vọng tác động lên những hành động này đều được gọi là xấu, tiêu cực.

 

Nếu chúng ta thực sự muốn đạt chân hạnh phúc, sự bình an miên viễn, chấm dứt hoàn toàn mọi khổ đau, chúng ta phải thanh tẩy tâm chúng ta cho sạch hết tất cả những sự xấu xa, ô nhiễm này. Chỉ có cách này mới có thể thanh toán được những vấn đề, những rắc rối của chúng ta. Thí dụ, nếu chúng ta khó chịu vì bụi dơ bám vào vật gì đó thì chúng ta phải lau sạch, phải rửa sạch những lớp bụi này đi thay vì phá hủy hoặc đập vỡ vật đó đi. Sau khi đã rửa sạch, chúng ta mới thưởng thức nó một cách trọn vẹn. Một công viên tuyệt đẹp không thể luôn luôn có được. Một công trình xây cất không phải lúc nào cũng hấp dẫn tất cả mọi người. Chúng cần được bảo trì, tu sửa, trang hoàng và làm sạch luôn luôn thì mới hấp dẫn, mới lôi cuốn được du khách.

 

Hãy áp dụng giống như vậy cho tâm của chúng ta. Nếu những suy nghĩ tính toán của chúng ta gây đau khổ phiền phức cho chúng ta thì chúng ta phải chấm dứt suy nghĩ ngay. Tốt hơn chúng ta nên sử dụng những phương pháp nội tâm để thanh tẩy tất cả những xấu xa khởi phát ra từ vô minh của chúng ta. Nếu chúng ta làm được như vậy, chúng ta sẽ có sự an bình chân thật. Sự an bình này vượt xa những sự thoải mái, những sự dễ chịu bình thường, như đã trình bày ở trên, kiểu hạnh phúc bình thường này cũng chỉ là những hình thức vi tế của khổ đau mà thôi. Vì chấm dứt hoàn toàn những nguồn gốc của khổ đau nên chúng ta có được chân hạnh phúc. Khi gốc của đau khổ đã bị cắt đứt, thì đau khổ không thể trở lại. Lúc đó chúng ta sẽ kinh nghiệm được, sẽ chứng nghiệm được thế nào là hạnh phúc thật, thế nào là viên mãn, không gì có thể so sánh với nó.

 

Bây giờ chúng ta đã hiểu tại sao không có một con đường nào khác có thể giúp chúng ta đạt được chân hạnh phúc nếu chúng ta không thanh tẩy những vọng tâm của chúng ta. Cho tới khi nào tâm của chúng ta còn đắm chìm trong vô minh và dục vọng thì không có gì có thể mang lại cho chúng ta chân hạnh phúc, nhưng toàn là đau khổ. Bởi vì chúng ngăn cản sự kiểm soát của chúng ta và chúng áp chế tâm của chúng ta, như đã trình bày ở trên chúng chính là những sự đau khổ tất nhiên. Bất cứ gì hiện hành ở trong tâm thái này là tự nhiên bị đau khổ.

 

Thí dụ, giả thử có một cây độc mọc trong vườn của chúng ta. Nếu chúng ta không muốn nguy hiểm, dĩ nhiên chúng ta sẽ không chỉ cắt tỉa bớt lá, bớt cành của cái cây này. Một cách duy nhất để tẩy trừ tất cả những chất độc của nó phát ra từ thân, lá, cành, rễ... là đốn bỏ, đốt toàn thể cái cây này đi. Chúng ta đào cho thật sâu để phá hủy tất cả những chiếc rễ mà nó đã sản xuất ra chất độc. Chúng ta cũng nên dùng đường lối làm việc này cho tâm của chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi khổ đau và chặt đi tất cả những gì còn có thể sản xuất ra khổ đau. Nếu chúng ta không quyết tâm mạnh mẽ như vậy, thì những gì chúng ta áp dụng chỉ đem lại những niềm vui nhất thời, tạm bợ, rồi khổ đau lại ào ào kéo đến, trở lại. Nếu chúng ta muốn thoát khỏi sinh tử luân hồi, chúng ta phải chấm dứt tất cả những nguyên nhân gây ra đau khổ, đó chính là vô minh.

 

Ngược lại với vô minh là trí tuệ. Trí tuệ là sự thấu hiểu sâu xa tận gốc rễ sự vật, hiện tượng xuất hiện và chúng hiện diện như thế nào. Thường thường chúng ta rất mù mờ, không thực sự hiểu sự vật hiện hành như thế nào. Như tôi đã trình bày, chúng ta thường lầm tưởng rằng căn nguyên của đau khổ cũng là căn nguyên của hạnh phúc. Chúng ta đã không nhận diện được vô minh, ảo vọng và ngay cả những khổ đau riêng tư của chính chúng ta mỗi khi nó xuất hiện. Chúng ta đã đeo đuổi vô minh, đã phục tùng chúng như là những vị thầy hoặc những hướng đạo viên của chúng ta. Tâm trong trạng thái mê ảo thì luôn luôn tưởng tượng ra những ảo mê về thực tại, về chân lý, rồi trong sự mù quáng đó chúng ta mơ tưởng, chúng ta ước ao chúng chính là sự thật, chúng có thật (nhưng chúng chỉ là giả, vọng tưởng; dưới bóng mây đen thì cái gì cũng đen tối, đeo kính màu gì thì chỉ nhìn thấy sự vật màu đó, dưới bóng của vô minh, của mê ảo thì sự vật, hiện tượng cũng hiện hành là ảo, ngỡ là sự thật nhưng chính là mê ảo. Chỉ khi nào bỏ kính vọng tưởng ra thì mới thấy màu thật của sự vật –Dg)

 

Sự thiền định của chúng ta, về Đạo pháp, chỉ có thể có kết quả trong việc gỉai quyết những vấn đề, những rắc rối, nếu chúng ta đặt trọng tâm vào việc tẩy trừ vô minh. Con đường của một tôn giáo duy nhất phải có chính là con đường xóa bỏ tận gốc rễ của đau thương. Bộ mặt thật của vô minh mà chúng ta cần phải đối diện với và cần phải phá hủy tan tành tận gốc rễ của nó chính là “chấp ngã, chấp cái tôi, TÔI” hay “tâm-thức-tôi.” Nếu chúng ta tự chiêm nghiệm, tự quán xét nội tâm của chính chúng ta trong từng giây phút, chúng ta sẽ nhận ra một cách rất rõ rệt là chúng ta luôn luôn bị ảnh hưởng của tâm-thức-tôi này. Chính là nó, bởi vì chúng ta thiếu sự tỉnh thức của trí phân biệt nên chúng ta không nhận diện được toàn thể tâm của chúng ta đang bị ảnh hưởng bởi căn nguyên mê mờ ảo vọng này.

 

Tâm-thức-tôi có thể được giải thích như sau. Không cần biết chúng ta đang làm gì –như đang nghe thuyết giảng-- chúng ta có một cảm giác nào đó về ai hay cái gì mà chúng ta đang là, về cái “TÔI”. Rất mạnh mẽ, chúng ta tin chắc chắn rằng cái “TÔI” là một cái gì độc lập, tự hiện hữu, đứng tách biệt ra khỏi những cái khác. Chúng ta luôn luôn nghĩ rằng nó biệt lập với thân xác, với tâm hay với bất cứ cái gì khác. Cái “TÔI” này xuất hiện một cách vĩ đại, vững chắc và độc lập. Cảm giác này luôn luôn có ở chúng ta và chúng ta chấp, chúng ta bám vào ý niệm này một cách vô cùng mạnh, vô cùng chặt. Trong chiều hướng này, ý tưởng “Tôi là, Tôi...” trở nên rất quan trọng, hơn bất cứ một sự kiện nào khác. Đây chính là khuynh hướng chuyển cái “TÔI” thành một cái gì đó để thành hình vô minh rồi nhốt chúng ta vào đau khổ.

 

Chúng ta có thể nhận ra phản ứng của cái tôi rất dễ dàng mỗi khi chúng ta nghe những lời nói không lịch sự, lỗ mãng. Người ta nói chạm tự ái của chúng ta, nhừng lời chê bai, những lời chế diễu, những lời chọc tức...vân vân... khi nghe những lời này là ngay lập tức chúng ta nổi nóng, chúng ta tức giận, tính xấu của chúng ta tự nhiên phát khởi và chúng ta không còn tự chủ được nữa. Ngay lúc đó, cái “TÔI” của chúng ta trở nên mạnh mẽ và cao hơn cả dãy Hy Mã Lạp Sơn. Con mãnh thú “TÔI” dồn vào trái tim của chúng ta uất ức, tức bực, nó phừng phực, nó khó thở, nó nghẹn ngào để rồi bao nhiêu cái xấu xa trầm ẩn nổi ra cho hết, tất cả những sự kiện này sản xuất ra đau khổ. Trong trường hợp này, bất chánh kiến về chính chúng ta, cái nhìn vô minh về chính chúng ta càng độc lập, càng bảo thủ bao nhiêu thì rắc rối càng đến bấy nhiêu, càng mạnh bấy nhiêu.

 

Chúng ta cho là tất cả những gì chúng ta nhận được đều bị bóp méo. Khi nghĩ về chúng ta, chúng ta luôn luôn ở trong chiều hướng muốn bảo vệ cái tôi của mình, bám vào cái tâm-thức-tôi của chính mình. Đứng trên căn bản của quan niệm sai lầm này, chúng ta thực sự đã bám vào cái “TÔI” của chúng ta. Bởi vì chúng ta quan niệm thân xác “của tôi”, tâm “của tôi”, và tài sản “của tôi” là những thực thể độc lập, tự hiện hữu, có thật, chúng ta bám chặt vào chúng, từ đó rất nhiều tính xấu bắt đầu khởi lên, xuất hiện ra đều có liên hệ đến chúng. Giống như thế, vì chúng ta quan niệm tất cả mọi hiện tượng là tự có và độc lập nên chúng ta nghĩ nó đẹp và hấp dẫn, do đó sự mong ước chiếm đoạt chúng được khởi lên trong tâm của chúng ta. Tâm bất mãn và bất an của chúng ta hướng dẫn chúng ta bám chặt vào những đối tượng được coi là tự hiện hữu này, nhưng sự thoải mái và hạnh phúc mà chúng ta đã đặt tin tưởng vào chúng lại không bao giờ xảy ra. Vì thế, đau khổ của chúng ta cứ lớn dần, lớn dần thay vì giảm bớt đi.

 

Không những sự bám víu của chúng ta mà cả sân hận, kiêu mạn và tất cả những ảo vọng, dục vọng khác cũng đều khởi phát ra từ căn bản vô minh này. Bởi vì chúng ta nghĩ chúng ta, những đối tượng ở bên ngoài và tất cả những người khác hoàn toàn là những cá thể độc lập, nên chúng ta muốn chiếm đoạt, đề phòng hoặc có những thái độ tâm đóng kín đối với chúng. Chúng ta tấn công, chê bai chỉ trích hoặc mất thiện cảm với bất cứ ai không làm vừa lòng chúng ta hoặc ngăn cản chúng ta, trong khi đó chúng ta lại bỏ qua cho những ai giúp đỡ và đồng tình với chúng ta. Chúng ta đánh giá và xếp loại từng người ai là “bạn”, ai là “thù”, ai là “kẻ xa lạ” rồi chúng ta cho bảng xếp loại này là sự thật, là có thật. Trong trường hợp này, bên trong tâm của chúng ta sẽ khởi lên một sự sai lầm trầm trọng về tình bằng hữu, tình con người. Thái độ của chúng ta bị tô mầu xấu xa, kết quả là những hành vi cử chỉ của thân khẩu và ý của chúng ta sẽ không còn tốt đẹp và đạo đức nữa. Như đã trình bày ở trên, những hành động thiếu đạo đức này sẽ hướng dẫn chúng ta tạo ra nghiệp lực để thắt chúng ta mỗi ngày mỗi chặt hơn vào vòng luân hồi của đau khổ. Như vậy, một lần nữa, chúng ta cần hiểu rõ nguồn gốc của tất cả những đau khổ là do vô minh, chúng ta đã thực sự không biết sự vật hiện diện như thế nào, hiện tượng xuất hiện như thế nào.

 

Giá trị đích thực của bất cứ một tôn giáo nào, dù thiền định hay dù áp dụng bất cứ phương pháp nào, đều tùy thuộc vào khả năng của nó có giúp con người cắt đứt được những căn bản vô minh hay không, để con người có thể thoát khỏi những đau khổ do ảo vọng mà ra hay không. Bất cứ tôn giáo nào, bất cứ triết thuyết nào mà cung cấp những phương pháp tẩy trừ vô minh đều là tôn giáo thật, đều là chánh Pháp. Qua lịch sử, đã có rất nhiều vị thầy vĩ đại chỉ cho chúng ta những con đường thanh tẩy vô minh để chấm dứt đau khổ. Nếu sự thực hành của chúng ta có hiệu quả trong việc cắt đứt căn nguyên vô minh thì chúng ta có thể tin tưởng một cách mãnh liệt rằng chúng ta đang theo chánh Pháp, không cần biết nó có tên là gì, được gọi như thế nào.

 

Đạo Pháp, Phạn ngữ Dharma, có nghĩa là “cầm giữ, nắm giữ.” Theo ý nghĩa đó, chúng ta nắm giữ cái bình để nó khỏi rơi, khỏi bị bể vỡ, sự chân thành thực hành Đạo Pháp giữ chúng ta khỏi những sự nguy hiểm và sai lầm dẫn chúng ta đến đau khổ. Như vậy, bất cứ cái gì chúng ta làm –có thể là thiền định, có thể là một đường hướng sống hay là một phương pháp hướng dẫn cuộc đời chúng ta—mà chữa được bệnh vọng tâm của chúng ta thì đó chính là tinh túy của sự thực hành Đạo pháp. Phương pháp đó không phải là đặc quyền của một truyền thống nghi lễ riêng biệt nào. Nó cũng chẳng tổn hại gì, cho dù hành giả đó thuộc Hồi giáo hay Do thái giáo, Thiên chúa giáo hay Ấn độ giáo, Phật giáo hay một thuyết giáo nào hoặc bất kỳ một tôn giáo nào. Nếu phương pháp mà chúng ta đang thực hành giúp chúng ta phá tan được ảo vọng và cắt đứt được tận gốc rễ của khổ đau của chúng ta thì đó chính là tinh túy của việc thực hành tâm linh, nó gọi là Đạo Pháp.

 

Có rất nhiều cấp độ ảo vọng khác nhau nên cũng có nhiều cách thực hành Đạo pháp khác nhau để chấm dứt ảo vọng. Tất cả những con đường tu tập chấm dứt ảo vọng đều nằm trong Đạo pháp. Qua sự chân thành áp dụng những phương pháp thiền định có hệ thống, chúng ta xóa bỏ khỏi tâm chúng ta những quan niệm sai lầm, những thái độ nhị nguyên và những thói hư tật xấu của chúng ta. Chúng ta sẽ đạt giác ngộ, sự toàn mãn. Sự thành đạt chắc chắn sẽ đến bởi vì tâm ảo vọng (vọng tâm) không phải là tâm bản nhiên, bởi vì những gì xuất hiện ra trong tâm không phải là tâm. Tâm chỉ nhất thời chạy theo ảo vọng cũng giống như một chiếc bình có một vết bẩn mà thôi. Một vết bẩn không phải là chiếc bình, nó có thể được rửa sạch. Giống như vậy, tâm bản nhiên của chúng ta vốn trong sáng, nhất thời bị ảo vọng che khuất, nó có thể được tẩy sạch.

 

Sự chấm dứt hoàn toàn đau khổ và giác ngộ là sự thành đạt rất cao quí, giá trị của nó không gì sánh bằng nên chúng ta phải dồn hết năng lượng của chúng ta vào con đường tâm linh. Hơn nữa, sự thực hành và sự học hỏi của chúng ta tùy thuộc vào sự lắng nghe và vào sự nghiên cứu chân tính của bất cứ những gì chúng ta được dạy bảo. Như vậy, sự học hỏi và kết quả của nó cũng vô cùng quan trọng và cần thiết cho con đường tâm linh. Nếu chúng ta học hỏi nghiên cứu phương pháp Đạo pháp trong nội tâm rồi đem áp dụng những điều học hỏi đó ở ngoài cuộc sống thì đời sống của chúng ta thực sự có một ý nghĩa và tràn đầy ơn ích cho chính mình cũng như cho những người khác.

 

Nếu chúng ta theo một phương pháp toàn hảo, chúng ta sẽ không thất vọng vì để mất thời giờ. Còn nữa, trong giờ phút cận tử, giờ phút của sự chết, chúng ta sẽ không sợ hãi và lo lắng bối rối. Vì đã phát triển phương pháp liên hệ với nội tâm nên chúng ta có thể kiểm soát được tiến trình của tâm linh, chúng ta có thể đối diện với tử thần một cách bình tĩnh thanh thản, tự chủ và an nhiên. Biết rằng chúng ta đã sống một đời tốt đẹp nên chúng ta sẽ có tự tin, vững chắc tin tưởng hạnh phúc và an lạc sẽ đến.

 

Tất cả những gì tôi trình bày ở đây đều là những kinh nghiệm của các vị thiền giả và những vị đã và đang thực hành Đạo pháp. Có rất nhiều vị đã đạt giác ngộ, đã thành công trong vấn đề thanh tẩy tâm. Họ đã áp dụng phương pháp này để thanh tẩy những ý niệm sai lầm và những thói quen xấu của họ, chúng ta cũng có thể thực hành như vậy. Khi đạt đến trình độ phát triển này, chúng ta có thể đem lợi ích đến cho người khác và giúp những người khác trên con đường thực hành Đạo pháp. Vì lòng vị tha, chúng ta sẽ biết hướng dẫn những người khác cùng thoát khổ tùy theo cá tính riêng của họ. Không còn một mục đích nào khác trong cuộc đời cao đẹp hơn thế nữa.

 

Để kết luận, đây là phương pháp tối thiện xảo mà chúng ta có thể dùng để đối diện với những vấn đề của chúng ta. Nếu tâm của chúng ta đầy dục vọng, chúng ta sẽ gặp rất nhiều đau khổ mỗi khi chúng bị ngăn cản. Nhưng nếu chúng ta biết cách áp dụng Đạo pháp, chúng ta có thể hướng dẫn tâm của chúng ta vào con đường thực hành Đạo pháp trong đời sống, chúng ta sẽ có những chứng nghiệm hạnh phúc và an lạc ngay cả trong những lúc gặp cảnh khó khăn. Mặc dầu chúng ta chưa phát triển thâm sâu Đạo pháp, chỉ mới bắt đầu thực hành một chút, chúng ta cũng vẫn kinh nghiệm được sự an lạc trong đời sống thường ngày của chúng ta. Do đó, hãy quan tâm đến tất cả muôn loài chúng sinh –ngay cả đến một con vật nhỏ li ti – để phát triển chân hạnh phúc và để giải thoát khỏi đau khổ, đây là điều vô cùng có giá trị trên con đường thực hành Đạo pháp, trên con đường phát triển khả năng tâm linh của chúng ta.

 

Cám ơn quý vị nhiều lắm. Chúng ta vẫn còn giờ, quý vị có thể đặt câu hỏi.

 

Hỏi:  Thưa ngài, chúng tôi bắt đầu thực hành như thế nào?

 

Trả lời:  Trước nhất hãy học hỏi Đạo pháp. Nếu chúng ta không có căn bản, chúng ta sẽ không biết thanh tẩy như thế nào. Do đó, trước hết chúng ta hãy tìm một phương pháp đúng và thích hợp để học. Chúng ta hãy lắng nghe những lời giải thích của những vị thầy có kinh nghiệm. Họ phải là người đã và đang thực hành những lời dậy bảo này. Vì theo học những vị thầy như vậy, chúng ta mới vừa học hỏi những lời dậy bảo vừa kiểm chứng họ đồng thời chúng ta cũng phải tự chứng nghiệm được những lời dậy bảo này. Rồi chúng ta thiền định trên những gì đã được học hỏi, hãy đem tất cả những cái đó ra thực hành trong đời sống thường ngày của chúng ta. Như vậy, trí tuệ của chúng ta sẽ từ từ phát triển.

 

Hỏi:  Vì Đạo pháp bắt nguồn từ văn hóa Đông phương, phải chăng Đạo Phật cũng có thể thích hợp cho người Tây phương?

 

Trả lời:  Như tôi đã trình bày, thực hành Đạo pháp không bắt buộc phải có một quy luật nhất định cố chấp nào đó. Đạo pháp không phải là một cái gì có khuôn khổ cứng ngắc. Mặc dầu có những người ngồi thiền khoanh chân nhắm mắt, nhưng những thế ngồi này tự nó không phải là tinh túy của Đạo pháp.

 

Một hành động được coi là thực hành Đạo pháp chân thật khi nó thực sự tác động đến tâm. Nếu ảo vọïng được nhổ đi tận gốc và đau khổ hoàn toàn biến mất khi chúng ta thực hành một cái gì đó thì cái đó chính là Đạo pháp. Như vậy, chúng ta vẫn có thể thực hành Đạo pháp cho dù chúng ta làm việc trong văn phòng tại một thành phố đông người hay chúng ta là một lao công ngoài đường phố. Vấn đề chính yếu là ảo vọng của chúng ta có giảm đi hay không.

 

Bất cứ một hành động nào cũng có thể chuyển thành sự thực hành Đạo nếu nó được hoàn thành bởi một động lực đúng và chân thành. Nếu chúng ta quyết tâm làm việc để tẩy trừ vô minh của chúng ta và chúng ta có thể giúp những người khác thắng được những đau khổ của họ thì đó là Đạo pháp, bất kể nó là phương pháp nào. Đạo Phật, một trong những đạo chính của thế giới, giảng dậy rất nhiều phương pháp để thanh tẩy những động năng của chúng ta. Nó được áp dụng và có khả năng thích hợp với tất cả mọi hoàn cảnh của bất cứ xã hội nào, Đông cũng như Tây. Do đó, một người Tây phương hiểu được tinh túy của Đạo pháp và hình thức văn hóa mà nó sẽ hội nhập vào, thì họ có thể mang lại rất nhiều ơn ích cho chính họ và cho những người khác bất kể những gì họ học được.

 

Hỏi:  Có sự liên hệ gì giữa triết lý mật tông và sự thực hành Đạo pháp?

 

Trả lời:  Không có bất cứ một sự thực hành mật tông nào mang lại kết quả nếu chúng ta không có căn bản về Đạo pháp. Chính mật tông là sự thực hành Đạo pháp, nên đừng nghĩ rằng có một sự thực hành nào đó ở bên ngoài Đạo pháp.

 

Nếu chúng ta kiếm được một văn bản nào đó nói về mật tông rồi thử áp dụng nó mà không thấu hiểu Đạo pháp thì không thể có kết quả. Đây là sự thật, thay vì những sự thực tập mang đến những kết quả tốt, giảm bớt u mê ảo vọng thì nó lại làm tăng thêm vô minh và càng đi sâu vào sai lầm nhiều hơn nữa.

 

Mục đích của mật tông cũng giống như Đạo pháp, là để thoát khỏi khổ đau, bằng cách bỏ đi những chướng ngại tinh thần (sở tri chướng.) Mật tông được coi như một phương pháp rất thâm sâu bởi vì nó là một phương pháp rất nhanh trên con đường tiến tới giác ngộ. Nhưng động năng thúc đẩy vào con đường thực hành mật tông chính là sự ước muốn đạt giác ngộ càng nhanh càng tốt để cứu độ muôn loài chúng sinh càng mau có kết quả. Chỉ có sự thúc đẩy của một Bồ đề tâm bao la mới mong thực hành mật tông có kết quả.

 

Như vậy, mục đích và động năng thúc đẩy của mật tông hoàn toàn giống như Đạo pháp, nó là một thành phần của Đạo pháp, sự dậy bảo cao thâm này nương theo sự dậy bảo tổng quát. Nếu nghĩ nó là một thành phần riêng rẽ biệt lập thì nó sẽ tạo thêm những rắc rối, những vấn đề khác nữa, khác nữa.

 

Hỏi:  Ngài có coi việc dùng thuốc (ma túy) là con đường thực hành tâm linh không?

 

Trả lời:  Không, tôi không cho là những người chân thành thực hành Đạo pháp lại nghiện ngập. Tuy nhiên, tôi không phủ nhận có một số người trong lúc bắt đầu phát triển, một vài kinh nghiệm nào đó của thuốc có thể giúp họ. Thí dụ, tâm của một số người rất hạn hẹp, không được cởi mở, họ không tin vào bất cứ sự hiện hành nào của hiện tượng mà nó xuất hiện qua bình diện vật chất. Vì thế, nó có thể giúp họ nhận ra được sự thật trong một chiều hướng khác với chiều hướng bình thường, có giới hạn. Sự kiện này có thể mở cho họ một khả năng phát triển tâm mà những người khác không biết. Như vậy, sau khi sự phát triển đã được chứng nghiệm mà họ vẫn còn tiếp tục dùng thuốc thì họ đã tạo ra thêm ấn tượng cho ảo tưởng, thực ra sự kiện này đã chẳng giảm bớt vô minh. Kinh nghiệm dùng thuốc có giúp gì được hay không tùy theo người dùng thuốc. Tôi không coi việc dùng thuốc là một phương pháp tốt khi bước vào con đường tâm linh. 

 

Hỏi:  Khi bước chân vào con đường tâm linh, vị thầy quan trọng như thế nào?             

 

Trả lời:  Ngay cả làm một việc nhỏ mọn tầm thường, như đi du lịch từ nước này đến nước khác chúng ta cũng cần phải có người đã có kinh nghiệm hướng dẫn. Nếu chúng ta muốn học một ngoại ngữ, chúng ta cũng cần phải có một ông thầy hiểu và nói được thứ tiếng đó. Đây là một sự cần thiết, một sự hướng dẫn rất thông thường mỗi khi chúng ta muốn học hỏi nghiên cứu một vấn đề gì.

 

Đây là một sự thật dành cho tất cả mọi vấn đề học hỏi, như vậy học hỏi Đạo pháp lại còn cần thầy hơn nữa. Tại vì con đường Đạo không quen thuộc với chúng ta, nó hoàn toàn xa lạ mà nó lại có liên hệ đến rất nhiều khía cạnh của chính chúng ta và với những hiện tượng khác nữa. Lý do chính yếu mà chúng ta đau khổ là chúng ta có thói quen nhìn sự chân thật qua cái lăng kính bệnh hoạn ngã chấp độc tôn của chúng ta. Nếu chúng ta muốn tẩy sạch những ảo vọng, những u mê trong tâm của chúng ta, chúng ta cần phải có một vị thầy đã có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề này, đã có thực chứng về vấn đề này.

 

Vì tính cách quan trọng trong việc theo đuổi con đường tâm linh, vị thầy hướng dẫn tâm linh của chúng ta phải là một vị thầy hoàn hảo. Họ phải là người sống cho Đạo pháp, phải là một thí dụ điển hình của Đạo pháp. Điều vô cùng quan trọng là tâm của họ đã có những chứng nghiệm, đã hoàn toàn lãnh hội được những trạng thái thực hành đúng và họ đã nắm vững những sự hiểu biết không sai lầm. Nếu chúng ta nhận được những lời giải thích đúng đắn chân thật của vị thầy, rồi nghiên cứu, chiêm nghiệm và thiền định nghiêm túc trên những lời dậy bảo đó, chúng ta sẽ đạt được thành quả theo ý muốn. Ngược laiï, nếu chúng ta tin tưởng vào vị thầy không có đủ khả năng thì rất nguy hiểm, sự thực hành của chúng ta sẽ đi vào hết lầm lẫn này đến lầm lẫn khác, để rồi cuối cùng chẳng đi đến một kết quả nào.

 

Hỏi:  Làm thế nào để tránh được trường hợp chấp, bám víu vào con đường thực hành tâm linh?

 

Trả lời:  Có những người muốn theo đuổi con đường tâm linh để quyến rũ người khác. Họ thích được gọi là một người thánh thiện hoặc một người có đời sống tâm linh. Đây là một sự hiểu lầm Đạo pháp, đây là sự lợi dụng Đạo pháp. Nhưng nếu thành tâm muốn chấm dứt khổ đau và muốn cho tâm mình và tâm những người khác được an tịnh thì ước muốn này không xấu. Đây không phải là trường hợp chấp hoặc bám víu mà nó có thể gây rắc rối phiền muộn cho chúng ta. Ngay từ lúc bắt đầu bước chân vào con đường mà đã có nguyện ước như vậy thì đã có ơn ích rất nhiều rồi, đây không phải là bám víu, chúng ta không cần phải lẩn tránh.

 

Những bám víu xấu luôn luôn dẫn đưa chúng ta đến đau khổ. Với những động năng tham dục, chúng ta sẽ tạo ra những hành động không đạo đức, nó sẽ đem lại khổ đau cho chính chúng ta và cho những người khác. Nhưng lòng ao ước thực hành Đạo pháp không được coi là tham dục. Nó hoàn toàn khác. Động năng thúc đẩy chúng ta thực hành Đạo pháp khuyến khích chúng ta đi vào sự thực hành để giảm bớt, không tăng lên, những đau khổ. Không có sự thực hành này, chúng ta sẽ bị trói buộc vào vòng luân hồi và chẳng được hưởng một chút ơn ích gì trong kiếp người.

 

Phải có một động năng thúc đẩy mãnh liệt lắm thì mới có thể bước vào con đường tâm linh, bởi vì sinh ra là chúng ta đã bị hướng dẫn vào con đường chấp ngã. Do đó, vì ước muốn thực hành Đạo pháp để đạt kết quả tốt nên ngay từ khi bắt đầu chúng ta không nên lo sợ bị dính mắc, bị lệ thuộc. Chúng ta nên cố gắng tiếp tục thực hành với một động lực càng trong sạch càng tốt, hãy mong muốn thật nhiều ơn ích cho muôn loài chúng sinh.

 

Cám ơn quý vị nhiều lắm.

 

 

                          

 

 

 

 

           

 

     

 

 

 

           

 

 

 

 

 

 

 

Chương hai:

THIỀN   ĐỊNH

 

 

---------------------------------------------------------------------

 

 

1.   Ba Khía Cạnh Chính Của Con Đường

Dẫn Đến Giác Ngộ

 

 

Quán tưởng sự thanh tẩy

 

 

 

            Chúng ta sẽ bắt đầu một thời thiền ngắn để thanh tẩy tâm của chúng ta và dĩ nhiên để giúp chúng ta thu thập được những lời giảng dậy một cách tốt đẹp.

 

Mỗi người hãy ngồi theo thế ngồi thiền quen thuộc thoải mái của mình. Nếu quý vị cảm thấy ngồi trên ghế sẽ thoải mái hơn thì cứ ngồi. Việc quan trọng là làm sao kiểm soát, theo dõi được tâm. Ngồi thẳng lưng và cân bằng hai vai giúp cho sự kiểm soát này. Mắt nên mở một chút để ánh sáng vào được, nhưng đừng mở lớn quá sẽ bị quấy nhiễu. Nếu không buồn ngủ thì quý vị có thể nhắm mắt.

 

Chúng ta bắt đầu quán tưởng đến muôn vàn chúng sinh đang ngồi chung quanh chúng ta, cùng nhìn về phía trước. Họ cùng chia sẻ với chúng ta tất cả những ơn ích, tất cả những phước đức mà chúng ta có thể lãnh nhận được từ việc thiền thanh tẩy này. Tất cả chúng sinh đều mang hình dạng con người, chúng ta hãy tưởng tượng quang cảnh bao la bát ngát chung quanh chúng ta mọi người cũng đang ngồi thiền định.

 

Bây giờ, hãy quán tưởng trong con mắt của tâm, ở ngay trước mặt chúng ta, cách khoảng một cánh tay, ngang với đầu chúng ta, có một tòa mầu vàng rất lớn trang hoàng đầy châu báu. Sự quán tưởng này phải thật trong sáng, hãy tiếp tục quán tưởng một đóa sen trắng nở lớn ở giữa tòa này. Đóa sen thật rực rỡ trong sáng, không một khuyết điểm, trắng tuyết. Ngay trong hoa sen có vầng trăng và mặt trời, lồng vào nhau. Đức Phật Thích Ca ngồi trên đó. Ngài mặc tăng bào. Bàn tay phải của Ngài đặt trên đầu gối phải, ngón tay chạm vào hoa sen, bàn tay trái đặt trên lòng giữ bát khất thực. Dù quán tưởng đến Đức Phật Thích Ca hay quán tưởng đến bất cứ gì ngay cả một hạt nguyên tử li ti thì cái đó cũng phải thật trong sáng, là ánh sáng trong suốt.

 

Hãy nghĩ đến sự toàn giác, đại viên mãn của Đức Phật Thích Ca, Ngài hoàn toàn trong sáng, thanh tịnh tuyệt đối, không một chút bợn nhơ, không nhị nguyên. Ngài là bậc toàn tri toàn trí, siêu tuyệt. Ngài là đấng toàn năng có thể hướng dẫn muôn loài chúng sinh thoát khỏi khổ đau và những phương pháp của Ngài sẽ dẫn dắt chúng sinh tu tập đến giác ngộ, thành phật. Lòng từ bi bao la của Ngài che chở muôn loài, cả chúng ta, để lập tức chấm dứt tất cả khổ đau.

 

Ngài hằng muốn chỉ cho chúng ta con đường thoát khổ, nhưng bổn phận của chúng ta là phải chuyển hướng tâm của chúng ta vào trí tuệ, vào từ bi và vào sức mạnh độ trì của Ngài. Vì thế, hãy quán tưởng càng trong sáng càng tốt, mỗi một người chúng ta hãy tự phát nguyện: “Con qui y Phật, đấng toàn năng toàn giác Thích Ca Mâu Ni; con qui y Pháp, trí bát nhã và những lời dậy bảo của Ngài; con qui y Tăng, là những người biết kiểm soát tâm của họ theo lời dậy của Ngài. Con qui y và hoàn toàn nương tựa nơi Tam Bảo cho đến khi đạt giác ngộ. Con kính xin Ngài độ trì con và muôn vàn chúng sinh. Cho tất cả chúng con nhận được sự chỉ dậy đúng trên con đường tu tập, từ vị đạo sư đến sự chứng đắc cuối cùng của giác ngộ.”

 

Bây giờ hãy quán tưởng ba chủng tử xuất hiện trên thân thể của Phật Thích Ca. Những chủng tử này có thể là những Tạng ngữ, Anh ngữ hay dưới dạng ngôn ngữ nào cũng được. Trên trán của Ngài xuất hiện chủng tử màu trắng OM, ở cổ của Ngài chủng tử màu đỏ AH, và ở ngực của Ngài chủng tử màu xanh HUM. Những chủng tử này cũng là ánh sáng rực chiếu thoát ra từ trí tuệ siêu tuyệt qua thân khẩu và ý của Phật. Từ những tia sáng trắng, đỏ và xanh của những chủng tử này chúng chiếu rọi khắp nơi và thâm nhập vào tất cả chúng sinh để thanh tẩy tất cả những ô trược nghiệp chướng của thân khẩu và ý của chúng sinh. Khi tia sáng trắng thâm nhập vào trán của chúng ta, chúng ta hãy nghĩ rằng tất cả những vọng tưởng, tất cả những ô nhiễm và tất cả những xấu xa nghiệp chướng của thân xác chúng ta đang được tẩy rửa cho đến không còn một dấu vết nào nữa. Chúng hoàn toàn bị xóa bỏ. Cũng giống như vậy, những tia sáng đỏ và xanh thấm nhập vào cổ và tim của chúng ta, chúng thanh tẩy tất cả những ô nhiễm của những lời nói và tâm tưởng của chúng ta, để chúng ta thoát khỏi nghiệp ác. Trong tiến trình thanh tẩy này, chúng ta hãy kinh nghiệm, hãy chiêm nghiệm sự rỗng lặng của khổ đau và những tình trạng sai lầm của tâm và hãy cảm nghiệm những ô nhiễm tâm thần này đang bị tiêu diệt xóa bỏ toàn diện.

 

Trong khi những tia sáng thanh tẩy đang chiếu sáng từ sự quán tưởng Đức Phật Thích Ca, chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện sau đây rồi tụng những câu mật chú, lặp lại càng nhiều lần càng tốt:

 

                        Kính lạy Đạo sư, người sáng lập,

                        Con đường thanh tẩy hoàn toàn ô nhiễm,

                        Ngài là Phật, bậc toàn giác

                        Ngài là đấng chiến thắng,

                        Là đấng khôn ngoan của dòng Thích ca ---

                        Con xin kính lạy Thầy và con xin qui y,

                        Con kính xin Ngài nhận lễ vật của con.

                        Con kính xin Thầy độ trì con.

                        Tayatha om muni muni maha muniye svaha

 

Khi  làm xong lễ quán tưởng thanh tẩy này, chúng ta hãy nghĩ rằng chúng ta đã nhận được sự độ trì và trí tuệ từ thân khẩu và ý thánh thiện của Đức Phật Thích Ca. Hãy cố gắng cảm nhận sự an lạc vô biên này bằng cả tâm hồn lẫn thể xác và hãy thường xuyên tập trung vào nó. Chúng ta đã thanh tẩy, bây giờ bằng cả tâm hồn và thể xác, chúng ta hãy ca hát trong niềm an lạc tự nhiên này. Với sự sửa soạn như vậy, chúng ta bắt đầu nghe những lời giảng dậy về Đạo Pháp.

 

 

Sự thực hành tâm linh tối cao

 

 

Chúng ta đang đi vào một lãnh vực thực hành đặc biệt, có thể là hoàn toàn mới lạ với một số người. Có một vài sự kiện chúng ta chưa bao giờ gặp, chưa bao giờ làm trong cuộc đời của chúng ta. Chúng ta đang tìm một phương pháp thực tế để giải quyết những vấn đề, những khó khăn của chúng ta, để từ đó chúng ta giải thoát chúng ta khỏi khổ đau, nhưng phương pháp này hoàn toàn khác với những phương pháp mà chúng ta đã gặp trong quá khứ. Khả năng tốt nhất mà những phương pháp khác có thể mang lại cho chúng ta chỉ là trì hoãn sự khổ đau; còn tệ hại hơn, chúng lại hướng dẫn chúng ta, chúng lại đem chúng ta đến những bất mãn, những nỗi chán chường to lớn hơn. Ngược lại, ở đây chúng ta sẽ được dậy bảo, những lời dậy bảo này có khả năng tạo sự tự tin mãnh liệt trong mỗi người chúng ta, vô số lượng chúng sinh trong quá khứ đã đạt giác ngộ theo phương pháp này. Sự thật này chắc chắn cũng sẽ xẩy ra cho thời đại của chúng ta và cho cả trong tương lai nữa. Đây là Đạo Pháp, đã được truyền dậy bởi những bậc toàn giác, bởi Phật Tổ.

 

Đạo Pháp không lừa dối chúng ta. Nó chính là liều thuốc giải độc, là liều thuốc hóa giải tất cả những sự lừa dối và tất cả những hiện tượng khổ đau đang diễn ra trong thế giới luân hồi này, thế giới này luôn luôn chỉ có đau khổ và lừa dối tiếp diễn. Tại sao chúng tiếp diễn như vậy? Chúng xuất hiện như thế nào? Nếu chúng ta không nhận diện được tính cách vô thường của chúng hoặc nếu không hiểu chúng xuất hiện như thế nào thì chúng ta chỉ biết nhắm mắt mà tin theo chúng thôi. Vì bị u mê say đắm trong sự xuất hiện của chúng nên chúng ta đã hoàn toàn đặt niềm tin của chúng ta vào những quan niệm, vào những ý niệm sai lầm của những đối tượng trong luân hồi. Từ đó chúng ta nhìn sự vật xuất hiện trong thế giới này không còn thật như chính chúng là mà đã bị méo mó theo những vọng tưởng của chúng ta rồi. Đây chính là những khuôn mẫu của tất cả những hành vi và thái độ của chúng ta đã được chất chứa từ muôn vàn kiếp cho đến ngày hôm nay. Chúng không là gì khác hơn là chỉ hướng dẫn chúng ta từ đau khổ này đến những đau khổ khác.

 

Dĩ nhiên, nếu chúng ta thực hành không đều đặn, chỉ áp dụng khi có dịp hoặc lơ là thì phương pháp thực hành Đạo này cũng chẳng giúp gì được chúng ta, vì như chúng ta đã biết những thói quen đã hằn in dấu vết trong tâm thức của chúng ta từ nhiều kiếp rồi. Sẽ chẳng có một chút ơn phước nào, nếu có thì cũng chẳng tồn tại lâu được vì chúng ta chỉ áp dụng trong một vài năm hoặc chỉ trong những dịp đi nghe thuyết pháp. Chúng ta cần phải thực hành liên tục trong từng giây phút, ở bất cứ đâu, bất cứ chỗ nào. Chúng ta đang sống trong một thời đại đầy nguy hiểm, từ thiên nhiên và từ chính con người làm ra. Chẳng có gì là chắc chắn vững bền, ngay cả việc bảo vệ cái thân xác này. Vì thế chúng ta nên chuyển tất cả những gì chúng ta làm trong đời sống hàng ngày vào việc thực hành Đạo Pháp. Chúng ta không nên viết đầy trong tập ghi chép của chúng ta hay chất đầy vào tâm của chúng ta những gì gọi là thông minh của những lời dậy bảo. Thay vì thế, ngay lập tức, chúng ta hãy cố gắng dồn tất cả nỗ lực vào việc thực hành Đạo Pháp. Như vậy, ngay cả việc đang ngồi lắng nghe bài giảng bây giờ cũng trở thành hoạt động tinh túy của Đạo Pháp, mang lại thật nhiều ơn phước. Không cần phải cầu kỳ về vật chất hoặc tinh thần mới có thể thực hành tâm linh có kết quả.

 

Không thể lấy những lợi ích trần gian để đo lường ơn phước trong việc thực hành Đạo Pháp. Chúng ta có thể có những phần thưởng hoặc những lời khen ngợi trong những công việc đòi hỏi nhiều khả năng tài chánh cũng như sự mạo hiểm, nhưng những sự thành đạt này hoàn toàn không có nghĩa lý gì nếu so sánh với sự thực hành tâm linh. Nếu chúng ta có gom góp ngọc ngà châu báu trong cả vũ trụ này lại thì chúng ta cũng không thể mua được sự giác ngộ, sự giải thoát, thanh tẩy vọng tưởng, sự bình an thật trong tâm hồn, lòng từ bi, tâm bồ đề, tâm buông xả, không gì có thể mua được những ơn phước mà chúng ta có được từ sự thực hành Phật Pháp.

 

Đừng ngạc nhiên khi những giá trị vật chất không thể mang lại cho chúng ta những giải quyết rắc rối trần gian. Tại sao vậy? Tại vì nếu chúng ta có chất chứa, có thâu góp tất cả những gì chúng ta đã sở hữu trong kiếp này và trong muôn vàn kiếp trước vào một nơi thì cả cái vũ trụ này cũng quá nhỏ bé chật hẹp đối với chúng. Mặc dù chúng ta có giầu đến độ không thể tưởng tượng nổi thì cũng không thể mua được cái gì có thể thay thế  khổ đau của chúng ta. Tâm của chúng ta cũng vẫn rối loạn, cũng vẫn loạn động, cũng vẫn đòi hỏi để rồi lại tạo ra nhiều đau khổ hơn nữa cho chính mình và cho những người khác.

 

Tuy nhiên, qua việc thực hành Đạo Pháp, chúng ta có khả năng đạt giác ngộ và có rất nhiều ơn phước hướng dẫn chúng ta đến sự giải thoát tối thượng. Chúng ta sẽ được mãn nguyện trong sự hiểu biết của chúng ta về tất cả các hiện tượng ở bên trong tâm của chúng ta cũng như tất cả những hiện tượng xẩy ra ở bên ngoài. Hơn nữa, niềm an lạc của Đạo pháp sẽ không hề bị mất đi hay biến thành khổ đau. Nó mang lại hạnh phúc vĩnh cửu. Lạc thú của luân hồi và phúc lạc của Đạo Pháp hoàn toàn khác nhau. Đừng cố gắng đi tìm hạnh phúc ở những giá trị trong cõi luân hồi, vì không sớm thì muộn những giá trị này cũng tan biến mất. Hãy nhìn thẳng vào đời sống của mỗi người chúng ta, chúng ta sẽ tìm ra được rất nhiều bằng chứng cụ thể về sự thật này. Ngược lại, sự thực hành Đạo Pháp sẽ đem chúng ta đến giải thoát và giác ngộ, ngay khi bắt đầu thực hành chúng ta đã thấy những kết quả khác biệt rồi, niềm hạnh phúc này không bao giờ chấm dứt.

 

Vấn đề chính của chúng ta là chúng ta thiếu sự phân biệt và trí tuệ để hiểu rõ những gì kinh nghiệm của chúng ta dậy chúng ta về thực tính của những sự kiện xẩy ra trong cõi luân hồi. Mặc dầu chúng ta biết những khoái lạc trần gian chỉ dẫn chúng ta đến bất mãn và bất mãn, nhưng chúng ta vẫn cố tình quên đi sự thật căn bản này và vẫn tiếp tục đuổi theo những ảo ảnh hạnh phúc. Trong chiều hướng đó, những hiện tượng trần gian sẽ lôi cuốn chúng ta vào cạm bẫy, và hơn thế nữa, chính chúng ta tình nguyện để bị bẫy.

 

Tinh túy của sự thực hành Đạo pháp là tỉnh thức trong từng hành động của chúng ta và học hỏi từng kinh nghiệm của chúng ta. Nếu chúng ta thường xuyên liên tục làm như vậy thì không có gì có thể đánh lừa, đánh bẫy được chúng ta và tâm của chúng ta sẽ an trú sâu trong an lạc, mặc dầu chúng ta đang sống trong thế giới của mê mờ vọng tưởng. Đây là con đường tích lũy ơn phước chẳng những cho kiếp này mà còn cho tất cả những kiếp trong tương lai nữa.

 

Phương pháp căn bản, phương pháp cốt tủy trong việc chuyển hóa tất cả những sinh hoạt hàng ngày vào những hoạt động Đạo Pháp là kiểm soát tất cả những động lực, những động năng thúc đẩy trong chúng ta. Hãy hiểu rằng tất cả những việc chúng ta làm đều mang lại ơn phước cho chính chúng ta và cho những người khác. Nếu có động năng thúc đẩy tốt thì bất cứ gì chúng ta thực hiện đều mang lại những kết quả tốt lành. Đây chính là sự hòa nhập trong thực tại. Sản phẩm của tâm không phải chỉ có đau khổ mà còn có cả hạnh phúc và giác ngộ nữa. Tất cả đều khởi phát ra từ tâm. Vì thế, nếu chúng ta điều khiển được động năng, thái độ đúng của tâm, thì bất cứ gì chúng ta làm đều có thể hướng dẫn chúng ta đến giải thoát, đến giác ngộ, đến đại lạc.

 

 

Thật quý giá khi được mang thân người

 

 

Vị đại đạo sư Tây Tạng Je Songkhapa, người đã đạt sự toàn tri trong giác ngộ, nói:

                        Trong cõi đời này,

Được làm thân người, thật quý giá thay,

Còn hơn cả ngọc ngà châu báu.

Thực là khó tìm vì nó dễ tàn phai,

Như ánh chớp bay qua bầu trời.

Nghĩ đến bản tính của đời sống,

Đạt được tinh túy là điều cần thiết,

Trong cả đêm lẫn ngày.

Ta, một yogi, đã thực hành như vậy.

Còn ngươi, kẻ muốn được giải thoát,

Hãy cố gắng mà noi theo.

 

Chúng ta đã biết được mang thân người là một điều vô cùng quý giá, còn hơn cả ngọc ngà châu báu. Với thân xác này, chúng ta có trí thông minh và đầy đủ thời giờ để tu tập thành quả vị phật, giải thoát chúng ta khỏi luân hồi sinh tử và hưởng rất nhiều ơn phước mà không có gì có thể mua được, dù chúng ta là người giầu có nhất trần gian.

 

Được mang thân người thật qúy gía, không phải chỉ vì giá trị của nó mà chỉ vì nó quá hiếm hoi. Đại đạo sư Je Songkhapa nhấn mạnh điểm này bởi vì chúng ta chỉ có thể được một lần thôi, “trong thời hiện tại này.” Đây là một việc vô cùng khó khăn trong sự kết tập nghiệp qủa để tạo nên một con người. Chắc chắn chúng ta đã phải tích tụ biết bao nhiêu thiện nghiệp nên mới được sinh ra làm người trong kiếp này, thật là khó khăn thay. Sống đạo hạnh trong thời đại này thật là khó khăn, lại càng khó khăn hơn nữa nếu phải ở trong những cõi thấp hơn, cõi mà chỉ có khổ đau. Ở cõi cao hơn thì còn có chút thời giờ để tạo thiện nghiệp, bởi vì họ còn biết lánh xa khoái lạc.

 

Còn nữa, chúng ta cần biết sự thật quan trọng là không phải bất cứ ai cũng được ơn phước này. Phải có rất nhiều điều kiện khác nhau trước kia mới tạo ra được hoàn cảnh dẫn đưa đến mục đích hôm nay. Những lời giảng dậy về Đạo Pháp đã thâm nhập vào xứ sở mà chúng ta đã sinh sống và chắc chắn phải có những vị đạo sư đã hướng dẫn chúng ta, đó là hoàn cảnh bên ngoài. Lý do ở nội tâm là chắc chắn chúng ta phải thích, phải ước muốn, phải quyết tâm tìm kiếm đạo và thực hành đạo. Thêm vào đó, chắc chắn chúng ta phải được tự do, phải có đủ điều kiện trong cả hai phương diện tinh thần lẫn thể xác để có thể học đạo và thực hành đạo. Nó đòi hỏi rất nhiều tinh thần đạo đức để cho tình trạng này có thể xẩy ra được và cũng không chắc gì chúng ta có thể tạo thêm được nhiều thiện nghiệp nữa để có lại thân người. Vì thế, đạo sư Je Tsongkhapa khuyên chúng ta nên lợi dụng cơ hội cuối cùng, hiếm có và quí báu này.

 

Cơ hội hiếm được mang thân người này cũng rất dễ bị mất, nó đi nhanh như “ánh chớp ngang qua bầu trời.” Chúng ta có thể chết bất cứ lúc nào, trước khi chúng ta đề cập đến nó. Nếu chúng ta nhìn vào chính chúng ta, có thể chúng ta thầm nghĩ mình sẽ còn sống lâu lắm. Nhưng biết đâu tử thần đã kề bên mặc dù một ngày chưa qua hết, trong khi niềm hy vọng sai lầm sống lâu trăm tuổi vẫn còn đang ôm ấp.

 

YÙ niệm sai lầm này là một trong những trở ngại to lớn nhất ngăn cản sự tinh tấn trên con đường thực hành Đạo Pháp, bởi vì nó sẽ tạo ra sự lười biếng và trì hoãn. Vì tưởng rằng mình sẽ còn sống lâu nên không quyết tâm tu tập, không cố gắng thiền định và không chú tâm thực hành Đạo. “Tôi mệt qúa, người uể oải qúa, thôi để đến mai hãy thiền, làm gì mà vội... hãy đợi tuần sau đi, năm sau cũng chẳng sao mà!” Khi nghĩ như vậy, chúng ta đã tự đánh lừa mình và làm mất hết những gì đã học hỏi được.

 

Có lẽ tất cả chúng ta đã nghe những lời dậy bảo và đã làm quen với một số hướng dẫn về thiền định. Nếu chúng ta không thực sự áp dụng những sự hướng dẫn này vào thiền định thì chúng ta sẽ chẳng đón nhận được ơn ích nào cả. Ngày tháng sẽ đi qua mau, nhưng cơ hội thì không còn, rồi cũng chẳng chứng nghiệm được gì. Chúng ta lại tiếp tục sống với những thái độ tiêu cực quen thuộc của chúng ta, rồi cũng sẽ chẳng có một chút tinh tấn nào trên con đường tìm hiểu và thực hành Đạo Pháp. Như vậy, trước khi có thể nhận biết được nó thì chúng ta đã chẳng còn sống nữa. Chúng ta sẽ đánh mất một cơ hội hiếm hoi để thoát khỏi kiếp luân hồi mà ra đi trong niềm nuối tiếc và hối hận. Mặc dù có sống cả trăm năm mà không tinh tấn trong Đạo Pháp thì cũng uổng phí thôi, vì cái chết sẽ tới nhanh như ánh lửa lóe lên trong bầu trời.

 

Một khi chúng ta thiền định sâu xa về giá trị, về sự hiếm hoi và dễ tan vỡ của thân xác chúng ta, chúng ta sẽ nhận ra được những hoạt động trần gian, những sinh hoạt trong kiếp luân hồi chẳng còn một chút giá trị nào, chúng chỉ giống như cái vỏ thóc mà thôi. Chúng ta càng thiền định về những sự kiện này, càng quán tưởng về cuộc đời riêng của chúng ta và những gì liên hệ đến nó, chúng ta càng nhận ra rằng phúc lạc chân thật chỉ có từ sự thực hành Đạo Pháp. Chúng ta chỉ có thể đạt giác ngộ khi chúng ta cố gắng chân thành chuyển hóa tâm ta.

 

Điểm này dẫn chúng ta trở về với câu hỏi động năng thúc đẩy. Nhờ kiểm soát được tâm, nhờ theo dõi từng lời nói và hành động của mình, chúng ta có thể tránh được những sinh hoạt tiêu cực mà chính nó có thể dẫn chúng ta đến những kiếp tái sinh thấp hơn, nhiều đau khổ hơn. Nhưng, như chúng ta đã hiểu, mặc dù chúng ta có sinh lại trong một kiếp may mắn hơn chúng ta cũng vẫn không giải quyết được những vấn đề của chúng ta. Có những kiếp sinh ra ít đau khổ hơn đau khổ của kiếp trước nhưng sự đau khổ của kiếp hiện tại cũng đủ bao trùm cả cuộc sống rồi. Do đó, nếu chúng ta muốn giải quyết toàn diện đau khổ, chúng ta cần phải tu tập hướng tới sự chấm dứt nguyên nhân phát sinh ra luân hồi.

 

Như vậy, động năng tu tập để thoát khỏi đau khổ một mình không phải là động năng thúc đẩy cao nhất. Vô lượng chúng sinh đang khát vọng niềm an lạc và kinh hãi khổ đau như chúng ta, họ cũng đang bị giam trong luân hồi. Nếu chúng ta chỉ nghĩ giải thoát một mình trong khi những người khác đang u mê và vô vọng, thiếu thầy chỉ dậy cho con đường chấm dứt khổ đau của họ thì sao? Do đó, động năng tu tập, động năng thực hành Đạo Pháp của chúng ta không thể thiếu lòng từ bi, chúng ta cần phát triển tâm bồ đề. Chúng ta tu tập để giác ngộ, chúng ta cần giải thoát chính mình đồng thời cũng phải phát triển tâm từ và trí tuệ để có đủ khả năng giúp đỡ những người khác . Như vậy, những hoạt đôïng như đến đây lắng nghe Đạo Pháp cũng có thể chuyển thành sự thực hành đạo một cách vô cùng hiệu quả nếu chúng ta hoàn thành với một tâm nguyện bồ đề. Phát khởi tâm từ là một điều kiện vô cùng cần thiết trong việc tinh tấn tu tập và tỉnh thức.

 

 

Tâm Hoàn Toàn Buông Xả

 

 

Nếu phải đề cập đến tinh túy của Đạo Pháp thì chúng ta có thể thâu tóm vào ba lãnh vực, được gọi là ba nguyên lý căn bản của con đường dẫn đến giác ngộ. Đó là Tâm Hoàn Toàn Buông Xả, Tâm Bồ Đề Quan Niệm Đúng về Tánh Không. Nói vắn gọn, chúng như là chất dầu đặc biệt đẩy phi thuyền của chúng ta thẳng tới mặt trăng toàn giác. Chúng ta sẽ tìm hiểu chúng trong phần còn lại của bài giảng này. Theo phương pháp này, có thể sẽ dễ hơn và nhanh hơn để chúng ta chiến thắng những tính tiêu cực mà chúng đã hành hạ chúng ta trong vô lượng kiếp. Đạo sư Je Tsongkhapa đã để lại một bài kệ vô cùng quí gía về ba nguyên lý này, tôi sẽ trình bày nó theo lối viết của ngài Kyabje Pabongka Rinpoche, một đại hành giả tu khổ hạnh Tây Tạng đã đạt ngọâ theo lối thiền mật tông Heruka Chakrasamvara.

 

Cánh cửa mở ra cho tất cả những con đường tâm linh, từ sự giải thoát cá nhân đến sự giác ngộ tối thượng, chính là tâm hoàn toàn buông xả. Như là một giấy thông hành, một sự chủng ngừa và một số tiền độ thân cần thiết cho một cuộc đi du lịch, muốn tinh tấn trong sự thực hành Đạo, tâm cần phải buông xả một cách toàn diện. Một thiền giả sẽ không đạt được một sự tiến bộ nào nếu không thực tâm buông xả tất cả. Mặc dù họ đang ở nơi tu tập, đang lắng nghe và đang nhận lãnh những lời dậy bảo về thiền định, nhưng họ cũng đang tiếp tục bị ràng buộc bởi những chướng ngại thầm kín của cả tinh thần và thể xác họ. Sở dĩ nói như vậy bởi vì họ đã không phát triển sức mạnh của tâm hoàn toàn buông xả. Cho tới khi nào sức mạnh của lòng thành tâm buông xả tăng lên, thì những chướng ngại ẩn náu sâu xa kia sẽ tự động sút giảm và kết quả của sự thiền định sẽ tới ngay. Lúc đó, tâm cũng tự điều chỉnh để mang lại sự tinh tấn.

 

Đức Phật Thích Ca đã tinh tấn trên con đường tu tập của Ngài bởi vì Ngài quyết tâm buông bỏ tất cả. Do đó, Ngài có thể thanh tẩy, tinh tiến vượt bực, có khả năng chuyển hóa muôn vàn chúng sinh, hướng dẫn họ sinh vào những cõi cao hơn, giải phóng họ và giúp họ đạt giác ngộ, cho đến ngày hôm nay. Cũng giống như vậy, đại thiền giả du già Tây Tạng MIlarepa đã từ bỏ tất cả để tu tập và Ngài đã hoàn toàn giác ngộ chỉ trong một kiếp.

 

Người ta thường nghĩ rằng phát triển tâm buông xả như vậy sẽ làm chúng ta bi quan và ngu dốt đi, nhưng hoàn toàn ngược lại, tất cả những vị thiền giả tinh tấn trên con đường thiền định đều kinh nghiệm được sự hạnh phúc chân thật và an lạc ngay trong cuộc sống trần gian này. Nếu chúng ta nghĩ rằng sự buông xả sẽ phá hủy sự hưởng thụ trong cuộc sống này thì chúng ta đã hiểu sai ý nghĩa của nó rồi. Khi một người thực sự phát triển tâm buông xả, họ sẽ có kinh nghiệm và thực chứng sâu xa về hạnh phúc và an lạc, cả tinh thần lẫn vật chất, niềm hạnh phúc của họ vượt xa những người chỉ biết quanh quẩn với những thú vui xa hoa vật chất mà không có thực chứng.

 

Chúng ta hãy thử nhìn sâu vào lãnh vực này xem sao. Một người sở hữu tài sản to lớn có thể nói rằng họ đang tận hưởng cuộc đời, như vậy họ không cần sống đạo, không cần Đạo Pháp. Họ nói như thế nhưng tâm của họ đang hờn giận ganh ghét, vô minh, kiêu mạn,...vân vân... Nếu đây là tất cả những gì họ tin tưởng, thì tại sao chúng ta lại bảo rằng họ đang khổ, còn nhà tu hành từ bỏ tất cả kia lại sung sướng hạnh phúc hơn họ? Câu trả lời là người đó đang đi tìm hạnh phúc và sự an toàn trong luân hồi, những thứ này đang làm họ mờ mắt, dù họ biết hay không biết, đau khổ rồi sẽ đến. Để tạm thời bảo vệ cái tâm trạng của mình, họ từ chối không nhận những điều bất mãn mà họ đang kinh qua. Hơn nữa, họ không có khả năng nhìn ra được vọng tưởng đang nằm trong vấn đề này. Vì thế, điều mà họ cho là đang hạnh phúc thực ra chỉ là sai lầm u mê, nói một cách rất thành thật, họ chẳng hạnh phúc chút nào. Ngược lại, thiền giả vượt qua được những chướng ngại trong tâm chính là nhờ sức mạnh của tâm buông xả, làm họ thoát khỏi những khổ đau của vọng tưởng mà tiến tới một đời sống vững chắc trong sự an lạc của cả thể chất lẫn tinh thần.

 

Những vấn đề vật chất đều phát khởi từ tinh thần. Còn nữa, chúng ta thường cho rằng nguyên nhân tạo ra đau khổ không phải là kết quả của lòng ganh tị và ham muốn, mà chỉ có những bệnh tật của thân xác mới đem lại khổ đau. Thực ra, nguyên nhân của cái đau phát xuất từ một tâm tiêu cực và đây chính là cái khổ của chính nó.

 

Thí dụ như lòng mê vọng kiêu mạn, khi bị nó ảnh hưởng chúng ta sẽ không còn yên ổn mà vô cùng bực bội. Chúng ta bị bơm phồng lên như một trái banh. Nếu kiểm điểm, chúng ta sẽ cảm thấy vô cùng khó chịu và sẽ nhận thấy nhiều hiện tượng xẩy ra chung quanh mình, thân xác thì run lên tinh thần thì bấn loạn. Nếu chúng ta công nhận tình trạng “bất an” này là đau khổ thì chắc chắn chúng ta phải liệt kê kiêu mạn vào trong danh sách này.

 

Thật là dễ dàng để nhận ra rằng nóng giận cũng nằm trong danh sách của khổ đau. Chẳng có một chút thoải mái nào khi ở vào tình trạng này. Nóng giận gây ra đau tim, mất bình tĩnh và biết bao nhiêu hậu qủa xấu xa khác cho tâm hồn. Nó chẳng mang lại một niềm hạnh phúc nào ngoài đau khổ.

 

Lòng tham lam là một loại mê vọng gây đau khổ khó nhận ra nhất. Đây cũng chính là một chướng ngại, một nguyên nhân mang lại đau khổ. Hãy tưởng tượng chúng ta đang ở trong một cửa tiệm, có một món hàng mà chúng ta rất thích thú, muốn có cho bằng được. Tâm của chúng ta liền bị khựng lại khi nhìn thấy món hàng đó, không thể không mua được, phải mua ngay. Mỗi khi ý tưởng này xuất hiện ra trong tâm của chúng ta, chúng ta cảm thấy có một cái gì đó thắt chặt tim ta hoặc như một lưỡi dao nhọn dí vào trái tim ta. Có thể chúng ta cho rằng đây là một thói quen rồi chấp nhận nó như một niềm hạnh phúc, nhưng nếu nhìn gần hơn, sâu hơn chúng ta sẽ thấy thực sự đây là một tình trạng bị gò bó, một sự thắt chặt.

 

Cũng như vậy, tất cả những phiền não tinh thần và những ảnh hưởng của nó đều mang lại khổ. Rất nhiều người trong chúng ta không nhận ra được những tâm trạng tiêu cực này là bệnh hoạn mà cứ tưởng rằng họ vẫn khỏe mạnh lắm. Chúng ta có thể hiểu được sự thật này qua sự sử dụng thuốc men. Nhiều khi chúng ta đi khám bệnh mà không có một lý do rõ rệt nào, nhưng bác sĩ lại phát giác ra chúng ta đang mang một chứng bệnh hiểm nghèo. Như vậy điều mà trước kia chúng ta nói rằng chúng ta chẳng có bệnh gì hết là sai lầm, nếu khôn ngoan thì chúng ta nên nghe theo lời bác sĩ mà chữa bệnh ngay. Do đó một người cho rằng họ không khổ, việc thực hành Đạo chỉ để dành cho những người thất bại hoặc những người bất mãn với thời cuộc, nếu họ tự kiểm điểm một cách sâu xa về những thái độ tự vệ này thì họ sẽ trở nên khôn ngoan hơn.

 

Một tâm hoàn toàn buông xả sẽ dẫn đến phúc lạc vì những nguyên nhân gây ra xáo trộn đã không còn hoạt động. Phát triển tâm buông xả không có nghĩa là đi sống biệt lập với xã hội và rời xa những sinh hoạt lợi lạc của nó. Nếu nó xẩy ra như vậy thì chúng ta sẽ không còn khả năng và cơ hội để phát triển tâm  buông xả nữa mà phải đợi cho đến khi nào rời khỏi xác thân này, vì thân xác cũng là một phần của thế giới vật chất. Nó cũng không có nghĩa là chúng ta phải vất đi tất cả những tài sản của chúng ta. Trong một khía cạnh nào đó, tâm của chúng ta cũng là một tài sản, làm sao chúng ta có thể chạy trốn nó được? Vì thế, buông xả không phải là một hành động tách biệt, chia cắt hoặc lìa bỏ; nó không là một cái gì đó mà chúng ta có thể hoàn thành giống như làm xong một công việc. Đúng hơn, nó là một hoạt động của tâm.

 

Vậy thì tâm buông xả là gì? Đây chính là sự buông bỏ những nguyên nhân gây ra đau khổ, những sự buồn lòng tự chính nó. Mỗi khi chúng ta loại bỏ được những nguyên nhân này thì những khó khăn rắc rối không còn xẩy ra một cách dễ dàng nữa – cho một cá nhân hay cho cả một cộng đồng xã hội -- như vậy tham lam, giận dữ và kiêu mạn sẽ không còn làm gì được chúng ta. Chúng ta sẽ không còn bị rơi vào những vấn đề gây ra buồn phiền hay không buồn phiền, bởi vì những nguyên nhân của chúng đã bị loại bỏ.

 

Xin nhấn mạnh điều này, từ bỏ không có nghĩa là vất bỏ đi tất cả những thú vui trần gian mà chúng ta đang có. Đã có rất nhiều vị giác ngộ là những thương gia giầu có, vua chúa, vân...vân...Đây không phải là sự sở hữu của chúng ta mà chính là sự vô minh của chúng ta, tất cả những thái độ bám víu, níu kéo, dính mắc và nuối tiếc của chúng ta vào chúng cần phải buông bỏ (Một vị đạo sư nói: hãy thưởng thức tất cả những gì có trên đời này nhưng đừng bám víu vào bất cứ cái gì, đó là nguồn gốc của khổ đau và hạnh phúc. –Dg ). Mặc dầu trong hiện tại chúng ta không để ý, không thực tập trên thái độ này nhưng nếu chúng ta chỉ hiểu ý nghĩa thực sự buông bỏ là gì thì chúng ta cũng đã bớt được rất nhiều phiền muộn. Tuy nhiên, nếu chúng ta thực sự thực hành phát triển tâm buông xả thì chúng ta sẽ tiến rất xa trên con đường giải thoát. Chúng ta sẽ xử dụng những của cải của chúng ta một cách khôn ngoan hơn để không bị chúng hành hạ. Chúng ta sẽ biết cách đối trị những mâu thuẫn nội tại về ý nghĩa thật của sự buông xả, thấu suốt được toàn triệt những niềm tin nhảm nhí đã dẫn dắt chúng ta đến khổ đau, bất hạnh, yếu hèn như một kẻ ăn xin.

 

 

Buông Bỏ Đau Khổ

 

 

Không có một tâm hoàn toàn buông bỏ khổ đau thì không có cách nào thoát khỏi biển trầm luân. Chúng ta đã bị chới với trong biển này từ muôn vàn kiếp và sẽ tiếp tục chìm lặn trong đó nếu chúng ta không quyết tâm ngay từ bây giờ thoát ra khỏi nó. Với quyết tâm buông bỏ toàn diện như vậy sẽ tạo nền tảng vững chắc cho con đường giải thoát đến giác ngộ, đây chính là những lời dậy bảo trước kia về động năng thúc đẩy đến giác ngộ, đây cũng chính là một quan điểm đúng đắn về tính không.

 

Chúng ta không hy vọng phát triển được tâm buông xả nếu chúng ta không hiểu luân hồi là gì và đau khổ là gì. Nếu chúng ta không nhận thức được bản tính khổ đau của luân hồi thì chúng ta cũng không có một năng lực nào thúc đẩy chúng ta tìm con đường thoát khổ. Vì thế, chúng ta cứ mãi hoài ngụp lặn trong những thú vui tạm bợ, nhất thời, bị mù quáng và bị cột chặt vào bánh xe khổ đau và bất mãn. Chúng ta như những tên tù khờ dại chẳng hiểu biết gì về nhà tù khốn khổ khi so sánh với một đời sống thoải mái tự do, nên chẳng bao giờ tạo cơ hội mà trốn thoát. Do đó, thiền định trên bản tính của khổ đau là một việc làm vô cùng quan trọng nếu chúng ta muốn tìm kiếm và theo đuổi con đường giải thoát khỏi luân hồi.

 

Có rất nhiều người hiểu sai về luân hồi. Một số người nghĩ đó là một xứ sở, một nơi chốn, một căn nhà hay là một loại thức ăn ...vân...vân. Vì hiểu lầm như vậy nên người ta nói rằng ở Tây Tạng có những người chuyên môn phục dịch cho những lạt ma cao cấp. Những người này ở với lạt ma cả đời, phục vụ ông ta và lo lắng tất cả mọi việc cho ông ta. Rồi một ngày nào đó họ thay quần đổi áo bằng một bộ cà sa tu hành.

 

Một thời gian ngắn sau họ được gửi đến một vị lạt ma khác. Lạt ma này nghĩ rằng chắc ông đã hiểu Đạo thâm sâu vì đã ở với cao tăng lâu lắm rồi. Lạt ma hỏi ông đã tinh tấn như thế nào trên đường tu tập. Ông trả lời: “Con đã thoát khỏi luân hồi.” Vị lạt ma có vẻ hài lòng và hỏi thêm làm sao mà ông ta đạt được điều đó. Ông trả lời: “ Dễ thôi, con đã thay quần áo rồi !”

 

Đó là những kiểu hiểu lầm về luân hồi. Lại có những người khác, họ rời bỏ lối sống thường ngày để đi vào hang động và rừng sâu để tu, họ nghĩ rằng như vậy là đã trốn thoát khỏi luân hồi. Đây cũng là một hiểu lầm, dù có lên mặt trăng mà ở, chúng ta cũng vẫn ở trong luân hồi. Luân hồi không phải là một nơi chốn để mà chạy trốn, nó chính là tình trạng và thái độ của tâm chúng ta.

 

Luân hồi (samsara) là một danh từ tiếng Phạn (Sanskrit) có nghĩa là “chu kỳ, vòng tròn” hay “vòng hiện sinh.” Cho tới khi nào chúng ta chưa kiểm soát được vòng chết và tái sinh là chúng ta còn ở trong luân hồi. Ngay bây giờ, chúng ta đang du hành qua hình dạng con người. Khi đời sống này qua đi, tâm thức của chúng ta –hoặc, chính xác hơn, sự liên tục của năng lượng tinh thần—sẽ bay theo cơn gió nghiệp vào một đời sống khác mà không có quyền lựa chọn. Như vậy là nó lại cư trú vào một thân nghiệp khác. Và rồi đời sống này lại cũng sẽ chấm dứt, tâm thức của chúng ta lại ra đi không có quyền chọn lựa. Trừ khi chúng ta kiếm ra được một con đường để thoát nếu không tiến trình này sẽ liên tục tự lặp đi lặp lại không bao giờ chấm dứt.

 

Cái gì làm chúng ta lòng vòng trong bánh xe luân hồi? Đó chính là nghiệp lực được tạo ra bởi chính những hành động của chúng ta cộng với những vọng tưởng của chúng ta thúc đẩy chúng. Hai lực này cột chặt chúng ta vào những thân nghiệp khác nhau như những sợi dây cột tù nhân. Điều khác biệt là chính chúng ta tự trói chúng ta bằng những sợi dây nghiệp và vọng tưởng do chính chúng ta tạo ra, không có một ai khác trói chúng ta cả.

 

Cho tới khi nào chúng ta còn tiếp tục tái sinh vào một thân xác trong luân hồi thì chúng ta còn tiếp tục bị phiền não và bất mãn. Hãy thử nghĩ mà xem, tất cả những khó khăn, tất cả những vấn đề mà chúng ta găïp đều chỉ vì chúng ta mang cái hình thể hiện tại. Chúng ta phải cho nó ăn, phải cho nó mặc, chúng ta phải săn sóc nó rất cẩn thận thì mới mong nó được khỏe mạnh. Chúng ta phải làm việc cực nhọc để có tiền mà phục vụ nó, ngay cả việc phải có một căn nhà để giữ nó ấm. Sau một ngày làm việc cực khổ, tâm chúng ta bị mệt mỏi, chán chường vì thân xác của chúng ta rã rời và uể oải. Còn nữa, mặc dù chúng ta đã cố gắng hết sức bảo vệ nó, thân xác của chúng ta vẫn thường xuyên bị nhiễm trùng và bị thương. Măïc dù bị như vậy nhưng không một ai trong chúng ta muốn xa rời cái nguyên nhân bất an này, dường như không còn một con đường nào khác để trốn thoát nếu không có nó. Sự thiếu tự do chọn lựa này là một sự kiện rất tự nhiên của luân hồi.

 

Chúng ta không thể có tự do sau khi tự tử. Hành động điên cuồng này, sinh ra trong tuyệt vọng, chỉ để thay thế một thân xác bệnh hoạn khác mà thôi. Thay vì như thế, giống như một tù nhân cắt đứt sợi dây trói, chúng ta cũng phải cắt đứt nghiệp và những vọng tưởng của chúng ta. Chỉ có cách này mới giải thoát chúng ta khỏi luân hồi. Chỉ có sự hiểu biết sâu xa và sự kinh hãi khổ đau đã kinh nghiệm được trong những kiếp luân hồi mới tạo nên những động năng mãnh liệt để thúc đẩy chúng ta vượt thoát khỏi nó. Như vậy thiền định trên sự buông xả cần phải được đào sâu và phát triển thật nhiều, nhiều hơn nữa.

 

Có rất nhiều lý do khiến chúng ta phải tìm hiểu càng sâu xa càng tốt. Trong mỗi một phút chúng ta tạo ra hàng trăm thứ nghiệp, và, tùy theo cường độ và sự lặp đi lặp lại của chúng, chúng có thể đẩy chúng ta vào rất nhiều loại hiện sinh khác nhau, rất nhiều hoàn cảnh sinh hoạt khác nhau. Chỉ cần thận trọng để ý tâm của chúng ta mỗi khi nó nổi cơn nóng giận là chúng ta biết ngay cảnh địa ngục chúng ta thường tạo ra như thế nào. Nếu trong khi chết mà chúng ta mang một tâm trạng đầy u uất và trầm thống bởi những vọng tưởng thì thử hỏi cái thân xác nào sẽ thích hợp với những tâm thức u uẩn khổ đau đó? Chắc chắn nó sẽ không mang hình dạng con người!

 

Nói rộng hơn nữa, mặc dù với một nhãn quan hạn hẹp chúng ta cũng có thể nhìn thấy được rất nhiều đời sống khác ngoài con người, và cũng có rất nhiều hình dạng con người khác nhau trên trái đất này. Không ai có thể chứng minh được đau khổ của loài vật hay của một người bị bệnh tâm thần không ảnh hưởng đến chúng ta, chúng thực sự có ảnh hưởng đến chúng ta! Vì thế, một tâm buông xả toàn diện phải được bao trùm trên tất cả mọi cuộc sống, từ chỗ cao nhất đến nơi thấp nhất. Nhờ sự chuyên cần theo dõi trong thiền định, không những chúng ta có thể phát triển được tâm buông xả mà chúng ta còn phát triển được tâm từ bi đến tất cả những chúng sinh bất hạnh đang trầm luân trong khổ đau. Tâm từ bi đó rất quan trọng và cần thiết, đặc biệt cho tiến trình tinh tấn tu tập của chúng ta.

 

Đức Phật Thích Ca đã dậy chúng ta có ba cõi thấp hơn cõi con người, mỗi một cõi đều do nghiệp cấu tạo ra những tình trạng tương ứng như vậy. Ba cõi đó là : cõi Địa Ngục, cõi của khổ đau; cõi Ngạ Quỷ, cõi của đói khát và cõi Súc Sinh, cõi của sợ hãi. Tùy theo nghiệp của từng cá nhân, những tình trạng khổ đau này sẽ được thị hiện ra trong mỗi một hoàn cảnh, nơi chốn vật chất và thân thể khác nhau, hay tác động trên tâm thức ở mức độ nông sâu khác nhau. Dù ở bất cứ trường hợp nào, những đau khổ này đều rất thật đối với những người đã tạo ra nghiệp đó để thực sự kinh nghiệm nó.

 

Nhờ thực hành tâm linh sâu vào những cõi giới bất hạnh này, chúng ta mới tạo ra được những động lực mạnh hầu buông bỏ những hành động tiêu cực dẫn chúng ta vào tái sinh. Nhờ nếm một chút khổ đau bây giờ trong thiền định, trong khi còn có cơ hội chuyển hóa ác nghiệp, còn hơn là cứ giữ mãi tình trạng khinh thường không sợ hãi cho đến một ngày phát giác ra mình đang bị sập bẫy. Khi đó thì quá trễ rồi, chẳng còn làm được gì nữa, chỉ còn chờ cơn thống khổ đến muôn đời.

 

Nếu chúng ta nghĩ được rằng những cõi khổ đau này là do nghiệp quả mà ra thì rất có thể chúng ta đã được hưởng nhiều ơn ích trong cuộc đời lắm rồi. Thí dụ, có thể chúng ta thường rất tự hào và có những hành vi ngạo mạn đối với những cái đáng lý ra chúng ta nên hạ mình xuống. Nhưng, nếu chúng ta hiểu được rằng những ngạo mạn đó sẽ dẫn chúng ta sinh vào một trong ba cõi thấp nói ở trên và nếu chúng ta có kinh nghiệm về khổ đau trong lúc thiền định thì tâm của chúng ta sẽ tự động thoát khỏi những tâm trạng khổ này. Biết rằng sợ hãi sẽ làm khổ tâm cũng đủ để chấm dứt việc tạo ra những nguyên nhân gây khổ đau khác, đây không phải là một điều xấu, không phải là một thái độ tiêu cực. Đó là một ơn ích, một việc rất có lợi. Nếu là thái độ tiêu cực nó sẽ dẫn đến khổ đau. Do đó, vì sợ tạo ra ác nghiệp nên sẽ dẫn đến việc quyết tâm chấm dứt khổ. Đây là một việc tốt, không xấu.

 

Ngài Shantideva (Thế Thân), một vị đại bồ tát người Ấn độ, đã dẫn chứng những ơn ích khi thiền về những cõi khổ như sau:

 

          Kẻ nào nhớ đến những khổ đau mà bực bội

Kẻ đó sẽ hết kiêu căng.  

            Khi khám phá ra sự khổ đau của mình

            Kẻ đó cũng khám phá ra khổ đau của người khác.

            Đó là cơ hội cho lòng từ bi khởi phát.

 

Như vậy, những chúng sinh bình thường như chúng ta, là những người luôn luôn tạo ra nghiệp và không thể kiểm soát được vọng tưởng, thì thiền trên những khổ đau của ba cõi giới này là cách tốt nhất để chúng ta tu tập và phát triển tâm buông xả toàn diện.

 

 

Sáu Nẻo Luân Hồi

 

 

Cõi tái sinh thấp nhất là cõi địa ngục, chúng sinh ở cảnh địa ngục. Chúng ta tạo ra nghiệp và kinh nghiệm được khổ đau qua nghiệp khi chúng ta cố tình gây khổ đau và thương tích cho người khác. Đánh nhau, chém giết nhau, hãm hiếp kẻ khác ...vân vân... là những hành động không đạo đức, kết quả là sẽ tái sinh vào đây. Cõi địa ngục có thể rất nóng hoặc rất lạnh, tái sinh vào cõi giới này thường ở rất lâu dài. Mang một nghiệp này sẽ bị tái sinh vào địa ngục nóng có thể dài tới 9 tỷ năm! (nghĩa là cho tới khi nào hoàn toàn thanh tẩy hết nghiệp đó, nhưng chúng ta cũng nên biết rằng trong lúc chúng ta đang tẩy nghiệp này thì chúng ta cũng vẫn tạo thêm nghiệp, thí dụ chúng ta đang thanh tẩy khẩu nghiệp là không nói xấu người khác nhưng chúng ta cũng vẫn thường nói không đúng sự thật về người khác. Vì thế, nếu không tỉnh thức thì thời gian tái sinh có thể còn dài hơn 9 tỷ năm  –Dg)

 

Rất đau đớn trong từng giây từng phút ở địa ngục. Có kẻ sẽ phải chiến đấu với kẻ thù do chính nghiệp tạo ra. Mỗi khi bị chết, họ sẽ hồi sinh lại để đánh nhau tiếp. Cái đau mà chúng ta cảm như hàng trăm mũi nhọn đâm vào da thịt chẳng có thể so sánh được với cái đau của những kẻ xấu số trong địa ngục.

 

Càng đi sâu vào địa ngục thì càng kinh nghiệm thêm đau khổ và cuộc tái sinh sẽ lại tăng lên gấp hai. Nơi thấp nhất trong địa ngục nóng là A-tỳ địa ngục, ở đây đau khổ triền miên, liên tục không ngừng, lửa thiêu đốt thân xác không bao giờ tắt, hết ngày này qua ngày khác, hết kiếp này qua kiếp kia.

 

Nếu vào địa ngục lạnh thì như trong ngục tối tăm bao bọc bởi đá băng. Chúng ta bị ép trong những dẫy núi đóng đầy băng tuyết. Khi những cơn bão tuyết tràn tới, nhiệt độ cứ giảm dần mà thân xác thì như bị vỡ tan ra từng mảnh. Nghiệp sẽ tạo ra những con trùng nhỏ chui rúc vào những nơi thịt da rạn nứt mà chúng ta không thể làm gì được, vì đang trong tình trạng đông cứng.

 

Còn có những cảnh diễn tả khủng khiếp hơn nữa nhưng chúng ta không thể nói ở đây. Có những cảnh khổ y như chúng ta cảm nhận được ở trong cõi loài người (Một người đang trong cảnh cùng cực cô đơn, với từng cơn ray rứt, buồn tủi, sợ hãi thì đâu có khác gì đang ở trong địa ngục lạnh --Dg). Rất nhiều cảnh khủng khiếp này đã được dịch sang Anh ngữ. Khi chúng ta đọc những cảnh này hoặc khi chúng ta thiền về những cõi giới này chúng ta không nên coi đó chỉ như là những cuốn sách truyện. Đức Phật Thích Ca đã dậy chúng ta về những cảnh giới này theo sự chứng ngộ của Ngài và do lòng từ bi của Ngài. Ngài đã nhìn thấy chúng sinh bị trầm luân trong những cảnh giới này và chỉ cho chúng ta cách thoát ra khỏi những nơi khủng khiếp đó. Nếu chúng ta coi những cảnh này như là những câu chuyện cổ tích mà không thay đổi lối suy nghĩ hoặc thay đổi những thái độ của chúng ta thì chúng ta đã bỏ qua một cơ hội hiếm có, một cơ hội quí báu để thoát khỏi khổ đau. Chúng ta sẽ bị rơi vào tình trạng lười biếng và bị lôi cuốn đến bất cứ nơi nào mà tâm của chúng ta bị cơn gió nghiệp thổi đi.   

 

Cõi tiếp theo là cõi Ngạ qủy, ma đói, hồn ma vất vưởng cực kỳ đói khát. Chúng ta có thể cảm nhận sự đau khổ, sự dày vò của họ qua những hành động điên cuồng của mê vọng tham dục, khát khao, bủn xỉn và hà tiện. Trong cõi ngạ quỷ không phải chỉ bị đói khát mà còn bị lạnh lẽo, mệt mỏi, nóng bức và sợ hãi cùng cực nữa. Nói rộng ra, đây là cõi không bao giờ được thỏa mãn, không bao giờ được hài lòng với bất cứ gì mà họ mong muốn, ước vọng.

 

Ngạ quỷ lang thang hết năm này qua năm khác, hết kiếp này qua kiếp khác mà không bao giờ tìm được một giọt nước. Nếu nhìn thấy nước, khi tới gần thì nước lại biến mất. Từ xa họ nhìn thấy hồ nước trong xanh, mát mẻ, họ vội vã, họ hối hả chạy lại nhưng họ chỉ thấy bùn lầy và rác rưởi. Nếu may mắn tìm được một chút nước thì đó cũng chỉ là vọng tưởng, là ảo ảnh, uống vào thì nó lại là một chướng ngại. Miệng của họ nhỏ hơn con mắt của họ, bao tử của họ lớn hơn cổ của họ, cổ của họ bị thắt lại nên cái bụng to bao giờ cũng đói. Nước thì bị bốc hơi ngay tại cửa miệng hay nó biến thành nước độc trước khi vào bao tử.

 

Đời sống trong cõi này thường rất dài, nó được tính từng ngàn năm một. Nơi cư ngụ của họ trong lòng đất nhưng họ cũng đi lang thang trong cõi loài người và cõi súc sinh. Có những người nhìn thấy họ do duyên nghiệp nhưng hầu hết chúng ta không nhìn thấy họ. Tất cả chúng ta đã từng nhìn thấy những người có tính bủn xỉn, tham lam vô độ, nhưng thực sự chúng ta không biết họ thuộc cõi giới nào.

 

Cõi kế tiếp là cõi súc sinh (thế giới loài vật). Tái sinh vào cõi này là kết qủa của bản tính súc vật mù quáng, bản năng trì độn tâm đóng kín mít. Nếu chúng ta phải sinh vào cõi này, chúng ta sẽ mất hết cơ hội để giúp đỡ chính mình, không còn khả năng học hỏi. Cả đời chỉ biết tạo thêm ác nghiệp và bị trầm luân trong đau khổ và sợ hãi. Nếu có người nào cố gắng dậy bảo chúng ta những điều tốt đẹp mong tẩy xoá đi những ác nghiệp thì chúng ta cũng chẳng biết gì cả chỉ biết gật đầu để xin ăn.

 

Hầu như đau khổ lớn nhất của loài thú là đói, khát và sợ hãi bị con thú khác lớn hơn ăn thịt. Thường thường, khi một con vật bắt được miếng mồi, nó cấu xé, nhai ngấu nghiến như sợ bị cướp mất, đôi mắt láo liên nhìn chung quanh sợ mình bị giết bởi con thú khác. Những con thú nuôi trong nhà được may mắn hơn không sợ con khác bắt như loài thú hoang nhưng lại bị chủ bắt làm những công việc nặng nhọc hoặc bị xiềng xích như một tù nhân. Thêm nữa, rất nhiều loài thú còn bị con người săn đuổi và bị giết, họ giết thú vật một cách tàn nhẫn không thương tiếc, còn dã man hơn là chính loài thú giết nhau. Chúng ta phải tưởng tượng mới nhìn ra được đau khổ của cõi điạ ngục và ngạ qủy nhưng những đau khổ của cõi súc sinh thì chúng ta đã nhìn thấy tận mắt của chúng ta thường ngày.        

 

Đây chỉ là những diễn tả ngắn gọn về những cõi bất hạnh, khổ đau. Còn nữa, có ba cõi khác được coi là “may mắn” hơn, gọi như thế vì họ được hưởng một số lạc thú khác nhau trong luân hồi. Ba cõi này là: cõi con người; cõi thần hay A tu la cõi trời, cõi thiên hay còn được gọi là cõi tiên, có tiên nam và tiên nữ. Nói chung, được sinh vào ba cõi này vì đã tạo được rất nhiều ơn phước. Tuy nhiên, vì được hình thành trong vô minh và do những động lực không thanh tịnh nên chúng ta vẫn bị nghiệp lực và vọng tưởng quăng chúng ta vào chốn luân hồi. Những đau khổ mà chúng ta cảm nhận trong những cõi giới này có thể vi tế hơn ở những cõi bất hạnh nói ở trên kia, nhưng cũng đủ làm chúng ta bất mãn, chán chường.

 

Cõi  trời là cõi cao nhất trong sáu cõi luân hồi, cõi này được hưởng đầy phước lạc. Đây là những tòa lâu đài tráng lệ, lộng lẫy với đủ loại lạc thú. Nhưng vì đây là cõi lạc thú nên họ chỉ biết hưởng lạc mà không còn biết nghĩ đến chuyện tạo thêm phước đức cho chính mình. Tất cả thời giờ ở đây chỉ để dành cho những nghiệp quả tốt mà họ đã tạo được ở trong quá khứ nên khi chết họ chỉ còn lại những nghiệp quả xấu mang đi với họ, do đó, cuộc hành trình mới là đi vào những cõi thấp hơn.

 

Vào tuần cuối cùng trong cuộc đời của một vị tiên (cũng khoảng 350 năm ở trần thế) họ sẽ cảm thấy đau khổ hơn những chúng sinh ở cõi ngạ quỉ. Họ biết rằng họ sắp chết và họ cũng biết rằng họ sẽ phải sinh vào những cõi thấp hơn. Những người bạn của họ biết rằng họ sắp chết nên rời xa họ. Họ bị cô đơn, những đóa hoa tươi mát, óng ả đang từ từ ngục xuống, chờ chấm dứt một quãng đời vinh quang.

 

Cũng tương tự như vậy, ở cõi thần lúc nào cũng có chiến tranh, họ luôn luôn tranh giành lẫn nhau. Họ ganh tị với cõi trời, họ điên khùng vì ghen tương. Nhưng họ không thể thắng nổi cõi trời, họ không thể giết được thần tiên. Sự ganh tị tức tối của họ làm họ không lúc nào bình an mà hưởng phúc lạc của cuộc đời thành ra những cố gắng của họ chỉ mang lại những chán chường tái tê hơn nữa và hơn nữa.

 

Cuối cùng là cõi loài người. Chúng ta đã luận bàn nhiều về những khổ đau trong sinh lão bệnh tử của con người mà chúng ta đã gặp trong cuộc đời, chúng ta đã từng thích thú, vừa lòng, bất mãn và chán chường tái tê với cuộc đời. Hơn nữa, trong từng kinh nghiệm về khổ đau của năm cõi kia đều tìm thấy ở nơi con người. Còn rất nhiều đau khổ khác đã không được nhắc tới, chúng ta không có đủ thời giờ để bàn luận về tất cả mọi thứ khổ đau mà chúng ta đã trải qua hay chưa gặp phải.

 

Một trong những cái làm cho con người đau khổ nhất mà chúng ta đã không nhắc đến đó chính là sự sở hữu, sự hy vọng hão huyền (vọng tưởng), học thức và nhất là tình trạng hiện tại của chúng ta. Chúng ta đã tốn biết bao nhiêu thời giờ và công lao để có được những cái tốt đẹp, nhưng có gì bảo đảm những cái đó không tàn phai hoặc chúng ta sẽ không bao giờ mất chúng. Một sự thật hiển nhiên mà chắc chắn ai cũng biết là những cái này không tồn tại mãi mãi, chúng vô thường, chúng luôn luôn thay đổi và chúng sẽ hư nát.

 

Chúng ta không nên để chính chúng ta bị lừa bịp bởi những thứ hấp dẫn, chúng quyến rũ chúng ta vào vòng luân hồi như những tài sản, thân xác và những vui thú trần gian của chúng ta. Những vấn đề, những rắc rối không nằm trong sự thưởng thức, trong sự sử dụng những đồ vật khi chúng ta sở hữu chúng, nhưng chính là sự bám viú, chính là sự khao khát, chính là những vướng viú gắn bó vào chúng. Chúng ta nên nhớ rằng chúng ta đã từng sở hữu cả một trời ham muốn trong những kiếp trước nhưng có cái nào giúp tâm chúng ta giải thoát khỏi khổ đau không? Không! Chẳng có cái nào cả. Chúng ta vẫn trầm luân trong luân hồi hết kiếp này qua kiếp khác mà chẳng nhìn thấy một lối đi ra.    

 

Trong cả sáu nẻo luân hồi, chúng ta đã từng bị khổ đau vì phải rời bỏ thân xác của chúng ta nhiều lần. Đây là bằng chứng của vô thường. Để hiểu được những ý tưởng khó khăn này, chúng ta cần phải tưởng tượng ra rất nhiều, càng nhiều càng hay, gia phả của chúng ta – đó là cha mẹ chúng ta và cha mẹ của những người khác, ...vv... Bao nhiêu người mà chúng ta có thể tưởng tượng được là bấy nhiều đời mà chúng ta đã trải qua. Đó cũng chính là cách mà tổ tiên của chúng ta đã sinh ra, sống một thời gian, rồi chết, rồi chúng ta lại sinh ra, lại sinh ra, rồi lại rời bỏ thân xác, rồi lại đầu thai ...

 

Ở ngay trong những khoảng thời gian ngắn của một đời, chúng ta cũng kinh qua, cũng tạo ra biết bao nghiệp. Chúng ta có thể là một người tầm thường, một tổng thống hay một vị vua trong một thời rồi bị bắt, bị cầm tù vì chính trị. Thí dụ, ở Tây Tạng, có những người giầu họ cứ tưởng là họ sẽ giầu mãi mãi, nhưng chỉ một thời gian ngắn, họ mất tất cả tài sản, có khi còn mất cả mạng sống.

 

Có lúc chúng ta buồn khổ vì cô đơn. Mặc dù chúng ta có rất nhiều bạn bè, rất nhiều người thân, nhưng chúng ta luôn luôn phải đối diện với những cơn khủng hoảng, với những nỗi tuyệt vọng của cuộc đời một mình. Chúng ta sinh ra rồi chết đi mà chẳng có ai chia sẻ được với chúng ta những nỗi niềm riêng tư sầu khổ và lo lắng. Cứ như thế, chúng ta đi vào sáu nẻo luân hồi đầy khổ đau. Đây không phải vì bi quan hay vì tin vào số mệnh khi chúng ta nói về khổ, mà đây chính là sự thật. Tốt hơn, chúng ta hãy trực tiếp đối diện với những vấn đề một cách thẳng thắn và từ đó tìm ra một con đường giải thoát hơn là cứ chạy trốn nó, cứ lẩn tránh thực tại để rồi cứ phải tiếp tục khổ đau.

 

Cần phải nhấn mạnh là không có một nghiệp quả nào trong luân hồi mà không có nguyên nhân. Chúng không thể xuất hiện nếu không có người này, vật kia tạo ra, chúng cũng không thể tự hiện diện. Chính chúng ta đã tạo ra những nguyên nhân và hoàn cảnh cho những đau khổ xảy ra qua thân (hành động), khẩu (lời nói) và ý (tư tưởng) của chúng ta. Nghiệp của chúng ta thay đổi theo từng cõi luân hồi. Không có một khoái lạc nào hay một khổ đau nào trong luân hồi tồn tại mãi mãi. Chúng tùy thuộc vào thái độ của chúng ta, chúng thay đổi theo thái độ tinh thần của chúng ta. Tuy nhiên, những hành động không đạo đức mang lại khổ đau và những hành động đạo đức mang lại hạnh phúc thì luôn luôn hiện diện. Vì thế, chúng ta cần phải tránh những hành động không có đạo đức và luôn luôn thực hiện những hành động đạo đức càng nhiều càng tốt. 

 

Chúng ta không thể phá hủy bánh xe luân hồi nếu chúng ta không nhận diện được tất cả khoái lạc chỉ là hình bóng khác của khổ đau. Và chúng ta không thể có được nhận xét này nếu chúng ta không phát triển lòng kinh hãi luân hồi và đặc biệt là những bất hạnh của từng cõi trong sáu cõi. Chúng ta phải hiểu thấu suốt điều này, nếu chúng ta để bị lôi cuốn vào những vọng tưởng thì hậu quả là chúng ta sẽ bị mang nghiệp rất nặng trong khổ đau, bây giờ và cả trong tương lai. Trở ngại mạnh nhất ngăn cản chúng ta không cho chúng ta nhận ra được sự thật là chúng ta cứ chạy theo những khoái lạc của luân hồi, của trần gian. Sự bám víu cũng giống như chất dầu, rất khó mà tẩy được dầu khi nó đã thấm vào giấy. Bụi bậm đất cát đã hòa tan trong dầu nên nó càng làm cho giấy dơ bẩn hơn nữa. Giống như vậy, chính sự bám víu đã làm ô nhiễm tâm ta, nó càng làm tâm ta dễ lấn sâu vào vọng tưởng. Cách tốt nhất để chúng ta có thể thoát khỏi những vọng tưởng là luôn luôn nhớ đến những khổ đau của luân hồi để chúng ta phát triển tâm buông xả, tâm từ bỏ những nguyên nhân của khổ đau.

 

Nếu chúng ta sợ bị ô nhiễm bởi tham sân si như sợ bị lửa thiêu đốt thì chúng ta mới có thể bảo vệ chúng ta khỏi hiểm nguy. Trong những cao ốc người ta gắn những bình chữa lửa, tại sao người ta lại gắn những bình chữa lửa ở đó? Chỉ vì họ sợ sự tàn phá của lửa, chỉ vì họ hiểu lửa nguy hiểm như thế nào. Chính vì sự hiểu biết này mà chúng ta tránh được nguy hiểm, chính vì sự hiểu biết này mà chúng ta biết cách bảo vệ đời sống hàng ngày của chúng ta. Cũng giống như vậy, vì sợ khổ đau và từ bỏ những nguyên nhân tạo ra khổ đau nên chúng ta mới biết sử dụng thân người quý báu này một cách tốt nhất.     

 

Hãy tưởng tượng có hai người đang ăn kem. Một người, tâm chưa được huấn luyện, họ ăn ngấu nghiến, ăn vội vàng và thèm khát. Hầu như mỗi một lần cắn một miếng kem, mỗi một lần nuốt kem vào cổ họng họ đều để lại dấu ấn của nghiệp. Vì tâm đầy ắp những thèm muốn, ao ước, chán, khen chê, bất mãn... nên người này đã không còn biết thưởng thức những mùi vị thơm ngon của chất kem. Ngược lại, người bạn của anh ta đã có một chút kinh nghiệm thiền định về bản tính của khổ trong những thú vui của luân hồi nên anh ta ăn một cách từ tốn, thoải mái. Anh ta không để cho sự thèm khát, tham ăn khởi lên trong sự thưởng thức ly kem của anh ta. Do đó tâm anh không bị ràng buộc bởi những vọng tưởng, ô nhiễm, anh còn có thể chuyển hóa những sinh hoạt đơn giản này vào sự thực hành Đạo Pháp. Vì thế anh ta có thể kinh nghiệm được cái gì là những thú vui nhất thời và cái gì là những niềm hạnh phúc trường cửu mà anh bạn của anh ta thường khen chê và bất mãn. Thí dụ này cho chúng ta biết, tâm buông xả mang lại cho chúng ta sự thưởng thức thật sự, ngay cả trong đời sống thường ngày của luân hồi chứ không cần phải thoát khỏi luân hồi.

 

 

Chúng ta tạo ra luân hồi như thế nào

 

 

Chúng ta đã biết chúng ta bị trôi lăn vào những nẻo luân hồi là do nghiệp lực và do những vọng tưởng của chúng ta. Và chúng ta cũng đã được chỉ dạy khi chúng ta tiếp xúc với những loại ô nhiễm khác nhau, khi bị ảnh hưởng bởi những loại ô nhiễm khác nhau thì nghiệp được cấu tạo do những nguyên nhân nào? Tới đây chúng ta có thể chia sẻ với nhau một chút về con đường chuyển tiếp chúng ta từ kiếp này qua kiếp khác như thế nào.

 

Đây là một chuỗi duyên khởi của 12 nhân duyên : (1) vô minh, ignorance, (2) hành, karmic formations, compositional action (3) thức, consciousness, (4) danh sắc, name and form, (5) lục nhập, the six sense faculties, the six sense spheres (6) xúc, contact, impression (7) thọ, feeling, (8) ái, craving, attachment (9) thủ, grasping, (10) hữu, becoming, existence (11) sinh, birth, (12) lão và tử, aging and death. Ngài Long Thọ, một đại giảng sư về những lời dậy bảo của Đức Phật Thích Ca, nói rằng:

                                                Trong 12 nguyên nhân

                                                Có 3 nguyên nhân là vọng tưởng

                                                Có 2 nguyên nhân là hành động

                                                Còn lại 7 là những kết quả.

 

Ba nhân vọng tưởng là (1) vô minh, (8) ái và (9) thủ. Hai nhân hành động là (2) hành và (10) hữu. Còn lại 7 nhân là những kết quả đã kinh nghiệm được để mang sang những kiếp sau.

 

Chuỗi duyên khởi cho chúng ta biết tiến trình phát sinh từ một tình trạng đau khổ này qua một tình trạng đau khổ khác, như vậy nó không thể hoàn tất được trong một đời mà phải cần đến hai hay ba đời. Thí dụ, trong đời hiện tại chúng ta là một người, chúng ta có thể giải thích tiến trình này như sau: trong đời quá khứ, dưới sự ảnh hưởng của (1) vô minh, vì không biết chân tính của thực tại, vì không hiểu thực tính của sự vật nên chúng ta đã thực hiện rất nhiều hành động qua thân khẩu và ý, những hành động này (2) tạo thành nghiệp - gieo hạt giống - trong (3) tâm thức của chúng ta. Trong những hành động này có những hành động tốt tạo ra nghiệp tốt để chúng ta được sinh ra làm người. Do đó, có những lúc trong đời đầu tiên này (qúa khứ) chúng ta đã hoàn tất một vọng tưởng, một hành động và một phần nào kết quả. Chúng ta nói “một phần nào” bởi vì tâm thức của chúng ta liên kết cả hai phần: nguyên nhân và hậu qủa. Trong thí dụ này, phần đầu là tâm của chúng ta trong đời qúa khứ nhận dấu ấn của nghiệp lực trong khi phần sau là tâm của chúng ta bị liệng vào sự tái sinh, vào sự đầu thai mới.

 

Khi kiếp trước đi đến chỗ kết thúc thì chúng ta đã kinh nghiệm, đã kinh qua, đã mang trong tâm nhiều sự bất toàn và rất sợ chết. Vì (8) luyến ái  (9) chấp thủ cả thân xác lẫn những vật sở hữu nên chúng ta muốn mang chúng qua thân xác mới để thay thế cái thân đang bị tiêu hủy (chết), như vậy là chúng ta đang có (10) hữu một hành động tạo tác để trở thành, lực này hướng dẫn chúng ta đầu thai vào cuộc đời mới. Do đó trong lúc chết, chúng ta đã hoàn thành hai điều vọng tưởng (luyến ái và chấp thủ) và một hành động (hữu), sự kiện này đánh thức những nhân nghiệp lực để đầu thai vào cõi loài người.

 

Còn lại 7 chuỗi nhân duyên kia sẽ xẩy ra trong đời hiện tại. (3) Thức quả (resulting consciousness) của chúng ta được nhận định ra trong tử cung của người mẹ, nơi mà nó kết hợp với tinh cha (sperm) và huyết mẹ (egg). Sự liên kết phôi thai này là thời kỳ của (4) danh sắc – “danh” là những khả năng khác nhau của thức còn “sắc” là trứng của người mẹ đã nhiễm sắc thể của tinh cha – ở đây (5) lục nhập được phát triển khi nó (6) tiếp xúc với những đối tượng tương ứng như (7) thoï, cảm thấy dễ chịu, khó chịu hay cảm thấy khác nhau giữa những đối tượng. Tất cả mọi sự kiện đều xảy ra ở đây ngay lúc mà ý niệm (11) sinh được liên kết với kiếp này. Từ đây trở đi, chúng ta bắt đầu lớn lên, già đi theo những sự thay đổi và khổ đau như đã trình bày ở trên. Vậy, chuỗi nhân duyên (12) lão và chết đã được hoàn tất, tất cả còn lại chỉ là đợi ngày ra đi (chết).

 

Tiến trình này có thể phải cần tới ba kiếp mới hoàn tất được, phải cần nhiều năm mới nhận ra được sự can thiệp giữa hai nhân duyên đầu. Nên hiểu rằng chúng ta đang tạo nghiệp ngay trong lúc này. Nó có thể là một nhân đức nhưng được hoàn thành trong (1) vô minh của chính sự kiện, thí dụ như ý-thức-tôi qúa mạnh hay chấp tôi qúa mạnh. Sự vô minh này đang cấy (2) nghiệp hành vào (3) tâm thức của chúng ta để chúng ta đầu thai vào cõi thần.

 

Có khi trong lúc chết nghiệp đầu thai vào cõi thần không đủ mạnh nên lại phải đầu thai làm con chó vì nghiệp phải sinh làm chó ở một lúc nào đó mạnh hơn. Do đó (8) nhân luyến ái ,(9) chấp thủ và (10) trở thành đáng lẽ sẽ hợp tác làm việc trong lúc chết thì lại phải nhường cho một nhân duyên mạnh khác. Tuy nhiên, nghiệp để đầu thai vào cõi thần vẫn còn đó, không mất đi. Nó vẫn còn nằm trong tâm thức của chúng ta nhưng đã không được kích động mà phải đợi đến một lần đầu thai khác. Ở ngay kiếp làm chó, bảy chuỗi nhân duyên còn lại sẽ lại nhập vào con chó. Tuy nhiên, nghiệp đầu thai vào cõi thần sẽ đến, ba nhân cùng làm việc trong lúc chết và bảy nhân lại nhập vào trong kiếp kế tiếp, lại diễn tiến như đã nói ở trên.

 

Đây chỉ là sự giảng giải vắn tắt về diễn tiến của sự đầu thai mà thôi, nhưng cũng khá đủ để chúng ta có thể hiểu được những chuỗi nhân duyên đã tác động và liên tục tác động trong sự vô minh của chúng ta như thế nào. Khi chúng ta gieo hạt giống trong một cánh đồng, có những cây đã lớn mạnh hơn chúng ta nghĩ. Tương tự như vậy, có những hạt “nghiệp” rất nhỏ mà chúng ta đã gieo trong tâm của chúng ta lại sản xuất ra những khổ đau to lớn hơn cả nhân của nó. Trong từng giây phút của cuộc đời từ muôn vàn kiếp, chúng ta đã bị ảnh hưởng, đã bị điều động bởi rất nhiều vọng tưởng lớn và nhỏ. Vì thế chúng ta đã huân tập, đã tạo ra biết bao nhiêu nghiệp để phải đầu thai vào hết cõi đau khổ này đến cõi đau khổ khác. Chúng ta đã tạo ra ba nhân duyên đầu (vô minh, hành, thức) của vô tận chuỗi nhân duyên, trừ khi chúng ta biết rèn luyện (ý chí) tâm chúng ta, ý thức trong từng hành vi của chúng ta và giải trừ vô minh, nếu không chúng ta cứ bị chúng kéo vào luân hồi hết kiếp này qua kiếp khác. Tâm chúng ta như một toa xe lửa chứa hàng hóa, cứ bị lôi đi từ chỗ này đến chỗ khác, từ đời này qua đời khác để chất chứa thêm những kiện “nghiệp” mà một ngày nào đó hàng được giao và được trả.

 

Luân hồi là một nhà tù mà chính chúng ta đã tạo ra, chúng ta bị nhốt trong những bức tường kiên cố là do chính sự vô minh và u tối của chúng ta. Chúng ta phá được một mắt xích trong 12 nhân duyên, trèo qua được một cửa ải thì cũng vẫn còn bị bao vây bởi rất nhiều bức tường khác. Luân hồi không thể tự chấm dứt. Chúng ta không có một chút hy vọng nào vượt thoát khỏi luân hồi trong khi cứ tạo thêm nghiệp. Chúng ta chỉ có thể chiến thắng và được giải thoát nếu chúng ta quyết tâm phá tan tận gốc nguyên nhân của duyên khởi là sự vô minh của chúng ta về bản tính của sự thật.

 

Như chúng ta đã đề cập trước kia, việc phát triển một tâm hoàn toàn buông xả tùy thuộc vào sự nhận định của chúng ta về sự thấm nhập toàn diện của đau khổ. Khổ đau vì có một thân xác thiếu kiểm soát và đầy ô nhiễm, có một thân xác là có đau khổ. Chúng ta không nên nghĩ rằng vì chúng ta đã sinh ra và vì chúng ta có một đời sống không tiện nghi. Như đã trình bày ở trên về 12 duyên khởi, thì đây chính là tiến trình đầu thai cùng với đau khổ. Tâm thức của chúng ta nhận dấu ấn của nghiệp lực rồi chính nghiệp lực này đẩy tâm thức đi đầu thai vào tương lai trong một tình trạng đầy bất mãn và khó khăn. Chúng ta nói chúng sinh trong luân hồi có một thân xác đầy ô nhiễm và dối trá bởi vì tâm thức bị đẩy vào thân xác một cách miễn cưỡng, chính nghiệp lực và vọng tưởng đã lôi thần thức vào đó.

 

Càng sớm đi vào đời thì càng mau bắt đầu đi đến cái chết. Có những chúng sinh đã chết ngay trong bụng mẹ chỉ một thời gian rất ngắn. Cũng có những người trong chúng ta đã sống lâu hơn, tạo thêm được một số giây phút. Nhưng thực ra thêm được giây phút nào thì cũng chính là gần sự chết giây phút đó. Chúng ta giống hệt như những con cừu bị dẫn vào lò sát sinh. Bước thêm một bước là gần sự chết thêm một bước.

 

Nếu chúng ta học để nhìn thấy đau khổ của tất cả các cảnh giới thì chúng ta sẽ chẳng còn dám bám víu, luyến tiếc vào những lợi lạc của trần gian. Đấy là điều vô cùng quan trọng, vì nó sẽ mở đường cho chúng ta phát triển những quan điểm thật đúng đắn về tính không, để cắt đứt tận gốc rễ của luân hồi và tìm đường giải thoát. Cho dù chúng ta không tiến được xa trên con đường này nhưng với tâm buông xả toàn triệt như vậy cũng vô cùng hữu ích cho giây phút đối diện với sự chết. Bởi vì chúng ta đã thiền định nhiều về sự chết nên chúng ta đã có rất nhiều tư tưởng tốt, nhiều kinh nghiệm mà sẽ không còn lầm lẫn và sợ hãi. Chúng ta cũng không còn bám víu vào luân hồi nên chúng ta cũng không còn luyến ái, chấp thủ một cuộc đầu thai mới. Vì thế, chúng ta sẽ không còn phải đầu thai vào ba cõi thấp hoặc bất kỳ cõi nào trong luân hồi. Nếu chúng ta biết kiểm soát tâm và tránh khơi dậy bất cứ một sự bám víu nào hoặc bất cứ một sự ganh ghét sân hận nào thì chúng ta sẽ được sinh vào cõi tịnh độ mà không phải đầu thai vào bất kỳ một thân xác ô nhiễm nào. Ở đó chúng ta sẽ không còn một trở ngại nào cho mục đích tu tập tiến đến giác ngộ, giải thoát (vào cõi tịnh độ cũng vẫn còn phải tu tập tiếp thì mới giải thoát được – Dg)

 

Vậy có dấu hiệu nào cho chúng ta biết là chúng ta đã phát triển được sự buông xả thật? Đạo sư Je Tsongkhapa nói:

                                   

Nơi nào không còn thích thú và bám víu

                                    Cho dù chỉ là một giây bám vào lạc thú của luân hồi,

                                    Và hằng khởi tâm mong cầu giải thoát

                                    Trong cả ngày lẫn đêm ----

                                    Kẻ nào đã phát triển tâm thức này

                                    Kẻ đó đã tinh tiến trên con đường buông xả hoàn toàn.

 

 

 

Sự lợi ích của động năng giác ngộ

 

Để nói lên sự tương quan giữa phần đã trình bày ở trên và những điều sẽ trình bày ở dưới này, đạo sư Je Tsongkhapa nói:

 

                                    Tâm hoàn toàn buông xả

                                    Mà không có động năng giác ngộ của tâm bồ đề

                                    Thì không thể trở thành nhân (nguyên)

                                    Cho con đường hạnh phúc toàn diện, toàn giác.

 

Như ngài nói, nếu chúng ta muốn đạt tới tối thượng quả vị phật thì tâm buông xả toàn triệt của chúng ta phải đi qua con đường của tâm bồ đề, đây chính là động năng thúc đẩy tới giác ngộ là để lợi lạc cho tất cả muôn loài chúng sinh. Có những người lại tin một cách mù quáng là họ có thể thực hành tâm bồ đề mà không cần buông xả. Đây là một sự lầm lẫn to lớn, điều này không thể có được. Có thể họ đã nghĩ rằng tâm bồ đề là một cách thực hành an lạc mà không cần phải từ bỏ cái gì, trong khi đó buông xả nghe như quá khó khăn, nghiêm khắc và gian khổ. Ngược lại, nó không hoàn toàn như vậy. Phát triển tâm bồ đề sẽ giúp rất nhiều trong việc chuyển hóa, thăng tiến và tinh tấn của thiền định. Thực ra vấn đề này không đơn giản nếu chỉ nghĩ mà thôi.

 

Lợi ích của tâm bồ đề thật là vĩ đại, nó có thể hóa giải bất cứ trở ngại nào. Đây chính là cánh cửa dẫn vào Đại thừa mà bất cứ một người nào muốn phát triển và thực hành nó đều xứng đáng được gọi là con của Phật. Nếu chúng ta có tâm bồ đề thúc đẩy, chúng ta sẽ vượt qua trong chiến thắng, vượt qua cả các vị A La Hán, đây là những vị đã tu tập giải thoát khỏi luân hồi nhưng chưa hoàn toàn đạt giác ngộ. Những vị A La Hán này có thể đã có những quyền lực tâm linh mãnh liệt hoặc đã đạt những thành quả vĩ đại nhưng kẻ nào có tâm bồ đề – TÂM BỒ ĐỀ – sẽ vượt xa họ trong tấm lòng phụng sự và từ bi.

 

Ơn phước to lớn của bồ đề tâm sẽ xuất hiện khi chúng ta thật tâm thực hành Đạo Pháp. Mỗi một hành động tâm linh mà chúng ta thực hiện đều mang lại hiệu quả và sức mạnh nếu chúng ta hoàn thành với sự thúc đẩy của giác ngộ, của động lực giác ngộ. Thí dụ, đưa thức ăn cho một con chó, nếu đưa cho nó với một tấm lòng yêu thương (tâm bồ đề) chúng ta sẽ nhận được sự an lành còn hơn là tặng bảo vật cho một người mà không có một chút thành thật yêu thương nào. Như vậy, vật cho tự nó không quan trọng, cách cho quan trọng hơn, cách chúng ta thực hành đạo nói lên sự tinh tấn của chúng ta trên con đường tu tập. Nói cách khác, thái độ của chúng ta, tâm trạng của chúng ta quan trọng hơn bất cứ sự vật nào khác. Do đó, tâm bồ đề là một sự thúc đẩy vĩ đại nhất, nó thánh hóa tất cả những hành động của chúng ta, nó mở tâm chúng ta bao la hơn là lòng ích kỷ của chúng ta. 

 

Nếu chúng ta có một tấm lòng vị tha, luôn luôn nghĩ đến người khác, mặc dù chưa phát triển được tâm bồ đề, thì đây cũng là động năng rất tốt hướng dẫn chúng ta trên con đường thực hành Đạo Pháp. Do đó, bất cứ chúng ta làm việc gì như giúp người, tụng kinh, thắp hương, ăn, nói chuyện, buôn bán...—bất cứ việc gì cũng có thể trở thành tinh túy trong việc thực hành Đạo, nếu chúng ta hướng đến giác ngộ là vì lợi ích cho tất cả muôn loài chúng sinh.

 

Nghiệp lực xấu cứ đẩy chúng ta vào sáu nẻo luân hồi không ngừng nghỉ. Đó là kẻ thù của chúng ta, chúng liên tục dẫn chúng ta vào đau khổ. Bồ đề tâm là thần lực thanh tẩy tất cả những nghiệp xấu này, nó giải thoát chúng ta khỏi những kinh nghiệm của những hành động ác. Đại bồ tát Shantideva nói:

 

            Nghiệp xấu của năm loại hung ác

            Dẫn chúng ta vào chốn vô tận của khổ đau trong A-tỳ địa ngục

            Nhưng tâm bồ đề

            Có khả năng thanh tẩy nghiệp xấu này trong một thời gian rất ngắn.

 

Sức mạnh của tâm bồ đề cũng có thể điều trị được tất cả những chướng ngại trên con đường thực hành đạo của chúng ta. Đại bồ tát Shantideva cũng nói:

 

            Nếu chúng ta điều phục được tâm,

            Chúng ta sẽ điều phục được

            Voi, rắn, cả cọp beo

            Và sự hung dữ của quỷ.

 

Đây không phải là những lời thơ vô nghĩa mà là sự thật. Đã có biết bao chuyện kể và bằng chứng nói về sức mạnh của bồ đề tâm, sức mạnh của lòng từ bi bảo vệ con người khỏi hiểm nguy. Có rất nhiều vị bồ tát của Ấn độ và Tây tạng đã đi qua những khu rừng đầy thú dữ mà không hề hấn gì. Ngược lại chúng lại rất thân thiện với các ngài và tỏ lòng kính trọng các vị thầy tâm linh. Ngay cả những con thú nhỏ bé như chim, thỏ, nai cũng đến quây quần chung quanh các ngài. Những chuyện tương tự như vậy cũng vẫn còn xảy ra với các vị thiền giả ngày nay.

 

Tóm lại, phát triển tâm bồ đề là ánh sáng dẫn đưa chúng ta vào con đường tu tập mật tông, một con đường nhanh nhất để đạt giác ngộ. Chúng ta cần phát triển tâm buông xả, cần làm quen với quan niệm về tính không trước khi chúng ta thực sự bước vào mật thừa. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là sự thúc đẩy của bồ đề tâm, chúng ta cần phải có một động năng mãnh liệt của lòng từ bi. Không thể nào ngồi nhìn người khác đau khổ mà chúng ta không khởi phát lòng từ bi, chúng ta cần khởi phát tâm bồ đề ngay để đạt quả vị phật càng nhanh càng tốt vì lợi ích cho chúng sinh. Nếu chúng ta bước vào sự thực hành của con đường mật thừa với tâm trạng đó thì chúng ta sẽ đạt được mục đích chỉ trong một thời gian rất ngắn. Nếu không như vậy thì sự thành đạt của con đường mật thừa giống như mong đợi mặt trăng rơi khỏi bầu trời.

 

Nếu chúng ta nghiên cứu về sự ích lợi và ơn phước của bồ đề tâm cùng hiểu rõ đường hướng mà nó sẽ hướng dẫn chúng ta thì chúng ta sẽ thấu suốt được sự thúc đẩy của con đường giác ngộ chính là môi trường mà tất cả chúng sinh sẽ gặt hái được hạnh phúc. Khi một người biết phát triển lòng từ bi thì họ sẽ trở thành nguồn hạnh phúc chân thật cho kẻ khác. Nguồn phúc lạc này vô tận, nó không có giới hạn với bất cứ ai, không thể nào đo được sự ảnh hưởng của nó trên chúng sinh. Vì thế, không một hạnh phúc nào, không một giá trị nào vĩ đại hơn sự cố gắng thực hành thiền định theo động năng giác ngộ này.

 

 

 

Sự tinh tấn đều đặn tự nhiên

 

 

Động năng thúc đẩy đến giác ngộ mà từ đó có thể hướng dẫn người khác thoát khỏi đau khổ được phát khởi khi chúng ta biết trách nhiệm của chúng ta là phải giúp đỡ người khác càng nhiều càng tốt. Chúng ta chỉ có thể nhận ra được điều này khi chúng ta đã phát triển lòng từ bi, là mong muốn cho người khác được thoát khỏi đau khổ. Điều này lại tùy theo tình yêu của chúng ta có trong sáng và lớn mạnh hay không, chúng ta có mong muốn nhìn thấy người khác hạnh phúc hay không. Tình yêu này chỉ được khởi phát khi chúng ta tưởng nhớ đến chúng sinh như là cha mẹ của chúng ta và bây giờ chúng ta mong được đền ơn họ. Còn nữa, chúng ta không thể nhận ra được ân nhân của chúng ta nếu chúng ta còn đối xử đặc biệt với người này mà hiềm khích, ghen ghét người khác. Do đó chúng ta cần có thái độ công bằng, đồng đều với tất cả mọi người và trước tiên là chúng ta nên thực tập từ từ, bình thản, đều đặn tự nhiên cùng với thiền định.    

 

Có ba đối tượng cho kiểu thiền này: bạn, kẻ thù và người xa lạ. Tại sao lại thiền như vậy? Tại vì chúng ta quá bận rộn với chính mình, lúc nào cũng chỉ nghĩ tới chính mình, đến “cái tôi” của chúng ta; hầu như lúc nào cũng chỉ để ý đến thân xác của tôi, tài sản của tôi, sự tiện nghi của tôi, “CỦA TÔI...CỦA TÔI... TÔI !” Bất cứ người nào xâm phạm vào hoặc xoi bói đến hạnh phúc của tôi là ngay lập tức tôi gán cho người đó là kẻ thù của tôi. Cũng giống như vậy, người nào làm tăng niềm hạnh phúc của chúng ta là ngay lập tức chúng ta coi họ như bạn, bạn thân. Còn những người xa lạ, họ là những kẻ chẳng đem đến cho chúng ta cái gì, chẳng vui cũng chẳng buồn, chúng ta sẽ mau chóng quên họ.

 

Nền tảng của thiền định một cách thản nhiên, thiền tự nhiên là để nhìn ra được  tính vô tri, vô cảm và ích kỷ đã tạo nên trí nghi kỵ, kỳ thị của chúng ta như thế nào. Những thái độ ganh ghét, hờn giận, bám viú, dính mắc, vô minh, tâm đóng kín khởi lên trong tâm của chúng ta khi chúng ta nhìn người khác theo một chiều hướng nhất định “nó phải như vậy.” Chúng ta gán cho nó một nhãn hiệu cứng ngắc, chính thái độ này đã làm hại chúng ta và những người khác. Chính sự ước muốn tiêu diệt kẻ thù và bảo vệ bạn là mầm mống tạo ra tất cả những xung đột trên thế giới này; từ sự gây lộn, bất bình giữa hai cá nhân dẫn đến chiến tranh toàn cầu. Tất cả những nghiệp xấu và tất cả những đau khổ sẽ chấm dứt nếu tất cả mọi người nhìn ra được những thành kiến này đều không có gốc rễ, không có căn bản.

 

Trước nhất, chúng ta phải nhận định rằng sự bám viú, sự ràng buộc và những định kiến là gốc rễ cho tất cả những phán đoán của chúng ta về kẻ thù, về bạn bè và về những người xa lạ. Chúng ta bị dính mắc vào ý tưởng sợ mất tài sản, vào những người đã giúp đỡ chúng ta hay vào chính những định kiến sai lầm của chúng ta về những nhân vật quan trọng sẽ đem đến cho chúng ta một đời sống tốt đẹp. Những điều tệ hại của thái độ dính mắc, thái độ lệ thuộc này đã được trình bày rất chi tiết ở trên rồi. Nhắc lại ở đây là chỉ để nhấn mạnh đến việc bám viú, đến sự đeo dính vào “cái tôi”, chính sự kiện này đã bóp méo tất cả những ý niệm của một cái tâm vô minh.

 

Thứ hai, không có một cái gì chắc chắn, nhất định phải như vậy trong chốn luân hồi, kể cả ba loại người vừa nói. Không có một cái gì chắc thật để xác định đó là kẻ thù, người mà lúc nào cũng gây phiền nhiễu cho chúng ta và họ luôn luôn tiếp tục làm như vậy. Hãy nghĩ đến muôn vàn kiếp trước và những liên hệ thay đổi không ngừng trong luân hồi thì kẻ thù hiện tại của chúng ta cũng chính là những người bạn thân thiết của chúng ta hoặc ngược lại. Cũng chẳng cần phải tin kiểu suy luận này về những sự kiện trong qúa khứ để xác định những thay đổi bạn, thù hay người xa lạ. Người bạn thân thời niên thiếu của chúng ta nay đâu rồi? Cái gì chúng ta đã có cảm tình trước kia bây giờ ra sao? Thật là ơn ích biết bao khi thiền định theo kiểu khảo sát này, hãy tập trung vào những cá nhân đặc biệt mà chúng ta vừa nhấn mạnh trong ba trường hợp trên rồi cố gắng nhận định xem tâm trạng, thái độ của chúng ta đã như thế nào. Khi chúng ta đã quen với kiểu thiền này, chúng ta nên mở rộng đề tài, nên mở rộng cách suy luận, bao gồm rất nhiều loại chúng sinh và trải dài ra theo thời gian. Với cách này, chúng ta sẽ giải toả được rất nhiều quan điểm chật hẹp, sai lầm của chúng ta trước kia.

 

Càng lặp đi lặp lại phương pháp thiền định tự nhiên này càng giúp chúng ta biết thận trọng hơn trong việc chấp nhận những giá trị mà chúng ta đã phán đoán những người khác chỉ vì chúng ta đã quen suy nghĩ theo kiểu này. Kết qủa là chúng ta sẽ tiến xa hơn trên đường ngăn chặn những tư tưởng xấu, những lời nói xấu và những hành động xấu cho người khác trước khi nó tác hại họ. Càng thiền định theo phương pháp này, càng giảm được sự xung khắc, đánh nhau, ích kỷ và những thái độ thiếu suy nghĩ đến người khác. Thí dụ, nếu biết được chúng ta sắp bực mình với người nào, chúng ta có thể giải tỏa được sự giận ghét, căm hờn của chúng ta ngay lập tức khi chúng ta nghĩ đến kiểu thiền định này. Cũng theo phương pháp này, chúng ta có thể tự xác định với chính mình không có một cái gì có gía trị thường hằng, vĩnh cửu về những thái độ, định kiến của chúng ta. Chúng chỉ là những sản phẩm của một tâm vô minh, đóng kín, nhưng với sự thực hành tâm linh chúng ta có thể giải tỏa chúng, đối trị chúng, chuyển hóa chúng để đem lại hoà bình, an lạc.

 

 

Hãy nhớ đến công ơn của những bà mẹ chúng ta

 

 

Có kinh nghiệm về sự an lạc nội tại, đó là dấu hiệu của sự tinh tấn tự nhiên, nhưng đó không phải là ơn phước và mục đích chính của sự thiền định tự nhiên, bình thản. Vì học và tập nhìn tất cả mọi chúng sinh một cách bình đẳng, không thiên vị nên chúng ta luôn đặt chúng ta trong tình trạng biết ơn lòng tốt của tất cả mọi người mà họ đã dành cho chúng ta. Nhờ sự nhận biết này mà chúng ta vượt thắng được tính ích kỷ của chúng ta, ngay cả trong việc giải thoát cá nhân chúng ta khỏi luân hồi.

 

Bất cứ lúc nào chúng ta gặp hay nghĩ về mẹ của chúng ta – hoặc bất cứ người nào đã săn sóc chúng ta – là ngay lập tức chúng ta xác định được người ấy là ai và chúng ta liền cảm thấy có một tình cảm đặc biệt khơi dậy trong ta. Mỗi khi chúng ta thực tập phương pháp thiền tự nhiên và nảy sinh lòng biết ơn về sự liên tục của đời sống thì chúng ta cũng học được cách đối xử với mọi người như vậy. Họ là cha mẹ của chúng ta trong quá khứ và lòng tốt của họ không thể đo lường được.

 

Trước tiên, nghĩ đến người mẹ của chúng ta trong hiện tại là cách tốt nhất để phát triển tâm bồ đề. Lòng tốt của mẹ cho ta ngay khi chúng ta còn ở trong bụng mẹ. Với tình yêu bao la, người đã chịu đựng biết bao khổ cực, thiếu thốn, tự hy sinh để bảo vệ chúng ta khỏi nguy hiểm và mất tiện nghi. Người đã phải thận trọng trong miếng ăn, thức uống, cách đi đứng, cách phục sức vì chúng ta.

 

Khổ cực nhất là trong lúc sinh chúng ta, dù khổ cực đến thế nào mẹ chúng ta cũng không giảm lòng yêu thương mà chăm sóc chúng ta. Khi còn thơ dại, người đã chăm sóc, nuôi dưỡng chúng ta 24 giờ một ngày và làm bất cứ gì để bảo vệ chúng ta khỏi nguy hiểm. Nuôi chúng ta không phải dễ, chúng ta luôn luôn khóc và làm dơ quần áo, nhưng mẹ không bao giờ than mỗi khi đi thu quần áo giặt. Ngay cả khi mẹ đang ăn, mẹ cũng phải để ý đến chúng ta. Nếu mẹ kiếm được miếng nào ngon trong đĩa thức ăn của mẹ, mẹ cũng đút cho chúng ta. Ngay đến bây giờ, chúng ta cũng không tự săn sóc chúng ta được như mẹ đã làm.

 

Khi mẹ nhìn chúng ta khôn lớn, mẹ luôn nghĩ  đến tương lai của chúng ta. Trong tận đáy tâm hồn mẹ, mẹ luôn muốn chúng ta được hạnh phúc và thành công. Mẹ lo lắng về sự học hành, mẹ cầm tay chỉ cho chúng ta viết và đọc. Thành thật mà nói tất cả những khả năng chúng ta có thể làm bây giờ cũng không bù đắp được hết những công ơn của mẹ đã dành cho chúng ta. Trong cách nhìn thiển cận của chúng ta, chúng ta nghĩ rằng tất cả sự thành công của chúng ta đều do chúng ta tạo ra : “Tất cả những gì tôi có đều do tôi tạo ra.” Còn nữa, mẹ chúng ta đã không thiếu sót một ngày nào dành cho chúng ta khi chúng ta còn trẻ, chúng ta không nên tự dối mình, chúng ta không thể so sánh với công ơn của mẹ, chúng ta không xứng đáng. Ngay bây giờ, khi chúng ta có vấn đề, khi chúng ta gặp khó khăn, không có một người nào giúp chúng ta như mẹ chúng ta đã thường làm cho chúng ta.

 

Mẹ của chúng ta cũng là người ngưỡng mộ, hãnh diện về chúng ta nhiều nhất, trước nhất. Khi chúng ta làm điều gì tốt, mẹ cảm thấy vui và hài lòng về sự thành công đó. Người luôn muốn chúng ta được nổi tiếng và đôi khi còn nói dối người khác để chúng ta được lợi. Tóm lại, mẹ chúng ta đã làm rất nhiều việc cho chúng ta trong cuộc đời của người và hầu như tất cả những công việc đó đều vì chúng ta, không có một chút gì dành cho người. Ngoài mẹ ra còn có ai hy sinh cho chúng ta như thế?

 

Nếu chúng ta trải rộng cách nhìn của chúng ta về những kiếp trước thì chúng ta sẽ biết được đây không phải là lần đầu tiên người là mẹ của chúng ta. Người đã từng là mẹ của chúng ta trong nhiều cõi luân hồi, trong nhiều kiếp, người đã chăm sóc chúng ta với tất cả nghị lực, sức mạnh của người. Thí dụ, không thể nghi ngờ được nếu người là con gà mẹ thì chúng ta là con gà con. Gà mẹ đã ấp ủ đàn con trong ổ ấm bằng đôi cánh của nó, đã đào bới khổ cực để kiếm đồ ăn cho các con. Gà là con vật nhút nhát nhưng nếu nó cảm thấy con nó bị nguy hiểm, nó sẵn sàng hy sinh mạng sống để che chở cho đàn con. Sự thiền định của chúng ta về lòng tốt của mẹ có thể nghĩ rộng ra như thí dụ ở trên đến tất cả các loài vật. Rồi càng trải rộng ra chúng ta càng hiểu được trong muôn vàn kiếp tất cả các chúng sinh đều là cha mẹ của chúng ta, họ đã chăm sóc chúng ta cũng như mẹ của chúng ta bây giờ.

 

Lòng tốt của tất cả các loài không phải chỉ khi họ là mẹ của chúng ta, nhưng nó trải dài ra trong mọi nơi, mọi thời. Hãy ôn lại những sinh hoạt trong một ngày chúng ta sẽ thấy rằng không một phút giây thoải mái nào mà không có liên hệ đến những vật khác, người khác hoặc đến một con thú nào đó. Mỗi một bát cơm mà chúng ta ăn đều có liên quan đến sự khổ cực của những bác nông dân, bác tài xế, người đóng bao và ngay cả kẻ giữ nhà kho...vv...Chúng ta cũng không thể quên được tất cả những sinh vật nhỏ li ti đã phải chết trong lúc trồng tiả hoặc khi gặt hái để có được bát cơm này. Nếu chúng ta có thời giờ suy nghĩ thấu đáo về những sự kiện xẩy ra trong đời sống, chúng ta sẽ hiểu được sự liên hệ, mối tương quan mật thiết của tất cả mọi sự mọi vật trong vũ trụ này.

 

Sự thực hành đạo của chúng ta là để hiểu được sự thật trong vũ trụ, đó chính là lòng tốt của chúng ta gửi đến những chúng sinh khác. Tất cả mọi sự kiện đều tùy thuộc lẫn nhau, đều có liên hệ với nhau, từ việc được đầu thai mang thân người và việc sử dụng nó một cách khôn ngoan, đến việc khởi phát một tâm buông xả, tâm bồ đề và quan niệm đúng về tính không. Tại sao lại như vậy? Vì mỗi một thành quả đều do nghiệp tốt mà chúng ta đã tạo được và do các vị giác ngộ đã giảng dậy Đạo pháp cho chúng ta. Cả hai nghiệp quả này đều được tạo ra do duyên (yếu tố liên hệ, tùy thuộc – Dg) của cả hai phía. Thí dụ, sự tinh tấn trong việc giác ngộ của một vị phật chính là sự tích tụ từ tâm bồ đề của các ngài. Đây chính là yếu tố tùy thuộc của lòng từ bi, của tình yêu, ...vv...đến muôn vàn chúng sinh, được phát triển và lớn mạnh từ sự thiền định tự nhiên, an nhiên. Vì thế, trong từng sự phát triển và tinh tấn của các ngài, vị phật tương lai, đều tùy thuộc vào chúng sinh. Họ cung cấp cho các ngài mọi cơ hội để các ngài thực hành lòng từ bi, sự kiên nhẫn,...vv...và vì thế nó trực tiếp có liên hệ, có trách nhiệm đến từng sự tiến bộ, sự tinh tấn của các ngài.

 

Mỗi khi chúng ta nhớ đến lòng tốt của các bậc đã giác ngộ -- các ngài đã chỉ cho chúng ta con đường chân thật để chấm dứt khổ đau và nhìn ra khả năng của các ngài khi các ngài thực hiện những việc đó vì lòng tốt cho tất cả chúng sinh -- thì những lý do làm chúng ta giận dữ tức bực với người khác sẽ mất đi, sẽ tan biến đi. Làm sao chúng ta có thể giận ghét được kẻ thù của chúng ta, ngay cả kẻ thù nguy hiểm nhất nếu họ thực hiện việc đó để mang lại cho chúng ta cả hai loại hạnh phúc: thế tục và tối hậu? Tương đối và tuyệt đối? Tất cả những kinh nghiệm về khoái lạc trong quá khứ, hiện tại và tương lai đều có thể qui về họ. Vì thế, mặc dù họ đã có những cử chỉ hành động xấu đối với chúng ta, chúng ta cũng nên dành cho họ lòng từ bi yêu thương. Không có chúng ta, mẹ chúng ta cũng đã có quá nhiều khổ đau trong cõi đời này rồi, tại sao chúng ta còn đem thêm oán hận lại cho người. Lòng từ bi chỉ có thể là nhân đức tuyệt hảo của Đại thừa nếu nó bao bọc, nếu nó được trải rộng ra cho tất cả muôn loài một cách đồng đều, bình đẳng. Chúng ta không thể tinh tấn trên con đường phát triển tâm bồ đề khi chúng ta chỉ mong muốn cho một thành phần nào, một số người nào đó thoát khỏi đau khổ.

 

Nếu chúng ta phát triển một cách kiên trì và hiểu biết ngay cả với kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta như là những kho tàng đầy quý báu thì tất cả những điều lầm lẫn sai lạc nhất ở trong tâm của chúng ta cũng sẽ bị tan rã. Giận dữ và ganh ghét, chuyên phá hủy những chủng tử tốt của chúng ta trong từng giây phút, chúng có thể tạo ra những dấu ấn sâu đậm trong tâm để xóa bỏ đi những thiện cảm của chúng ta với chúng sinh đã từng là cha mẹ của chúng ta. Chỉ có một con đường duy nhất để biết được sự thật của lời dậy bảo này là chúng ta hãy tự thanh tịnh chúng. Có thể phải thực hành lâu lắm chúng ta mới có thể hiểu được mỗi một chúng sinh là mẹ của chúng ta, nhưng trước khi đạt đến tình trạng đó, nhờ thực hành chúng ta sẽ kinh nghiệm được một cách rất sâu thẳm ở bên trong về sự an lạc và mãn nguyện của tâm. Nếu tình trạng này xẩy ra, đó chính là sự thực hành tâm linh một cách đúng đắn.

 

 

Lợi ích cho người khác

 

Khi chúng ta cảm nhận và giữ trong tâm chúng ta những thiện cảm của người khác thì chúng ta phải tìm cách tốt nhất để trả lại họ. Tặng lại họ quần áo và thực phẩm là điều quý báu nhưng phải thực hiện bằng cả tâm hồn, bằng cả tấm lòng yêu thương. Chúng ta không nên thiếu sót trong vấn đề mang lại lợi ích cho người khác. Tuy nhiên, điều vô cùng quan trọng phải hiểu là tặng phẩm vật chất không đủ sức mạnh để cắt đứt tận gốc rễ của khổ đau. Chúng chỉ có giá trị nhất thời. Nếu chúng ta thực sự muốn trả ơn tấm lòng bao la của họ, chúng ta phải thực hiện ở bên trong bằng con đường tâm linh. Chỉ có cách đó mới có thể mang lại cho họ kết quả an lạc và hạnh phúc thường hằng.

 

Chúng ta cũng không thể giúp người khác nếu chúng ta không thanh tẩy tâm bất toàn của chúng ta. Trở ngại lớn nhất khi làm việc lợi ích cho người khác là thái độ ích kỷ đang nằm rất sâu trong tâm của chúng ta. Nếu thực sự ước muốn đem lợi ích đến cho người khác, chúng ta phải cố gắng đào đi cho hết tâm ích kỷ này.

 

Không có một lý do nào để hỏi tại sao chúng ta phải đặt sự ích lợi cho người khác trên ích lợi của chúng ta. Trong ý nghĩa sâu thẳm của kinh điển mật tông về Cúng Dường Vị Thầy có viết:

 

            Kính lạy thầy,

Kính xin thầy độ trì con và mỗi một chúng sinh,

Vì từ đó con mới có thể tiếp tục suy nghĩ

Nguyện cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc

Vì họ không có một chút gì khác biệt với con

Và cho tất cả muôn loài khác nữa

Từ kẻ không được thỏa mãn

Đến kẻ không đạt điều mong muốn,

Và cho cả người chỉ có một chút khổ đau.

 

Sự thật là không ai muốn khổ đau, mọi người đều mong muốn được hạnh phúc. Chúng ta luôn nghĩ rằng chúng ta là người duy nhất trên thế giới này đau khổ. Từ nguyên thủy chúng ta đã chỉ nghĩ đến chúng ta, nhưng sự kiện này đã mang lại cho chúng ta những gì? Chắc chắn là không được một cái gì trên con đường tinh tấn của tâm linh. Chỉ có một điều duy nhất mà chúng ta được là những hành động không đạo đức, hung hăng và ích kỷ, và rồi chúng ta vẫn tiếp tục kinh nghiệm thêm nghiệp quả xấu. Vì thế chúng ta nên khôn ngoan lợi dụng cơ hội vô cùng quý báu là được làm người trong kiếp này cộng với những lời dạy bảo này mà bắt đầu làm lợi ích cho kẻ khác.

 

Trong bài Cúng Dường Vị Thầy cũng còn diễn tả thêm về sự quan trọng của thái độ chúng ta khi an ủi người khác:

 

            Kính xin thầy độ trì con

Để con có thể hoán đổi con với người khác

Để con có thể đối xử công bằng với họ

Khi nghĩ về ơn ích và làm tròn bổn phận

Trong sự thực hành:

Phật chỉ làm cho người khác

Còn kẻ ích kỷ chỉ làm cho mình.

 

Ích kỷ chỉ mang đến diệt vong,

Còn tình thương gửi đến các bà mẹ của chúng ta

Là điều căn bản của mọi đức hạnh.

Do đó, nhờ sự thực hành hoán đổi con với người khác,

Kính xin thầy độ trì con để con có thể hoàn thành công việc này.

 

Vì hoán đổi mình với người khác mà chúng ta phát giác ra được những sự khó khăn của họ một cách nhanh hơn. Chúng ta nhớ tất cả những gì họ đã thực hiện cho chúng ta trong qúa khứ nên chúng ta có thể làm dịu bớt được ngay những đau khổ của họ. Lòng từ bi và tình yêu của chúng ta cũng lớn mạnh hơn, không có gì sung sướng hơn khi nhìn người khác hạnh phúc và không gì buồn hơn khi biết người khác đang đau khổ. Mỗi khi chúng ta có một niềm vui là ngay lập tức chúng ta mang ra chia sẻ với những người kém may mắn. Cũng giống như vậy, mỗi khi nhìn thấy ai đau khổ là chúng ta mong muốn gánh giùm cho họ. Nếu chúng ta có thể san sẻ hạnh phúc và gánh lấy khổ đau cho người khác là một điều tuyệt hảo. Tuy nhiên, nếu chúng ta không thể làm được thì sự ước muốn này cũng là một hạt giống chúng ta đã trồng để rồi một ngày nào đó nó sẽ chín trong khả năng của chúng ta để đem lại hạnh phúc và an lạc cho họ. Ngài Shantideva nói:

 

            Một người tốt luôn nghĩ cách chữa

            Bệnh nhức đầu cho tất cả chúng sinh

            Lòng tốt này tạo ra muôn vàn công đức.

            Còn có ai quan tâm đến muôn loài

            Mong ôm trọn nhức đầu của chúng

            Chúc họ tạo được vô vàn nhân đức!

 

Khi chúng ta so sánh chúng ta với người khác, điều khác biệt chính mà chúng ta cần nêu ra ở đây là chúng ta may mắn được nghe những lời dậy bảo để cải hoá tâm ta. Sau một thời thực tập nhỏ về thiền định chúng ta đã kinh nghiệm được thế nào là giải thoát khỏi những điều xấu mà trước đây chúng ta đã vướng vào. Trong khi những người khác không có được những may mắn này. Họ vẫn bị ngụp lặn trong vọng tưởng mà không có được một sự chỉ dẫn nào để thoát ra khỏi những chuỗi khổ đau cứ dồn dập kéo tới. Mặc dầu họ cũng ước mong được hạnh phúc, nhưng mỗi một hành động lại mang thêm khổ đau. Nhờ tri giác lớn mạnh, trong sáng và rực rỡ, chúng ta phát triển được những tâm nguyện thanh tịnh để có thể hướng dẫn những người đau khổ đi vào con đường giải thoát. Chúng ta sám hối vì những lỗi lầm trong quá khứ đã làm người khác đau khổ mà cố gắng thực hiện những con đường đem lại hạnh phúc cho muôn loài.

 

Chúng ta hãy bắt chước những đứa trẻ có trách nhiệm giúp đỡ mẹ nó vượt qua những thời khó khăn. Chúng ta phải từ bỏ ngay những tư tưởng là người khác phải đối diện với khổ đau của họ. Chúng ta phải hoàn thành một cái gì và chỉ chúng ta là người có khả năng làm điều đó. Còn nữa, khi chúng ta nhìn vào bên trong tâm của mình, chúng ta sẽ nhận ra một điều là chính chúng ta phải tự giúp mình, chứ không phải ai khác. Vì thế, chúng ta phải kiếm cho ra người nào có thể làm được công việc này, hãy nghĩ cách vượt thắng họ. Rồi chúng ta sẽ thấy rằng đó chính là người hoàn toàn giác ngộ -- người theo đuổi con đường tâm linh tới toàn thiện và đạt được qủa vị phật, tới trạng thái hoàn toàn tỉnh thức --  mới có đủ năng lực để hướng dẫn những người khác thoát khỏi khổ đau. Khi tất cả những nhận thức này cùng đến với nhau và khi chúng ta quyết tâm chiến thắng chính mình để đạt giác ngộ vì lợi ích người khác và cho những người mẹ, thì đó chính là phát triển bồ đề tâm một cách chân thật, đó chính là động năng giác ngộ.

 

Tôi xin kết thúc đề tài phát triển tâm bồ đề ở đây, lãnh vực thứ hai của ba lãnh vực chính trên con đường dẫn đến giác ngộ. Có tạo được ơn phước hay không trong bài giảng này hoàn toàn có tính cách cá nhân, tùy thuộc vào thái độ đón nhận của từng người ở đây. Nếu có được một chút ơn phước nào, chúng ta nên hồi hướng ngay cho chính chúng ta và cho tất cả mọi người để cùng đạt giác ngộ. Bằng cách này, bất cứ một nghiệp tốt nào mà chúng ta đã tạo được cũng không bị phá hủy hay bị dẫn dắt sai lầm bởi nghiệp xấu.

 

Hãy nghĩ đến tất cả những nhân đức của chúng ta trong quá khứ, hiện tại và tương lai, cả đến thân xác hiện tại cùng của cải, sức khoẻ của chúng ta đều được dâng hiến cho những vị đã giác ngộ, để mang đến cho họ niềm an lạc miên viễn. Rồi tất cả những ơn phước tích lũy này nên hồi hướng đến muôn loài chúng sinh mà không dành lại một chút gì cho riêng chúng ta. Nên biết rằng tất cả những hồi hướng này là nguồn nhận thức mà từ đó muôn vàn chúng sinh có thể tinh tấn trên con đường thực hành tâm linh về Đạo pháp để tiến đến mục tiêu tối thượng. Rồi tưởng tượng tất cả chúng sinh đều được giác ngộ, đều được thanh tẩy mọi vọng tưởng. Cuối cùng, hãy cầu nguyện tất cả những ơn phước mà chúng ta có được hôm nay đều nhanh chóng giúp chúng ta tinh tấn trong ba lãnh vực dẫn đến giác ngộ này.

 

Nhận thức Bản tính của Sự thật

 

 

Dù chúng ta đã nghe những lời dạy bảo thực hành Đạo pháp một lần hay rất nhiều lần cũng chỉ đưa đến một mục đích: hướng dẫn chúng sinh có một quan niệm đúng (chính kiến) về chân tính – tất cả các hiện tượng, các sự vật đều trống rỗng và vô ngã, không có tự tính. Nếu chúng ta phát triển được một sự hiểu biết không thể sai lầm, một sự hiểu biết vững chắc về cách sự vật xuất hiện, về cách các hiện tượng sinh khởi thì chúng ta sẽ giải thoát chúng ta khỏi tất cả những đau khổ của bánh xe luân hồi. Vô minh là nguồn gốc của tất cả mọi khổ đau, vô minh là nguyên nhân số một của vòng 12 duyên khởi, nó đưa chúng ta vào luân hồi hết kiếp này qua kiếp khác: sinh ra, chết đi rồi lại đầu thai, mặc dù chúng ta không muốn, nó vẫn xẩy ra một cách tự động, một cách rất tự nhiên. Với trí tuệ, chỉ có trí tuệ, chúng ta mới có thể cắt đứt được vô minh, từ đó chúng ta mới giải thoát chúng ta khỏi tất cả những mắc xích của luật nhân qủa, của nghiệp chúng ta. Còn nữa, nếu chúng ta đạt được trí tuệ như vậy cùng với năng lực bồ đề tâm, chẳng những chúng ta giải thoát được chính chúng ta mà còn đạt đến sự tỉnh thức tối thượng nữa (Diệu Quan Sát Trí, trí tuệ nhận biết nhiều khía cạnh, nhận biết toàn diện pháp giới. - Dg) Từ đó chúng ta có đầy đủ khả năng để hướng dẫn tất cả chúng sinh trên con đường chấm dứt mọi khổ đau.

 

Để hiểu được tánh không (tính không, không tính, shunyata) chúng ta phải làm quen với đề tài này một cách không lầm lẫn, một cách vững chắc. Đề tài này đã được giảng dậy bởi chính Đức Phật Thích Ca và nó được truyền dạy cho đến ngày hôm nay một cách liên tục không gián đoạn qua các dòng truyền thừa, các thiền giả và các học giả lỗi lạc như Ngài Long Thọ, Chandrakirti, Je Tsong Khapa...Nếu chúng ta chạy theo những lời giảng dạy cao siêu mà nó không giải thích được bản tính của sự vật thì chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được bản tính của sự thật, của chân tính, không cần biết chúng ta đã thiền định đến cỡ nào, bao lâu. Vì thế, điều vô cùng quan trọng là chúng ta phải tìm những lời giải thích đúng, rồi nghiên cứu, tìm hiểu sâu xa và thiền định về chúng một cách vô cùng thâm sâu (Tiến trình hòa nhập trong tánh không gồm ba giai đoạn: tìm hiểu, kinh nghiệm và chứng ngộ tánh không. –Dg) Hãy theo dõi những lời dạy bảo của các bậc thầy Ấn độ và Tây tạng. Ngài Je Tsong Khapa viết:

                       

                        Kẻ nào nhìn được nguyên nhân và kết quả

                        Của mọi sinh khởi trong luân hồi và giải thoát

                        Không còn vướng bận và tà kiến đã bị tiêu diệt

                        Kẻ đó đã bước vào con đường của các vị phật.

 

Trí tuệ tánh không chính là phương thuốc trực tiếp đối trị vô minh của chúng ta về bản tính của sự thật. Nếu trí tuệ này không hoàn toàn phá bỏ được lối nhìn thông thường về sự vật thì đó không phải là trí tuệ thật. Bởi vì vô minh chỉ nhận thức đối tượng một cách hoàn toàn sai lạc, nhưng trí tuệ thì ngược hẳn lại. Vì thế, trước nhất chúng ta cần phải có trực giác về các nhận thức của chúng ta xem chúng làm việc như thế nào để từ đó chúng ta biết chúng ta phải làm gì, hành sử ra sao.  

 

Tâm của chúng ta đã quen nhìn sự kiện, sự vật theo một chiều hướng sai lầm nên rất khó mà có được một hình ảnh trong sáng về sự thật. Bởi vì trí tuệ của chúng ta quá hạn hẹp, nó không đủ sức mạnh để nhận những điều đã tin tưởng là sai lầm, nó hầu như không biết thực trạng của sự vật là gì. Thí dụ, nếu chúng ta tự hỏi mình: “Thực sự ‘cái tôi’ mà chúng ta thường nói đến là gì?” chúng ta sẽ không trả lời nổi hoặc rất khó tìm được câu trả lời. Đó là một sự thật phũ phàng, chúng ta đã nghĩ về “cái tôi” quá nhiều, ngay cả trong giấc mơ. Vọng tưởng của chúng ta quá dầy đến nỗi không giải thích nổi những cái mà chúng ta thường gặp.

 

Từ vô thủy muôn vàn kiếp trước trong luân hồi đến bây giờ chúng ta đã thường nghĩ đến “cái tôi” của chúng ta như là một cái gì rất vững chắc, tự có, tự hiện diện một cách độc lập. Nó xuất hiện mà không có một chút gì liên hệ đến thân xác, đến tâm thức hoặc đến bất cứ gì khác của chúng ta. Hơn nữa, hầu như nó hoàn toàn tự lập. Chúng ta đã không học hỏi sự tin tưởng sai lầm này; chúng ta sinh ra, chết rồi lại đầu thai hoàn toàn theo bản năng. Đây là sự thật, lý do mà chúng ta sinh ra trong một thân xác bất toàn vì tâm của chúng ta đã quá bận rộn, đã có một ý niệm tự hữu về “cái tôi,” rồi từ đó chúng ta mong muốn, vồ chụp, chấp nắm, bám víu cho sự an toàn của nó.

 

Đó là một lối nhìn quá sức sai lầm. Thí dụ, khi chúng ta sợ hãi hay nóng giận, chúng ta cảm thấy mãnh liệt là “Tôi không muốn, tôi không thích nó một chút nào cả!” khởi phát ra ở trong ta, còn tất cả những cái khác thì không quan trọng. Chỉ có một điều là chúng ta phải tìm cách bảo vệ “cái tôi” đang ở trong tim của chúng ta. Nhưng, sự thật là không có một “cái tôi” nào đang hiện diện. Đó hoàn toàn chỉ là sản phẩm của một ý niệm mù quáng, vô minh.

 

Thực sự chúng ta có một “cái tôi” theo qui ước, theo tập tục, nhưng nó chỉ xuất hiện một chiều, trong khi chúng ta lại tin rằng nó thật sự hiện hữu trong tất cả mọi đau khổ của chúng ta. Chúng ta tự lao vào những vấn đề do chính chúng ta tạo ra bởi vì căn bản nhận thức của chúng ta đặt trên một quan niệm sai lầm chúng ta là ai. Tất cả những phán đoán của chúng ta đều sai và chúng ta không có khả năng để đối diện hay tác động trên những tình trạng mà chúng ta đang phải đối phó. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên chúng ta luôn luôn gặp những chuyện bực mình khi sự kiện xảy ra để rồi kinh nghiệm toàn là bất mãn và khó chịu trong kết quả.

 

Tại sao cảm thấy “cái tôi” xuất hiện một cách độc lập, tự hiện hữu, lại là một sai lầm? Nếu chúng ta đối diện với câu hỏi này một cách thận trọng, nghiêm túc và thành thật thì câu trả lời sẽ đến một cách rất trong sáng. Không thể nghĩ về một “cái tôi” bên ngoài –cũng là nghĩ về-- thân xác hoặc tâm của chúng ta. Vì thế, nếu “cái tôi” thực sự độc lập và tự có thì nó phải giống như thân xác và tâm, hiện diện như vậy, hoặc là một cái gì đó riêng biệt với chúng. Nếu chúng ta thiền định sâu xa về điều này, chúng ta sẽ thấy rằng chỉ có thể có hai sự kiện này mà thôi.

 

Tuy nhiên, thật rõ ràng là “cái tôi” không thể xuất hiện tách biệt khỏi thân hoặc tâm bởi vì không có ”cái tôi” nào để chúng ta có thể chỉ vào như chúng ta chỉ vào một sự kiện tinh thần hoặc vật chất. Thí dụ, khi thân xác ngủ, chúng ta nói, “tôi đang ngủ.” Khi nó đang chăm chú vào thức ăn, chúng ta nói, “tôi đang ăn.” Khi nó đang ở trên ghế, chúng ta nói, “tôi đang ngồi.” Nếu “cái tôi” thực sự hiện diện mà chúng ta có thể cảm nhận được – như chúng ta thường cảm nhận một cái gì đó ở thân và tâm của chúng ta – thì có thể nó chẳng có liên quan gì, ý nghĩa gì đến những hoạt động của chúng ta. Nếu “cái tôi” là một cái gì đó xuất hiện riêng biệt khỏi thân, thì tại sao chúng ta lại nghĩ, “tôi đang ngồi” khi thân chúng ta đang ở trong ghế?

 

Cùng một cách đó khi nói về tâm. Trong một khoảng khắc ngắn ngủi nào đó tâm chúng ta có liên hệ với rất nhiều hoạt động khác nhau, thường là trái ngược nhau. Khi tâm đang nghĩ, đang ngủ, đang thiền, đang tức giận hay đang mơ, chúng ta nói, “tôi đang nghĩ,” “tôi đang thiền,” “tôi đang tức,” ...vv... Nếu có một “cái tôi” hiện diện một cách nào đó ngoài cái tâm, thì nó cũng chẳng có ý nghĩa gì liên quan đến những hoạt động tinh thần trong danh nghĩa của một “cái tôi” độc lập và tự có.

 

Tuy nhiên, hãy cho quan niệm sai lầm này một chút công bằng, giả thử có một “cái tôi” độc lập như thân xác, như tâm hay như một hình dáng nào đó của nó; dù cho “cái tôi” có được coi như thân xác hay tâm thì nó cũng không thể nào là một thành phần vật chất hay tinh thần của chúng ta mà chúng ta có thể chỉ tay vào nó mà xác định rằng “Đây là ‘Tôi.’” Nó không phải là tay của chúng ta, không phải là tim của chúng ta hay là bất cứ một thành phần nào đó của thân xác mà chúng ta có thể gọi là “Tôi”. Chúng ta cũng không thể nói cái gì chúng ta đang nghĩ đang cảm là “cái tôi” của chúng ta. Cho tới khi nào chúng ta còn xác nhận chúng ta với thân xác của chúng ta, với tâm của chúng ta hoặc cứ tiếp tục nghĩ “Đây là thân của tôi” hay “Đây là tâm của tôi” là còn tiếp tục nhầm lẫn về tất cả mọi sự việc. Những tư tưởng này có thể hiểu ngầm là “Đây là thân của thân xác” và “Đây là tâm của tâm,” cả hai đều là tình trạng vô nghĩa lý. Hơn nữa, có rất nhiều, rất nhiều nguyên tử, vật nhỏ li ti, những vi thể trong thân xác của chúng ta và cũng có rất nhiều tư tưởng đi qua tâm của chúng ta mà nếu chúng ta gọi từng cái là “Tôi” thì chúng ta phải đi đến một kết luận là chúng ta đã là một triệu người khác nhau. Cũng hoàn toàn vô nghĩa lý khi xác nhận “cái tôi” với một vi thể nào đó hay với một tư tưởng nào đó, còn những cái khác thì sao? Chúng thuộc về ai đây?

 

Nếu chúng ta nghĩ những điểm này một cách có hệ thống và dùng chúng để kiểm chứng lại tất cả những đường lối mà chúng ta đã nhìn về chúng ta thì chúng ta sẽ thấy rằng không thể có một “cái tôi” xuất hiện một cách độc lập. Một “cái tôi” như vậy không thể hiện diện được, không thể xuất hiện được nên có nghĩa là không có tự tính, trống rỗng. Bởi vì tâm vô minh bảo rằng chúng ta hiện diện một cách nào đó như một “cái tôi” hoàn toàn độc lập, còn trí tuệ tánh không nhìn rất rõ ràng rằng “cái tôi” không bao giờ có dù chỉ một chút xíu, nên hai quan điểm này hoàn toàn trái ngược nhau. Dù chúng ta có tin một “cái tôi” sai lầm của chúng ta hay một “cái tôi” theo qui ước của chúng ta thì cũng không thể nào tách chúng ra khỏi thân và tâm của chúng ta hay bất cứ một phần nào của chúng. Đúng ra, chúng xuất hiện, chúng hiện diện tùy thuộc lẫn nhau (duyên khởi).

 

Sự thật có nhiều cấp bậc, mặc dù trong tương đối hay tuyệt đối, trong căn bản hay qui ước. “Cái tôi” qui ước xuất hiện ra trong tâm, chúng ta đã đề cập đến là một “cái tôi” sai lầm – vì nó cho đó là “cái tôi” độc lập và tự có – nên nó là một sự thật tương đối. Sự thật của “cái tôi” qui ước (tập tục) xuất hiện đúng như cách thế của nó, nhưng điều này không thể được nhận ra bởi cái tâm vô minh. Chỉ có cái tâm hiểu được tánh không và nhận thức trực tiếp được tất cả mọi sự vật, mọi hiện tượng đều không có tự tính mới có thể hiểu được bản tính tuyệt đối, nhận thức được chân tính. Tâm siêu việt đó không hề bị một chút ô nhiễm nào của những quan niệm sai lầm, của những ý niệm sai lầm về sự thật tương đối nên nó có thể nhìn sự vật, nhìn hiện tượng như chính nó là, như chính nó xuất hiện trên cả hai cấp bậc (nhị đế: tục đế hay thế đế là chân lý của thế tục và chân đế hay thắng nghĩa đế là chân lý của Phật. – Dg)

 

Khi chúng ta phát triển tâm linh trong tánh không, chúng ta sẽ nhìn sự vật hoàn toàn khác với lối nhìn thông thường của chúng ta bây giờ. Mọi vật sẽ như một bóng ma hay một ảo ảnh. Nhưng không phải là không có gì xuất hiện. Cần phải nhấn mạnh rằng “cái tôi” dù không tách biệt với hay không hoàn toàn giống thân và tâm thì không có nghĩa là nó hoàn toàn không có. Đây là điều vô cùng sai lầm và rất nguy hiểm nếu chúng ta kết luận như vậy. Một người đang đau khổ vì những ảo tưởng về một tâm-thức-tôi có thể bắt đầu kiểm chứng những phiền não “tôi” của họ. Thất vọng khi đi tìm một “cái tôi” độc lập, họ có thể kết luận rằng “cái tôi” của họ hoàn toàn không có, không hiện diện. Một khi họ đã tin với lối nhận thức này, họ dễ dàng đi đến việc chối bỏ mọi sự. Họ không chỉ nghĩ rằng họ không hiện diện mà họ còn có cảm tưởng rằng người khác và vật khác cũng như vậy. 

 

Đây là một quan điểm quá cực đoan về sự chối bỏ, gọi là chủ nghĩa hư vô, chủ nghĩa này có thể dẫn đến những tình trạng tâm thần nguy hiểm, rất nguy hiểm và cực kỳ khổ đau (bệnh tâm thần). Do đó, khi kiểm chứng về “cái tôi” chúng ta phải vô cùng thận trọng. Chúng ta phải có khả năng phân biệt thật rõ ràng về sự khác biệt của hai ý niệm về “cái tôi.” Thông thường, quan niệm sai lầm nhìn nó như là một cái gì xuất hiện độc lập, riêng biệt. Một khi quan niệm sai lầm về “cái tôi” đã được nhận thức, đã bị bác bỏ, cái gì còn lại chính là sự thật, lúc đó “cái tôi ” sẽ xuất hiện một cách bình thường. “Cái tôi” này xuất hiện trong một tương quan với (tùy thuộc) thân và tâm của chúng ta. Nó có những hoạt động, tạo nghiệp, rồi kinh nghiệm được những kết quả theo luật nhân quả như đã trình bày về 12 duyên khởi ở trên. Một “cái tôi” như vậy thì chẳng có gì là độc lập, tự có, nó chỉ là một phần của chuỗi dài liên tục vô tận của những hành động và phản ứng, năng lực và phản năng lực. Khi chúng ta có sự hiểu biết này, chúng ta sẽ thấy rằng tại sao chúng ta lại kinh nghiệm được những gì chúng ta đã làm. Chúng ta cũng nhận thức được chúng ta có khả năng làm cách nào để uốn nắn những kinh nghiệm của chúng ta trong tương lai do những gì chúng ta nghĩ, chúng ta nói và làm ngay bây giờ. Vì thế, khi trí tuệ của chúng ta phát triển, lớn mạnh, chúng ta sẽ kiểm soát được định mệnh của chúng ta.

 

Nếu chúng ta phân biệt được một cách thật rõ ràng về sự sai lầm, giữa một “cái tôi” độc lập và một cái thực sự hiện diện thì chúng ta sẽ không còn bị nguy hiểm rơi vào cực đoan của hư vô. Nếu không như vậy thì khi thiền định về tánh không chúng ta chỉ làm cho vô minh càng thêm vô minh hơn.

 

Khi chúng ta thiền định về tánh không chúng ta sẽ trải qua rất nhiều trạng thái của tâm linh. Trước tiên chúng ta sẽ đạt được một cái nhìn trong sáng, rõ ràng rằng chúng ta đã nhận thức sai lầm về “cái tôi,” – cái xuất hiện một cách độc lập -- như thế nào. Rồi, khi chúng ta đánh phá “cái tôi” sai lầm này bằng cách phân tích cái nào tách biệt, cái nào là một với thân và tâm của chúng ta, lúc đó “cái quan niệm sai lầm sẽ tan biến,” như Je Tsongkhapa đã nói. “Cái tôi” này sẽ bắt đầu tan rã rồi biến mất, tan biến trong bản tính chân thật của chính nó ( không có tự tính, trống rỗng.)

 

Khi không tìm kiếm được “cái tôi” này, chúng ta sẽ kinh nghiệm được một sự trống rỗng rất sâu xa ở nội tâm của chúng ta. Nó giống như chúng ta đã mất một cái gì qúi gía. Tại lúc này, sự sợ hãi có thể khởi lên bởi vì chúng ta không còn “cái tôi” nào để bám vào. Nếu và khi nó xẩy ra, chúng ta đừng để bị rơi vào tình trạng cực đoan của hư vô là chối bỏ mọi sự. Đây là một sai lầm vô cùng tai hại. Tốt hơn, chúng ta nên kiên trì thiền định rồi tự nhiên sẽ chứng nghiệm được tánh không. Chúng ta sẽ có khả năng nhận thức được bản tính chân thật của “cái tôi” – thiếu vắng sự tự hữu – và hoàn toàn cảm nhận rằng đó chỉ là những bóng ma, huyễn ảo trên bình diện rất tương đối của sự thật. Như đã được nói đến trong bài Cúng Dường Vị Thầy:      

 

            Cũng không phải một vi trần trong luân hồi hay niết bàn

            Chẳng có gì như vậy hiện hữu,

            Cũng chẳng có gì sai lầm khi nói rằng những vi trần này

            Là duyên khởi của nhân và qủa.

Kinh xin thầy độ trì con

Để con có thể chứng nghiệm được đại chính kiến của Ngài Long Thọ

Về sự không mâu thuẫn, ơn phước tương hợp của nhị đế.

 

Khi chúng ta đạt tới hai nhận thức này, chúng ta mới thực sự bước trên “đường làm vui lòng chư phật.”

 

Quan niệm sai lầm mà chúng ta nhìn “cái tôi” như là một cái gì độc lập và tự có cũng sai lầm y như chúng ta nhìn các hiện tượng. Thí dụ, khi chúng ta nhìn cái bàn, chúng ta không để ý tới khía cạnh nó xuất hiện trước chúng ta chỉ như là một cái tên mà chúng ta đã đặt cho nó và chính cái tên này, cái nhãn hiệu này là một tập hợp tuỳ thuộc vào nhiều thứ, nhiều nguyên nhân và nhiều hoàn cảnh. Thay vì nhìn cái bàn theo chiều hướng tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố (duyên khởi) chúng ta lại nhìn nó theo một chiều hướng quá đơn giản mộc mạc và sai lầm. Vì cái quan niệm sai lầm ràng buộc qúa sâu xa này mà chúng ta cảm thấy đối tượng này qúa thật và độc lập, nó tiến đến chúng ta từ ngoài kia. Chúng ta đã quên mất nó là một cái gì mà chúng ta đã đặt tên cho nó, cho nó một giá trị, thực sự là nó đã được chế tạo ra.

 

Một thí dụ khác, một đôi vợ chồng có con và đặt tên cho nó là Gerald. Dù thật sự họ đã tạo ra cái tên này cho em bé, nhưng chẳng bao lâu sau họ cứ nghĩ con của họ thật sự là “Gerald.”  Họ nhìn Gerald như là một cái gì hiện diện cùng với đứa trẻ, độc lập và tự có, xuất hiện ra với họ như không có nguyên nhân. Thay vì nhìn đứa bé như là một người tùy thuộc vào thân xác, tâm hồn, tên tuổi và nhiều thứ khác, họ lại nhìn nó như một cái gì thật có, Gerald rất độc lập, mà chẳng có một chút gì tùy thuộc vào những cái khác để cho nó được hiện diện.

 

Có rất nhiều sách giải thích làm sao để thiền về sự thiếu vắng của tính tự hữu độc lập của “cái tôi” và của các hiện tượng khác. Nhờ đọc những cuốn sách đó về tánh không mà chúng ta có thể tích tụ được nhiều kiến thức sâu xa. Nhưng điều vô cùng quan trọng là phải thật sự tự thanh tẩy chúng ta khỏi những tà kiến, vọng tưởng và những ý niệm sai lầm. Cho tới khi nào chúng ta còn vô minh về cái gì là đúng, riêng biệt và cái gì là không đúng, không hợp cách là chúng ta còn rơi vào tình trạng nhận thức lệch lạc về hình ảnh thật của chân lý, của bản tính, tất cả sự hiểu biết của chúng ta sẽ thiếu vắng chân nghĩa và chân giá trị. Vì thế, chúng ta cần phải thanh tẩy tâm của chúng ta. Chúng ta phải cố gắng loại bỏ cả hai thứ vọng tưởng dầy đặc như ganh ghét và bám víu, cái này làm chúng ta khó tập trung và khó thâm nhập vào ý nghĩa của tánh không. Vì chúng qúa vi tế và vì vọng tưởng quá thâm sâu của vô minh nên từ đó mọi vọng tưởng dầy đặc khác lại phát khởi liên tục. Còn nữa, chúng ta không bao giờ được thiếu sót trong việc quan sát nghiệp của chúng ta, con đường thẳng tắp của tất cả mọi hành động là kiên trì thực hành Đạo Pháp.

 

Sau cùng, chúng ta thử hỏi sự tin tưởng vững chắc ở tính độc lập tự có này ảnh hưởng đến tâm của chúng ta như thế nào? Có những lễ hội, có những buổi trình diễn ở những nơi công cộng hay ở bất cứ đâu, chúng được coi như là những trò chơi vô lý, những màn kịch vô duyên, nhưng ở đó mọi người cùng chia sẻ với nhau một trò huyễn ảo. Mặc dầu nó là kịch, bi kịch nhưng nó vẫn làm chúng ta cười. Tiến trình thanh tẩy tâm ô nhiễm huyễn ảo này có thể phải mất rất nhiều thời gian mới hoàn thành được, nhưng nó rất cần thiết nếu chúng ta quyết tâm muốn trốn thoát khỏi khổ đau để chỉ cho người khác con đường đi đến tự do, giải thoát. Do đó, chúng ta phải cố gắng thật nhiều, phải liên tục kiên trì, luôn luôn giữ động năng này càng thanh tịnh càng hay.

Kết Luận

 

 

Chúng ta không có đủ thời giờ để thảo luận xa hơn nữa về ba lãnh vực chính của con đường dẫn đến giác ngộ. Nhưng những gì đã được trình bày ở trên cũng tạm đủ để chúng ta ý thức được sự quan trọng của việc phát triển tâm hoàn toàn buông xả, một động năng giác ngộ của bồ đề tâm, một cái nhìn đúng về tánh không, chúng ta cần cố gắng thật nhiều để lãnh hội những lời giảng dậy này. Chúng ta nên tìm kiếm một vị thầy tâm linh hướng dẫn chúng ta đi đúng trên con đường tìm hiểu Đạo Pháp. Còn nữa, chúng ta nên đọc và nghiên cứu những tài liệu, những lời giảng về Đạo Pháp có giá trị, nhất là những điểm cốt tủy này. Nhưng điều vô cùng quan trọng vẫn là thực hành, thật tâm chân thành thực hành qua thiền định về tất cả những gì mà chúng ta đã học, đã đọc được. Hãy thực sự áp dụng những gì chúng ta đã học vào đời sống hàng ngày. Có như vậy, sự thực hành của chúng ta mới thực sự làm vui lòng các bậc đã giác ngộ và sau cùng mới mang lại ơn ích cho muôn vàn chúng sinh khác.

 

Mỗi khi chúng ta bắt đầu một buổi thiền về bất cứ khía cạnh nào trên những lời dậy bảo này – dĩ nhiên, bất cứ lúc nào chúng ta thực hiện những công việc đạo đức  – chúng ta cũng phải nhớ thanh tẩy những động năng thúc đẩy của chúng ta. Sự kiện này bảo đảm tất cả những ơn phước mà chúng ta có thể có được sẽ hữu ích cho tất cả những công việc chúng ta làm. Vì thế, hãy vun trồng những ý tưởng đó như sau:

 

Con và muôn loài chúng sinh đã bị khổ đau trong luân hồi từ muôn ngàn kiếp đến bây giờ. Bây giờ con vẫn đau khổ, con đã mù quáng chấp nhận ý niệm sai lầm con là ai. Con đã lầm tin tưởng “cái tôi” là tự có và độc lập nên con đã nhìn những bất tịnh trong luân hồi là thanh tịnh và đáng mong ước.

 

Con không muốn làm nô lệ cho những vọng tưởng này nữa. Trước khi Phật Thích Ca đạt giác ngộ, Ngài cũng vô minh như con, cuối cùng Ngài đã giác ngộ và đạt qủa vị Phật, không có một lý do nào có thể ngăn cản con làm điều đó.

 

Tuy nhiên, con không hoà nhập trong tánh bản nhiên và giải thoát cho riêng con. Con không phải là người duy nhất ước muốn hạnh phúc và thoát khỏi khổ đau. Nếu chỉ giải thoát một mình con mà không nghĩ đến người khác là không đúng. Qủa nhiên, thái độ ích kỷ của con là nguyên nhân cho tất cả mọi khổ đau của con và của muôn loài, vì thế ngay bây giờ con phải chấm dứt. Tất cả chúng sinh, những người mẹ cao qúi cuả con, đã cho con nhiều hạnh phúc mà con chưa từng có như vậy. Mặc dầu không có một ân nhân nào mong muốn đau khổ nhưng họ đã bỏ lỡ nhiều cơ hội để có hạnh phúc. Làm sao con có thể quên họ được khi họ thật sự cần sự hướng dẫn?

 

Những người bạn của con không phải là những người duy nhất bị ray rứt liên tục trong khổ đau. Ngay cả những con thú, những sinh vật nhìn thấy hay không nhìn thấy trong vũ trụ này cũng đang ngụp lặn trong mê vọng. Chúng đã chịu khổ đau từ muôn vàn kiếp và còn tiếp tục khổ đau cho đến khi nào chúng chưa thoát khỏi vô minh. Con không thể quên những sinh vật bất hạnh này, vì chúng đã chỉ cho con biết thế nào là lòng từ ái.

 

Do đó, khi con nhận thức được bổn phận của con về sự lợi ích cho muôn loài, con sẽ thiền định sâu xa trên con đường dẫn đến giác ngộ. Nguyện xin tất cả những ơn ích phước đức nào mà con có được trong sự thực hành này sẽ thuần nhuyễn tâm con. Nguyện cho con được tinh tiến trên con đường phát triển tâm linh càng nhanh càng tốt hầu sớm đạt giác ngộ để mang lại hữu ích cho tất cả những bà mẹ của con. Nguyện xin những lời dậy bảo của các bậc đã giác ngộ tiếp tục vun tưới và cung cấp ơn lành cho tất cả.

 

Cám ơn qúy vị rất nhiều.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2.   Áp Dụng Đạo Pháp Vào Đời Sống Hàng Ngày

 

 

            Tôi nghĩ các bạn đã nghe đầy đủ về Đạo pháp. Lạt ma Zopa đã thâu tóm lại và giải thích làm thế nào để hiện thực hoá sự hiểu biết này, tôi thiết nghĩ các bạn cũng biết sự lợi ích của nó như thế nào. Từ đó các bạn đã có kiến thức làm sao giải quyết những khó khăn xẩy ra trong cuộc sống của các bạn theo Đạo pháp, tôi không muốn nhắc lại những điểm này nữa.

 

Tuy nhiên, chúng ta có thể nhìn sâu hơn một chút những gì Lạt ma Zopa đã nhấn mạnh. Thí dụ, khi Lạt ma và những người khác đề cập đến Phật, Pháp và Tăng, chúng ta không nên nghĩ đây là những gì đã qua đi, đã chết. Họ không thuần túy là những nhân vật lịch sử, cũng không phải những gì Lạt ma nói về tương lai, như nói: “Nếu các bạn thực hành Đạo pháp như thế, như thế, các bạn sẽ đạt giác ngộ trong tương lai, điều này làm các bạn vui.” Thực ra Lạt ma đang nói về hiện tại – cái gì đang xẩy ra trong tâm của các bạn ngay bây giờ.

 

Ngay khi chúng tôi nói về nghiệp, sự làm việc của nhân và quả, không phải chúng tôi phát biểu một cái gì đã hoàn thành trong quá khứ để có ảnh hưởng đến những kinh nghiệm hôm nay. Thực ra, chúng tôi muốn chỉ cho các bạn biết cái gì các bạn làm buổi sáng với ý hướng xấu, thì ngay buổi chiều cùng ngày hậu quả xấu có thể xẩy ra. Tốt nhất hãy học những gì có liên quan đến những sự thay đổi ngay bây giờ còn hơn là sưu tầm, tích trữ những tài liệu lịch sử hoặc những kiến thức triết học về các sự kiện.

 

Thí dụ, khi Lạt ma Zopa nói về ba lãnh vực chính của con đường dẫn đến giác ngộ. Cái gì mà các bạn lãnh hội được trong bài học này không tùy thuộc vào sự giải thích của ngài mà là những gì đang xẩy ra trong tâm của các bạn khi các bạn nghe nó. Nếu các bạn quá chú ý vào kiểu cách diễn tả thông minh của ngài, thì có thể các bạn sẽ chỉ lãnh hội được những lời giảng giải như vậy, nhưng đây chỉ là những gì các bạn đã thấy. Người Tây phương thường có những thái độ, “ Ôi chao, ngài giảng quá hay, thật là tuyệt!” Nhưng nếu các bạn nhận xét cái gì đang xẩy ra thì các bạn sẽ thấy rằng ngài đã không giảng về trí tuệ. Ngài chỉ diễn tả những gì đang xẩy ra trong tâm của các bạn, trong nội tâm của các bạn. Ngài chỉ muốn nhấn mạnh rằng các bạn hãy nhìn vào chính các bạn gần hơn nữa, sâu hơn nữa. Ngài nói rất đơn giản, rất thẳng; cái gì chính các bạn nhận thức được, cái đó làm cho nó trở nên tuyệt vời.

Vì thế, tất cả đều tùy thuộc vào các bạn nghe như thế nào, nghe bằng cách nào. Nó giống như đang coi một phim hấp dẫn trên truyền hình. Các bạn chăm chú, nóng ruột muốn biết cái gì sắp xẩy ra. Cũng giống như vậy, khi Lạt ma nói, các bạn hãy để ý xem ngài đang khuấy cái gì lên trong bạn. Những lời nói của ngài và những sự hiểu biết, thực hành của các bạn phải hợp nhất cùng lúc với nhau. Thực ra, Đạo pháp không đề cập đến những gì ở bên ngoài như dẫy Hy Mã Lạp Sơn; nó đề cập đến chính các bạn, trong các bạn. Và dĩ nhiên, không nói đến thân thể các bạn, mũi, tóc hoặc tai của các bạn mà chỉ nói về những trạng thái tâm của các bạn. Nó chỉ thuần túy đề cập đến sự tác tạo tâm lý, thái độ của chính các bạn.

 

Có thể người ta nghĩ rằng Đạo pháp chỉ là những hiện tượng văn hoá của người Đông phương, thực ra nó không phải như vậy. Cái gì chúng ta thường nghĩ khi chúng ta nói về “văn hoá”? Đó chỉ là tâm tương đối, những huyễn ảo được chia sẻ của một xứ sở hay của một loại người nào đó, vì thế nó chẳng có một chút liên hệ gì với Đạo pháp. Nếu chúng ta diễn tả ý nghĩa này ra thêm một chút thì chúng ta có thể nói rằng Đạo pháp là “văn hoá” của sự phát triển tâm linh của riêng chúng ta. Nhưng điều này đã không được hiểu theo ý nghĩa thông thường của chính nó.

 

Khi người ta nói Đạo pháp bị giới hạn bởi văn hóa thì đó chỉ là những lời thoái thác, một lý do để bào chữa. Họ nói: “Lạt ma đang giảng về văn hóa riêng của ngài. Cái đó khác với của tôi, tôi là người Hoa kỳ, không thể thực hành được.” Tâm thường viện cớ như vậy để thoái thác. Có những ngày hầu như bạn không nhìn thấy, không suy nghĩ được một điều gì rõ ràng, hãy quan sát xem cái gì đã xẩy ra trong những ngày đó. Thay vì tìm hiểu nguồn gốc những sai lầm thì bạn lại nghĩ: “Tôi không thể thực hành Đạo hôm nay.” Phản ứng này thường xẩy ra phải không? Nhưng nó cho chúng ta biết chúng ta chẳng hiểu thực sự Đạo pháp là gì. Cũng giống như vậy, khi chúng ta nói chúng ta không thể theo Đạo vì chúng ta là người Hoa Kỳ, vì chúng ta đang ở nước Hoa Kỳ.

 

Đạo pháp không phải là văn hóa của bất cứ người nào. Nó không phải của Hoa Kỳ, cũng chẳng bao giờ trở thành như vậy. Cũng chẳng phải là văn hóa phàm tục của người Tây Tạng. Đây không phải là cái mà chúng tôi muốn giảng dậy. Cả văn hóa của Tây tạng cũng như của Hoa Kỳ đều là phàm tục, đều thuộc về luân hồi, nên chắc chắn chúng tôi không muốn chỉ cho các bạn cách trao đổi cho nhau. Đạo pháp chỉ dậy con đường tìm hiểu nội tâm đang nằm sâu trong những lãnh vực tầm thường, mê tín, huyễn ảo của bất cứ một người nào, một quốc gia nào.

 

Văn hóa của Hoa Kỳ là gì? Mỗi buổi sáng vừa thức dậy, lập tức tâm của bạn đi vào bếp, ý nghĩ đầu tiên của bạn là, “Cà phê của tôi đâu?” Rồi đến buổi trưa bạn muốn một cái hamburger. Đó là những cái tạo nên văn hóa của Hoa Kỳ, phải vậy không? Văn hóa phàm tục đó chẳng có liên hệ gì với Đạo pháp. Đạo pháp không có liên hệ gì với những tập tục, thói quen bên ngoài của xã hội.

 

Làm thế nào bắt đầu một ngày với Đạo pháp? Thay vì để cho bản ngã đi tìm cà phê, hãy thức dậy một cách có ý thức, chú ý vào những cảm nhận ở bên trong và những hiện trạng của tâm. Rồi, thiết lập những gì hứng khởi cần phải làm trong một ngày. Như “Mục đích sống trong ngày hôm nay là gì? Nó phải là cái gì quan trọng hơn uống cà phê. Sống chỉ vì ly cà phê thì chẳng có gía trị gì. Hãy hướng ngày hôm nay cho việc phát triển tâm bồ đề là điều rất tốt đẹp, hãy hướng về sự bình an của con đường giải thoát và giác ngộ để ơn ích cho tất cả mọi người.” Rồi quyết định, “Từ lúc này đến khi đi ngủ, tôi sẽ ý thức trong tất cả mọi hành động của tôi qua thân, khẩu và ý. Bằng cách này, tôi sẽ giữ được sự kiểm soát, tạo được sự an lành cho nội tâm của tôi.”

 

Nếu chúng ta tạo được một tâm trạng hứng khởi như vậy mỗi buổi sáng, chúng ta sẽ không phải nhắc đi nhắc lại cái gì phải làm trong ngày hôm nay?  Cũng chẳng cần phải nghĩ, “Tôi phải cố gắng làm một người có đạo, tôi phải sống tốt lành.” Với một động lực thúc đẩy và một sự quyết tâm như vậy thì một ngày an lành sẽ đến. Nếu có người nào tức giận, la mắng bạn, bạn cũng sẽ giữ được sự kiểm soát và bình tĩnh. Đây không phải là chúng ta tự hành hạ chúng ta, đè nén sự giận dữ của chúng ta. Sự tự kiểm soát sẽ đến một cách tự nhiên và êm diụ, nó đến từ sự nhận thức sâu xa về nguồn gốc của những sai lầm và những bất lợi của tính xấu.

 

Nhưng bạn không được tin những điều này chỉ vì tôi nói hoặc người nào khác nói. Hãy tự thẩm định những điều này và tự tìm hiểu xem nó thấm vào trái tim bạn như thế nào. Nếu bạn thực hiện như vậy mỗi ngày, tôi chắc chắn rằng bạn sẽ tìm ra phương pháp mà Đạo pháp đang kiểm soát, nó rất thực tế.

 

Một phương pháp rất hữu hiệu trong việc kiểm soát cả nội tâm lẫn ngoại cảnh là niệm mật chú. Một trong những câu mà chúng tôi thường lặp đi lặp lại của Phật Thích Ca là Om muni muni maha muniye svaha. Niệm mật chú có hiệu qủa vì nó giúp tâm chúng ta yên tịnh và an bình, nó tự động hướng về một điểm. Nó làm cho tâm chúng ta tiếp nhận được những rung động vô cùng vi tế, do đó nó thăng tiến sự cảm nhận của chúng ta. Âm vang, chấn động của chúng có tác dụng tẩy trừ tận gốc rễ những năng lực xấu để cho bản tính chân thực tự nhiên của sự vật được hiển lộ ở tâm trong sáng của chúng ta. Nhờ tụng niệm những câu mật chú siêu việt, chúng ta có thể thanh tẩy tất cả những nguồn năng lực ô nhiễm đang ở trong thân, khẩu và ý của chúng ta.

 

Tụng niệm mật chú có phải là một phương pháp thiền định siêu tuyệt hay không, nó tùy thuộc vào bạn và trí tuệ của bạn. Sức mạnh của mật chú không phải tự chính nó. Nó hoàn toàn không tự động mang đến cho tâm linh bạn những đại ơn đại phước, dù là một chủng tử thánh thiện rất cổ kính nào đó khi bạn tụng lên cũng cần phải trầm tư suy tưởng. Nghĩ rằng mật chú tự nó có sức mạnh là một ý niệm vô cùng sai lầm.Thí dụ, nếu bạn đang say sưa chìm đắm trong tham dục mà tụng niệm những câu mật chú có giá trị cứu độ thâm sâu thì cũng chẳng có ơn ích gì. Đó cũng chỉ là một sinh hoạt khác của luân hồi, của phàm tục mà thôi.

 

Giả sử bạn đang ngồi niệm mật chú mà cứ nghĩ đến miếng sô cô la, “ Trời, sô cô la, sô cô la, sô cô la thật tuyệt!” Nếu bạn qúa bận tâm vì những ý tưởng này hoặc bị quyến rũ bởi những thức ăn ngon trong chợ thì làm sao bạn có thể thực hành thiền đúng đắn được? Làm sao nó có thể đem lại an lạc cho bạn? Để cho mật chú có hiệu qủa, bạn cần phải giữ cho tâm bạn an tịnh và ít nhất bạn cũng phải tập trung được một khoảng thời gian.

 

Thêm vào đó, bạn cần phải có lòng hứng khởi, hăng say thanh khiết. Không cầu mong một ơn phước nào cho riêng bạn. Mục đích chân thật của mật chú, cũng như những sự thực hành khác của Đạo pháp, là đem lại ơn phước cho người khác, cho muôn loài chúng sinh, chứ không phải cho riêng bạn. Thay vì cứ nghĩ, “Tôi muốn, tôi muốn, tôi muốn,” hãy cố gắng phát triển lòng ao ước thanh khiết là vì lợi ích cho người khác. Bạn không nên qúa thông minh, qúa xúc động, qúa vội vã mong cầu trong vấn đề này. Chỉ nên hồi hướng ơn phước của mật chú cho muôn loài rồi nguồn năng lượng này sẽ tự nhiên tuôn trào.

 

Mật chú cũng có sức mạnh giải trừ bệnh tật. Thí dụ, đôi khi người ta bị mất trí, bị điên vì những năng lượng xấu quấy phá tâm ô nhiễm của họ. Những chấn động thanh khiết của mật chú có thể mang tâm của họ trở lại tình trạng an bình, êm dịu, nó có khả năng trị bệnh tâm thần. Vì một thân xác bệnh tật cũng ảnh hưởng đến những tình trạng tâm sẵn có ô nhiễm nên mật chú cũng có khả năng chữa trị và điều dưỡng nó. Chẳng có gì gọi là ma thuật trong vấn đề này. Khoa học đã chứng minh và đang áp dụng lối trị bệnh này.

 

YÙ nghĩa câu mật chú của Đức Phật Om muni muni maha muniye svaha là “Hãy kiểm soát, hãy kiểm soát, hãy kiểm soát thật nhiều.” hoặc “Hãy tỉnh thức, hãy tỉnh thức, hãy tỉnh thức thật nhiều.” Các bạn có thể cho rằng Phật giáo quá chú trọng đến sự kiểm soát, sự tỉnh thức và cảm thấy tất cả các lạt ma đều nói, ”Tâm huyễn ảo của các bạn đầy ắp những tật xấu nên các bạn phải hạn chế nó tối đa.” Chúng tôi không có ý nói như vậy. Hơn nữa, nếu buổi sáng chúng ta có quyết tâm như vậy thì nguyên một ngày chúng ta mới tự động để ý đến những hành động của chúng ta hơn. Một khi đã có quyết tâm thì cái đồng hồ nội tâm sẽ tự chạy một mình. Vì đã hướng dẫn nguồn năng lượng chủ yếu đi theo một chiều nên chắc chắn những năng lượng phụ sẽ phải tuôn chạy theo cùng một đường.

 

Ở Tây Tạng chúng tôi thường nói hướng dẫn tâm cũng như “cầm cương hướng dẫn ngựa chạy.” Ngựa là con vật có sức mạnh, nếu bạn không có cách kiểm soát nó, nó sẽ chạy lung tung, có khi còn hại cho chính nó và những con vật khác nữa. Nhưng nếu chúng ta biết cách điều khiển năng lượng và sức mạnh của con ngựa thì nó có thể hoàn thành được rất nhiều công việc khó khăn. Chúng ta cũng áp dụng như vậy cho chính chúng ta. Nhìn một cách khoa học, thân, khẩu và ý của chúng ta chẳng có gì khác hơn là để chuyên chở, chuyển đạt những hình thái năng lượng khác nhau. Vì thế, nếu buổi sáng chúng ta hướng dẫn nguồn năng lượng này bởi sự quyết tâm của chúng ta thì những năng lượng của thân, khẩu và ý sẽ đi theo cùng một đường. Do đó sự kiểm soát mà chúng ta đề cập đến ở đây giống như người phi công không hạn chế mà là hướng dẫn chiếc máy bay của anh ta. Sự phức tạp, sự khó khăn của ngôn từ không diễn tả được những gì của nội tâm. Nhưng nếu chúng ta thực hành thiền định và đạt được những nhận thức từ nó thì chữ “kiểm soát”, “tỉnh thức” sẽ không còn là một trở ngại cho chúng ta nữa.

 

Phần quan trọng nhất của một ngày chính là buổi sáng. Giả sử bạn thức dậy với một cơn nhức đầu hay với một cái chân đau, thay vì để ý đến những đau đớn này, điều đầu tiên bạn nên làm là hãy có một quyết tâm vững mạnh giữ thái độ hứng khởi về tâm bồ đề cho suốt cả một ngày. Ngày đầu tiên chắc chắn là khó khăn. Nhưng từ những ngày sau nó sẽ dễ hơn, dễ hơn với niềm hứng khởi thanh khiết này. Đây là kết quả của sự trau dồi, phát triển và điều kiện hóa tâm của chúng ta theo một chiều hướng thánh thiện.

 

Không cần biết chúng ta đã đọc bao nhiêu về Đạo pháp, nhưng hầu như chúng ta đã không dành ra được một ngày để kinh nghiệm những sự thực tập như vậy. Nhưng nếu chúng ta cố gắng thì ngay lập tức tâm của chúng ta sẽ cảm nhận được niềm an lạc này. Khi quý vị bắt đầu thực hành tâm linh, dĩ nhiên, quý vị sẽ làm theo những gì quý vị đã nghe, đây là những điều nên làm khi bắt đầu bước vào bất cứ một con đường thực hành tâm linh nào. Nếu chúng ta không chấp nhận điều kiện này, chúng ta sẽ mất kiên nhẫn trong việc thực hành và chúng ta sẽ nghĩ chúng ta bị bắt buộc rồi sẽ mất hết sự tự nhiên. Có thể quý vị sẽ cầu phép lạ khi quý vị ngồi thiền, rồi không thấy phép lạ xẩy ra, quý vị sẽ tự hỏi, “Tại sao tôi lại chạy theo phong tục kỳ lạ này của người Phương đông?” Thế rồi tâm tiêu cực của quý vị sẽ trả lời, “Anh đang bắt chước kiểu ngồi của một lạt ma ngoại quốc đấy. Chẳng có gì hay khi làm như vậy. Tại sao anh không ngồi thoải mái trên ghế như những người Mỹ khác?”

 

Do đó chúng ta nên thận trọng với tâm của chúng ta. Nó biết rõ phải làm thế nào để hợp lý hóa tại sao không nên theo những phương pháp với mục đích thuần hóa nó. Chúng ta cần phải hiểu rõ tính hoài nghi của cái tâm nghi ngờ này mà tiếp tục thực hành một cách kiên nhẫn bền bỉ và vững chắc.

 

Một điều khác cũng cần phải nhận định là trong cùng một lúc có hai cái tâm cùng làm việc trong chúng ta. Thí dụ, trong lúc quét nhà, một cái tâm chú ý đến việc quét nhà còn một cái tập trung vào việc tụng kinh. Điều này không có nghĩa là hai tâm mâu thuẫn nhau hoặc việc tụng kinh của bạn là không chân thành. Ngay trong lúc thực hành Đạo, chúng ta cũng vẫn đang sống trong trần gian và đang có những sinh hoạt liên hệ. Có nhiều điều chúng ta cần làm để sống, như kiếm tiền, pha trà, uống cà phê, nấu ăn, ...vân vân... Chúng ta không nên bỏ những sinh hoạt này. Hãy nhận định một cách đơn giản rằng chúng chỉ có những giá trị tương đối trong dòng hiện hữu, trong đời sống thường ngày. Do đó, trong lúc làm công việc quét nhà tâm của chúng ta cũng vẫn thực hành tâm linh được.

 

Có những phương pháp hướng dẫn việc thực hành tâm linh này. Mật chú là năng lượng, nhưng không phải là năng lượng tầm thường. Nó thuần túy thanh tịnh, xuất phát từ trí tuệ đơn thuần. Vì thế, nếu tâm của chúng ta cũng khởi phát ra từ nguồn năng lượng thanh tịnh này thì chúng ta vẫn an lạc mặc dầu chúng ta đang làm những công việc trần gian của kiếp luân hồi. Theo chiều hướng này thì tâm như một đại dương, tự tính của nó trầm lặng mặc dù vẫn có những làn sóng nhấp nhô ở trên mặt.

 

Nếu chúng ta có trí tuệ, chúng ta có thể chuyển hóa năng lượng của những dòng sinh hoạt thường ngày của chúng ta – như mầu sắc, tình cảm, ...vân vân...—thành an lạc. Như vậy những năng lượng ở bên ngoài của một cái gì mà chúng ta nhận thức được sẽ không có khả năng bắt tâm của chúng ta khởi lên lòng ham muốn, hấp dẫn, gợi cảm hoặc những sinh hoạt tiêu cực khác. Hơn thế nữa, tâm của chúng ta còn có thể kiểm soát và chuyển hóa những hoàn cảnh này, những sinh hoạt này thành thánh thiện, đạo đức. Với sự hướng dẫn, tỉnh thức và kiểm soát này, chúng ta sẽ không còn diễn dịch, biện minh cho những hiện tượng khác nhau trong sự bám víu và cố chấp nên không còn cơ hội để những vọng tưởng xuất hiện nữa. Chúng ta sẽ không còn bị cảnh thổi lên dìm xuống khi đối diện với những cái tốt xấu, với những cái ưa thích hoặc ghét bỏ.

 

Ở điểm này có thể có những câu hỏi như “ Nếu bạn thánh thiện hóa những sinh hoạt, những đối tượng như vậy hoặc chuyển hóa chúng thành một cái gì khác, bạn có chắc rằng bạn sẽ không tạo ra một huyễn tượng tâm thần khác không? Làm sao một phương pháp (phương pháp cũng là huyễn ảo,  Dg) lại có thể xóa bỏ được sự thật?” Người Tây phương thật là thông minh, nên những câu hỏi như vậy rất thường xẩy ra. Để trả lời, tôi xin đặt một câu hỏi khác,” Phải chăng những cái mà bạn nhìn thấy, thật sự nó ‘tốt’ hoặc ‘xấu’?”  Quý vị nghĩ rằng những cái mà chúng ta nhìn thấy tốt hoặc xấu thực sự nó như vậy, làm sao chúng ta biết nó như vậy? Tôi không nghĩ rằng quý vị sẽ hài lòng khi trả lời câu hỏi này. Quý vị có thể nói, “Bởi vì tôi cảm thấy đúng.” Nhưng tại sao quý vị cảm thấy như vậy? “Bởi vì tôi nhìn nó bằng con mắt của tôi.” Tôi lại hỏi, “Vậy cái gì làm cho con mắt của quý vị nhìn là luôn luôn đúng? Quý vị có luôn luôn nhìn được sự thật bên ngoài sự phóng tưởng, sự vọng tưởng của tâm thần không?” “Không, dĩ nhiên là không,” rồi quý vị trả lời tiếp, “nhưng lần này chính mắt tôi nhìn thấy là đúng.” Làm sao quý vị biết được? Tôi bảo đảm với quý vị là sẽ không có một câu trả lời nào tuyệt đối đúng cho câu hỏi này. Chúng ta có thể suy nghĩ cả một đời, nhưng không thể nào có được một câu trả lời hoàn toàn thỏa mãn.(1)

 

 

_____________________________________________________

 

(1)  Chú thích của người dịch:

 

Để nói lên tính cách huyễn ảo của tất cả mọi hiện tượng, kể cả những phương pháp thiền định và để phá chấp đến tuyệt cùng, Milarepa, một thánh tăng của Tây Tạng ở thế kỷ 11 nói:

                       

                        Kẻ nào vướng mắc trong huyễn ảo

                        Kẻ đó lầm lẫn trong thiền định.

                        Nếu ngươi biết chúng không là chướng ngại

                        Mà chỉ là sự thị hiện

                        Của tâm rỗng lặng

                        Thì ngươi đã bị phỉnh lừa trong thiền định.

                        Đó là căn nguyên của tất cả mọi lầm lạc

                        Tất cả đều xuất hiện trong tâm.

 

                        Lại nữa,

                        Thiền định là một ảo nghĩ

                        Không thiền định cũng là một ảo tưởng

                        Chúng giống nhau cho dù người thiền hay không thiền.

 

                        Trí phân biệt là mầm mống của mọi sai lầm

                        Trong tất cả chẳng có gì là tất cả

                        Trong quan điểm chẳng có gì là quan điểm

                        Đó là tính thể của tâm.

 

            (Một trong hàng ngàn bài thơ đạo Milarepa để lại cho thế gian. Đọc toàn bài thơ ở phần phụ lục.)

______________________________________

 

 

 

Đừng để mất một điểm nào trong vấn đề này. Câu hỏi này không khó vì nó chỉ là một điểm u tối của triết lý, chúng huyễn ảo. Nó không hoàn toàn là một rắc rối, một khó khăn về lý thuyết, nhưng nó đến từ kinh nghiệm của chúng ta. Vấn đề là chúng ta không thể nào nhìn được bản tính tuyệt đối của mọi hiện tượng. Không chấp nhận điểm này thì rất khó mà nói về sự thật. Khi tôi hỏi, “Làm sao quý vị biết được cái gì quý vị nhìn là thật hay giả?” thì đừng nghĩ, “Lạt ma đang hỏi tôi một câu hỏi khó. Chỉ có ngài mới trả lời được.” Nó không phải như vậy. Không có ai có thể giấu quý vị câu trả lời chân thật. Chỉ khi nào chính quý vị kiểm chứng được những kinh nghiệm của quý vị về cái mà quý vị gọi là sự thật thì lúc đó quý vị mới bắt đầu đồng ý về vấn đề này.

 

Chuyện gì đã thường xẩy ra ở nước Mỹ khi một người da đen và một người da trắng xung đột với nhau. Thực sự họ đã không nhìn ra được toàn diện vấn đề. Thật ra, người da trắng đã sơn phết một quan niệm lệch lạc về người da đen và ngược lại. Rồi, dựa trên lối nhìn lệch lạc này, họ hành động một chiều, cứng nhắc cho nhau. Tại sao sự kỳ thị này lại có sức mạnh ảnh hưởng đến tâm của họ? Thực ra, đây chỉ là những vọng tưởng bệnh hoạn, những phóng tưởng tâm thần mà tất cả những vọng tưởng này, những phóng tưởng này chẳng có liên hệ thực tại nào với cá tính của họ. Nó không phải là cái họ nhìn mà là cách họ nhìn, điều này đã tạo ra sự khác biệt, điều này đã tạo ra sự kỳ thị. Hoàn toàn chỉ là những điều tưởng tượng. Những điều tưởng tượng chứ không phải là những điều được dậy bảo; đó là một phần văn hóa của họ. Vì thế khi tôi nói về sự chuyển hóa sự thật tương đối của bất cứ một sự kiện nào bằng cách thành lập những quán tưởng (tưởng tượng) thích ứng là tôi đã không nói về một điều gì mới lạ hay khác lạ mà đây chính là những điều mà con người vẫn thường làm. Đã có những sự kiện ảnh hưởng sâu xa trong tâm của chúng ta nên khi được thanh tẩy, khi được chuyển hóa bằng những động lực thích ứng thì chắc chắn sẽ đạt được nhiều ơn ích, nhiều thành quả.

 

Kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng khi ánh sáng mặt trời rọi vào căn phòng đen tối thì ngay lập tức bóng tối sẽ biến mất. Không có một sự nghi ngờ gì cho sự kiện này phải không? Khi chúng ta quán tưởng Đức Phật Thích Ca cũng vậy, ánh sáng trí tuệ, như ánh sáng mặt trời của Ngài sẽ chiếu soi tâm ta. Chiếu soi một cách tự nhiên trong tâm hồn chúng ta và sẽ trở thành một sự hướng dẫn. Khi sự quán tưởng của chúng ta về Ngài trở nên mạnh và trong sáng – thân của Ngài không phải là thân xác thịt nhưng đó chính là sự thị hiện của Pháp Thân Phật – trong khoảng 5, 10 phút thì thật là ơn ích, thật là hữu hiệu. Không cần phải tụng niệm, chỉ quán tưởng cũng đủ rồi.

 

Hãy tưởng tượng chúng ta đang đi dạo phố tại New York với những cửa hàng đầy quần áo đẹp đủ màu, thật là hấp dẫn trong những khung cửa sổ, nó đánh thức lòng ham muốn của chúng ta làm tâm chúng ta bấn loạn. Ngay tại đó chúng ta cũng có thể chuyển biến những năng lượng này vào ánh sáng trí tuệ của Phật hay nếu chúng ta biết cách, chúng ta cũng có thể hóa giải nó vào trong tính không của chính nó. Qua phương pháp này, mỗi khi chúng ta nhận thức được tính tham nổi lên qua những bộ quần áo, chúng chỉ là những trò huyễn ảo của tâm bình thường, do đó nó chẳng có một giá trị nào với tâm chân thật, vì thế bất cứ cái gì huyễn ảo xuất hiện thì cũng sẽ tự động tan biến. Sự khó khăn, lòng tham, sẽ được hóa giải. Nếu không như vậy, tâm của chúng ta cứ bám chặt vào vọng tưởng rồi nghĩ: “Ôi chao, đẹp quá, ước gì nó là của tôi,” chúng ta sẽ mang cái hình ảnh này suốt cả ngày.

 

Nếu chúng ta dừng lại và suy nghĩ thâm sâu chúng ta sẽ nhận ra sự thật này đang diễn ra. Chúng ta cũng có thể cho là “ Lạt ma này nói nhiều quá, những gì ông ta nói toàn là giả tưởng, chẳng có căn bản gì cả.” Nhưng chúng ta cũng đừng chấp nhận hay từ chối một cách mù quáng. Tốt hơn, hãy kinh nghiệm nó, đừng phê phán tốt hay xấu. Như chúng tôi đã trình bày trước kia, Đạo pháp không quan tâm đến quá khứ hay tương lai mà chính là ở ngay giây phút hiện tại. Vậy hãy tự kiểm chứng những lời dậy bảo này và cố gắng tìm ra giá trị ở trong đó.

 

Có thể có những nghi ngờ ở điểm này. Quý vị có thể nghĩ: “Tôi dùng phương pháp này để hóa giải những đối tượng đẹp và hấp dẫn một cách dễ dàng. Nhưng còn những vấn đề quá rắc rối, cực kỳ khó khăn thì sao? Như có người tấn công tôi, gây sầu khổ cho tôi, trong trường hợp này tôi phải làm gì?” Đúng là một quan tâm khá quan trọng. Được, nếu quý vị thực sự tỉnh thức, thực sự biết kiểm soát thì ngay cả những sự kiện vô cùng khó khăn cũng có thể hóa giải trong Đạo pháp.

 

Việc đầu tiên chúng ta phải làm khi có những liên hệ khổ đau với một người nào hay sự vật nào thì hãy nhớ rằng một phản ứng xấu, tiêu cực sẽ không bao giờ mang lại kết quả, không bao giờ giải quyết được vấn đề. Sự hối hận, sự tự vệ, lòng mong muốn trả thù... sẽ không hóa giải được gì, không giúp ích gì. Chúng chỉ làm cho chúng ta tức giận hơn, bấn loạn thêm. Hãy bình tĩnh nghĩ về những kinh nghiệm ở quá khứ sẽ giúp cho chúng ta biết đây là sự thật. Những xúc cảm và những ý nghĩ  tiêu cực chỉ dẫn đưa chúng ta đến đau khổ trong tương lai, điều vô cùng quan trọng là hãy hướng về những phản ứng tích cực, trong sáng.

 

Vì thế, thay vì để ý đến những phiền não, giận ghét, hãy nhìn thẳng vào tâm ta, hãy nhìn sâu vào bên trong, bên ngoài xem cái gì, sự kiện gì đang xẩy ra. Hãy tự nhủ: “Khoan, đợi một chút, bình tĩnh lại. Cái này rồi sẽ qua đi.” Nếu chúng ta có thể cầm giữ sự nóng giận lại trong một vài giây, tâm của chúng ta sẽ trong sáng  hơn. Ở trạng thái này chúng ta có thể hiểu thấu được vấn đề một cách tinh tế hơn, đúng hơn.

 

Nên nhớ rằng mỗi một sự kiện đang xẩy ra bây giờ đều có nguyên nhân. Có thể đây là những hậu quả mà chúng ta phải lãnh nhận vì những hành động xấu của chúng ta đối với người khác trong quá khứ. Vì thế, chúng ta nên nghĩ rằng chúng ta đang trả dần những món nợ cũ. Ngay cả những sự kiện gây đau khổ cho chúng ta, chúng ta cũng nên nghĩ rằng đây là những ơn phước. “Cho dù người nào hay bất cứ gì đang làm tôi khổ, thì đây cũng chỉ là sự thị hiện của Đạo pháp, giúp cho tôi thăng tiến trên đường tìm giác ngộ. Nếu tôi có thể học được gì trong những đau khổ này thì sẽ giúp tôi phát triển thêm lòng từ bi đến những người đang khổ đau và giúp tôi tránh được những hành động gây ra khổ đau cho chính tôi, hơn nữa nó sẽ mang lại hạnh phúc cho những người đã cho tôi những giây phút bực bội này. Nếu không có những người đối xử với tôi như là một đứa trẻ thì làm sao tôi có thể trưởng thành trong tình cảm và trong tinh thần được.” Với những cảm nghĩ như vậy, chúng ta có thể chuyển hóa những sự giận dữ, những sự bực bội của chúng ta thành lòng từ mẫn chân thành, trong một chiều hướng hiểu biết thâm sâu.

 

Hình như phương pháp này không quen thuộc với quý vị chút nào, có vẻ còn đi ngược lại với hoàn cảnh và đôi khi có người còn cho là điên khùng nữa. Nhưng đối với những người chân thành thực hành Đạo pháp thì đây là một phương pháp vô cùng quý báu để tinh tấn. Họ nhận thấy những phương pháp bình thường và thông thường đều không có giá trị để đối trị những vấn đề rắc rối, chúng chỉ dẫn đến đau khổ hơn hoặc bất mãn hơn mà thôi. Tuy nhiên chấp nhận tất cả mọi tình trạng khổ đau để tu tập, để hiểu thấu bản tính của tâm là phương pháp tuyệt diệu nhất.

 

Chúng ta không thể sống nếu cắt đứt tất cả mọi liên hệ với người khác, đặc biệt trong một thành phố lớn như thế này, mặc dầu có những liên hệ gây ra phiền toái. Nhưng nếu chúng ta cứ tiếp tục chung sống, tiếp xúc với nhau, chúng ta sẽ học được rất nhiều bài học quí báu. Nói đúng ra, chẳng có ai là hoàn toàn, còn rất nhiều điều chúng ta cần phải tinh tấn, còn rất nhiều vấn đề chúng ta cần phải tìm hiểu.

 

Bài học này chỉ có giá trị cho những người đang sống gần nhau, còn liên hệ giao tiếp với nhau. Nhiều khi có những va chạm nhưng họ đã phải cố gắng tìm hiểu nhau để trau dồi mối tương quan. Mặc dù có những người cố tình gây ra chuyện xấu, nhưng chẳng sao cả nếu còn có những người đang sống chân thành với Đạo pháp. Những điều xấu xa sẽ trở thành ơn phước nếu họ biết cách chuyển hóa chúng.

 

Mặc dù lòng từ mẫn có giá trị cao quí, nhưng chúng ta cũng không thể luôn luôn mở rộng tình thương mà nói: “ Tôi thương anh, lúc nào tôi cũng đối xử tốt với anh.” Rất có thể chúng ta làm như vậy vì chúng ta muốn được bảo vệ, được mọi người để ý hoặc muốn được an toàn. Nếu chúng ta cứ để chúng ta bị lệ thuộc vào người khác theo kiểu này thì chúng ta không bao giờ khám phá ra được khả năng của chúng ta và cũng không bao giờ có thể phát triển được năng khiếu nào. Đừng bao giờ nghĩ rằng chúng ta không có tài, không được mạnh, thực sự tâm của con người có một sức mạnh phi thường. Chúng ta chỉ cần thể hiện sức mạnh đó ra bằng hành động. Thay vì để mình trong tình trạng chán nản, chúng ta hãy dùng nó vào việc thực hành tu tập. Như vậy, chúng ta có thể chuyển hóa, buồn thành vui, chán nản thành hăng say, bất mãn thành an lạc giải thoát. Trong những bài học thực hành tu tập của người Tây Tạng gọi là “chuyển hoàn cảnh thành con đường giải thoát.”

 

Thường thường khi gặp phải những chuyện bất bình, chúng ta nói: “Chán quá!” Nhưng nếu nhìn thật sâu vào vấn đề, hỏi đi hỏi lại cái gì làm chúng ta chán trong hoàn cảnh này, có lẽ chẳng có câu trả lời nào làm chúng ta hoàn toàn vừa lòng. Không ai có thể chứng minh được cái gì thật sự là “chán.” Vì thế, bất cứ gì mà tâm thường tình cho là bất mãn, chán nản, khó chịu đều có thể chuyển hóa được bởi Đạo pháp trong con đường thực hành tâm linh. Chắc chắn là được, ngay cả những gì khủng khiếp nhất.

 

Đối với những người Tây phương thì không có gì đáng nghi ngờ khi nghe bài giảng chuyển xấu thành tốt này. Trong những nước thiếu văn minh, người ta khó có thể hiểu được con người có thể chuyển biến cái này thành cái kia. Nhưng ở đây, truyền thống giáo dục của quý vị thường chú trọïng đến vấn đề thay đổi những môi trường sinh sống ở bên ngoài. Do đó, khi quý vị nghe nói về những phương pháp chuyển hóa tâm linh để ảnh hưởng đến những tình cảm ở bên ngoài, quý vị sẽ hiểu ngay nó là gì và sự hiệu nghiệm của nó như thế nào.

 

Phần nhiều những người ở Hoa Kỳ đi làm việc cho người khác. Họ có rất nhiều cơ hội để học hỏi và tiến thân mà những người khác không có. Vào buổi sáng, trước khi đi làm, quý vị nên xác định lại tính năng động, sự hăng hái của mình. Hãy nhớ đến đặc tính thâm nhập tự nhiên của khổ đau mà phát triển lòng từ bi đến tất cả những người mà quý vị sẽ gặp. Rồi nên dành sức lực của mình để mang lại lợi ích cho người khác. Chúng ta nên quyết tâm làm việc và hoàn thành công việc một cách chăm chỉ, hăng say. Với một căn bản vững chắc như vậy, chúng ta sẽ không còn lười biếng, buồn bực hoặc tức tối mỗi khi lái xe đến sở làm. Không mong muốn chiếm phần lợi ích trong bất cứ lãnh vực nào, không lừa dối chủ, chúng ta làm việc trong tinh thần tương thân tương trợ lẫn nhau. Với thái độ đó, một ngày làm việc của chúng ta sẽ vô cùng giá trị và hữu ích thay vì mất thời giờ vô ích.

 

Thời nay có rất nhiều người muốn những hình thức luyện tập thân thể khác nhau. Những hoạt động như tăng sự kiểm soát thân thể, cần phải đạt nhiều tiện ích... nhưng học để kiểm soát tâm rồi từ đó đem lại lợi ích cho người khác là một sự thực hành vô cùng quí giá. Có một kỷ luật tâm linh như vậy, chúng ta có thể tinh tấn rất nhanh và rất xa trong mọi lãnh vực kể cả con đường dẫn đến giải thoát. Một trong những thành quả vĩ đại của việc áp dụng kỷ luật này là để chuyển hóa tất cả những sinh hoạt bình thường hằng ngày vào con đường tu tập tâm linh.

 

Trong thời Đức Phật Thích Ca, có một ông già rất muốn thực hành Đạo. Nhưng đáng tiếc ông ta quá ngu muội, không thể hiểu được những lời dậy của Phật. Những đệ tử của Ngài thất vọng nên không đủ kiên nhẫn để dậy ông ta. Vì thế, lần lượt hết thầy này đến thầy khác từ giã ông; quá chán nản, ông muốn gieo mình xuống sông tự tử để chấm dứt cuộc đời đau khổ này.

 

Nhìn thấy tình trạng đáng thương không thể vượt qua của ông già, Đức Phật liền gửi ngay một đệ tử thân cận nhất của Ngài đến khuyên can và nói với ông rằng chính Phật sẽ chỉ dậy cho ông cách thực hành tâm linh. Khi ông già được dẫn đến trước mặt Ngài, Đức Phật nói rất nhỏ nhẹ với ông : ”Ông không cần phải học hỏi sâu xa, không cần phải cầu nguyện cũng không cần phải tụng kinh. Ông chỉ cần quét chùa và cố gắng giữ nó càng sạch càng tốt. Tuy nhiên, mỗi khi quét ông hãy tự nhủ, ‘ Hãy sạch ! Hãy hết mùi hôi thối !’  Ông chỉ cần thực hành như vậy cũng mang lại rất nhiều ơn ích.”

 

Ông già rất cảm kích về sự thực hành đơn giản này và bắt đầu hăng say thực tập. Ông quét chùa mỗi ngày, thực hành chăm chỉ theo đúng sự chỉ dẫn. Rồi đến một ngày, trong lúc đang quét bụi và rác, ông ta nghĩ, « Bây giờ tôi cảm thấy tôi thực sự hiểu được ý nghĩa của lời Phật dậy ‘ Hãy sạch ! Hãy vất rác đi’ Bụi bặm không phải ở bên ngoài ; nó ở bên trong. Mùi hôi thối không phải ở đây, trong ngôi chùa này; nó ở ngay trong tôi, không phải chỉ quét chùa mà thôi, tôi cũng phải làm sạch cả tâm của tôi nữa. » Bang ! Ánh sáng nội tâm bắn thủng bức màn vô minh của ông già làm ông bừng tỉnh hiểu được tứ diệu đế, nền tảng của toàn thể con đường. Vì thế, chỉ trong một tích tắc ông ta đã chuyển hóa từ một ông già quét rác u mê thành một người có trí tuệ.

 

Qua câu chuyện này, quý vị chưa nhận thức được từng chi tiết của sự phát triển trí tuệ trong Đạo pháp. Điều quan trọng là tất cả những gì chúng ta học và kinh nghiệm được đều trực tiếp đi ngay vào tâm chúng ta rồi ngay lập tức nó chuyển thành hành động. Như vậy, dù là chỉ nghe một lời dạy đơn giản cũng có thể mở toàn diện tâm ta. Cái gì chúng ta nghe được không quan trọng bằng cách chúng ta nghe như thế nào. Oâng già nhận được một lời chỉ dẫn vô cùng đơn giản nhưng ngay khi nhận thức được nó có liên hệ đến cuộc đời của ông, ông đã thực tập và tinh tấn nhanh chóng.

 

Tương tự như vậy, chúng ta nên chuyển hóa tất cả những gì chúng ta nhận được – âm thanh, mùi vị, mầu sắc... vân vân... – vào Đạo pháp. Làm thế còn tốt hơn là vồ chụp hoặc xua đuổi chúng. Nếu chúng ta nhìn sự vật từ bên trong lẫn bên ngoài với một cái nhìn toàn diện thì cuộc đời của chúng ta sẽ giá trị biết bao. Đừng nhìn thế giới bằng con mắt tham sân si thì thế giới sẽ xuất hiện vô cùng trong sáng.

 

Thường thường những vọng tưởng của chúng ta mang lại nhiều trở ngại, nhiều rắc rối hơn là chính sự vật, hơn là chính đối tượng. Thí dụ, khi đi dạo trên những đường phố ở New York, chúng ta thường nghĩ thành phố này quá dơ bẩn. Thực sự không hoàn toàn đúng như vậy. Chính vì những bất an ở trong tâm, sự vội vã tấp nập của xe trên đường phố và những cảnh sinh hoạt nhộn nhịp đã làm chúng ta dễ dàng tức giận với những người chung quanh. Nếu chúng ta dừng lại nói chuyện với một người nào, chúng ta sẽ nhận thấy tâm của họ cũng y hệt như chúng ta. Đó chỉ là những xét đoán tầm thường, bề ngoài, dựa trên những xúc cảm thoáng qua về thành phố New York và dân chúng của thành phố này.

 

Tâm của chúng ta đã đầy ắp những ý niệm sai lầm như vậy. Có người tin rằng những ý niệm sai lầm này có trong thiên nhiên và họ đã học được từ người khác hoặc ở một nơi nào đó. Điều này không hoàn toàn đúng như vậy. Những ý niệm sai lầm không truyền từ tâm này qua tâm kia, cũng không nhất thiết đến từ một chuỗi sai lầm nào đó. Đúng ra, tâm -- bị ảnh hưởng bởi nghiệp và vọng tưởng đi vào một thân xác đầy ô nhiễm -- đã sẵn mang đầy vọng tưởng, như tin rằng “cái tôi ” là một thực thể độc lập và có thật. Những tin tưởng sai lầm này không có dính dáng gì đến ngôn từ hay tư tưởng. Đúng ra, nó từ những nguyên nhân khác. Nó chỉ liên hệ đến ngôn từ hay tư tưởng khi tâm ô nhiễm cố gắng diễn tả chính nó ra trên bình diện ý thức, khi đó nó dùng ngôn từ để chuyên chở, chuyển đạt những quan niệm sai lầm của chính nó. Do đó, không nên nghĩ rằng tâm của chúng ta không có những ý niệm sai lầm bởi vì chúng ta đã không bao giờ học triết ở trường học.

 

Nhìn vào tâm để khám phá và điều chỉnh những huyễn ảo của chính nó là một việc làm đầy thích thú, phải vậy không quý vị? Nếu chúng ta khám nghiệm mọi sự qua lăng kính Đạo pháp thì chẳng có gì làm chúng ta chán nản cả. Thật là thích thú khi thấy tâm nhậy bén trong việc sáng tạo và thích ứng với những hoàn cảnh mới. Còn thích thú hơn nữa khi kiểm soát được tiến trình này và nhìn ra được mọi sự đều có thể chuyển hóa vào sự thực hành Đạo. Có rất nhiều người, dù có việc làm hay không có việc làm, cảm thấy không có gì có giá trị để làm trong cuộc đời của họ. Nhưng sự hiểu biết của Đạo pháp sẽ làm chúng ta rất bận rộn. Vì quán tâm nên chúng ta sẽ bận rộn trong việc học hỏi những điều mới lạ và cũng biết được chúng rất thực tế (mà trước kia chúng ta không hiểu được.) Không giống những học trò, họ nhận được sự hiểu biết qua sách vở, không phải do những kinh nghiệm của đời sống. Thật tốt nếu chúng ta học được trên cả hai phương diện, sách vở và kinh nghiệm, nhưng qua kinh nghiệm thì có gía trị hơn rất nhiều.

 

Được sinh ra là người là một điều vô cùng may mắn. Vì thế, chúng ta có khả năng dùng sự hiểu biết của chúng ta để phân tích. Sự khác biệt lớn lao giữa con chó và con người là chúng ta biết khám nghiệm tư cách của chúng ta, con chó không có khả năng này. Bởi vì chúng ta có thể thẩm định được tất cả những hành động của chúng ta từ tinh thần đến thể xác là tốt hay không tốt, chúng ta có nhiều cơ hội và trách nhiệm để tự khám nghiệm những đặc tính của những lỗi lầm và những điều chợt đến của chúng ta. Có khi những vấn đề này rất khó chia sẻ với những người khác, sẽ có rất nhiều ơn ích nếu chúng ta khám phá ra được căn nguyên, gốc rễ thâm sâu của những yếu kém của chúng ta. Thật đáng xấu hổ nếu không biết sử dụng khả năng hiếm có này, mà cứ nhìn đời với một con mắt mù quáng và không biết phân tích! Vì thế, cho dù sự việc xẩy ra tốt hay xấu, chúng ta nên kinh nghiệm chúng bằng trí tuệ trong sáng của Đạo pháp, hãy chuyển hóa chúng vào sự thanh tịnh vô biên của con đường dẫn đến giác ngộ.

 

Như chúng tôi đã đề cập trước kia, có một số vấn đề đã xẩy ra sau khi một số người Tây phương qua Đông phương học đạo với Lạt ma hay đạo sư. Có thể họ đã thiếu một số nghi lễ để hoàn tất sự học hỏi rồi cảm thấy rằng họ không thể thực hành đạo với các vị đó nữa. Thí dụ, ở Đông phương có những mùa đã được ấn định để tổ chức các nghi lễ cúng dường. Trong những nghi lễ, trước ảnh tượng các vị đã giác ngộ, chiêng, trống, chuông, tù và… thường được dùng cùng với những bài tụng niệm, rồi nến, bát nhang, chén nước, mâm hoa quả, thức ăn cũng được bày ra. Những nghi thức cúng dường như vậy có thể rất dài và thực sự cần thiết cho những buổi thực hành Đạo của chúng ta.

 

“Cúng dường” danh từ tiếng Phạn là “Puja”. Tại sao người ta lại cúng một người khác? Thông thường là để làm vừa lòng người đó. Đó là ý nghĩa thấp, tương đối. Trong Đạo pháp, cúng dường có một ý nghĩa thâm sâu hơn. Khi chúng ta chuyển hóa tất cả vào những hình ảnh, âm thanh, mùi vị tốt đẹp.... rồi dâng cúng chúng theo những nghi thức tượng trưng của tâm giác ngộ thì đó chính là ơn phước cho người cúng dường. Nhờ tập trung tất cả những năng lượng của chúng ta vào lễ nghi để hướng về tâm giác ngộ là chúng ta đã đem chúng ta đến gần sự bình an vĩnh cửu và hạnh phúc thường hằng.

 

Vì thế, chúng ta cần phải hiểu ý nghĩa đích thực của sự cúng dường là gì. Nó không phải là những lời tụng niệm cũng chẳng phải là hoa quả mà chính là sự tôn kính, sự chân thành của chúng ta đặt chúng lên bàn thờ, đây mới chính là tinh túy của sự cúng dường. Bất cứ hành động nào, bất cứ hình thức thiền định nào mà chúng ta thực hiện đều đem tâm thức của chúng ta đến gần sự an lạc thường hằng đồng thời phá tan đi những lầm lẫn và loạn động -- đó mới thực sự là cúng dường. Vì thế, chúng ta không nên nghĩ rằng không có những nghi lễ Tây Tạng hoặc Aán Độ ở nước Mỹ là chúng ta không thể thực hành Đạo. Quý vị không cần những âm thanh “ting, ting, ting” của chuông cũng chẳng cần mõ, tù và hay chiêng trống trong khi cúng dường. Tất cả những gì chúng ta làm –ngay cả những việc đơn giản như ăn uống – cũng có thể chuyển thành cúng dường. Mục đích chỉ là gìn giữ sự thanh tịnh.

 

Thí dụ, ở Mỹ người ta luôn luôn uống một cái gì. Từ khi đến New York tôi không ngừng uống nước, nóng quá! Từ bây giờ, mỗi khi khát nước hoặc mỗi khi lấy một cái gì để uống, hãy kiểm soát, hãy nhìn vào tâm chúng ta. Thay vì nuốt nước một cách vô ý thức, hãy lắng đọng tâm tư một giây và dâng cúng ngụm nước đó cho sự giác ngộ của chúng ta. Nếu chúng ta đã được dậy bảo về những lời chú, như OM AH HUM, hãy niệm chúng. Nếu không biết, chúng ta cũng có thể chuyển hóa nước thành những giọt cam lồ thanh tịnh bằng cách hãy nhìn vào tâm của chúng ta. Vì hướng năng lượng của những gì chúng ta uống lên cấp độ cao hơn, như không vì mục đích ích kỷ, không vì sự khoan khoái thân xác, mà chúng ta tự nhiên nhận được sự cứu độ. Cả một tiến trình chuyển hóa chỉ diễn ra trong một phút mà hiệu quả của sự cúng dường tồn tại lâu dài trong tâm của chúng ta hơn mức độ bình thường.

 

Vị đại bồ tát Long Thọ nói rằng chúng ta không nên dùng thân xác hiếm có này vào những mục tiêu vô giá trị. Vì thế, mỗi khi nuôi dưỡng chăm sóc nó, đừng làm vì những lý do hư vọng như làm đẹp để quyến rũ người khác. Thay vì như thế, hãy nghĩ rằng chúng ta bảo trì và trau dồi sức khỏe để đem lại lợi ích cho người khác và cũng cho chính chúng ta. Hãy dùng toàn thể năng lượng để phát triển con đường tâm linh và đạt mục tiêu tối hậu. Vì thế, hãy chuyển hóa tất cả những năng lượng đi vào thân xác của chúng ta cho con đường an lạc miên viễn dẫn đến giác ngộ.

 

Cách tốt nhất để dùng những nguồn năng lượng một cách toàn hảo là luôn luôn tỉnh thức và ý thức bất cứ cái gì đang xảy ra cho chúng ta. Mỗi khi tỉnh thức và ý thức như vậy thì dù một cử chỉ đơn giản nhỏ mọn cũng được chuyển hóa vào Đạo pháp. Thí dụ, khi chúng ta ăn uống, hãy để ý đến những cảm giác đang xẩy ra trong hệ thần kinh của chúng ta. Khi Đức Phật Thích Ca còn sống, không có việc cúng dường bên ngoài như vậy. Chính thiền định cũng là cúng dường. Cũng như vậy, khi chúng ta ăn, uống trong sự tỉnh thức thì cũng như chúng ta đang thiền định, tất cả mọi hành động đều là cúng dường Đạo pháp.

 

Những rung cảm ở bên trong và những cảm giác ở bên ngoài đều dấy lên trong bất cứ hành động nào, cử chỉ nào chúng ta làm. Khi chúng nổi lên, đừng nghĩ ngay, “cái này tốt,” hoặc “cái này xấu.” Phản ứng ngay như vậy chỉ gây ra những bối rối và lầm lẫn, sự thật thường bị che giấu như vậy. Thay vì thế, hãy ý thức, hãy tỉnh thức trên tất cả những rung cảm ở bên trong cũng như bên ngoài rồi hãy kiểm chứng chúng bằng con mắt trí tuệ. Thực hành đều đều như vậy sẽ phát triển trong tâm của chúng ta một thói quen tỉnh thức, dần dần sẽ thanh tẩy tâm  chúng ta mỗi ngày mỗi sạch hơn, sạch hơn.

 

Muốn ý thức tất cả những hành động một cách hoàn toàn, chúng ta cần phải tu sửa những hành vi cử chỉ của chúng ta. Vì thế khi ăn, uống chúng ta nên ăn trong yên lặng, đừng nói nhiều quá, đừng ồn ào quá. Có thể bàn luận những đề tài đơn giản còn những đề tài phức tạp, khó khăn hãy để lúc khác. Nếu không làm như vậy tâm của chúng ta sẽ bị dồn dập hết vấn đề này đến vấn đề khác, sẽ đi vòng quanh thế giới, mọi chuyện sẽ chằng chịt với nhau đến nỗi không còn tập trung vào cảm giác ăn uống được nữa. Vì thế, muốn có một bầu không khí yên tĩnh, hãy bớt nói chuyện càng nhiều càng tốt.

 

Tuy nhiên, khi đã ăn xong và tới giờ tranh luận, chúng ta hãy chuyển tâm của chúng ta vào tranh luận, hãy chuyên chú vào đó. Đừng nghĩ về bữa ăn vừa qua cũng đừng nghĩ đến bữa ăn sắp đến. Đừng nói chuyện lung tung cũng đừng chuyển đề tài quá nhanh, quá nhiều. Điều này chỉ làm những thói quen bừa bãi trong tâm chúng ta tăng lên mà thôi, vì nó đã nằm sâu trong đó. Chúng ta đã huân tập biết bao hành động vô ý thức qua muôn vàn kiếp mà không hề chú tâm vào chân lý trong từng giây phút của thực tại. Vì thế không thể nắm được trọn vẹn vấn đề, không nhìn được toàn diện mà chỉ là những chắp nối trộn lẫn với nhau rồi đi vào một cái tâm lơ đãng, không biết tập trung. Do đóù chúng ta cần phải huấn luyện tâm, phương pháp tốt nhất để bắt đầu là hãy tập trung vào cái gì chúng ta đang làm, đừng để tâm bị phân tán, bị ảnh hưởng bởi những ý tưởng không cần thiết hoặc hão huyền.

 

Kinh nghiệm đã cho chúng ta biết tập trung vào tâm là một điều vô cùng quan trọng. Nếu chúng ta học quá nhiều vấn đề trong một lúc thì rất khó mà hoàn tất được một cái nào. Khả năng của chúng ta sẽ bị phân tán làm chúng ta không thể nào hiểu được điều chúng ta đang học. Nhưng khi chúng ta tập trung vào một đề tài trong một thời gian thì tâm của chúng ta sẽ trở nên trong sáng để dễ dàng hấp thụ vấn đề. Vì thế, thay vì để tâm lang thang hết vấn đề này đến vấn đề khác, chúng ta nên tập trung vào một thì dễ kiểm soát tiến trình tinh thần của chúng ta hơn.

 

Hãy phát triển sự kiểm soát này trên tất cả những sinh hoạt của chúng ta và đặc biệt chú ý đến thân, khẩu và ý, đừng để chúng tự do dẫn chúng ta đi lòng vòng. Hãy cố gắng tập trung vào một điểm, vào một hành động. Điều này rất tốt cho tâm của chúng ta, từ đó chúng ta có thể giảm bớt được những xung khắc, những lầm lẫn ở nội tâm và dần dần chúng ta có thể phá vỡ được những thói quen  đã kết tụ trong quá khứ. Những thói quen này chỉ dẫn chúng ta đến đau khổ, vì thế chỉ có thể chiến thắng chúng bằng cách hãy phát triển tâm tỉnh thức.                

 

Tất cả những điều chúng ta đang đề cập đến ở đây như làm việc, ăn, uống và tỉnh thức chỉ để giúp chúng ta có một giấc ngủ ngon. Hầu như lúc nào chúng ta cũng đi ngủ với một tâm trạng bất an hoặc không được kiểm soát. Đi ngủ trong một tâm trạng an bình, tỉnh thức, thanh tịnh thì tốt hơn là một tâm trạng bất an, bất tịnh. Nếu chúng ta có thể thiền được ở trên giường thì rất tốt, vì chúng ta có thể chuyển tất cả giấc ngủ vào Đạo pháp. Trong những lời giáo huấn của Đại thừa có giải thích rất tỷ mỷ về làm cách nào để đạt được ơn ích trong giấc ngủ và giấc mơ. Nhưng ở đây chúng ta có thể nói rằng nhờ biết tập trung mà chúng ta có thể tin chắc giấc ngủ của chúng ta sẽ an lành.

 

Đã rất nhiều lần, sau một ngày đầy bực bội, có thể chúng ta đã tự hỏi: “Tôi không thể ngủ được. Tôi phải làm gì đây?” Tâm bị phân tán ra rất nhiều hướng, vì bực bội vẫn còn vang vọng trong đầu, làm sao mà ngủ được. Thiền định có thể giúp tâm chúng ta trở lại yên tịnh và chúng ta có thể ngủ được. Rất nhiều người trong chúng ta đã làm công việc này và họ đã có rất nhiều kinh nghiệm về sự thật này. Đã bao nhiêu lần quý vị đi vào giấc ngủ khi thiền định, ngay cả thiền lúc ban ngày?

 

Hãy kiểm điểm xem những lần mất ngủ, những lần chờ đợi giấc ngủ đến, chúng ta như thế nào? Có thể chúng ta đã chú ý đến những hành động của chúng ta đã làm trong ngày, nhưng nếu chúng ta không kiểm điểm lại trước khi đi ngủ, chúng ta đã làm mất một dịp để hiểu những gì chúng ta đã tạo ra. Có thể chúng sẽ trở lại trong giấc mơ và làm lu mờ đi những gì chúng ta đã học được, những ý tưởng về sự tỉnh thức sẽ bị tràn ngập bởi những năng lượng xấu.

 

Một trong những lý do cần thiết để có một giấc ngủ an lành là những giấc mơ phải có giá trị và có hiệu lực hơn lúc thức. Quý vị có thể không tin điều này, quý vị nghĩ: “Ban ngày tôi có thể ý thức vào những hành động của tôi. Tôi có thể biết và kinh nghiệm được mọi thứ, từ thể xác đến tinh thần. Nhưng ban đêm tâm thức của tôi mơ mộng, nó tạo ra những trò huyễn ảo.Vì thế tình trạng vô ý thức này có giá trị hơn thế nào được?”

 

Lý do mà tôi đề cập tới vấn đề này là mặc dầu chúng ta nghĩ  trong lúc tỉnh chúng ta đã chú ý vào những công việc của chúng ta nhưng những cảm quan khác của chúng ta vẫn hoạt động, vẫn mở, vì thế chúng vẫn phản ứng với những gì chúng nhận được. Tuy nhiên trong lúc mơ, năm giác quan như mắt, tai, mũi, lưỡi và xúc giác không hoạt động. Thí dụ, khi chúng ta nhìn một vật trong lúc mơ thì chúng ta nhìn bằng con mắt của tâm chứ không phải bằng con mắt thường. Khi thiếu vắng sự hoạt động của những giác quan bên ngoài thì tâm của chúng ta được tập trung toàn diện một cách tự nhiên. Do đó, thí dụ, hiệu quả của giấc mơ về lòng tham có thể mạnh hơn và ghi dấu ấn sâu hơn vào tâm của chúng ta hơn là sự xúc động bình thường tới tim trong đời sống hàng ngày. Dĩ nhiên, sự kiện này cũng xẩy ra y như vậy với những ấn tượng của tâm linh.

 

Quý vị hãy tự suy nghĩ và tự cảm nghiệm sự thật này, đừng tin những gì tôi vừa trình bày bởi vì chúng là lời nói từ một lạt ma. Hãy kinh nghiệm và hãy nhìn những kết quả bằng sự kiểm soát tâm của quý vị, ngày cũng như đêm. Nếu chúng ta thực hành một cách thành thật, chúng ta sẽ kinh nghiệm được kết quả trong một thời gian rất ngắn, vậy hãy bắt đầu ngay bây giờ.

 

Nếu chúng ta hiểu Đạo pháp một cách đúng đắn, chúng ta sẽ không còn lo lắng, hối hả về con đường giác ngộ cuối cùng nữa. Không thể có chán nản trên con đường thực hành của chúng ta, như nghĩ “ Tôi sẽ tự tử nếu tôi không giác ngộ ngay bây giờ.” Đừng bao giờ hạ quyết tâm như vậy, việc này chỉ đem đến những điều bất lợi mà thôi. Hãy tỉnh thức trên tất cả mọi hành động của chúng ta và giữ lòng hăng say của chúng ta càng thanh tịnh càng tốt. Bằng cách này chúng ta sẽ đạt được mục đích một cách tự nhiên.

 

Tôi rất vui vì được đóng góp một chút hiểu biết vào biển trí tuệ của quý vị. Tôi hy vọng tất cả quý vị sẽ thực hành Đạo Pháp trong đời sống hàng ngày của quý vị. Điều này thật là quý báu, thật là giá trị.

 

Kính chào quý vị, cám ơn quý vị thật nhiều, thật nhiều.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phụ Lục

Thơ Milarepa

 

 

Trong ngày thiền định thứ hai ở Linba Draug; một bà thần cốc, Draug Srin Mo, hiện ra quấy phá Milarepa. Sau một vài lời đe dọa và trao đổi ý kiến, bà thần cốc này đã tôn Milarepa làm thầy và xin qui y, cảm hứng sự qui y của bà, Milarepa liền hát bài ca này.

 

                               

 

 

                                Đại chân thật

 

 

                        Hỡi Phật tổ

                        Hỡi thầy tôn kính Marpa

                        Con kính lạy dưới chân Ngài.

 

                        Ta không phải một ca sĩ

                        Nhưng vì ngươi, hỡi loài yêu tinh

                        Hôm nay ta hát cho ngươi

                        Bài ca “Đại Chân Thật”.

 

                        Sấm sét, tia sáng và những đám mây

                        Đang diễn ra trong bầu trời

                        Lóe lên rồi lịm tắt (trong bầu trời).

 

                        Cầu vồng, sương mù và hơi nước

                        Đang khởi lên trong bầu trời

                        Rồi tan biến đi.

 

                        Mật ngọt, cây trái và ngũ cốc

                        Từ đất mà sinh ra

                        Rồi lại trở về đất.

 

                        Hoa lá và rừng rậm

                        Mọc lên từ đất

                        Cũng lại trở về đất.

 

                        Những làn sóng biển và những ngọn thủy triều

                        Nhấp nhô trong đại dương

                        Rồi lại tĩnh lặng như nước.

                        Những ý tưởng, những bám víu và những tham vọng

                        Chúng khởi phát ra từ A Lại Da Thức

                        Bùng lên rồi lại về đó.

 

                        Tự tỉnh thức, lòng tự hào và sự giải thoát

                        Chúng xuất hiện từ bản tính của tâm

                        Khuấy động lên rồi lại trở về tâm.

 

                        Cái gì không khởi phát ra

                        không dập tắt đi

                        Và không được diễn tả

                        Cái đó được phát xuất từ Pháp Tính

                        Tất cả lại trở về Pháp Tính.

                       

                        Những ảo tưởng, những ảo giác và những huyễn hoặc

                        Tất cả đều là sản phẩm của Yoga

                        Chúng xuất hiện rồi lại trở về đó.

 

                        Kẻ nào vướng mắc trong huyễn ảo

                        Kẻ đó lầm lẫn trong thiền định.

 

                        Nếu ngươi biết chúng không là chướng ngại

                        Mà chỉ là sự thị hiện

                        Của tâm rỗng lặng

                        Thì ngươi đã bị phỉnh lừa trong thiền định.

                        Đó là căn nguyên của tất cả lầm lạc

                        Tất cả đều xuất hiện trong tâm.

 

                        Kẻ nào phát hiện được tông tích của tâm

                        Sẽ thần cảm được điều không đến và không đi.

 

                        Hãy quan sát  tính thể của các sắc

                        Ngươi sẽ hiểu được

                        Chúng là huyễn ảo của tâm

                        Lúc đó ngươi sẽ thấu triệt được cả Không và Sắc.

                        Lại nữa,

                        Thiền định là một ảo nghĩ

                        Không thiền định cũng là một ảo tưởng

                        Chúng giống nhau cho dù ngươi thiền hay không thiền.

 

                        Trí phân biệt là mầm mống của mọi sai lầm

                        Trong tất cả chẳng có gì là tất cả

                        Trong quan điểm chẳng có gì là quan điểm

                        Đó là tính thể của tâm.

 

                        Lời dạy bảo về quán sát Pháp Tính

                        Là nhìn thấu xuất vào không gian.

                        Draug Srin Mo, ngươi hãy nhìn qua bờ bên kia của ý tưởng

                        Mà đi vào cõi tịch liêu của thiền định

                        Ngươi hãy hành động tự nhiên

                        Hãy để tự khởi phát

                        Như ý thức của nguyên lý.

 

                        Bên ngoài ngôn ngữ là sự thành đạt

                        Tự do bên ngoài hy vọng và sợ hãi

                        Ta không có thì  giờ để hát cho vui

                        Và đùa nghịch lời vô nghĩa.

                        Hãy trôi chảy theo Pháp

                        Đừng hỏi và nêu nhiều ý kiến

                        Hãy ngồi thoải mái

                        Và tĩnh lặng an nhiên !!!

 

                        Đây là những lời khùng điên

                        Ta ca hát như lời ngươi cầu khẩn

                        Nhưng nếu ngươi chân thành thực hành chúng

                        Niềm Đại An Lạc sẽ đến với ngươi

                        Khi khổ đau và đói khát.

 

                        Hãy chia sẻ và giúp đỡ

                        Những người đến với ngươi.

 

                        Milarepa

                        Vô Huệ Nguyên dịch

 

                       

 

 

 

 

 

 

 

 

NĂNG LỰC TRÍ TUỆ

Nguyên tác Wisdom Energy của Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche

Do Wisdom Publications xuất bản.

Vô Huệ Nguyên dịch theo ấn bản lần thứ 25.

Email: vohuenguyen@yahoo.com

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 XIN HỒI HƯỚNG TẤT CẢ CÔNG ĐỨC ĐẾN MUÔN VÀN CHÚNG SINH TRONG MƯỜI PHƯƠNG PHẬT VÀ MƯỜI PHƯƠNG BỒ TÁT, CON KHÔNG GIỮ LẠI MỘT CHÚT GÌ CHO RIÊNG CON.