Thöa baïn,

NGƯỜI CÓ NGHIỆP VỚI PHẬT

                               Cư sĩ Liên Hoa

 

Thành phố Hương Thông (Houston), Texas đẫm ưót trong cơn mưa từ suốt đêm qua đến sáng nay. Từng sớ đất, từng hạt cát như đã nhủn mềm  trong dòng nưóc. Sau những ngày nóng bức, nhiệt kế cứ tăng dần lên đến trên 100 độ F, nay đang trên đà đi xuống, khí trời mát lại.

Mỗi giọt mưa tung tăng bay nhảy, cười vang trên bầu trời, rồi lăn mình biến dạng trên mặt đất và như ẩn dấu cho từng cuộc đời mỗi con người. Chợt đến chợt đi, chợt có mặt, xô bồ, náo loạn rồi lặng lẽ mất đạng, dù có thương khóc, níu kéo. Có những cuộc đời êm ả như vô tình mọi xung quanh, có những cuộc đời nhiều sóng gió, nhiều khổ đau để kết lên thành những thiên trường hận ( Hận đủ thứ, hận mọi người vì không ai nghỉ đến mình .. nhưng không dám tự hận mình)

Mỗi ngưòi đều có một cuộc đời và một lựa chọn để sống, một hưóng đi cho mình, liên hệ đến công danh, sự nghiệp, sắc đẹp, vinh hoa, phú quý hay bần cùng, thấp kém v.v…do những nghiệp lực đã tạo ra tác động đến. Để rồi sẽ làm gì? Sẽ ra sao? Và còn những gì để lại sau cuộc rong chơi hay chỉ như những giọt mưa đến đi bên cạnh cuộc đời?

Không biết phải nói ra sao hayhoặc  bắt đầu từ đâu để nói về sự kiện cuả “Người có nghiệp với Phật” nầy. Thôi thì hãy bắt đầu từ cái tôi vậy. Cái tôi là cái mà nếu người có chút hiểu biết, thì ít dám nói về mình. Chỉ dám nói rằng nào là cái tôi đáng ghét, đáng nầy hay đáng nọ (Nhưng nếu ai đụng tới thì không được, có chuyện ngay). Tôi cũng không ngoại lệ, nhưng sao nay lại nói về cái tôi.

Các bạn có biết không, dù gì thì nói về mình thì tốt hơn, dễ hơn, vì cái “thương tôi” của ai cũng đều quá lớn. Khi nói về mình, thì khi mình chê mình, thì sẽ chê nhẹ nhẹ thôi, chứ không thì tội nghiệp lắm (Ai lại dám chê mình quá đáng, phải không quý vị).  Còn nếu như lở có khen mình, thì cũng tìm lời hay, tiếng đẹp để đưa mình lên tận mây xanh, mặc  dù trước mọi người thì cũng làm bộ hạ mình xuống cho có lệ. Hơn nưã, nói về mình sẽ an toàn hơn, chứ nói về người khác, nhất là khi nói xấu về họ, lở đến tai người thì ớn quá, không biết mình sẽ đi về đâu? Ra sao?

Khi quân đội Pháp rời khỏi Việt Nam, để chấm dứt chế độ bảo hộ và rút về căn cứ nhảy dù tại Séno, Laos. Khi đi, họ đem tất cả những ai có dính dáng hay đang làm việc cho quân đội Pháp để đi cùng. Sau quyết định của Ba tôi, ông đã đưa gia đình đã di cư qua Lào và cư trú tại căn cứ Séno- căn cứ quân sự ( có trại lính Nhảy dù : Camp parachute) cuối cùng của Pháp tại Đông Dương và cũng dành một khu với nhiều căn nhà để cho gia đình những người Việt Nam làm việc cho Pháp, ở.

Chuyện của người lớn, làm sao mình biết đưọc, nhất là của bậc làm cha mẹ. Làm con, cha mẹ ở đâu thì con ở đó, nhất là khi chập chửng biết đi, tập biết nói. Tôi còn quá nhỏ, không biết thế nào là vui hay buồn. Dù vậy, cũng có nước mắt ràn rụa tuôn chảy vì cuộc ra đi nầy (Không phải vì có mối tình nào còn bỏ lại, như “sao anh đành bỏ em để ra đi một mình” vì mới có 3, 4 tuổi thôi). Tuy nhiên, tôi cũng có bạn bè cùng lưá tuổi, lối xóm, chơi với nhau đã lâu. Có những bạn học cùng trường, và có rất nhiều thứ khác đã xây dựng nên một khoảng không gian tuổi thơ cuả tôi, nhưng nay, tất cả đều phải để lại như phế bỏ những ấn tượng đầy hình ảnh dễ thương, dễ mến.

Séno nơi dành cho người Việt tại đây, gồm có hơn 200 gia đình. Bao quanh khu của người Việt ở là những khu trại của quân đội Pháp. Tất cả các đưá trẻ đều được đi học và chỉ học có mỗi chương trình Pháp. Có một số người Việt dạy chữ Việt, nhưng cho có lệ vì các Thầy cô đều bận việc sinh kế. Séno có một bệnh viện rất lớn, chợ, nhà thờ v.v…và cũng có một rạp chiếu bóng do người Pháp làm chủ. Vì số người Việt cũng khá đông, nên họ thỉnh thoảng cũng có cho chiếu phim Việt Nam- từ Saigon đưa qua. Trong trí nhớ của tôi- một đưá bé còn non nớt, ăn chưa no, lo chưa tới- nhưng cũng đã được xem những phim VN như là: Sự tích Phật Thích Ca, Thoại Khanh-Châu Tuấn, Bạch Viên Tôn Các, Ngưu Lang Chức Nữ v.v…Đó là vùng kỷ niệm tuyệt vời, nẩy nở trong tâm hồn đứa bé về những gì là của sự tích, văn hoá Việt Nam, vì thực ra, lúc đó tôi học trường Pháp nói tiếng Pháp; riêng tiếng Việt thì nói không rành, huống gì là chữ Việt.

Xa quê hương, nơi xứ lạ quê người, nên người Việt cũng có nhu cầu tâm linhù. Ngoài một ngôi nhà thờ của người Pháp đã có từ lâu, dành cho tín đồ người Pháp và một số người Việt. Nay có thêm một ngôi chùa do vị sư người Việt- từ Saigon qua, xây dựng lên. Vị Sư tên là Thầy Thích Thanh Tuất tự Lương Sơn, còn có các Thầy thường vân du, lai vãng như Thầy Nhật Liên, Thầy Quảng Thiệp, Thầy Trung Quán, Thầy Minh Lý v.v… Tất cả dữ kiện nầy là do người lớn kể lại, chứ đưá bé như tôi làm sao biết nhiều như vậy.

Thực sự, tôi không biết một ông Sư Việt Nam ra sao, mặc dù cho đến lúc đó, tôi chỉ một lần gặp một vị Sư Lào ôm bình bát đi khất thực, lúc tôi đang cắp sách đi đến trường học. Cho đến khi quân đội Pháp rút ra khỏi hoàn toàn ở Vương quốc Lào, những người nào muốn theo Pháp để đi định cư tại Pháp thì được xúc tiến giấy tờ, còn những người Việt nào muốn ở lại xứ Lào làm ăn sinh sống, thì phải di chuyển ra Séno chợ- cách chỗ ở cũ chừng 4 cây số, vì căn cứ nầy bị giải toả. Ba tôi một lần nữa quyết định ở lại với những người đồng hương của mình và đưa gia đình ra ngoài Séno chợ, cất nhà để ở, chứ không chịu qua Pháp. Ngay cà ở trường học, thầy cô đều muốn đưa riêng mình tôi- đưá học sinh dở tệ để qua Pháp, ba tôi cũng không chịu??. Ơû chỗ mới nầy, gia đình tôi lại ở gần ngôi Chùa Hoa Nghiêm tự như vừa được đề cập ở trên, cách khoảng 8 hoặc 9 trăm mét.

Những hình ảnh trong phim Sự tích Phật Thích Ca do La thoại Tân đóng vai Thái Tử Sidharta, vai Đức Phật đã nhen nhúm  và để lại trong tôi nhiều chất liệu êm dịu…Do đó, ngoài những lúc đi học và ham chơi trò chơi trẻ con của mình, cũng có lúc tôi đến ngôi Chùa nầy chơi. Thực ra, chùa thì có gì để mà chơi để mà đến, trừ lúc vào rằm tháng bảy cúng cô hồn, thì đó là lúc nên đến lắm lắm? Trong chùa lúc nầy chỉ có một vị Sư già, mỗi lần thấy tôi- có lẽ là đứa bé coi cũng không có tệ lắm, nên thường hay xoa đầu và rồi đem chuối sứ cho ăn, thưởng cho việc hay đến Chùa. Không biết tôi có phải gốc của khỉ hay Đạo chuối gì hay không, nhưng thấy chuối thì rất là mê ăn. Một mình ăn 4, 5 trái tỉnh bơ. Hạnh phúc lớn lúc nầy, no tròn trong tâm tư đứa bé con của tôi là đi chùa để ăn chuối. Có lẽ, vị Sư biết yếu điểm của tôi, nên hay lấy cho ăn để dụ đến chùa chăng? Cứ thấy mặt, là được vài trái chuối để ăn thì làm sao không khoái cho được.

Ngôi chùa Hoa Nghiêm tự được xây dựng trên khoảng đất rộng lớn. Chùa lợp tôn, rộng có bề thế. Theo trí nhớ của tôi còn sót lại, chánh điện chùa có thể chưá khoảng 2, 3 trăm người? Trong chùa, ở Chánh điện có pho tượng Phật thật là to lớn, khổng lồ. Mỗi lần nhìn lên ông Phật nầy, dù có gương mặt rất hiền, môi hơi mỉm cười, tôi vẫn rất sợ và dè dặt. Không biết sao mà Ổng bự dữ vậy, lở đến gần, Ổng chụp mình thì sao? Cho nên, dù vị Sư nầy đã nhiều lần dẫn tôi lên Chánh điện- chỗ thờ Tượng Ông khổng lồ, dạy chắp tay, nhìn lên Tượng, rồi quỳ gối, cúi lạy cho đầu sát đất, cho có phước, thì mới cho ăn chuối, tôi đều không chịu. Eo ơi! Tôi run quá và len lén nhìn lên tượng Phật, coi Ông tượng khổng lồ nầy có nhìn mình hay không và đồng thời, thủ thế sẳn để co giò chạy nếu như  Ổng đứng dậy. Nhưng, sao Ổng cứ ngồi im lặng, cứ mỉm cười hoài.

Vị Sư nầy là người Việt Nam, tên là ông Vượng, già hơn ba tôi, nói giọng rất khó nghe. Có người nói ông là người Bắc, trước là công nhân, ít học và đã có gia đình, trước khi đi tu. Chùa hiện giờ chỉ còn có mình ông, còn những vị Thầy lớn khác lâu lâu mới từ Việt Nam qua một lần. Vị Sư mặc áo màu vàng giống hệt như vị Sư Lào mà tôi đã được nhìn thấy.

  - Ông ở một mình không sợ ma sao?

  - Con gọi ông là Thầy hay là Sư nhé, đừng gọi bằng Ông, vì 

    Ông đã đi tu rồi. Sư  đâu có sợ, vì Sư tu thì ma phải sợ Sư chứ.

  - Sao kỳ vậy Sư? Con ma nó biết Sư  tu hả? À, con thấy trên đầu

    tượng Ông Phật khổng lồ kia có tóc, sao Sư cạo tóc làm gì vậy,

    không sợ bị cảm sao? Ơû nhà con có dầu cù là, nếu Sư cần, con

    sẽ lấy cho nha. Ba má con hay thoa dầu lên mõ ác của em con

    lắm, để cho khỏi cảm, sổ mũi đó.  đó.

Những câu hỏi và đối đáp rất trẻ con của tôi làm ông cười

thật lớn, tôi cũng cười lây theo. Có lẽ ông trả lời không được rồi, nên tha thứ cho ông, đừng hỏi nữa.

            Sau lưng ngồi chùa khoảng 4,6 trăm mét là nơi nuôi bò, heo v.v..để cung cấp thịt cho dân vùng nầy, do ông bà Phán làm chủ. Tôi không hiểu tại sao chùa lại được xây dựng một cách oái ăm, kỳ cục quá?  Nhưng, nó đã hiện diện từ lâu năm như vậy rồi. Phía đằng trước, là ngôi chùa để tu hành, phiá sau lưng bên kia hàng rào bao quanh Chùa, là chổ để giết trâu bò!

            Tuổi còn quá nhỏ, chưa có bao giờ tôi giựt mình giữa khuya để mơ mộng, mơ mộng. Ngủ thì say mê như chết, nếu có bị quăng chỗ nầy hay chỗ nọ, cũng không biết nữa. Nhưng, bỗng nhiên một hôm, tôi bị giựt mình, bị đánh thức vì tiếng chuông lớn đổ dồn vừa xong của giờ công phu khuya trong chùa, rồi tiếp theo là tiếng mõ vang dội cả khu xóm. Tiếng mõ như xuyên thủng màn đêm, đến tận từng nhà, vang động trong tai mọi người. Không phải ai nấy đều hoan hỷ, hạnh phúc khi nghe tiếng mõ khua vang như vậy, vì âm thanh của chuông mõ lúc đó, không có một chút gì thâm trầm, an tịnh mà mang những tiếng chát chúa, vỡ toang. Nhất là lại ồn ào, phá giấc ngủ của họ vào đêm khuya, nên ai nấy đều thấy nhiều phiền não, tuy có rất nhiều thông cảm cho vị Sư.  Sau nầy, tôi mới biết được là mỗi khuya, khu xóm đều bị nghe những âm thanh như vậy???

Một ngày, tôi lên chùa chơi để được ăn chuối, những trái chuối chín vàng, ngọt lịm và cũng để thăm  Sư Vượng.

     - Chào Sư ! Sư khoẻ không? Tối khuya hôm qua, lần đầu tiên

    con nghe được tiếng mõ của Sư gõ, sao mà gõ nõ lớn quá. Cả

    xóm, ai nấy đều nghe hết à. Con nghe ai nấy đều xì xầm về 

    việc nầy.

    Sư Vượng im lặng, không trả lời, không lộ một nét gì khác lạ trên gương mặt già nua của Sư.

-         Sư có thể cho con gỏ mõ được không? Con thấy vui quá. Mình lấy cây đánh thật mạnh vào mõ phải không Sư, thử coi mõ bằng gỗ tốt hay không phải không Sư. Hay để tập võ?  À, con biết rồi, chắc Sư luyện tập võ đó mà

Bình thường, với những câu nói ngây thơ nầy, Sư sẽ cười

lớn vui đùa với tôi. Nhưng, hôm nay, Sư lại khẻ nói với tôi, với đưá bé mà tâm hồn ngây thơ, chưa hiểu biết gì. Sư nói như để tâm sự , chia xẻ hay như  Sư đang nói với lòng mình.

-      Con biết không? Chùa được xây dựng vào khu đất kỳ quá. Đây là Chùa, chỗ tu hành, nhưng phiá sau lưng Chùa không xa lại là chỗ họ giết heo, trâu bò…Mỗi buổi khuya khoảng 4 giờ sáng, khi Sư đánh Đại hồng chung ( Chuông lớn ) xong thì tụng Kinh. Nhưng sau tiếng chuông ngân nga thanh tịnh, đưa lòng nguời vào cõi giải thoát, thì Sư nghe phiá sau Chùa nhộn nhịp lắm. Lúc đầu, Sư tưởng các Phật tử đến Chùa nghe Kinh buổi khuya. Nhưng không phải, vì một lúc sau, khi tiếng mõ vừa gõ vang lên, thì phiá chỗ đồ tể, họ giết heo, bò…Tiếng bò rống, tiếng heo hét lên vì đau đớn, vang dội đến tận Chánh điện thờ Phật, đến tận tai Sư, làm Sư cảm thấy đau xót quá.sư thật sự không muốn nghe tiếng đau đớn, sợ hải của những chúng sanh đó, nhưng không biết làm cách nào? Cho nên, Sư đành gõ mõ thật lớn, dù dùi mõ có gảy, dù mõ có sờn, có bễ thì cũng đành chịu. Thầy của Sư có về, có la hay gì đi nữa, Sư cũng chấp nhận hết. Tiếng kêu nghe đau đớn quá, Sư không muốn nghe. Sư không muốn nghe !!!….

        Tiếng Sư nói xen lẫn tiếng nấc nghẹn ngào, giọt nước mắt chợt tuôn rơi, lăn trên đôi má nhăn nheo. Đưá nhỏ nầy hiểu rằng, tiếng nấc thổn thức nầy không phải cho Sư, mà chỉ vì nghỉ thương đến các loài khốn khổ kia.

        Sư dẫn tôi vô chỗ nhà kho của Chùa và chỉ cho tôi thấy những chiếc mõ đã bị bễ, và cả những cái dùi mõ bị gảy. Nét mặt Sư  thật trang nghiêm, ẩn chứa một tấm lòng, một tình thương vô biên. Tôi không thể diễn tả được những xúc cảm của tôi khi nghe Sư kể. Tôi bật lên khóc, khóc thật lớn, thật thoả thuê như đã lâu rồi không được khóc.

        Có một thi sĩ nào đó đã nói, hình như là thi sĩ Goethe, rằng: “Truớc một bộ óc vĩ đại, tôi cúi đầu kính phục. Nhưng trước một tấm lòng từ bi, tôi chỉ biết quỳ xuống…”  Vâng, đúng như vậy! Một vị Sư ít học, vào Chùa đi tu một vài năm và cái chất liệu gì đã làm cho tấm lòng kia đã đỗi thay, đã ngời sáng như vậy?  Tôi không biết ông Phật ra sao cũng như những gì mà Ngài hoặc nhà Chùa dạy. Tuy nhiên, qua hình ảnh Sư Vượng đã làm cho đứa bé như  tôi có cái nhìn khác về Sư. Sư bỗng trở nên to lớn, thánh thiện khác thường. Và cũng từ đó, tôi chợt nhận ra mình có can đảm nhìn thẳng vào tượng Phật khổng lồ trên chỗ thờ kia, chứ không còn nhìn một cách lén lút như trước kia nữa. Tượng mỉm cười, tôi cũng cười. Một sự cảm thông vô biên xuất hiện. Thật là vui, hạnh phúc…

        Mặc dù với tấm lòng và tình thương to lớn của Sư Vượng và với tiếng mõ rền vang, rộn rả giữa đêm khuya thanh vắng, tôi không biết nó có ảnh hưởng hay tác động gì đến người chủ của lò đồ tể nầy, hoặc lay động được tâm hồn của người nhân công đang cần mẩn, tận tụy với chủ và làm  công việc giết bò, mổ heo kia hay không, để giảm bớt lại sự chết chóc cho các con vật? Chỉ biết rằng trong suốt thời gian dài, khi tôi chớm hiểu sự việc, cho đến lúc rời khỏi Séno, rời khỏi xứ Lào, thì mọi diển biến thường ngày vẫn xẩy ra đều đặn, không có gì thay đỗi. Chỉ có nhiều chiếc mõ bị bễ, nhiều chiếc dùi bị gảy và tất cả khu xóm đều cảm thấy buồn lòng, dừ hiểu được tâm hồn của vị Sư và riêng vị Sư Vượng- người đã cố lấy tiếng mõ để lấn át tiếng kêu thét, giẫy giuạ đau đớn của những sinh vật bị giết, vẫn kiên nhẩn tiếp diển vai trò của mình, không mệt mõi. Nhưng hình ảnh đó lại là ấn tượng ghi sâu đậm trong lòng một đưá bé như tôi.

        Trải qua hơn nữa đời người với những thành bại, vinh nhục, thịnh suy như mọi lẻ thường của kiếp người. Nếu tính sự hơn thiệt của cuộc đời, tôi cảm thấy có quá nhiều hạnh phúc, an lạc khi là người có nghiệp với Phật.

Có nhiều người hỏi tôi “Tại sao lại chọn là đề tựa là :người có nghiệp với Phật”. Theo lý sự cùn của tôi, mong ai đọc được thì đừng cười, vì mọi người đều có quyền nói về sự chọn lựa nghề nghiệp của mình. Ví dụ: Khi được hỏi về nghề nghiệp, nhiều người trả lời về nghiệp của ngheà mà mình đang có như là : Bác sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư, làm công, công chức hoặc  ca sĩ, tu sĩ v.v…Chữ nghiệp  (Karma) là danh từ của Phật giáo chỉ cho hành động hoặc thói quen đã thâm nhập trong chủng tử của mọi chúng sanh, do thân-miệng-ý phát sanh ra. Cho nên, nghề nghiệp là nghiệp của cái nghề mà mình đang mang. Khi cầm tờ Phái Quy y do Thầy trao truyền, tôi biết tôi là người Phật tử tức là con của Đức Phật, vô hình chung tôi đã xé toang cái màn che đậy từ bấy lâu nay của kiếp người, để đi thẳng vào tâm con người có nghiệp với Phật, vì đã có sẳn chủng tử Phật trong tâm mình. Không biêát nói như vậy có đúng không, câu trả lời xin dành cho mọi người đọc tự trả lời cho mình???

Xin hỏi rằng: Có ai trong chúng ta khi cầm tờ Phái quy y mà không vui mừng, hớn hở, nhất là đứa bé 11-12 tuổi. Khi Thầy đọc những gì về 3 Quy y ( Phật-Pháp--Tăng) và 5 giới (không sát sanh-không trộm cướp-không tà dâm-không nói dối- và không uống rượu hoặc dùng các chất ma túy), tôi thật không hiểu gì, cũng như không thấy đó là quan trọng. Tôi chỉ biết rằng mình là con của Phật và lấy làm hảnh diện, vui sướng. Còn lại được đặt cho tên mới nữa.  Ôâng Phật hiền từ, vui vẻ vì hay mỉm cười. Oâng Phật lấy tay đè Tề Thiên Đại Thánh. Oâng Phật rất là nhiều phép, giỏi hơn Tề Thiên vì Tề Thiên đã náo loạn Thiên đình, làm xáo trộn đất trời mà không ai dám làm gì hết, nhưng lại thua Phật.

Đức Phật đã là nguyên nhân làm phát khời, nẩy nở, và trưởng thành của ông Phật ( Chủng tử Phật hay tánh giác )trong tôi. Nhờ đó và qua đó, tôi càng ngày - do sự quán chiếu, nhìn lại- mới thấy rõ tâm mình biến chuyển, di động ra sao theo những vọng niệm do tham sân si kết thành. Càng quán chiếu, lại càng thấy nghiệp xuất hiện đầy dẫy nên thấy mình sao kỳ lạ quá, đủ cả thất tình, lục dục. Nhiều lần, tôi tự hỏi rằng: Có phải là mình không?  À, mà bảy tình- sáu dục nầy là gì vậy? Nghe người ta nói, mình cũng bắt chước và lập lại cho vui để ai cũng tưởng mình hiểu nhiều về Phật Pháp??? Những thứ nầy sao mà nhiều quá, không tưởng tượng nổi. Sao có nhiều người lại thấy mình rất thánh thiện, còn tôi, xin thưa thật, thì khi nhìn lại mình thì thấy sợ quá, không giống một trong 12 con giáp nào cả. Ai nói xấu mình thì mình giận dữ lắm, tuy nhiên khi gặp họ mình lại cười nói là không có gì hết, như nuớc chảy qua cầu, bay đi ( không có quay lại). Nhưng lại biết mình đang đóng kịch, nói láo tài tình như một diễn viên thứ thiệt, vì trong tâm đâu có nghỉ như vậy. Có điều, sợ nếu cự lại họ, thì lại quê vì lo người ta cười mình vì họ luôn luôn nghỉ mình ngon lành lắm, chứ đâu có biêát rõ mình ra sao?. Hơn nữa, nếu cự lại họ, chưa chắc mình yên thân, thôi thì “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, phải không quý vị?

Tuy nhiên, ông Phật trong tôi khởi đầu rất nhỏ nhoi, nhưng cũng lớn dần trong sự cưu mang những tấm lòng từ bi, hỷ xả…( Mặc dù, tất cã những gì đang nói là do tôi cảm nhận về ông Phật trong tôi như vậy, tuy nói hơi quá lố, khoác lác, nhưng xin hiểu cho- đó chỉ là cảm thấy như là mình đang có, nhưng dù sao vẫn chưa qua mọi sự thử thách. Cho nên, nếu ai muốn thử, xin vui lòng đứng xa ra dùm, vì đứng gần thấy hình như không tốt lắm, sợ nguy hiểm).

Và tôi đã ôm ông Phật vào lòng, không còn sợ hãi khi nhìn đến ông. Nghiệp tôi với Ngài càng ngày càng sâu nặng. Oâng Phật được tạo hình trong tận sâu cuả tiềm thức tôi, lôi kéo sự có mặt cuả những chất liệu an lành và luôn có mặt trong mọi trường hợp, mọi tình huống và lớn dần theo với thời gian.  Do đó, huyền nghĩa của câu chuyện trong phẩm “ Như Lai thọ luợng” của Kinh Pháp Hoa, đã nói rõ và xác quyết hơn về Tánh Phật vốn có sẳn trong tâm của muôn loài.

Vẫn biết rằng, như Kinh Kim Cang nói: “Nhược sắc kiến cầu ngã, nhược âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạọ, bất năng kiến Như Lai”. Tuy nhiên, từ những khởi đầu nầy để nối dài đến sự dấn thân của những con người có nghiệp với Phật, những người đã và đang đưa những tâm niệm, vọng động của tưởng vào cõi Vô dư Niết bàn. Phải có những huyễn tướng để đi, huyễn tướùng để tu, huyễn tường để hành hoạt, huyễn tướng để thể nhập, nhập thể và nhập thế, dùng tất cả huyễn tướng v.v …thì những trường thiên vân du mới đánh thức được tinh thần của 4 câu kệ của Kinh Hoa Nghiêm:


Nhược nhơn dục liểu tri.

Tam thế nhất thiết Phật.

Ưng quán pháp giới tánh.

Nhất thiết duy tâm tạo


Vị sư già đã mất, hình bóng không còn lưu dấu vết. Tiếng mỏ vang dội giữa đêm khuya vào giờ công phu ở chùa, không còn nữa. Và đã biết bao là chiếc mỏ đã sờn, đã bể nát., lời kinh xưa cũng không còn. Tất cả đã bị phai tàn, hũy hoại theo thời gian, nhưng Cái hồn hơi ấm của năm xưa vẫn còn in dấu trong tôi. Aán tượng đầu tiên của đạo Phật đến với tôi là như vậy. Cái tâm đơn thuần của vị Sư già ít học kia, vì không muốn nghe tiếng kêu thét đau đớn của các con vật trong giờ bị hành hình, dưới búa dao của người đồ tể, đã rộn ràng lên cái ánh lửa từ bi, như sự mầu nhiệm làm tràn ngập trong tâm tư của đứa bé như tôi một nổi niềm sâu lắng nào đó, không nói được. Đây là bài học vỡ lòng của tôi với Đạo Phật, chính là chất ngọt êm dịu của tình thương hay tấm lòng từ bi.

Từ những thức giấc, bùng vỡ trước hình ảnh của Sư Vượng, đưa tôi vào cuộc hành trình vô thường mới lạ. Thật giản dị, bình thường, tôi đã tập trang nghiêm cho tự tâm bằng những giờ lắng tâm, cô đơn, im lặng với những ngôn từ Mật chú, quán tưởng v.v.. và cũng tập làm trang nghiêm cho những môi trường chung quanh khi mình tiếp cận đến, bằng khả năng nào mình có thể làm được.

Tôi vẫn tin chắc rằng, vì đã nhìn thấy rất nhiều, những người Phật tử- dù xuất gia hay tại gia, những người có nghiệp với Đức Phật- rằng rồi họ sẽ từ từ bị rơi rụng hết bản ngã, bỏ lại tất cả những gì mà xem như là đã bảo vệ, ôm chắc họ trong những vành đai của tham sân si từ thuở nào đến giờ, dám nhìn rõ lại tâm mình, vui với những “tám cơn gió” để họ đi trên con đường rộng thênh thang mà Đức Từ phụ đã chỉ dẫn và để họ cùng mọi người đều chan hoà trong ánh sáng Giác ngộ

Đức Phật không phải là thần linh, không phải người dùng đầy thần quyền, thần bí, thần thông, toàn năng và muốn được sùng bái quy phục…nhưng sự bình thường “Như thật” của Ngài cũng như con đường vạch mở ra cho chúng sanh nhận thấy rõ về Ông Phật của chính mình- Đó  chính là những gì mà mọi ngưòi con Phật đều mong muốn mang lấy nghiệp đó, và thành tựu. Sống với Ông Phật của chính mình là con đường cao thượng nhất

Tôi cũng chợt nhận thức rằng: Những người con Phật vô hình chung đều trở thành con người của xã hội, đi vào đời sống để làm đẹp cho cuộc đời. Sự hiện diện của họ tự nhiên có hương thơm giới-định-tuệ làm chan hoà, ấm lòng người. Càng thâm nhập vào chủng tử Phật- cái “bổn giác” từ vô thỉ đến nay, hiển lộ rõ “bản lai diệm mục” của mình, ánh sáng của Tánh Phật lớn đến đâu do sự trang nghiêm, họ lại càng thấy mình có gánh nặng với tổ quốc, gia đình, xã hội, với mỗi sinh linh. Đi vào đời không phải vì danh vì lợi, vì mở rộng cái bản ngã, nhưng như một chia xẻ, dấn thân, chân chất, mong làm mở rộng ánh sáng trí tuệ cho mình và người.

Họ có 4 ân quá nặng trên đôi vai mà không thể chối bỏ được, vì mang nghiệp với Đức Phật và vì nhìn thấy sự liên tương duyên tương sinh của mọi vạn hữu.

-         Trời đất, trăng sao, muôn vật v.v..mọi sự vận hành kỳ diệu, đều vì sự liên hệ lẫn nhau mà cộng hữu, sinh tồn.

-         Tổ quốc đang ở, nguồn gốc của mình đã sinh ra, những con người mà mình cùng tồn tại v.v..dù có nghịch cảnh, oái ăm. nhưng mỗi giây, mỗi phút đều là môi trường sinh động làm thể hiện sự an lạc, hạnh phúc.

-         Aân của những người sinh thành dưỡng dục, của Thầy, cuả những người mà mình tiếp cận, đều là những bài học thuộc lòng để con người thành nhân bản.

-         Mọi sự giúp đờ lẫn nhau giữa con nguời, giữa môi trường chung quanh. Mọi sự hy sinh của mỗi người vì những người khác để thể hiện sự liên đới, chia xẻ, thương yêu v.v..làm cho cuộc đời có ý nghiã của con người

Và, những con nguời mong muốn mang nghiệp với Đức Phật, lại đều nhận thức và thấy rõ Tánh Phạât của mình. Cho nên, họ lại càng muốn thể nhập vào trong sức nghiệp đó để mở tung cõi trời bao la và họ đều là những con người bình thưòng như vậy!

      

                     Viết xong ngày 09.10.05