Chứng ngộ
cái thấy hoàn hảo là hoàn toàn thoát khỏi năm độc, những
thức tình phiền não giữ chúng ta làm nô lệ trong sanh tử.
Khi năm độc biến mất, năm trí huệ tương ứng được hiển lộ.
50.- Chớ theo đuổi đối tượng
của sân hận; hãy nhìn vào tâm thức giận dữ.
Sân giận, vốn tự giải thoát ngay khi nó sanh, là cái Không
sáng tỏ;
Cái Không sáng tỏ không gì khác hơn là Trí Huệ Như Tấm Gương.
Trong sự vốn tự giải thoát của sân hận, hãy trì tụng thần
chú sáu âm.
Sanh tử
xảy đến như thế nào? Khi chúng ta tri giác mọi sự xung quanh
với năm giác quan của mình, tất cả các loại cảm giác hấp dẫn
và ghê sợ khởi lên trong tâm thức chúng ta, và chính từ
những cảm giác này mà sanh tử sanh khởi. Tri giác thuần túy
về sự vật, tự bản thân nó, không phải là cái gây cho chúng
ta lưu lạc trong sanh tử; mà chính sự phản ứng của chúng ta
với những tri giác này và những giải thích diễn dịch chúng
ta gán cho chúng làm cho bánh xe sanh tử quay mãi. Bây giờ,
đặc trưng kỳ diệu của Mật thừa là, thay vì kéo dài sanh tử
theo cách ấy, chúng ta có thể trau dồi tri giác về mọi hiện
tượng như là trò chơi thanh tịnh của trí huệ.
Khi các
bạn cảm thấy giận ghét ai đó, sự thù ghét và sân giận của
các bạn không phải là cái gì nội tại nơi người ấy như một
toàn thể cũng như một phương diện nào của nó. Sự giận ghét
của các bạn chỉ hiện hữu trong tâm thức các bạn. Vừa trông
thấy nó, những tư tưởng của các bạn luôn luôn day đi day lại
nó đã làm hại các bạn trong quá khứ, nó sẽ làm hại các bạn
trong tương lai như thế nào, hay nó đang làm hại các bạn bây
giờ; chỉ nghe tên của nó là đã làm các bạn đảo lộn. Khi các
bạn trở nên trụ tâm vào những tư tưởng ấy, sự giận ghét đầy
đủ phát triển, và tới lúc này các bạn cảm thấy một thôi thúc
không thể cưỡng được cầm một cục đá và liệng vào nó, hay
chụp lấy cái gì đó để đánh nó, nghĩ rằng: "Tôi thực sự muốn
giết nó!"
Giận dữ có
vẻ cực kỳ mạnh mẽ, nhưng nó lấy sức mạnh từ đâu để tràn ngập
các bạn một cách dễ dàng như thế? Nó là sức mạnh nào đó ở
bên ngoài, một cái gì có tay có chân, vũ khí và áo giáp? Nếu
không, thế thì nó ở đâu trong các bạn? Nếu thế, nó ở đâu?
Các bạn có thể tìm thấy nó trong óc não, trong trái tim,
trong xương cốt, hay trong phần nào khác của các bạn? Dầu
không thể xác định ở chỗ nào, giận dữ hình như hiện diện
theo một cách rất cụ thể, một bám chấp mạnh mẽ nó làm đóng
băng tâm thức các bạn thành một trạng thái cứng đặc và đem
lại một số lớn khổ đau cho cả các bạn và những người khác.
Như những đám mây, quá không chất thể để mang nổi trọng
lượng của các bạn hay để khoác lấy như áo quần, tuy nhiên có
thể làm tối đen toàn bộ bầu trời và che phủ mặt trời, cũng
thế, những tư tưởng có thể che ám sự sáng chói nguyên thủy
của tánh giác. Bằng cách nhận biết bản tánh thông suốt,
trống không của tâm, hãy để cho nó trở lại trạng thái giải
thoát, tự do tự nhiên của nó. Nếu các bạn nhận biết bản tánh
của sân giận là Không, nó bèn mất tất cả sức mạnh làm hại
của nó và hoàn lại thành Trí Huệ Như Tấm Gương (Đại Viên
Cảnh Trí); nhưng nếu các bạn không nhận ra bản tánh của nó
và thả lỏng cương cho nó, nó sẽ không kém là nguồn gốc đích
thực của những hành hạ cháy bỏng và lạnh cóng của địa ngục.
Người ta
thường nghĩ về sự hàng phục và hủy hoại một đối thủ như là
một thành công tích cực, nhưng đấy chắc chắn không phải là
quan điểm của giáo lý Phật giáo. Khi giận dữ phun như núi
lửa, chớ có theo nó, mà thay vào đó hãy nhìn thẳng vào bản
tánh của chính giận dữ; nó chỉ là một chế tạo trống không ở
trong cái trống không bao la của tâm thức. Trải qua vô số
đời, bị nô lệ bởi sự gây gổ của riêng các bạn, các bạn đã
tích tập vô lượng nghiệp xấu. Từ giờ trở đi hãy thận trọng
hơn, nhớ rằng giận dữ là hạt giống từ đó mọi hành hạ của
những địa ngục có thể sinh trưởng. Nhổ sạch giận dữ, và
không còn đâu nữa những cõi địa ngục. Bởi thế thay vì ghét
hận những kẻ thù giả danh, mục tiêu tấn công đích thực của
sự giận ghét của các bạn phải là chính bản thân sự giận dữ.
Nếu các
bạn không theo đuổi những cảm giác giận dữ, nếu các bạn
không tự làm mình xa lánh những người khác bởi sự sân giận,
nếu sự sân giận của các bạn được giải thoát vào trong thật
tánh của chính nó, bấy giờ đó là trí-huệ-như-tấm-gương, một
gương soi trong đó những người khác được phản chiếu như là
chính các bạn. Bao giờ một tư tưởng "sân giận" có khởi lên
trong tâm của Quán Thế Âm, nó chỉ làm cho trí huệ càng sáng
chói thêm nữa. Hơn nữa, khi các bạn hiểu rõ rằng sân giận
không thể nội tại nơi một đối tượng bên ngoài và rằng tâm
thức giận dữ bên trong là không có một hiện hữu có thể sờ
nắm nào, các bạn sẽ cảm thấy lòng bi tự nhiên tỏa chiếu cho
tất cả chúng sanh, đặc biệt là cho những người bị hành hạ
bởi những ngọn lửa của sân giận.
Ngày xưa,
trong một đời trước của đức Phật, khi ngài là một Bồ tát
trong hình dạng một con rắn, một số đứa bé tàn ác bắt ngài
và hành hạ ngài đến chết. Nếu muốn, Bồ tát có thể hủy diệt
chúng với chỉ một cái nhìn; nhưng vì lòng ngài đã thoát khỏi
tư tưởng nhỏ nhất về giận dữ, đó không phải là điều ngài
làm. Thay vào đó, ngài cầu nguyện rằng qua sự tiếp xúc chúng
đã có với ngài bằng cách giết ngài, trong tương lai chúng sẽ
trở thành đệ tử của ngài và được ngài dẫn dắt đến giác ngộ.
Sự can đảm và nhẫn nhục gương mẫu này là kết quả của sự
chứng ngộ đầy đủ của ngài về tánh Không và đại bi.
Sân giận
là một kẻ tử thù của giải thoát, bởi vì một khoảnh khắc của
sân giận phá hủy công đức được tích tập trong nhiều kiếp.
Bởi thế, trừ diệt sân giận là một trong những mục tiêu chính
yếu của một Bồ tát. Thế nên, hăm hở giữ giới nhẫn nhục, hãy
trì tụng thần chú sáu âm. Như có nói: "Không có lỗi lầm nào
lớn hơn sân giận, không có giới luật nào lớn hơn nhẫn nhục".
KIÊU MẠN
51.- Chớ chạy theo đối tượng
của kiêu mạn; hãy nhìn vào tâm thức bám nắm.
Tự phụ, vốn tự giải thoát ngay khi nó sanh, là tánh Không
bổn nhiên;
Tánh Không bổn nhiên không gì khác hơn là trí huệ của sự
đồng nhất căn bản.
Trong sự vốn tự giải thoát của kiêu mạn, hãy trì tụng thần
chú sáu âm.
Khi nào
chúng ta có được phẩm tính đáng khâm phục nào, hiểu biết hay
khéo léo đặc biệt nào, kiêu hãnh khởi lên tức thì và làm hư
hỏng phẩm tính tích cực ấy. Bị tràn ngập bởi tự phụ, hoa mắt
bởi vẻ đẹp, thông minh, học vấn và quyền lực của chúng ta,
chúng ta hoàn toàn đui mù với mọi phẩm tính toàn hảo và đích
thực của những bậc thầy vĩ đại. Nhưng thật ra, những người
bình thường như chúng ta, lạc lõng trong mê mờ của sanh tử,
dầu đôi khi có được vài phẩm tính tốt, thì chắc chắn chúng
ít hơn nhiều những lỗi lầm; và so sánh với những đức hạnh vô
lượng của những con người vĩ đại, những phẩm tính của chúng
ta chỉ nhỏ như đốm bột. Thật ra, những đức tính chúng ta cảm
thấy rất kiêu hãnh thường là những khuyết điểm giả dạng.
Thế nên,
bất cứ những tài năng giới hạn và không bền vững nào các bạn
có, tuyệt đối không có lý do gì để kiêu hãnh về chúng. Như
câu châm ngôn: "Cũng như nước không bao giờ tụ lại trên chót
đỉnh một trái núi, giá trị chân thực không bao giờ tích tụ
trên đỉnh lởm chởm của lòng kiêu mạn". Kiêu căng làm dừng sự
phát triển lòng sùng mộ, trí huệ hay từ bi; nó đóng ngăn các
bạn với những ban phước của thầy và chận đứng mọi tiến bộ
trên con đường. Thế nên, để tránh sự hiểm nguy của sự kiêu
mạn, quan trọng là khảo sát chính các bạn một cách thành
thật.
Nếu các
bạn phân tích sự kiêu căng một cách cẩn thận, các bạn sẽ
thấy ra rằng nó không nội tại trong cái gì mà bạn cảm thấy
tự phụ, mà được tạo ra bởi tâm bám nắm. Nếu các bạn luôn
luôn miên mật ở một vị thế khiêm tốn và giữ tâm thức mình
khiêm hạ, sự kiêu hãnh sẽ biến mất như sương mù buổi sáng.
Một tâm thức giải thoát khỏi móng vuốt của kiêu mạn luôn
luôn an trụ trong trí huệ của sự đồng nhất căn bản (Bình
đẳng tánh trí) của Quán Thế Âm.
THAM LAM
52.- Chớ khao khát đối tượng
của tham muốn, hãy nhìn vào tâm thức tham lam.
Tham muốn, vốn tự giải thoát ngay khi nó sanh, là Không Lạc;
Cái Không Lạc này không gì khác hơn là trí huệ phân biệt tất
cả.
Trong sự vốn tự giải thoát của tham muốn, hãy trì tụng thần
chú sáu âm.
Bất cứ
hạnh phúc nào mà các bạn mong mỏi từ cha mẹ, con cái, bạn
bè, sự giàu có hay tài sản của các bạn, nó sẽ không kéo dài
lâu, bởi vì cuối cùng tất cả chúng sẽ bị cái chết giật mất
khỏi các bạn – nếu không xảy ra trước đó. Vô ích khi bám níu
vào chúng.
Khi các
bạn chết, cho dù các bạn có đáng khâm phục thế nào, dù giàu
có và quyền lực thế nào, không có cái gì dùng được. Các bạn
sẽ lang thang trong trạng thái trung ấm giữa cái chết và sự
tái sanh, chỉ đồng hành với các bạn là nghiệp tốt và xấu của
mình. Góp nhặt giàu có và tài sản, rồi bảo vệ và làm tăng
trưởng chúng là một công việc làm nản lòng và không cùng.
Cái nhìn
thấy vàng và kim cương mê hoặc chúng ta, và chúng ta nhanh
chóng bị đánh bại bởi tham muốn thúc dục phải chiếm hữu
chúng. Nhưng dù bằng cách nào đó chúng ta thu xếp để mua
những đồ vật đẹp đẽ và đắt giá ấy, sự bám chấp của chúng ta,
còn lâu mới chấm dứt, mà chỉ tăng thêm. Lo lắng chúng ta có
thể mất châu báu quý giá đã sở đắc được, chúng ta cất nó
thật an toàn và không bao giờ dám đem nó ra ngoài và đeo nó.
Sau cả một đời xây dựng trên sự thèm khát, kinh nghiệm của
chúng ta trong trạng thái trung ấm chỉ có thể là sợ hãi và
kinh hoàng cùng cực.
Buôn bán,
trồng trọt hay việc làm ăn nào mà phúc lợi có được từ sự hao
tốn của những người khác chỉ đem lại cho chúng ta thêm nhiều
nghiệp xấu. Không bao giờ thỏa mãn với cái chúng ta có, luôn
luôn nỗ lực thu được điều chúng ta muốn, trong vô số đời
chúng ta hoàn toàn mòn mỏi, kiệt sức. Chẳng tốt hơn sao khi
buông bỏ tất cả và thay vào đó học cách làm thế nào được
thỏa mãn với áo quần đủ mặc và lương thực đủ sống?
Nếu các
bạn cam kết theo sự thực hành và trì tụng thần chú sáu âm
với một tâm thức giải thoát khỏi bám níu, các bạn sẽ thấy
mình càng ngày càng ít bị hấp dẫn bởi những theo đuổi bình
thường của cuộc đời,và các bạn sẽ không phung phí cuộc đời
các bạn nữa. Tham muốn và bám chấp sẽ lắng vào bản tánh của
chính chúng, nó không gì khác hơn là trí huệ phân biệt tất
cả (Diệu quan sát trí) của Quán Thế Âm.
GHEN GHÉT
53.- Chớ đi theo đối tượng của
ghen ghét; hãy nhìn vào tâm thức chỉ trích, chê bai.
Ghen ghét, vốn tự giải thoát ngay khi nó sanh, là trí trống
không;
Trí trống không này không gì khác hơn là trí huệ thành tựu
tất cả.
Trong sự vốn tự giải thoát của ghen ghét, hãy trì tụng thần
chú sáu âm.
Một người
bình thường cảm thấy ghen ghét, đố kỵ với những ai có những
thành đạt bằng hay hơn mình. Tuy nhiên ghen ghét cũng lại
không phải là một cái gì nội tại trong đối tượng của sự ghen
ghét; nó chỉ là một chế tạo của tâm thức. Bất kỳ khi nào một
tư tưởng ghen tỵ khởi ra, đơn giản chỉ nhận biết nó là cái
gì và tùy hỷ với tất cả lòng mình những thành đạt cao hơn
của người khác.
Một khi
các bạn cho phép những tư tưởng ghen tỵ nẩy nở, chúng có thể
phát triển thành một cảm xúc quá quắt. Một ví dụ là câu
chuyện về sự ghen tỵ của Đề bà đạt đa với người anh em chú
bác Gautama. Dầu sau khi Gautama đã thành Phật, Đề bà đạt đa
cũng không ngừng nỗ lực làm đủ mọi cách xảo quyệt để ganh
đua với ngài. Những hành vi ghen ghét của ông đến nỗi cuối
cùng mặt đất mở ra dưới chân, và ông rớt vào lửa của địa
ngục; ở đấy trải qua những khổ sở kinh khủng, ông hối hận,
kêu lên: "Từ sâu thẳm của lòng mình, tôi quy y ngài,
Gautama!" Dầu cho trong một đời tương lai ông sẽ tái sanh
làm một vị Bích Chi Phật, nhưng trong đời này, ngay cả Phật
cũng không cứu được ông. Ghen tỵ bởi thế là một lỗi lầm rất
trầm trọng; chớ bao giờ rơi vào dưới ảnh hưởng của nó.
Chính bởi
cảm thấy rất hoan hỷ trong lòng các bạn với những thành đạt
của những người khác – chẳng hạn, với những cúng dường lớn
lao của ai đó cho Tam Bảo – các bạn sẽ tích tập công đức như
người kia. Thay vì si mê bởi những thành đạt của chính các
bạn, thay vì rơi vào cái bẫy ghen tỵ, hãy tùy hỷ với những
công đức vô giá của những người khác, đặc biệt với những
hành vi của những vị rất cao cả. Đó không gì khác hơn là
chính trí huệ thành tựu tất cả (Thành sở tác trí).
VÔ MINH
54.- Chớ cho những ý tưởng do
vô minh đúc thành là đúng; hãy nhìn vào bản tánh của chính
vô minh.
Những người khách tư tưởng, vốn tự giải thoát ngay khi chúng
sanh, là Không Giác.
Cái Không Giác này không gì khác hơn là trí huệ của pháp
giới tuyệt đối và bao la.
Trong sự vốn tự giải thoát của vô minh, hãy trì tụng thần
chú sáu âm.
Ở đây vô
minh (si) nghĩa là vô minh về Phật tánh của chính chúng ta.
Về mặt này, chúng ta vô minh như một người ăn xin với một
viên ngọc quý trong bàn tay, do không nhận biết giá trị đến
thế nào, liệng bỏ nó. Chính vì vô minh mà chúng ta làm nô lệ
cho những tư tưởng của chúng ta và không thể phân biệt đúng
với sai. Chính vì vô minh mà chúng ta không tin vào những
kết quả lợi lạc của sự cầu nguyện Tam Bảo. Chính vì vô minh
mà chúng ta không nhận biết chân lý của Pháp. Vô minh là gốc
rễ đích thực của tám mươi bốn ngàn phiền não tiêu cực, vì
chừng nào chúng ta còn không thấy rằng thật tánh của mọi sự
là tánh Không, chúng ta còn khăng khăng tin rằng những sự
vật có thật hiện hữu; và đây là nguồn gốc của mọi tri giác
mê lầm và mọi tư tưởng xấu xa.
Tuy nhiên
vô minh không thường tồn như bóng tối thường trực của một
hang sâu dưới mặt đất. Như mọi hiện tượng khác, nó chỉ có
thể sanh khởi từ tánh Không và bởi thế không thể có hiện hữu
chân thật. Một khi các bạn nhận ra bản tánh Không của vô
minh, nó chuyển thành trí huệ của pháp giới tuyệt đối và bao
la (Pháp giới tánh trí). Đây là tâm trí huệ của Quán Thế Âm,
Phật tánh, yếu tính của chư Như Lai, Như Lai tạng hiện diện
trong tất cả chúng sanh. Chỉ vì vô minh, như đức Phật đã bày
tỏ, khiến chúng ta tin vào tri giác mê lầm của chúng ta thay
vì nhận biết Phật tánh là bản tánh của chính chúng ta.
Bằng cách
xác lập bản tánh Không của vô minh, hãy nhận biết sự mờ tối
và mê vọng của nó là chính pháp giới bao la tuyệt đối. Bấy
giờ trụ trong kinh nghiệm này và thực hành cái thấy, thiền
định và hành động. Đây là tâm yếu tối thiết của Quán Thế Âm.
Bởi thế,
bất kỳ khi nào những tư tưởng và thức tình liên hệ với năm
độc sanh khởi, thay vì tự để cho mình bị chúng mang đi xa,
hãy nhìn thẳng vào bản tánh của chúng; bằng cách làm như thế,
cuối cùng các bạn sẽ đến chỗ nhận biết năm độc chính là năm
trí huệ bổn nguyên, chúng là tình trạng tự nhiên của tâm
không mê vọng. Đến điểm này, tất cả tư tưởng của các bạn sẽ
được giải thoát ngay khi chúng khởi, và các bạn sẽ không bao
giờ mất cái thấy về tánh giác, Quán Thế Âm tuyệt đối.
Quán Thế
Âm tuyệt đối không gì khác hơn là tánh Không, tuy nhiên trên
bình diện tương đối Quán Thế Âm khoác lấy vô số hình sắc để
gặp gỡ những nhu cầu của chúng sanh. Tất cả những biểu lộ
này, với danh hiệu, hình thể và màu sắc khác nhau, là sự phô
diễn của trí huệ ngài, sự biểu lộ của tính sáng tạo của tánh
Không và đại bi. Đặc biệt, Quán Thế Âm phô diễn năm hình sắc
chính tương ưng với năm uẩn và năm cõi(64)
của sanh tử. Năm bài kệ tiếp theo giải thích sự chuyển hóa
của năm uẩn, hay skandha, thành năm phương diện này của Quán
Thế Âm(65).
GHI GHÚ:
64.- Năm cõi: trong văn mạch này, sự xếp đặt
thường dùng chia sanh tử thành sáu cõi được chuyển đổi thành
năm, bằng cách tính chung những cõi thiên và bán thiên thành
một.
65.- Năm phương diện của Quán Thế Âm: Vua của
Bầu Trời, Thòng Lọng Phong Phú, Bậc Nạo Vét Sạch những Chiều
Sâu của Sanh Tử, Bậc Đại Bi Chuyển Hóa Chúng Sanh, và Đại
Dương của những Bậc Chiến Thắng, năm danh hiệu ấy là bản
tánh thanh tịnh theo thứ tự của các uẩn sắc, thọ, tưởng,
hành và thức.
(Trích
đăng sách "Kho Tàng Tâm Của Các Bậc Giác Ngộ", tác giả Za
Patrul Rinpoche, Việt dịch: An Phong và Đương Đạo, xuất bản
Thiện Tri Thức, trang 181-191)