Lama Thubten Yeshe
MUỐN GIẢI
THOÁT:
HÃY TỰ
CHỮA
BỆNH TÂM

Vô Huệ Nguyên dịch
Giới Thiệu Của Nhà Xuất
Bản
Những
bài thuyết giảng của Lạt ma Yeshe
rất độc đáo. Không có ai
dạy như Ngài. Nó rất thực
tế, ngay lập tức, tự khởi
phát, từ sâu thẳm trái tim
của Ngài. Anh ngữ Ngài dùng
rất thống nhất, đơn giản.
Không có ai nói như Ngài. Lối
diễn tả của Ngài rất sáng
tạo, không chỉ bằng lời nói
mà nó được phối hợp
với cả con người của
Ngài. Làm thế nào chúng ta có
thể chuyển đạt tất cả những
yếu tố đó trên giấy trắng
mực đen bây giờ? Như chúng
tôi đã nói ở một nơi nào
đó, chúng tôi chỉ biết cố
gắng hết sức mà thôi.
Lạt ma
thường tuyên bố, những
lời giảng dạy của Ngài sẽ
không khô cằn, không hoàn toàn
giáo điều, không lý thuyết
triết học nhưng nó rất thực
tế, đi vào từng cuộc
đời của chúng ta, dùng
những phương pháp đơn giản
của con người để nhìn
vào bên trong và hiểu
được tâm của chúng ta.
Ngài luôn luôn khuyên chúng ta hãy
tự tìm hiểu xem chúng ta là ai,
chúng ta là cái gì. Trong những
phong thái khôi hài riêng của Ngài,
Ngài thách đố chúng ta có
dám tự khám nghiệm, tự phê
phán những dự tưởng,
những ý định của chúng ta không,
để từ đó chúng ta nhìn
ra được thực chất của
tâm chúng ta như thế nào, chúng ta đã
tạo ra đau khổ và hạnh phúc như
thế nào; và cũng từ
đó chúng ta nhận lãnh trách
nhiệm như thế nào trên tất cả
những hành động của chúng ta,
tốt cũng như xấu.
Trong cuốn
sách nhỏ này, chúng tôi đề
cử ba bài thuyết pháp của
Ngài về những vấn đề
thông thường trong Phật giáo.
Đây là những bài giảng
dạy hướng về những
người Tây phương cách nay
đã trên 20 năm. Tuy nhiên, như
Ngài vẫn thường nhấn mạnh,
những lời dạy của
Đức Phật thì luôn luôn
vượt thời gian và không gian,
nó xẩy ra cách đây trên 2,500
năm nhưng nó vẫn có giá trị
trong muôn đời và ngay trong ngày
hôm nay. Vì thế, không có gì
phải nghi ngờ về giá trị của
những bài thuyết giảng này
mặc dù nó đã được
nói ra từ những năm 1970.
Theo sau mỗi
bài giảng là có phần giải
đáp những câu hỏi. Lạt ma
và thính giả luôn luôn trao
đổi với nhau một cách rất
chân thành từ những kinh nghiệm
thực trong cuộc sống đến
những ý kiến cao siêu về
đạo pháp. Hầu như tất cả
thính giả đều là những
người lần đầu tiên
được tiếp xúc với
Lạt ma Tây Tạng nên họ đã
hỏi tất cả những gì họ
thắc mắc từ lâu. Trong mỗi
lần xuất hiện, Ngài đều trả
lời những câu hỏi bằng
tất cả tấm lòng chân thành, vui
vẻ và tâm từ bi của Ngài.
Mặc dầu
đây là những bài thuyết
pháp nhưng tôi nghĩ rằng Ngài
luôn luôn khuyên chúng ta nên dùng
nó như là những tấm gương
để chiếu soi tâm của chúng ta,
hãy hiểu thấu ý nghĩa sâu xa
của từng lời dạy bảo
để tìm cho ra chúng ta là gì
và hãy trở nên một nhà
tâm lý tự chữa bệnh tâm cho
chính chúng ta.
Tôi xin cám
ơn Chelyl Bentsen, Rand Engel và Wendy Cook về
những lời khuyên tâm linh giá
trị, cũng như Garett Brown và Jenifer Martin trong
vấn đề trang trí để hoàn
thành tạâp sách nhỏ này.
Dr. Nicholas Ribush
TÌM HIỂU CHÍNH
MÌNH
QUA PHẬT GIÁO
Khi
chúng ta tìm hiểu Phật giáo là
chúng ta tìm hiểu chính mình, tìm
hiểu tâm bản nhiên của chính
chúng ta. Thay vì để ý đến
những vấn đề siêu việt,
siêu nhân, Phật giáo thường
chú trọng đến những vấn
đề thực tế như làm thế
nào để thăng tiến đời
sống thường ngày, làm thế
nào để tâm hồn thêm tốt
đẹp và làm sao giữ cho
đời sống của chúng ta luôn
thanh thản, khỏe mạnh. Thực ra chúng
tôi chẳng coi Phật giáo là một
tôn giáo đúng nghĩa của một
tôn giáo. Theo quan điểm của các
Lạt ma thì Phật giáo thiên về
triết lý sống, khoa học và tâm
lý học hơn.
Thông
thường tâm của con người
thích tìm kiếm hạnh phúc. Dù
là người phương Đông hay
người phương Tây, chúng ta
đều có những ước
muốn giống như nhau, chẳng có gì
khác hơn điều đó. Nhưng nếu
sự tìm kiếm hạnh phúc bắt
nguồn từ một lý do tham lam, bám
víu thì thật là nguy hiểm. Chúng ta
đã không có sự kiểm
soát. Chúng ta không tỉnh thức.
Đừng
nghĩ rằng sự kiểm soát
đó chỉ dành cho người
Đông Phương
hay dành cho Phật tử. Tất cả
chúng ta đều cần phải tự
kiểm soát, đặc biệt những
người đang chạy theo đời
sống vật chất, những
người đang mong tìm sự
vừa ý và những
người đi tìm cảm giác.
Những người đó đã
quá chú trọng đến đời
sống bên ngoài và thích đi
tìm những sự ràng buộc. Theo
Phật giáo, đó là những
người bị tâm bệnh, những
người có bệnh tâm thần.
Thực tế
cho biết, những người chạy theo
đời sống bên ngoài,
những người chỉ mong tìm
sự thỏa mãn ở những
tiến bộ khoa học kỹ thuật đã
chẳng bao giờ hài lòng, chẳng bao
giờ giải quyết được
những đòi hỏi của dục
vọng. Nhưng, những gì Đức
Phật dạy lại chỉ cho chúng ta biết
được những khả năng
của tâm chúng ta, những tiềm
năng tự nhiên của con người.
Mỗi khi chúng ta nghiên cứu Phật
giáo là chúng ta tự tìm hiểu
chính chúng ta, chúng ta là ai và
làm thế nào để tiến xa hơn,
để phát triển hơn nữa. Thay vì
quan tâm đến những hệ thống
tín ngưỡng, những phương
pháp của Phật giáo dạy chúng ta
phát triển sự hiểu biết sâu xa
về chính con người chúng ta
và những hiện tượng ở
chung quanh chúng ta.
Tuy nhiên, dù
chúng ta đang theo một tôn giáo hay
đang chạy theo đời sống vật
chất, dù có lòng tin hay vô
thần, điều quan trọng là chúng ta
có hiểu tâm của chúng ta làm
việc như thế nào không? Nếu
không, chúng ta chỉ đi “loòng
voòng” rồi chúng ta tưởng
rằng chúng ta đang hạnh phúc,
chúng ta đang khỏe mạnh, nhưng thực
ra chúng ta đang đi sâu vào ảo
tưởng, ảo giác, vì thế
những mầm mống của tâm bệnh
lại đang từ từ lớn
lên ở trong ta. Chính vì thế khi
đời sống thường ngày
có một chút thay đổi, có một
chút bất mãn là chúng ta
trở nên tức giận và cáu
kỉnh ngay. Đối với tôi,
đó là tâm bệnh. Tại sao?
Bởi vì chúng ta chạy theo
đời sống vật chất, bị
mù quáng vì những ràng buộc
và bị kiểm soát bởi
những căn nguyên gây ra những
rắc rối. Chúng ta đã không
biết bản tính tự nhiên của
tâm chúng ta !
Chẳng sao cả,
nếu chúng ta cứ làm lơ
những điều nói ở trên
và vẫn cho rằng “tôi chẳng tin gì
cả.” Đây
chẳng phải là vấn đề
để tin. Cũng không sao cả, không
cần biết chúng ta tin đến
mức độ nào, dù tin hay không
tin tôi có một cái mũi thì
cái mũi vẫn ở đó,
ở ngay giữa đôi mắt của
tôi. Cái mũi của chúng ta vẫn
ở đó dù chúng ta tin hay
không tin!
Tôi đã
gặp rất nhiều người, họ
hãnh diện tuyên bố: “ tôi
chẳng phải người dễ tin!” Họ qúa tự
kiêu về sự không tin tưởng
của họ. Hãy thận trọng! Đây
là một vấn đề quan trọng
để biết: hiện nay có qúa
nhiều điều mâu thuẫn trên
thế giới này! Khoa học vật
chất tuyên bố: “tôi không
tin,” tôn giáo tuyên bố: “tôi
tin.” Nhưng không sao cả, dù tin hay
không tin, chúng ta vẫn cần tìm
hiểu bản tính tự nhiên của
tâm chúng ta. Nếu không thì dù
chúng ta có nói về những
sự ràng buộc đang xẩy ra bao
nhiêu đi nữa, chúng ta cũng
chẳng có ý niệm gì rõ ràng
về chúng và làm sao để
kiểm soát chúng. Nói thì rất
dễ. Điều khó khăn là làm
thế nào để hiểu
được bản tính tự nhiên
của sự ràng buộc.
Thí dụ, khi con
người mới chế ra xe và
máy bay, họ tin tưởng rằng họ
có thể làm được mọi việc
nhanh hơn để rồi có nhiều
thì giờ nghỉ ngơi. Nhưng rồi
chuyện gì đã xẩy ra, họ lại
vất vả hơn và chẳng có
đủ thời giờ để
nghỉ ngơi hơn trước kia. Hãy quan
sát đời sống thường
ngày của chúng ta, vì bị ràng
buộc nên chúng ta bị chôn vùi
sâu xa vào đời sống vật
chất do chính chúng ta tạo ra đến
nỗi chúng ta đã bỏ quên
chính mình mà không còn một
chút thời giờ để
trực diện với tâm ta. Với
tôi, đó là sự định
nghĩa cho một đời sống khó
khăn. Chúng ta không thể tìm
đâu ra sự thỏa mãn hay sự thụ
hưởng đời sống. Sự
thật là: hạnh phúc và an lạc
chỉ có từ tâm ta, chẳng phải
từ những vật ở bên
ngoài !
Tuy nhiên, có
những người thông minh, có
những người không tin vào
đời sống vật chất, họ hiểu
cái gì cũng có gía trị của
cái đó. Họ vẫn hưởng
thụ đời sống nhưng họ
cũng cố gắng tìm hiểu cái
gì mới thực sự mang lại
hạnh phúc cho cuộc đời.
Khi Đức
Phật nói về khổ, Ngài đã
không chỉ đơn giản đề cập
đến những vấn đề bệnh
tật gìa nua nhưng Ngài đã nói
thẳng đến các căn nguyên
của đau khổ và bất mãn,
chúng đang nằm tại tâm của
chúng ta. Chẳng cần biết chúng ta
đã có được những
gì trên đời này, chỉ
biết rằng chúng ta chẳng bao giờ
thỏa mãn với chúng. Những ham
muốn bất tận này chính là nguồn
gốc của khổ đau, bản tính của
chúng là mang lại đau khổ.
Tâm lý
học Phật giáo có đề cập
đến 6 loại cảm xúc căn bản
mà chúng chuyên phá hoại tâm
thức con người, chúng luôn
luôn quấy phá sự an lạc và
chúng hiện hành không ngừng
nghỉ, đó là: tham ái, giận
dữ, vô minh, kiêu mạn, ngờ
vực và những quan niệm sai lầm.
Đấy là những thái độ
bệnh hoạn, chúng không là những
hiện tượng ở bên ngoài
chúng ta, chúng ở ngay trong tâm ta. Giáo
lý Phật giáo đặc biệt quan tâm
đến chúng và tìm cách
vượt thắng chúng. Chúng là
căn nguyên mọi khổ đau. Sự tin
tưởng và tín ngưỡng
không giúp gì được bao
nhiêu trong vấn đề này mà
chúng ta cần phải hiểu sâu xa tận
gốc rễ bản chất của chúng
thì mới mong giải thoát khỏi
chúng.
Nếu chúng ta
không nghiên cứu tìm hiểu tâm
của chúng ta bằng trí tuệ thì
chúng ta sẽ không bao giờ biết
được có gì ở trong
đó. Không tìm hiểu, không
kiểm soát thì dù chúng ta có
nói đến nó nhiều thế nào
đi nữa, chúng ta cũng chẳng bao
giờ thực sự hiểu
được những cảm xúc
căn bản này lại chính là ngã
chấp. Chính nó là căn nguyên của
mọi khổ đau và bất an trong cuộc
đời.
Để kiểm
soát “cái tôi”, chúng ta
không cần phải vất đi những
vật mà chúng ta đang sở hữu.
Hãy giữ tất cả những vật
gì mà chúng ta đang có vì
chúng không làm cho đời
sống của chúng ta khó khăn. Chúng
ta không được thanh thản bởi
vì chúng ta bám víu, bởi vì
chúng ta bị lệ thuộc vào những
tài sản của chúng ta. Ngã chấp
và những sự ràng buộc
đã làm lu mờ tâm ta, chúng
làm tâm ta không còn trong sáng;
vô minh và những loạn động
của đời sống đã ngăn
cản sự phát triển của trí
tuệ. Để giải quyết vấn
đề này, chỉ có thiền định
mới có thể giúp chúng ta
được.
Thiền
định không chỉ có nghĩa là
ngồi ở một góc nào đó
chăm chú tập trung vào một
điểm và không làm gì cả.
Thiền là đánh thức tâm,
là khai mở trí tuệ, ngược
hẳn lại với sự lười
biếng. Chúng ta nên duy trì sự
tỉnh thức trong từng giây phút
trong đời sống hàng ngày,
thực sự ý thức tất cả
những gì chúng ta đang làm,
tôi đang làm gì đây? tại sao
tôi đang làm việc này? làm
việc này như thế nào?
Hầu như
chúng ta thường làm mọi việc
một cách vô ý thức, làm
mà không biết mình đang làm
gì. Chúng ta ăn mà không biết
mình đang ăn, uống mà chẳng
biết mình đang uống, nói chuyện
mà chẳng biết mình đang nói
gì. Mặc dầu chúng ta bảo rằng chúng
ta tỉnh thức nhưng thực ra chúng ta
hoàn toàn không nhận ra
được cơn nóng giận đang
tràn qua tâm ta, chúng gây ảnh
hưởng đến tất cả
những gì chúng ta đang làm.
Chúng ta hãy
tự khám nghiệm mà xem, chúng ta
hãy tự kinh nghiệm lấy. Tôi
không phán xét qúy vị, tôi
cũng chẳng làm qúy vị mất tinh
thần. Đây là cách làm việc
của Phật giáo ! Nó cho chúng ta một
ý tưởng để chúng ta có
thể tự kinh nghiệm lấy những
việc mà chúng ta đã làm xem
chúng là thật hay giả, đúng hay
sai. Đây là một điều rất
thực tế! Tôi không nói
tới những điều cao xa ở
mãi trên tận trời xanh kia.
Đây hoàn toàn là những
chuyện rất đơn giản, thực
sự đơn giản!
Nếu chúng ta
không hiểu được những
đặc tính của sự ràng buộc
và những đối tượng của
chúng thì làm sao chúng ta có thể
phát triển tâm từ, lòng yêu
thương đến bạn bè, cha mẹ,
những người thân và
đến quê hương của chúng ta
được. Theo quan điểm của
Phật giáo thì thật là khó có
thể thực hiện được nếu
chúng ta không có sự hiểu biết
sâu xa. Mỗi khi chúng ta làm buồn
lòng cha mẹ chúng ta hay bạn bè của
chúng ta là lúc đó tâm
chúng ta không tỉnh thức. Trong lúc
nóng giận, người nóng giận
hoàn toàn hành động như
những gì đang xẩy ra trong tâm
của họ. Những hành động
không tỉnh thức chỉ gây đau
khổ cho chúng ta và làm phiền
lòng những người khác.
Những cử chỉ không tỉnh thức,
những thái độ không tỉnh
thức làm chúng ta mất nhân
tính. Tất cả vấn đề là
như vậy đó, thật là đơn
giản, phải không qúy vị ?
Thời
đại này, con người
được học hỏi và
được dạy bảo để
trở nên những nhà tâm
lý học. YÙ kiến của Đức
Phật là tất cả mọi người
nên trở thành một nhà tâm
lý học cho chính mình. Mỗi
người chúng ta nên hiểu tâm
của mình, mỗi người chúng ta
nên là một nhà tâm lý học cho
chính mình. Điều này chắc
chắn có thể thực hiện
được. Mỗi một người
đều có khả năng hiểu
được tâm của mình. Một khi
chúng ta hiểu được tâm của
chúng ta là sự kiểm soát
tự nhiên đến.
Đừng
nghĩ rằng sự kiểm soát
đó sẽ có khi chúng ta đi du
lịch qua dãy Hy Mã Lạp Sơn hay sự
kiểm soát đó sẽ dễ dàng
xẩy ra cho những người có
ít tài sản. Điều này hoàn
toàn sai. Trong tương lai, nếu chúng ta
nổi nóng, hãy chiêm nghiệm nó xem
sao. Thay vì làm một vài việc gì
để quên cơn giận dữ,
chúng ta hãy cố gắng bình tĩnh,
nghỉ ngơi, thư dãn thoải mái và
tự hỏi chúng ta đã làm
gì? Hãy tự hỏi: “Tại sao
tôi làm vậy? Tôi làm như thế
nào? Nguyên nhân đến từ
đâu? Nguyên nhân của cơn
tức giận là gì?...” Chúng ta
sẽ tìm ra được những kinh
nghiệm qúi gía ở trong đó.
Vấn đề của chúng ta là
thiếu sự tỉnh thức của trí
tuệ, vì thế chúng ta sẽ khám
phá ra được nguồn gốc
của sự tức giận nếu chúng
ta hiểu nó và như vậy chúng ta
sẽ giải quyết được
những rắc rối trong đời
sống một cách dễ dàng.
Để cảm
nhận được tình yêu
thương từ người khác hay cho
người khác, chúng ta cần hiểu
họ. Nếu không, dù chúng ta có
nói: “anh yêu em, em yêu anh” thì
cái tâm kiêu mạn, ta đây, lại
dẫn chúng ta đến một cái
“ngã chấp” khác mà thôi.
Phải chắc chắn rằng chúng ta hiểu
vấn đề tại sao? thế nào?
Trở nên một nhà tâm lý
học cho chính mình là một điều
vô cùng quan trọng! Rồi chúng ta
sẽ được hướng dẫn
qua một cái tâm trong sáng, lành
mạnh, chúng ta sẽ dễ dàng thoải
mái, an lạc, hưởng hạnh phúc
cuộc đời hơn, vui vẻ với
mọi người hơn, thay vì bận
rộn, bất an, lo lắng và hoang phí
cuộc đời.
Để
trở nên một nhà tâm lý
học, chúng ta chẳng cần phải học
những triết lý cao thâm khó
hiểu. Chỉ cần theo dõi, giám sát
chính cái tâm của chúng ta trong
từng ngày. Chúng ta đã quen
kiểm soát những vật dụng của
chúng ta mỗi ngày - mỗi buổi sáng
chúng ta coi lại thức ăn trong tủ
lạnh - nhưng chúng ta đã không bao
giờ coi lại tâm của chúng ta.
Hãy kiểm soát lại tâm mỗi
ngày là một việc làm quan trọng
hơn.
Tuy nhiên,
hầu như chúng ta có khuynh
hướng làm ngược lại.
Chúng ta nghĩ rằng chúng ta có
thể dễ dàng mua được một
giải pháp để trị tất cả
những rắc rối của chúng ta. Những
người có khuynh hướng vật
chất cho rằng có tiền mua tiên
cũng được, họ có thể mua
bất cứ gì để làm họ
vui, họ có thể mua được
sự an lạc. Sự thật không phải
vậy, đó chỉ là những mơ
tưởng, đó chỉ là
những quan niệm sai lầm.
Có một
số người lại cho rằng tôn
giáo có bổn phận phải lo cho tâm
của họ. Chỉ tin vào tôn giáo
mà thôi thì không bao giờ có
thể chấm dứt được
những rắc rối; nhưng sự
hiểu biết bằng trí tuệ luôn
luôn thay đổi được vấn
đề. Chính Đức Phật cũng
nói rằng tin vào Phật là một
điều nguy hiểm; thay vì tin vào một
điều gì, con người nên
dùng trí tuệ của họ để
khám phá ra cái bản tính thực
sự của tâm họ. Niềm tin đặt
căn bản trên sự hiểu biết
thì tốt, một khi chúng ta đã
ý thức rõ ràng hoặc
đã sáng tỏ được vấn
đề thì sự tin tưởng
tự nhiên đến. Tuy nhiên, niềm
tin đặt trên căn bản sai lầm
thì rất dễ thay đổi khi bị
người khác phê bình, chỉ
trích.
Đáng
tiếc thay, có một số người
đi theo một tôn giáo nhưng
đời sống tâm linh của họ
lại qúa yếu kém. Tại sao? Tại
vì họ không hiểu được
cái tâm chân thật của họ. Nếu
chúng ta thực sự hiểu
được tâm của chúng ta là
gì, nó làm việc như thế nào
thì chúng ta sẽ dễ dàng biết
được sức mạnh của tâm
ta, từ đó chúng ta có thể
ngăn ngừa được rất
nhiều rắc rối trong cuộc
đời. Một khi chúng ta hiểu được
những quan điểm của chúng ta,
những tri giác của chúng ta về
thế giới chung quanh ta, chúng ta sẽ
nhận ra được một sự thật
là chúng ta thường xuyên chụp
bắt những cảm giác trần gian,
tất cả những cái đó
hoàn toàn là tưởng tượng,
hoàn toàn không xẩy ra trong tương
lai, hoàn toàn vô ý thức
ở hiện tại, chúng ta hoàn toàn
sống bằng dự tính, vọng
tưởng. Chúng ta có nhìn nhận
một cái tâm vô ý thức
ở hiện tại và chộp dật
ở tương lai là một cái tâm
bệnh hoạn không?
Điều quan
trọng là sống tỉnh thức trong
từng ngày. Đặc tính tự
nhiên của trí tuệ và tỉnh
thức là an lành và hạnh
phúc. Chúng ta không cần phải chộp
dật, tranh giành mới có hạnh
phúc. Cho tới khi nào chúng ta còn
đi trên con đường tỉnh
thức, hiểu biết và hành
động ngay thẳng với tất cả
khả năng của chúng ta thì chúng ta
sẽ được kết qủa tốt
đẹp ngay trong lúc đó. Chúng ta
không cần phải hỏi: “ Nếu trong
cả đời tôi, tôi làm mọi
điều tốt lành thì tôi có
được hạnh phúc trong kiếp sau hay
không?” Chúng ta không cần mang sang
kiếp sau. Cho tới khi nào chúng ta còn
làm mọi việc trong sự hiểu biết,
trong sự tỉnh thức thì lúc
nào, kiếp nào chúng ta cũng an
lạc, cũng an nhiên tự tại.
Tôi nói
như thế là qúa đủ rồi.
Tốt hơn, hãy dành thì giờ
cho những câu hỏi, thay vì tôi nói
hoài.
Hỏi: Khi ngài đề
cập đến thiền định, ngài
đã không nói đến quán
tưởng. Hình như có
người quán tưởng dễ, có
người quán tưởng rất
khó. Làm thế nào để phát
triển khả năng này?
Lạt ma: Những gì
đã được diễn tả
về quán tưởng thì đơn
giản nhưng rất khó cho nhiều
người bởi vì tâm của
họ không được huấn luyện,
sự tưởng tượng của
họ qúa nghèo nàn, họ qúa vật
chất. Có lẽ họ chỉ có thể
nghĩ được rằng tất cả
những gì chung quanh họ đều là
vật chất như thân xác của họ,
không có một cái tâm nào
ngoài bộ óc của họ. Phật giáo
có những phương pháp mà
chúng ta có thể huấn luyện tâm
và phát triển khả năng quán
tưởng trong thiền định. Thực
ra, chúng ta đã tưởng
tượng trong từng ngày. Những
gì chúng ta ăn bữa sáng,
đó là những món chúng ta
đã tưởng tượng tối hôm
qua. Chúng ta đi chợ, chúng ta nghĩ:
“ cái này đẹp” hay “tôi
không thích cái này,” bất
cứ cái gì chúng ta nhìn
đều là những phóng
tưởng của tâm chúng ta. Như
vậy quán tưởng là một điều
hoàn toàn dễ hiểu. Những chủ
chợ và những nhà quảng
cáo hiểu được tầm quan
trọng của vấn đề này, nên
họ tạo ra rất nhiều lối trình
bày hay rất nhiều mẫu quảng cáo
để gây hấp dẫn người
mua: “ hãy mua cái này đi!” Họ
biết rằng những quảng cáo
đó ảnh hưởng sâu xa
đến tâm trí chúng ta, đến
sự tưởng tượng của
chúng ta. Quán tưởng không phải
là cái gì siêu việt, nó
hoàn toàn khoa học.
Hỏi: Theo như những
điều ngài vừa trình bày,
tôi có cảm tưởng rằng
ngài chỉ trích người Tây
phương, ngài cười những
gì chúng tôi đã làm và
những phương pháp giáo hóa của
chúng tôi không hữu hiệu.
Thực ra tôi không có câu hỏi,
nhưng ngài đã nhìn thấy
tương lai của nhân loại ra sao với
những tiến bộ mà người
Tây phương đang phát triển, như
chế những máy bay lớn hơn,
xây nhà vĩ đại hơn, những
hệ thống siêu thị tối tân hơn?
Ngài đã nhìn thấy gì?
Lạt ma: Tôi chỉ nhìn
thấy người Tây phương bận
rộn hơn, vất vả hơn và ít
thì giờ nghỉ ngơi hơn. Tôi
không chỉ trích đời sống
vật chất hay những tiến bộ khoa
học nhưng nó thiếu sự kiểm
soát của tâm. Bởi vì anh không
biết anh là ai, anh tiêu phí cuộc
đời một cách mù quáng cho
những sự níu kéo, bám víu
và tranh giành mà tôi gọi là
những “siêu thị vật chất.”
Anh đã khuấy động đời
sống của anh, anh đã làm nó
không còn an tịnh. Thay vì giữ cho
nó được toàn vẹn thì anh
đã bẻ gẫy nó ra từng
mảnh. Hãy tự tìm hiểu xem sao.
Tôi không đẩy anh xuống đáy
vực. Phật giáo không cho phép
chúng tôi kéo đời sống
của bất cứ một người
nào xuống một cách võ
đoán, một cách giáo điều.
Tất cả những gì tôi trình bày
ở đây chỉ với một
đề nghị là chúng ta nên thay
đổi lối nhìn sự vật bằng
một đường lối khác.
Hỏi: Thưa Lạt ma, như
ngài, tôi thấy hầu như tất
cả các vị thầy Tây Tạng
đều là nam giới. Có
những vị tái sinh, những vị
đạo sư là nữ giới
không?
Lạt ma: Dĩ nhiên là
có. Đàn ông hay đàn bà
đều bình đẳng trong vấn
đề phát triển tâm linh. Tại
Tây Tạng, có những vị đạo
sư là đàn bà. Phật giáo
dạy rằng chúng ta không có quyền
phán đoán một người
từ bên ngoài; chúng ta không
được nói: “anh chẳng là
cái gì cả, tôi mới là
người đặc biệt.” Chúng ta
thực sự không bao giờ
được phê bình người
này có trình độ cao,
người kia thấp.
Hỏi: Có luật lệ
nào để phân biệt một vị sư
nam và một vị sư nữ không?
Lạt ma: Không. Họ
được dạy giống như nhau và
họ huấn luyện học trò của họ
cũng như vậy.
Hỏi: Thật là khó
khăn để kiếm một vị thầy.
Thật là nguy hiểm khi thực hành
mật tông nếu không có thầy
mà chỉ đọc qua sách vở, có
phải vậy không? Thưa ngài.
Lạt ma: Đúng, rất nguy
hiểm. Nếu không có sự chỉ
dẫn đặc biệt. Anh không thể mua
một vài cuốn sách về mật
tông rồi nghĩ: “ ồ, tuyệt
vời qúa, tôi phải thực
hành ngay bây giờ!” Thái
độ này không bao giờ mang lại
sự thật, không bao giờ mang lại
kết qủa. Anh cần sự hướng
dẫn của một vị thầy có kinh
nghiệm. Đúng vậy, những gì
viết trong sách thật là tuyệt diệu,
nhưng nếu anh không biết phương pháp
thì anh không thể biến chúng thành
những kinh nghiệm của riêng anh. Anh
cần một cái chìa khóa. Đã
có rất nhiều sách Phật giáo
được chuyển dịch sang tiếng Anh.
Họ bảo anh: “ bám víu là xấu,
đừng nóng giận” nhưng làm
sao để từ bỏ sự nóng
giận, từ bỏ những bám
víu? Ngay cả trong Kinh Thánh cũng khuyên
chúng ta bác ái, thương
người nhưng làm thế nào
để sống yêu thương bằng
tất cả kinh nghiệm của riêng chúng
ta? Chúng ta cần có một cái chìa
khóa, chỉ có những vị thầy
mới cho chúng ta được.
Hỏi: Những
người Tây phương cần phải
làm gì để kiếm
được một vị thầy? Họ
có cần phải sang Phương Đông
để tìm không?
Lạt ma: Đừng lo. Khi
thời điểm đến, anh sẽ
gặp thầy của anh. Phật giáo không cho
phép chúng ta thúc đẩy bất
cứ một người nào:
“tất cả mọi người phải
học thiền, tất cả mọi
người phải trở thành
Phật.” Thật là điên! Thúc
đẩy người khác là không
khôn ngoan chút nào. Khi anh đã
thực sự chân thành sẵn sàng
tu tập thì một thần lực sẽ
liên kết anh và thầy anh lại. Về
vấn đề đi qua Phương
Đông, nó tùy thuộc vào tình
trạng, hoàn cảnh của riêng anh. Hãy
kiểm soát xem. Một điều rất quan
trọng là hãy tìm kiếm bằng
trí tuệ chứ đừng tìm
bằng lòng tin mù quáng. Đôi khi
đi qua Phương Đông anh lại chẳng
tìm thấy thầy, phải cần
thời gian.
Hỏi: Phật giáo nghĩ sao
về vấn đề tự tử ?
Lạt ma: Những
người tự kết liễu
đời mình họ không bao
giờ hiểu được ý
nghĩa và giá trị khi được
sinh làm người. Họ tự
tử vì vô minh. Họ không tìm
kiếm được ở đâu
sự thỏa mãn, nên họ nói:
“tôi hết hy vọng rồi !”
Hỏi: Nếu một
người vì vô minh không tin rằng
họ có thể giác ngộ thì họ
tiếp tục sống để làm gì?
Lạt ma: Một người
vô minh mà nghĩ rằng họ giác
ngộ là một người hoàn
toàn có tâm bệnh hoạn như vậy
họ lại càng vô minh hơn. Tất cả
những gì họ có thể làm
là kiểm soát lại những hành
động vô ý thức của họ
thì họ sẽ nhận ra họ chưa giác
ngộ. Cũng vậy, anh không bao giờ
hỏi người khác: “Tôi
đã giác ngộ chưa?” Hãy
tự kiểm điểm kinh nghiệm của
riêng anh. Giác ngộ là một
điều cao hơn sự việc cá
nhân.
Hỏi: Tôi thích lối
diễn tả của ngài về sự quan
trọng của sự hiểu biết trong vấn
đề tin tưởng, nhưng tôi nhận
thấy khó làm cho người Tây
phương hay khó giải thích theo khoa học
về ý niệm tái sinh: đời
sống trong qúa khứ, hiện tại
và tương lai. Làm sao ngài có
thể chứng minh được vấn
đề này?
Lạt ma: Nếu anh có thể
hình dung được sự liên
tục của tâm anh từ lúc còn
phôi thai trong bụng mẹ đến bây
giờ thì anh sẽ hiểu. Sự
liên tục của tâm thức cũng
gần giống như dòng điện chạy
từ máy phát điện qua giây
điện đến lúc nó cháy
sáng ở ngọn đèn. Từ
giây phút thọ thai đến khi thân
xác anh thành hình, thần thức
liên tục chạy qua đó, chuyển
hóa, chuyển hóa và chuyển hóa....
nếu anh hình dung được
điều đó, anh sẽ dễ dàng
hiểu được tâm thức
của anh liên tục từ những
kiếp trước. Như tôi vẫn
thường nói, để tin
được điều này không
phải là dễ. Dĩ nhiên, lúc
đầu rất khó chấp nhận quan
niệm tái sinh, vì ngày nay nó còn
là một ý niệm qúa mới
mẻ cho hầu hết mọi người,
đặc biệt là những
người Tây phương. Họ không
dạy anh về sự liên tục của
dòng tư tưởng ở
trường học; anh không
được học về bản tính
tự nhiên của tâm ở
đại học, như anh là ai, anh là
gì? Vì thế, nó hoàn toàn mới
cho anh. Nhưng, nếu anh nghĩ rằng một
điều vô cùng quan trọng cho anh là
biết được anh là ai, anh là
gì và nếu anh thường tìm
hiểu tâm qua thiền định, anh sẽ
dễ dàng biết được sự
khác biệt giữa thân xác anh
và tâm anh; anh sẽ nhận ra dòng
liên tục của tâm thức anh;
từ đó anh sẽ biết
được những kiếp
trước của anh. Chúng ta không
nên tin thuyết tái sinh một cách
mù quáng.
Hỏi: Xin ngài giải
thích rõ hơn về sự liên hệ
giữa thiền định, sự giác
ngộ và những siêu thần
lực, như nhìn được
tương lai, đọc được tâm
người khác và nhìn
được những gì xẩy ra
ở rất xa...?
Lạt ma: Một điều
chắc chắn là có thể thành
công qua sự thực hành phương
pháp tập trung vào một điểm,
nhưng chúng ta cần một thời gian
rất dài để tập. Từ
từ, hãy từ từ để
hiểu rõ tâm của chúng ta, rồi
chúng ta sẽ phát triển
được khả năng nhìn sự
vật. Nhưng nó không dễ lắm
đâu, hãy thiền định rồi
chợt một lúc nào đó
chúng ta sẽ nhìn được
tương lai hay sẽ đạt giác ngộ.
Chúng ta cần thời gian.
Hỏi: Nếu chúng ta
thiền định, chuyên chú đạt
giác ngộ thì thần lực này
sẽ đến do sự kiểm soát hay
chợt đến mà không cần
kiểm soát?
Lạt ma: Thần lực thật
sẽ đến trong sự kiểm soát.
Nó không xuất hiện một cách
không kiểm soát, như sau khi dùng
thuốc, dùng cần sa ma túy. Ngay
trước khi đạt giác ngộ,
chúng ta có thể phát triển khả
năng nhìn được kiếp
trước kiếp sau, đọc
được tâm người khác,
nhưng chúng đến trong sự tỉnh
thức và được từ
từ phát triển qua việc phát
triển trí tuệ.
Hỏi: Riêng Ngài, Ngài
có thể tách rời tâm khỏi
thân xác như xuất vía đi làm
một vài việc khác không?
Lạt ma: Không.
Hỏi: Đức Đạt
Lai Lạt Ma có quyền năng đó
không?
Lạt ma: Đại thừa
Phật giáo Tây Tạng có một truyền
thống liên tục không đứt
quãng trong việc huấn luyện và phát
triển quyền năng này, nó
được truyền dạy trực
tiếp từ thầy qua trò thẳng
từ Đức Phật đến
bây giờ, mặc dầu được
dạy bảo nhưng không có nghĩa là
tôi đã thành tựu
được. Hơn nữa, Phật
giáo Tây Tạng cấm bất cứ
một Lạt ma nào có quyền năng
đó được phép tiết
lộ bí mật này. Ngay cả khi anh
đã giác ngộ, anh cũng không
có quyền đi khắp nơi tuyên
bố anh là phật, trừ ra vì một
lý do nào đó. Hãy cẩn thận!
Truyền thống của chúng tôi khác
với truyền thống của các anh.
Bên Tây phương, anh nghe nhiều
người nói: “Thượng
đế nói chuyện với tôi
tối hôm qua.” Chúng tôi nghĩ
rằng điều đó rất nguy hiểm
nếu loan truyền chi tiết huyền bí
đó cho mọi người, do đó
chúng tôi không được phép
làm như vậy.
Hỏi: Cách đây
mấy năm, tôi có đọc một
cuốn sách tên là “Con mắt
thứ ba”, nói về một Lạt ma
đạt được siêu quyền
lực. Có nhiều người khai
mở được con mắt này
không?
Lạt ma: Tác giả cuốn
sách đó là Lobsang Rampa phải
không? Những gì nói trong đó
có một chút hiểu lầm. Con mắt
thứ ba không phải là con mắt
vật chất, nhưng đó là con mắt
trí tuệ. Con mắt thứ ba của anh
không phải là con mắt bình
thường, nó có khả năng
nhìn thấu được tâm bản
nhiên của anh.
Hỏi: Như vậy Phật
giáo tin có sự tái sinh, ngài
có thể cho biết từ kiếp này
đến kiếp khác bao lâu không?
Lạt ma: Nó có thể
là bất cứ gì, từ một
thời điểm nào đó
tới 7 tuần. Từ lúc tâm
thức rời khỏi xác, thể
vía của thân trung ấm (bardo) đã
ở ngay đó, để chờ
nó. Vì lòng khao khát một thân
xác khác thúc đẩy, thần
thức bắt đầu tìm một
thân thích hợp, khi nó kiếm
được thì sự tái sinh
bắt đầu.
Hỏi: Phật giáo giải
thích thế nào về sự phát
triển dân số? Nếu Ngài tin vào
sự tái sinh thì làm sao dân số
cứ tăng hoài?
Lạt ma: Điều đó
dễ hiểu thôi. Cũng như khoa học
tân tiến, Phật giáo thường
nói về sự hiện hữu của hàng
tỉ tỉ ngân hà (tam thiên đại
thiên thế giới). Tâm thức
của một người sinh ra trên trái
đất có thể đến từ
một hành tinh xa xôi nào đó,
xuống đây vì duyên nghiệp,
chính vì sự liên hệ đó
mà thần thức đi vào trái
đất này. Ngược lại, thần
thức của một người
vừa chết ở qủa đất
này nếu có duyên nghiệp tái sinh
ở một hành tinh xa xôi nào
đó thì thần thức này
sẽ đi về đó. Nếu nhiều
thần thức đi vào trái
đất này thì dân số sẽ
tăng lên, nếu ít thì dân số
sẽ giảm đi. Điều đó
không có nghĩa là một thần thức
mới sẽ nhập thai. Mỗi một
thần thức tái sinh ở
đây đều đến từ
một kiếp trước, có thể
từ một hành tinh khác, có thể
từ ngay qủa đất này, nhưng
không đến từ
không-nơi-nào cả, tất cả
đều tùy thuộc vào luật luân
hồi của vạn hữu.
Hỏi: Có phải thiền
định theo phương pháp của Phật
giáo thì tốt hơn các phương
pháp khác không? hay mỗi phương
pháp thích hợp cho mỗi người
khác nhau?
Lạt ma: Tôi không thể
nói phương pháp của Phật giáo
hay hơn các phương pháp khác,
nó thích hợp tùy theo từng
cá nhân.
Hỏi: Nếu một
người đã có tiến bộ khi
thực tập thiền định theo một
phương pháp nào đó, họ
có thể thay đổi qua phương pháp
của Phật giáo hay không?
Lạt ma: Không cần thiết.
Nếu anh đã thực tập qua một
phương pháp nào đó mà
nó đem lại cho anh sự tỉnh
thức của tâm hồn, mang lại
niềm an lạc vô biên và anh bằng lòng
về thành qủa này thì tại sao
lại thử một phương pháp
khác? Nhưng nếu, thực tập thiền
mà tâm vẫn mù mờ, hành
động vẫn không kiểm soát
được, vẫn gây đau khổ
khó khăn cho người khác, thì
tôi nghĩ rằng con đường anh
đi còn dài lắm. Đó là
một điều vô cùng quan trọng.
Hỏi: Có thể một
bồ tát là một người cộng
sản để tái tạo lại sự
hòa hợp của xã hội không?
Tôi muốn nói, bồ tát có trong
hàng ngũ cộng sản không? hay
ngược lại, trong thế giới
cộng sản có bồ tát không?
Chủ nghĩa Mác có thể là một
phương tiện để giải phóng sự
đau khổ của chúng sinh không?
Lạt ma: Đó là
điều rất khó cho một
người như tôi đi phê phán
một hành động của bồ tát,
nhưng tôi nghi ngờ một vị bồ
tát lại trở thành một
người cộng sản để giải
quyết những vấn đề xã
hội. Mọi rắc rối đều phát
xuất từ tâm thức của
từng cá nhân. Anh phải giải
quyết vấn đề của riêng anh,
không cần biết anh đang sống trong
xã hội nào, xã hội chủ nghĩa,
cộng sản hay tư bản. Hãy kiểm
soát trong tâm của anh. Rắc rối
của anh không phải từ xã hội,
không phải từ tôi. Anh có
trách nhiệm về những vấn
đề của riêng anh cũng như anh
có trách nhiệm giải phóng anh, anh
có trách nhiệm đạt giác ngộ
cho chính anh. Có thể anh sẽ nói:
“Siêu thị giúp con người
vì con người cần mua những
thứ ở trong đó, nếu tôi
làm việc trong đó là tôi
phụng sự xã hội.” Rồi một
thời gian sau, anh lại nói: “Có
thể siêu thị không giúp gì
được nhiều, tôi sẽ giúp
người nhiều hơn nếu tôi
làm việc ở một bưu
điện.” Chẳng có cái gì trong
vụ này giải quyết được
những rắc rối của xã hội.
Trước nhất, anh hãy kiểm soát
xem tại sao anh lại có tư tưởng
một vị bồ tát phải là một người
cộng sản mới cứu vớt
được chúng sinh.
Hỏi: Tôi nghĩ rằng
ngày nay trên thế giới có
qúa nhiều người đói,
qúa nhiều người bị
tước đoạt những sự
cần thiết căn bản, họ qúa lo
lắng về đói khổ, về sự
an toàn và an ninh cho gia đình họ,
họ đã qúa cực nhọc trong
việc đi tìm vật chất để
sống thì còn giờ đâu
để nghĩ đến bản tính
của tâm.
Lạt ma: Tôi hiểu
những điều anh nói. Nhưng
đừng quên rằng những
người đói khát, những
người bận tâm về đói
và những người dư tiền
bạc bận bịu đi mua sắm ở
siêu thị họ đều có một
căn bản như nhau. Đừng chỉ
chú ý đến những
người thiếu thốn về vật
chất. Thực ra, người nghèo
và người giầu đều bị
hành như nhau, tự căn để họ
đều không hạnh phúc, tự
căn để họ đều thích
chiếm hữu và bám víu như nhau.
Hỏi: Nhưng Chúa Krishna
đã hợp nhất được
xứ Aán độ bằng tinh thần
chiến tranh, thánh chiến, kết qủa
là tất cả người Aán
độ đều gia nhập vào sự
thực hành tâm linh. Tại sao chúng ta
không bành trướng đạo
pháp ra cho tất cả mọi người
trên thế giới và thành lập
một xã hội tốt hơn qua kiểu xã
hội tâm linh?
Lạt ma: Trước nhất,
tôi nghĩ rằng điều anh nói
vô cùng nguy hiểm. Chỉ có một
số người hiểu anh nói gì.
Nói chung, anh không thể nói rằng
bồ tát có trách nhiệm về
tất cả những hành động gây
ra đau khổ của chúng sinh. Phật giáo
ngăn cấm chúng ta không
được giết hại chúng sinh, ngay
cả giết để phục vụ cho đạo
pháp. Đối với Phật giáo
không có gì được gọi
là thánh chiến. Anh phải hiểu rõ
điều này. Thứ đến,
không thể bắt buộc mọi
người trên qủa đất phải
bình đẳng. Cho tới khi nào anh
thấu hiểu được tâm của
chúng sinh qua cái vũ trụ này và
đã từ bỏ mọi ích kỷ
và bám víu, thì anh sẽ không bao
giờ còn muốn tất cả chúng
sinh phải như nhau. Điều đó
không thể được.
Hỏi: Tôi không muốn
nói tất cả mọi người
giống như nhau, vì họ có những
căn bản tinh thần khác nhau, nhưng
chúng ta có thể thành lập một
vũ trụ con người đặt trên
căn bản kinh tế xã hội đồng
đều.
Lạt ma: Tôi nghĩ rằng anh
không nên lo lắng về vấn
đề đó. Anh nên lo lắng cho
cái xã hội của tâm anh. Điều
đó có gía trị hơn, thực
tế hơn là làm một dự tính
cho chuyện gì sẽ xẩy ra ở chung quanh
anh.
Hỏi: Nhưng sự thực
hành như vậy sẽ không cân bằng
giữa hai sự việc tự giác ngộ
và phục vụ con người.
Lạt ma: Đúng, anh có
thể phục vụ xã hội, nhưng anh
không thể bắt chúng sinh phải
đồng hóa như nhau, làm giống
như nhau. Đức Phật muốn tất
cả chúng sinh cùng giác ngộ ngay lập
tức, nhưng nghiệp của chúng ta
qúa nặng nên chúng ta vẫn chưa
giải thoát được. Anh không
thể vung đũa thần: “ tôi
muốn tất cả mọi người
phải hạnh phúc như nhau,” rồi
ngồi chờ nó xẩy ra như vậy.
Hãy khôn ngoan! Chỉ có những
tâm hồn khôn ngoan mới có thể
phục vụ bình đẳng và an lành.
Anh không thể thực hiện nó chỉ
vì tình cảm, và anh phải hiểu
rằng tư tưởng của cộng sản
về vấn đề bình đẳng
rất khác với những gì
Phật nói. Anh không thể lẫn lộn hai
tư tưởng này. Đừng
qúa lý tưởng, hãy thực
tế.
Hỏi: Để kết luận,
ngài cho rằng không thể thực
hiện đươc một xã hội thuần
túy tâm linh trên trái đất
này?
Lạt ma: Mặc dù
được, anh cũng không thể
chấm dứt được những
rắc rối của con người. Mặc
dù anh có thể thành lập
được một xã hội như vậy
trên trái đất này nhưng
những bám víu vẫn còn,
những tư tưởng chiếm
hữu vẫn còn, sự nóng giận
vẫn còn thì đau khổ vẫn
còn. Những rắc rối nằm ở
bên trong của mỗi cá nhân! Con
người không giống nhau, mọi
người đều khác nhau. Mỗi
người trong chúng ta cần những
phương pháp khác nhau vì tâm tính
cá nhân tạo ra những thái
độ tinh thần và cá tính
không giống nhau; nên mỗi
người cần một phương tiện
khác nhau để đạt giác ngộ.
Đó là lý do tại sao Phật
giáo chấp nhận sự có mặt
của những tôn giáo khác,
những triết học khác. Chúng
tôi nhìn nhận rằng những
phương tiện khác nhau này cần cho
sự phát triển của con người.
Anh không thể quyết đoán rằng
ý kiến của anh phải đúng cho
mọi người. Đó là
độc tài !
Hỏi: Ngài nghĩ sao về
vấn đề dùng ma túy để
phát triển tâm thức? Một
người có thể kinh nghiệm
được cõi chết dưới
ảnh hưởng của ma túy hay không?
Lạt ma: Có chứ, có
thể xẩy ra khi dùng qúa lượng
để đủ đi vào cõi chết
mà kinh nghiệm! Tôi chỉ nói
đùa vậy thôi, điều đó
không thể có được. Không
thể kinh nghiệm được cõi
chết qua ma túy.
Hỏi: Ngài có thể
nhìn được quang sắc (aura) của
một người không?
Lạt ma: Không, nhưng tất
cả mọi người đều có
quang sắc. Quang sắc là những rung
động. Mỗi người trong chúng ta
đều có những rung động
của tinh thần và của thể xác. Khi
anh tức giận, anh sẽ thấy cơ
thể anh thay đổi. Tất cả mọi
người đều như vậy. Cả khoa
học và Phật giáo đều nhìn
nhận như vậy, tất cả vật chất
và tinh thần đều có những
tần số rung động riêng. Như vậy
trạng thái tinh thần của một người
ảnh hưởng trên thân xác
của họ và những sự thay
đổi này phản ảnh trong quang sắc
của họ. Đó là sự giải
thích đơn giản về quang sắc.
Để hiểu sâu xa hơn, chúng ta
phải hiểu được tâm của
chúng ta. Trước nhất hãy học
để đọc được tâm
của riêng mình, sau đó chúng ta
mới có thể đọc
được tâm của người
khác.
Hỏi: Làm thế nào
thiền để giải tỏa những
vướng víu của cảm xúc?
Lạt ma: Có rất nhiều
phương pháp. Một là qua sự
hiểu biết về bản tính của
những cảm xúc. Theo đó, cảm
xúc sẽ bị tiêu hóa trong trí
tuệ. Tiêu hóa những cảm xúc
của chúng ta bằng trí tuệ là
một gía trị tuyệt vời nhất.
Kính chào
qúy vị.
Lama Yeshe thuyết
pháp tại Auckland, New Zealand, ngày 7 tháng 6
năm 1975
TÔN
GIÁO :
CON ĐƯỜNG
ĐỂ THAM VẤN
Con
người có rất nhiều quan
điểm khác nhau về tôn giáo
nói chung và Phật giáo nói riêng.
Những người chỉ hiểu tôn
giáo và Phật giáo một cách
bề ngoài hay thuần lý trí, cả hai
đều không thể hiểu
được ý nghĩa chân thật
của nó. Những người quan
niệm tôn giáo một cách dễ
dãi hơn thì lại coi Phật giáo
không phải là một tôn giáo.
Trước
nhất, trong Phật giáo, chúng tôi
không muốn chỉ nói về
Đức Phật. Ngay cả Ngài cũng
vậy, Ngài không muốn chúng ta chỉ
tin vào Ngài, vì thế cho đến
ngày hôm nay, Phật giáo không bao
giờ khuyên phật tử chỉ
đơn giản tin vào Đức Phật.
Chúng tôi luôn luôn coi vấn
đề tìm hiểu tâm lý con
người, tìm hiểu tâm bản
nhiên của con người là quan
trọng hơn cả. Do đó, những
người thật
sự thực hành Phật giáo luôn
luôn cố gắng tìm hiểu những
thái độ tinh thần, những ý
niệm, những tri giác và những
ý thức của riêng chính họ.
Đó là những vấn đề
thực sự quan trọng.
Ngoài ra,
nếu chúng ta bỏ quên chúng ta,
những ảo tưởng, những sai
lầm của chúng ta mà chỉ chú
tâm đến những tư
tưởng cao siêu - như “ Phật
là gì? ” - thì cuộc hành trình
tâm linh sẽ giống như một giấc
mơ, đầy huyễn ảo. Điều
đó có thể có, hãy thận
trọng! Nếu như vậy, ở trong tâm
chúng ta sẽ chẳng có một mối
liên hệ gì giữa Phật, Chúa
và chúng ta. Chúng hoàn toàn
cách biệt: chúng ta ở tận
dưới này; Phật, Chúa ở
mãi tận trên kia. Không liên lạc
được. Không thực chút
nào cả, nếu
chúng ta cứ mãi suy nghĩ theo kiểu này. Nó
quá cực đoan. Chúng ta đặt
một vật ở dưới tận
cùng này, còn vật kia lại ở
tột đỉnh trên kia. Phật giáo gọi
đó là tâm tách biệt, tâm
nhị nguyên.
Nói xa hơn
nữa, nếu con người tự
bản tính, tự căn để
đã có tội rồi thì cái
căn bản, cái khả năng đi tìm
kiếm những tư tưởng cao
thượng là gì? Nhưng dầu sao đi
nữa, tư tưởng là không
thật. Con người có khuynh
hướng luôn luôn muốn biết tất
cả những gì về sự giác ngộ
tối thượng hay những gì là
bản tính của Thượng Đế,
nhưng những sự hiểu biết
đó không giúp thay đổi
được gì trong đời
sống của chúng ta và chẳng chuyển
hóa được gì trong tâm của
chúng ta. Một tôn giáo đúng
nghĩa, chân thật nên tự tìm
một sự thật cho chính nó, hơn
là cứ đi trau dồi, thực hiện,
sử dụng và thi hành trong việc
góp nhặt những hiện tượng
xẩy ra.
Trong Phật giáo,
chúng tôi không chỉ thích thú
đến những việc tìm kiếm
sự hiểu biết cao xa, những tư
tưởng siêu hình, mà chúng
tôi đặc biệt lưu ý, đặc
biệt thích thú trong lãnh vực
tìm hiểu những gì đang xẩy ra
ở đây, ngay bây giờ, trong
sự nhận thức kinh nghiệm hiện
tại của chính chúng tôi, chúng
tôi là gì ngay trong lúc này, bản
tính tự nhiên của chúng tôi ngay
bây giờ là gì? Chúng tôi
muốn biết làm thế nào để
thỏa mãn, làm thế nào để
hạnh phúc, để an lạc, thay vì
bị đau khổ, bị trầm uất,
làm thế nào để vượt
thắng được những cảm nghĩ
tội lỗi nói ở trên kia?
Chính
Đức Phật cũng dạy về những
vấn đề căn bản này, tự
tính của con người thì trong
sáng, vô ngã, như bản tính của
bầu trời là trong sáng, không
mây. Mây đến rồi đi nhưng
bầu trời trong xanh vẫn luôn luôn
ở đó, mây không làm thay
đổi được bản tính
tự nhiên của bầu trời.
Cũng giống như vậy, tính bản
nhiên của con người luôn luôn
trong sáng, không có một “cái
tôi” nào ở đó. Dù
chúng ta theo một tôn giáo hay không theo
một tôn giáo nào, nếu chúng ta
không buông bỏ “cái tôi”
thì chúng ta luôn luôn bị
hướng dẫn sai lạc; chúng ta sẽ
luôn luôn sáng tạo ra những
triết lý sống không đúng
với sự thật và cũng
chẳng bao giờ chúng ta đối
diện được với sự
thật.
Thay vì dùng
trí thông minh để chiếm hữu,
tranh giành, để tìm biết
những triết lý xa vời,
những lối sống siêu thực,
tốt hơn chúng ta hãy cố gắng
tìm hiểu tâm bản nhiên của
chúng ta và làm thế nào
thường xuyên trực diện
với nó. Làm sao để thực
hành giáo lý tôn giáo có
hiệu quả: tất cả mọi tôn giáo
cần phải có những phương pháp
thực hành, những phương pháp
tu tập. Phương pháp tu tập là
chiếc chìa khóa cần thiết cho tôn
giáo ! Đó là vấn đề quan
trọng.
Thí dụ,
chúng ta nghe nói có một kho tàng
quí báu dành cho mọi người
nhưng chúng ta không có chìa khóa
để mở cửa thì tất
cả thời giờ đi tìm
kiếm kho tàng chỉ là huyễn ảo xa
vời, vô ích, không thật. Cũng
vậy, một tôn giáo được
đánh bóng, được hứa
hẹn đến đâu đi nữa
mà không mang lại một lợi ích
thiết thực, không có một
phương pháp thực hành
hướng dẫn tới một sự
giải thoát, giác ngộ thì đó
hoàn toàn là giả tạo, không
có thật. Nếu tôn giáo mà
chúng ta đang theo không có một
phương pháp rõ rệt, không có
một chiếc chìa khóa, không có
một con đường dẫn chúng ta
vào đời sống thực tế
hạnh phúc hàng ngày thì tốt
hơn chúng ta hãy uống, hãy
thưởng thức một lon Coca cho rồi.
Ít ra cũng đã khát! Nếu
tôn giáo mà chỉ có triết
lý, tư tưởng thôi thì cũng
rỗng như không khí. Chúng ta nên
thận trọng để hiểu rõ tôn
giáo của chúng ta là gì và
sự thực hành, sống đạo
như thế nào.
Chính
Đức Phật đã nói, “
Niềm tin không quan trọng. Đừng tin
những gì ta nói, đừng tin
chỉ vì ta nói!” Đây là
những lời dậy bảo tâm
huyết của Ngài: “ Thầy đã
dậy rất nhiều phương pháp,
bởi vì chúng sinh có quá
nhiều trình độ, cá tính khác
nhau. Trước khi con thực hành
chúng, con hãy dùng trí tuệ của con
để kiểm soát xem nó có
thích hợp với cá tính
của con không, nó có hợp
với tâm hồn của con không.
Nếu phương pháp của thầy thích
hợp và mang lại ơn ích cho con, con
hãy chăm chú thực hành nó.
Nhưng nếu nó không thích hợp,
không mang lại kết quả gì cho con, con
hãy rời xa nó, mặc dù nó
nghe hợp lý, xuôi tai; nó
được dành cho người
khác.”
Ở
thời đại này, chúng ta không
thể nói mọi người nên tin
và nghe theo chỉ vì đó là
Phật bảo, Chúa dạy. Những
lời nói đó không đủ
để họ tin. Họ sẽ từ
chối, họ muốn bằng chứng.
Những người đó không
hiểu tâm bản nhiên của họ trong
sáng, họ không
nhìn ra được cái khả
năng khám phá sự tiềm ẩn trong
sáng của chính họ thành ra họ
đã làm mất rất nhiều cơ
hội. Nếu chúng ta nghĩ rằng
từ nguyên thủy chúng ta đã
có tội thì chúng ta đã mất
hết hy vọng.
Dĩ nhiên,
tâm của con người có hai phần
tốt và xấu, tích cực và
tiêu cực, trong sạch và ô nhiễm.
Phần tiêu cực thì nhất
thời, rất ngắn ngủi. Những
cảm xúc lên xuống của chúng ta
cũng giống như mây bay trong bầu
trời; phía bên kia của chúng
là một sự thật hiển nhiên:
tâm của chúng ta hoàn toàn trong
sáng!
Rất nhiều
người đã hiểu lầm Phật
giáo. Ngay cả một số giáo sư
Phật học, họ nhìn vào những gì
Phật dạy rồi diễn dịch một
cách vô cùng văn chương, bóng
bảy. Họ đã không hiểu gì
về những phương pháp của
Ngài, họ đã không hiểu được
những ý nghĩa thâm sâu của
những lời dạy bảo. Theo ý
kiến của riêng tôi, điều vô
cùng quan trọng của mỗi một tôn
giáo là ở những phương
pháp của nó: làm thế nào
để chuyển tôn giáo thành
những kinh nghiệm sống của riêng mỗi
người. Tốt nhất chúng ta nên
hiểu để thực hành nó, như
vậy tôn giáo mới có ích,
mới có hiệu quả. Sự
thực hành sẽ trở nên
tự nhiên hơn, thật hơn; nó
sẽ giúp chúng ta hiểu
được bản tính nguyên thủy
của chúng ta, tâm bản nhiên của
chúng ta và chúng ta sẽ chẳng
còn ngạc nhiên khi biết
được có những gì ở
trong đó. Rồi, khi đã hiểu
được tâm bản nhiên, chúng
ta có thể kiểm soát, có thể theo
dõi nó một cách rất tự
nhiên; chúng ta sẽ không phải cố
gắng quá độ, sẽ không còn
cần một sự thúc đẩy nào,
sự hiểu biết tự nhiên sẽ
mang lại sự kiểm soát tự
nhiên, sự tỉnh thức tự
nhiên.
Nhiều
người tưởng rằng sự
kiểm soát tâm là một việc làm
chặt chẽ lắm, nghiêm chỉnh lắm, mãnh
liệt lắm. Thực ra, việc kiểm soát
là một tiến trình đến rất
tự nhiên. Nhưng quý vị không
đồng ý, phải không? Quý vị
sẽ nói rằng tâm không kiểm
soát được bởi sự
tự nhiên vì quý vị tin rằng
tình trạng tự nhiên của tâm
là không có sự kiểm soát.
Thật ra không phải vậy. Khi chúng ta
nhận thức được sự
tự nhiên của một cái tâm
không kiểm soát, thì sự kiểm
soát đang đến một cách
tự nhiên, như tình trạng không
kiểm soát hiện tại của chúng ta
đang xẩy ra cũng một cách rất
tự nhiên. Hơn nữa, chỉ có
một cách để nhận ra sự kiểm
soát đang tràn qua tâm chúng ta
là chúng ta nên hiểu rõ bản
tính của nó. Chúng ta đừng
bao giờ cưỡng bức,
đừng bao giờ bắt buộc
tâm -thế giới nội tại- của
chúng ta phải thay đổi. Cũng như
chúng ta không thể thanh tẩy tâm của
chúng ta bằng sự hành xác,
bằng sự đánh đập thân
thể. Điều đó chắc chắn
không thể được. Nghiệp
chướng, ô trược, tội
lỗi, hay bất cứ cái gì
chúng ta gọi cho những hiện tượng
tâm lý này đều không thể
chấm dứt bằng những sự
kiện vật lý. Sự thanh tẩy
đòi hỏi một sự hợp
tác của cả trí tuệ lẫn
phương pháp.
Để thanh
tẩy tâm hồn, chúng ta không cần
phải tin vào những gì đặc
biệt ở mãi tận trên kia như Thượng
Đế, Phật. Đừng quá quan tâm
về những vấn đề đó.
Một khi chúng ta đã thật sự
nhận thức được những
đặc tính lên xuống trong
đời sống hàng ngày của
chúng ta, thật sự thấu hiểu
được những bản tính
tự nhiên của thái độ tinh
thần chúng ta, thì chúng ta sẽ
tự động ước muốn
hoàn thành một giải pháp.
Ở
thời đại này, có rất
nhiều người muốn xét lại
những vấn đề của tôn
giáo, hình như họ nghĩ rằng tôn
giáo không còn giá trị. Thực
ra tôn giáo vẫn có giá trị.
Tôn giáo giúp cải thiện
đời sống. Tôn giáo có
những phương pháp tuyệt hảo
giúp giải quyết những vấn
đề của xã hội. Vấn
đề là con người đã
không hiểu được những
đặc tính căn bản của tôn
giáo, vì thế họ không thể có
được những ước
muốn hoàn thành sự thực tập
những phương pháp của tôn
giáo dạy bảo.
Hãy thử
nhìn vào đời sống vật
chất. Đó là một thế
giới của bạo động và xung
đột. Chúng ta không bao giờ thay
đổi được chúng như ý
muốn của chúng ta. Mỗi buổi sáng
thức dậy, chúng ta không thể
xác quyết một cách chắc chắn
rằng hôm nay tôi muốn mọi việc
phải như thế này, thế kia. Chúng ta
không thể xác định trước
một ngày đừng nói chi
đến trước một tuần, một
tháng, một năm. Nếu tôi yêu
cầu qúy vị ngay bây giờ hãy
cho tôi biết cái gì sẽ xẩy ra
hôm nay, chuyện gì sẽ xẩy ra cho
chúng ta, qúy vị sẽ cảm thấy
những giây phút sắp tới
như thế nào ...vân vân... Qúy vị
có thể nói cho tôi biết
không? Chắc
chắn là không. Chúng ta không thể
trả lời được, phải
không qúy vị?
Không cần
biết chúng ta sẽ tạo cho chúng ta
một đời sống vật chất
thoải mái như
thế nào, cũng không cần biết
chúng ta trang hoàng nhà cửa của
chúng ta như thế nào -tôi có
cái này, tôi có cái kia, tôi
đặt cái này ở đây,
cái kia ở đó...- Chúng ta
vẫn không thể xếp đặt tâm
của chúng ta giống như vậy. Chúng ta
không thể qủa quyết ngày hôm nay
tôi phải như thế này. Làm
thế nào chúng ta có thể sắp
xếp tâm của chúng ta như vậy được?
Làm sao chúng ta có thể nói
được: “ ngày hôm nay tôi
sẽ như thế này?” Tôi có thể
nói cho qúy vị biết chắc chắn một
điều, cho tới khi nào tâm
của chúng ta còn ở ngoài
tầm kiểm soát, còn loạn động
và còn phân biệt chia rẽ thì
chúng ta sẽ không bao giờ làm
được điều đó,
không thể được. Nói vậy
không có nghĩa là tôi chê bai
qúy vị, tôi chỉ muốn nói lên
một vấn đề là: tâm của
chúng ta làm việc như thế nào!
Tất cả
những điều nói ở trên
chỉ nhấn mạnh một vấn đề:
không cần biết chúng ta có một đời
sống vật chất thoải mái, tiện nghi
như thế nào; không cần biết
chúng ta tự an ủi: “ồ,
điều này tôi hài lòng,
điều này làm tôi vui, tôi sẽ
hạnh phúc cả ngày hôm nay!” như
thế nào, chúng ta vẫn không thể
xác định được
đời sống của chúng ta sẽ
xẩy ra y như vậy. Những cảm xúc
luôn luôn thay đổi, thay đổi,
tự động thay đổi một cách
liên tục không ngừng nghỉ. Sự
kiện này nói lên đời
sống vật chất không giúp gì
được trong tiến trình thay
đổi tâm lý đó. Tuy nhiên,
tôi không có ý khuyên qúy
vị phải từ bỏ đời
sống vật chất mà hãy sống
khổ hạnh. Tôi hoàn toàn không
muốn nói như vậy. Quan điểm của
tôi là nếu chúng ta thực
sự hiểu được vấn
đề tâm linh và sống theo nó
thì chúng ta sẽ tìm được
những sự thỏa mãn lớn lao
hơn, cao cả hơn, sẽ có một
đời sống ý nghĩa hơn
là cứ chạy theo những cảm
xúc trần gian. Hạnh phúc trần gian
không bao giờ thỏa mãn
được tâm của con
người.
Vì thế,
sự có mặt của tôn giáo
với mục đích chính của
nó là giúp chúng ta thấu hiểu
được tâm bản nhiên của
chúng ta và những cảm tính riêng
của chúng ta. Chúng ta muốn gọi con
đường tâm linh của chúng ta
bằng tên gì cũng được,
nhưng điều quan trọng nhất vẫn
là từ nó chúng ta có thể
học hỏi được kinh nghiệm cho
riêng chúng ta và có hiểu
được cảm tính riêng tư
của chúng ta hay không. Vì lý do
đó, kinh nghiệm của Lạt ma về
Phật giáo là thay vì chú trọng
đến tín ngưỡng, các
ngài lại đặc biệt chú ý
đến vấn đề chứng
nghiệm cá nhân, thực hành
đạo pháp trong đời sống
và xác định được
những kết qủa trong tâm của
chúng ta như: phương pháp này
có mang lại lợi ích không? tâm
chúng ta có chuyển hóa không hay
vẫn ở ngoài vòng kiểm soát
như trước kia?
Đó là Phật giáo ! và
cái phương pháp để kiểm
soát tâm được gọi là
thiền định.
Đây là
vấn đề hoàn toàn cá nhân,
chúng ta không thể tổng quát hóa,
không thể tập thể hóa vấn
đề này được. Nó
thuần túy là sự hiểu biết
cá nhân, kinh nghiệm của từng
người. Nếu con đường
chúng ta đang theo, đang thực hành
không mang lại cho chúng ta một sự thay
đổi nào, không giải quyết
được vấn đề gì,
không có câu trả lời cho
những khúc mắc của đời
sống, không thỏa mãn tâm chúng ta
thì chúng ta nên xét lại, nên
đặt lại vấn đề. Có một
điều gì sai lầm trong con
đường chúng ta đang theo hay
không? hay là chúng ta đã hiểu sai
vấn đề? Chúng ta không nên
vội vàng kết luận tôn giáo
mà chúng ta đang theo là sai lầm
bởi vì chúng ta đã thử
mà không thành công. Cá tính
khác biệt mang đến những tư
tưởng khác biệt, mang đến
những quan điểm khác biệt, mang
đến những sự hiểu biết
về tôn giáo khác biệt nên
có thể có những nhận xét sai
lầm. Vì thế, hãy thận trọng,
hãy thấu triệt những giáo lý
và những phương pháp mà
chúng ta đang theo, trước khi phê
phán nó. Nếu chúng ta thực
sự nắm được những
căn bản giáo lý của nó,
chúng ta sẽ thực sự kinh nghiệm
và hài lòng trong tận đáy
lòng của chúng ta. Từ đó,
chúng ta sẽ chứng nghiệm
được sự thỏa mãn của
tâm không phải từ những
vật bên ngòai. Sự thỏa mãn
chân thật chỉ có ở bên trong,
ở tâm bản nhiên của chúng ta.
Sự an lạc chỉ đến từ
bên trong!
Chúng ta
thường đau khổ và nhìn
thấy một thế giới đảo
điên, chỉ vì chúng ta tin
tưởng rằng chúng ta có thể thay
đổi được những sự
vật bên ngoài theo ý muốn của
chúng ta, theo hoạch định của chúng
ta. Chúng ta đòi hỏi sự vật
phải thay đổi trong khi bản tính của
chúng không thay đổi; sự vật
phải tồn tại, phải thường
hằng trong khi bản tính của chúng
là vô thường. Rồi, khi chúng
đổi thay là chúng ta không bằng
lòng, chúng ta nổi giận. Chúng ta
tức giận khi một vật nào
đó trong nhà hư hại, bể
vỡ, chỉ vì chúng ta không hiểu
được bản tính vô
thường của nó. Khi thời
điểm đến, mọi vật đều
biến đổi dù chúng ta muốn hay
không muốn.
Tuy nhiên,
chúng ta vẫn đòi hỏi sự
vật phải tồn tại, phải ở
với chúng ta. Điều đó
không thể được, không có
vật gì có thể tồn tại mãi
mãi. Do đó, để tìm kiếm
sự thỏa mãn vĩnh cửu,
chúng ta nên chú tâm vào sự
thực hành tâm linh và thiền
định hơn là đi tìm ở
những sự vật chung quanh chúng ta.
Sự thỏa mãn vĩnh cửu chỉ
đến từ tâm, từ bên trong
chúng ta. Vấn đề then chốt và
là căn nguyên của tất cả mọi
đau khổ, buồn bực, chán
đời là chúng ta có một
cái tâm không tỉnh thức, một
cái tâm bất mãn, bám víu.
Biết như
vậy thì mỗi khi rắc rối xẩy ra,
thay vì bực tức nóng giận
vì những việc không vừa
ý, vì những hành động
bám víu bên ngoài, chúng ta hãy
thư dãn, thoải mái, ngồi xuống
và bắt đầu khám xét xem
thực trạng nào đang diễn ra
ở trong tâm ta. Hành động này
rất có lợi để đối
trị những rắc rối đang tràn
đến đồng thời làm êm
dịu tâm ta. Hơn nữa, khi chúng ta
thực tập như vậy, chúng ta giúp cho
trí tuệ ngày càng thêm lớn
mạnh. Trí tuệ không bao giờ
phát triển trong một cái tâm bấn
loạn, lộn xộn và hay thay đổi !
Một tinh thần
bấn loạn là một chướng
ngại lớn cho việc phát triển
trí tuệ. Cũng giống như vậy,
ngã chấp là chướng ngại cho
việc phát hiện tâm bản nhiên.
Nếu vì những quan niệm sai lầm
mà chúng ta cho rằng bản ngã và
tâm là một, giống như nhau, thì
chúng ta sẽ không bao giờ tách
chúng ra được và cũng
không bao giờ khám phá ra
được phía bên kia của bản
ngã là gì. Cho tới khi nào
chúng ta còn tin vào sự sai lầm
này thì chúng ta và tội nguyên
tổ là một và sẽ chẳng bao
giờ chuyển hóa được
chúng. Tin vào cái gì thì cái
đó trở nên quan trọng và
nó sẽ ảnh hưởng muôn
đời đến tất cả
những quan niệm sống của chúng ta.
Người Tây phương thường
quan niệm rằng nếu chúng ta không
là một với bản ngã thì
chúng ta không thể có một
đời sống, không thể có
công ăn việc làm và không thể
hoàn thành một việc gì. Đó
là một ảo nghĩ vô cùng nguy
hiểm - họ tưởng rằng chúng ta
không thể tách cái tôi ra khỏi
tâm, cái tôi ra khỏi đời
sống. Họ cho đó là điều
vô cùng rắc rối. Nếu mất
cái tôi, chúng ta sẽ mất hết
cá tính, mất cả bản tính
tự nhiên của con người.
Điều đó hoàn toàn sai lầm,
chúng ta không nên lo lắng về
những vấn đề này. Thật ra,
nếu bỏ mất cái tôi chúng ta
sẽ thực sự hạnh phúc. Chúng
ta nên có hạnh phúc! Nhưng “cái
tôi” là gì? Người Tây
phương có rất nhiều danh từ
nói về cái tôi, nhưng
người ta có thực sự
hiểu cái tôi là gì không?
Không cần biết sự hoàn hảo
của những danh từ đó như
thế nào, cái tôi không phải
là ngôn từ, ngôn ngữ chỉ
là một biểu tượng. Họ nghĩ
có một “cái tôi” thực
đang ở trong chúng ta. Đây là
một quan niệm hoàn toàn sai lầm về
một cái “tự ngã độc
lập, thường hằng và hiện
hữu.” Trong
thực tế, những cái gì
chúng ta tin tưởng về cái tôi
đều không hiện hữu, không
có thực.
Nếu tôi
hỏi tất cả mọi người có
mặt ở đây đi tìm kiếm
tận trong đáy sâu thẳm, phía
bên kia của ngôn ngữ, cái tôi
là gì, thì mỗi người
sẽ có một câu trả lời
khác nhau. Tôi không nói đùa đâu,
đây là kinh nghiệm của tôi,
qúy vị nên tự tìm hiểu
lấy. Chúng ta vẫn thường nói
một cách bao quát: “đó là
cái tôi của anh”, nhưng chúng ta
thực sự không có một ý
niệm gì về bản tính đích
thực của cái tôi là gì ?
Đôi khi chúng ta còn dùng một
câu rất ư là châm biếm:
“Ồ, không sao, đó chỉ là
cái tôi của anh thôi mà !” hay
những câu đại khái như vậy.
Nhưng nếu chúng ta tìm hiểu sâu xa
hơn, chúng ta sẽ nhìn thấy
những người trung bình
thường nghĩ rằng đó là
cá tính của họ, đời sống
của họ. Đàn ông có cảm
tưởng rằng nếu họ làm
mất bản ngã họ sẽ mất hết
cá tính, họ sẽ không còn là
đàn ông nữa; nữ
giới có cảm tưởng rằng
nếu họ làm mất cái tôi của
họ, họ sẽ mất hết phẩm cách
của đàn bà. Điều đó
hoàn toàn không có thật, hoàn
toàn sai lầm. Còn nữa, vẫn
dựa trên căn bản diễn dịch
về đời sống và bản
ngã của người Tây phương,
thì nó còn tệ hơn nữa :
họ nghĩ bản ngã là một thái
độ tích cực cần phải có
cho đời sống xã hội, nếu
không có bản ngã, không thể
sống hòa đồng với xã
hội. Nếu chúng ta cứ tiếp tục
tìm hiểu một cách sâu xa hơn trong
lãnh vực tinh thần, chúng ta sẽ
còn khám phá ra nhiều điều
thích thú hơn nữa.
Ngay cả
những nhà tâm lý học cũng
định nghĩa bản ngã một cách
rất nông cạn, hời hợt,
làm chúng ta có cảm tưởng
nó hoàn toàn có tính cách
vật chất. Theo quan điểm của Phật
giáo, “bản ngã” hay “cái
tôi” là một ý niệm thuộc
phạm vi tinh thần, không phải vật
chất. Dĩ nhiên, những hoạt
động của một biểu tượng
“tôi” có thể được
thị hiện ra bên ngoài, thí dụ, khi
một người giận dữ thì
thân xác của họ phản ảnh
những rung động giận dữ chứ
không phải có một “cái
dữ ” tự nó hiện hữu,
tự nó xuất hiện. Đó chỉ
là một biểu hiện của sự giận
dữ. Cũng giống như vậy,
“cái tôi” không phải là
sự thị hiện từ bên ngoài
mà là những yếu tố,
động lực của tinh thần, một
thái độ tâm lý ở bên
trong. Chúng ta không thể nhìn thấy
chúng từ bên ngoài.
Trong lúc
thiền định, chúng ta có thể
nhận ra hôm nay chúng ta lên tinh thần,
ngày mai xuống tinh thần : những
hiện tượng chao đảo là do
tâm. Một người không theo dõi
bên trong của họ sẽ có những
ý kiến rất nông cạn, như “
hôm nay tôi không vui vì mặt
trời không sáng.” Tất cả
những hiện tượng lên xuống
của chúng ta đều phát xuất
từ những yếu tố tâm lý,
ở bên trong.
Khi một làn
gió mạnh thổi qua, mây tan đi và
bầu trời trong xanh trở lại.
Tương tự như vậy, khi trí tuệ -sự
hiểu biết về tâm bản nhiên-
đến, đám mây đen tối bản ngã liền tan
biến. Phía bên kia của “bản
ngã”, của “cái tôi”
-sự loạn động, tâm không
kiểm soát, tâm không tỉnh thức-
là sự an lạc vĩnh cửu, là
sự thỏa mãn hoàn hảo bất
tận. Đó là tất cả sự
dạy bảo của Đức Phật,
đó là tất cả sự diễn
giảng, phân tích của Ngài về
cả hai mặt tốt xấu, tích cực
và tiêu cực của chúng ta.
Đặc biệt, mỗi khi tâm tiêu cực
xuất hiện, thay vì sợ hãi,
chúng ta nên phân tích nó, khám
xét nó, theo dõi nó một cách
gần hơn nữa, một cách xác
thực hơn nữa.
Đó,
qúy vị thấy không, Phật giáo
không phải là một tôn giáo
thuần túy, nó luôn luôn cố
gắng tránh những sự công
kích, xung đột. Phật giáo chỉ
chú trọng đến việc tìm hiểu
chúng ta là ai và tâm của chúng
ta hoạt động, làm việc như thế
nào ngay bây giờ, ở
đây. Điều đó làm cho
Phật giáo trở nên hấp dẫn
và thích thú cho nhiều người.
Chúng ta không thể lúc nào cũng
chỉ đòi hỏi nghe những
điều tốt đẹp, những
điều vừa ý, những vấn
đề tích cực. Tôi biết
qúy vị là những người
tốt, chúng ta luôn tích cực,
chúng ta thích đứng về phía
ánh sáng, nhưng còn bản tính
tiêu cực
-phần tối tăm - của chúng ta
thì sao? Để có thể hiểu
được cả hai phía một cách
ngay thẳng công bằng, để có
thể thấu triệt được toàn
diện bản tính của chúng ta, chúng ta
phải tìm hiểu, phải nhìn nhận
cả hai, bên xấu cũng như bên
tốt, phần tích cực cũng như
phần tiêu cực, và một
điều vô cùng quan trọng là
không bảo vệ, không thiên vị
bên nào !
Tôi xin chấm
dứt ở đây và rất
hân hạnh được trả lời
những câu hỏi của qúy vị.
Hỏi: Thưa Lạt ma, ngài
nói rằng chúng ta nên bày tỏ,
biểu lộ những hành động
tiêu cực của chúng ta ra hơn là
bưng bít, che dấu nó ? Phải chăng
chúng ta nên để chúng đi ra?
Lạt ma: Tùy theo. Có hai
vấn đề. Nếu những cảm
xúc tiêu cực đã lộ ra bên
ngoài, tốt hơn nên tìm cách
để giãi bày nó ra nhưng tôi
đề nghị nên đối diện
với nó trước khi để
nó xuất hiện ra. Dĩ nhiên,
với những cảm xúc tiêu
cực quá mạnh mà chúng ta cố
gắng chịu đựng, đè nén
nó thì đây lại là nguyên
nhân cho một sự nguy hiểm sau này,
thí dụ, sự bùng nổ một cơn
giận dữ tích tụ lâu ngày
có thể vác súng đi giết
người. Phật giáo có những
phương pháp để khảo sát
những cảm xúc này bằng trí
tuệ và bằng cách tiêu hóa
chúng qua thiền định, hãy thiền
định để những cảm xúc
tan biến một cách êm thắm. Sự
giãi bày những cảm xúc tiêu
cực mạnh ra bên ngoài sẽ
để lại những dấu ấn sâu
đậm trong tâm thức của chúng
ta. Những dấu ấn này, những
kinh nghiệm này sẽ giúp chúng ta
giải quyết một cách dễ dàng
hơn khi những cảm xúc tiêu
cực đó trở lại, mặc
dầu lần trở lại này có
thể còn mãnh liệt hơn lần
trước. Những dấu ấn này
tạo thành một chuỗi nghiệp lực
nhân quả mà nó sẽ ảnh
hưởng lâu dài trên những
hành vi tiêu cực của chúng ta. Do
đó, chúng ta phải biết trau dồi
bản lãnh và phải quyết liệt khi
đối diện với những âm
lực này. Hãy học hỏi để
biết khi nào nên giãi bày nó ra,
làm thế nào để giãi bày
tâm sự và đặc biệt làm
thế nào để nhận diện
được nó trước khi nó
thành hình để tiêu hóa nó
trong trí tuệ.
Hỏi: Xin Ngài giải
thích sự liên hệ giữa
phương pháp thiền của Phật giáo
và Hatha yoga?
Lạt ma: Trong Phật giáo
chúng tôi chú trọng nhiều
đến sự hòa nhập nội tâm
hơn là sự chuyển động của
thân xác, mặc dầu có những
sự thực hành thiền định qua
việc thực tập thân xác. Nói
chung, sự thiền định của Phật
giáo dạy chúng ta nhìn vào bên
trong xem chúng ta là gì, để hiểu
được bản tính thực của
riêng chúng ta. Thiền Phật giáo
không nhất thiết phải ngồi yên
một chỗ trong tư thế liên hoa
với đôi mắt nhắm lại,
thiền có thể thực hiện trong
tất cả mọi trạng huống của đời
sống. Điều quan trọng là phải
tỉnh thức trên từng công
việc chúng ta làm vì thế chúng ta
không nên làm buồn lòng chính mình và
những người chung quanh một cách
vô ý thức. Chúng ta có thể
thiền trong lúc đang đi, đang nói
chuyện, đang làm việc, đang ăn...trong
bất cứ lúc nào, hãy tỉnh
thức trong từng hành động
của thân, khẩu và ý của
chúng ta.
Hỏi: Phật tử có
hoàn toàn kiểm soát khí lực
(prana) của họ qua tâm không?
Lạt ma: Có. Nếu chúng ta
kiểm soát được tâm, chúng
ta sẽ kiểm soát được tất
cả mọi sự kiện. Không thể kiểm
soát được thân xác nếu
không kiểm soát được tâm
trước. Nếu chúng ta cố gắng
kiểm soát thân bằng sức mạnh,
nếu chúng ta tự đưa chúng ta
lên mà không hiểu sự liên
hệ giữa tâm và thân thì
đó là một việc làm rất nguy
hiểm mang lại nhiều điều khổ
tâm.
Hỏi: Ngài có thể
đi vào đại định trong khi
ngài đang đi, giống như trong lúc
ngài ngồi thiền không?
Lạt ma: Chắc chắn
được, lý thuyết là như
vậy nhưng tùy theo mỗi cá nhân.
Với người mới tập,
sẽ đạt được cảnh
giới này dễ dàng bằng
cách ngồi thiền. Tuy nhiên, với
người có kinh nghiệm, họ có
thể duy trì tình trạng tâm tập trung
này ở tất cả mọi nơi, ngay
cả khi họ đang đi. Dĩ nhiên,
nếu một người có tâm hồn
bấn loạn, dù có ngồi thiền
đi nữa họ cũng không thể
giữ tâm yên tịnh. Một
điểm quan trọng trong Phật giáo là
chúng ta không thể bắt tất cả
mọi người phải làm điều
này, tất cả mọi người
phải như vậy, nó tùy thuộc vào
cá tính mỗi người. Tuy nhiên,
chúng tôi cũng khẳng định con
đường thực hành thiền
định như sau: bước thứ
nhất chúng ta nên phát triển như
thế này, kế tiếp đi theo con
đường này rồi tiếp tục
tiến lên những giai đoạn tập
trung khác nhau...vân vân... Tương
tự như thế, toàn thể con
đường tu tập đến giác
ngộ - chúng tôi gọi là lam-rim,
từng bước tu tập -
được đặt ra từng cấp
bậc, từng lý thuyết thích
hợp cho từng người, giúp
họ có thể dễ dàng tìm
được trình độ của họ,
rồi họ sẽ bắt đầu từ
đó.
Hỏi: Thưa Lạt ma,
những tư tưởng tiêu cực
(xấu) xẩy ra trong tâm của chúng ta,
chúng có thể đến từ
những nguyên nhân bên ngoài
chúng ta, từ người khác hay
từ một thể tinh thần nào
đó hay không?
Lạt ma: Ồ, đó là
một câu hỏi rất hay. Nguyên nhân
chính, gốc rễ thâm sâu của những
căn nguyên tiêu cực nằm ở
trong tâm của chúng ta, nhưng điều
kiện để nó thị hiện ra bên
ngoài thường thường
đòi hỏi một sự tác dụng
hỗ tương, nguyên nhân bên
ngoài, từ người khác hay
từ những cảnh vật chung quanh.
Thí dụ, một vài người có
những kinh nghiệm về thuật phong thủy,
chiêm tinh bói toán quan niệm: khí
lực (chấn động của những
hành tinh khi nó chuyển vận) thay
đổi làm ảnh hưởng
đến con người. Những cảm
xúc thay đổi vì những kích
thích tố trong người thay đổi.
Những kinh nghiệm này không chỉ
đến từ tâm của chúng ta
mà còn qua những tác động
vật chất hay tinh thần. Dĩ nhiên
chúng ta cũng có thể nói rằng
tất cả những sự kiện trong
cơ thể mà nó là nguyên nhân
của một đổi thay đều
đến từ tâm chúng ta. Nhưng
tôi không nghĩ rằng Đức
Phật chấp nhận ý kiến cho rằng
có một thể tinh thần bên ngoài
gây đau khổ cho chúng ta. Điều
này cũng có thể xảy ra nếu
tâm lực của anh có liên hệ
đến một lực nào đó
ở bên ngoài và đó
chính là sự tác dụng hỗ tương
làm anh đau khổ.
Qua những kinh
nghiệm trong cuộc sống, chúng ta đã
biết được chúng ta bị ảnh
hưởng rất nhiều bởi những
sự kiện ở chung quanh. Trong bầu
không khí vui tươi, an lành và
thương yêu, con người tự
cảm thấy hạnh phúc. Trong bầu không
khí nóng giận, gần những
người năng động, gần
những người hiếu thắng
chúng ta dễ bị lôi cuốn theo họ.
Tâm của con người như cái
gương soi. Chiếc gương không phân
biệt, không kỳ thị, nó phản
chiếu tất cả những gì đàng
trước nó, không kể tốt
xấu. Giống như thế, tâm của
chúng ta nhận tất cả những
cảnh ở chung quanh, nếu chúng ta
không biết kiểm soát, không tỉnh
thức với những sự kiện
xẩy ra, tâm của chúng ta có thể
sẽ nhận đầy rác rưởi.
Vì thế, hãy thận trọng, hãy
ý thức những gì xẩy ra
ở chung quanh ta và nhận thức xem nó
ảnh hưởng đến tâm chúng
ta như thế nào.
Vấn
đề mà chúng ta cần phải
hiểu về tôn giáo là xem nó
liên hệ thế nào với tâm
của chúng ta, nó có thể
hướng dẫn đời sống
của chúng ta như thế nào. Nếu
chúng ta có thể thực hành nó,
điều đó thật tuyệt diệu,
sự thật nằm ngay ở đó.
Chúng ta không cần phải đặc
biệt chú ý đến lòng tin
vào Thượng đế, vào Phật
hay quan tâm đến tội lỗi,
đừng quá lo sợ về
những vấn đề đó. Hãy
hành động đúng theo sự
hiểu biết của chúng ta càng nhiều
càng tốt, như vậy chúng ta sẽ
gặt hái được kết quả ngay
ngày hôm nay. Hãy quên đi những
vấn đề siêu hình, siêu
thực hay những gì vĩ đại cao
xa như tình yêu bao la
--tình cao thượng, lòng từ
bi sẽ đến, sẽ lớn mạnh
từ từ, một cách chắc
chắn nhưng từ từ.-- Tuy nhiên,
nếu chúng ta chỉ chú trọng
đến những vấn đề, như
“ Ồ, tuyệt diệu quá! siêu việt
quá! mãnh liệt quá!” là
chúng ta đang đi trong một cuộc hành
trình về quyền lực. Dĩ nhiên
sức mạnh của tinh thần sẽ
đến nhưng chỉ có một cách
mà chúng ta có thể đạt
được là chúng ta phải
thấm nhuần đạo pháp và
chuyên cần thực hành nó trong
đời sống. Sức mạnh đến
từ bên trong chúng ta. Đừng
nghĩ rằng quyền năng thật phải
ở trên kia, một chỗ nào
đó trong bầu trời. Quyền
năng thật đang ở đây, tâm
của chúng ta!
Hỏi: Theo giáo lý Phật
giáo, tri giác (tưởng) là một
trong năm uẩn (ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng,
hành và thức), chúng hòa
hợp làm thành thân tâm của con
người. Tri giác làm việc như
thế nào? Thưa Ngài.
Lạt ma: Lại một câu
hỏi rất hay. Hầu như trong mọi lúc,
tri giác của chúng ta đều hão
huyền, huyễn ảo; chúng ta không nhận
thức đúng sự thật.
Đúng vậy, chúng ta nhìn thế
giới cảm giác
-hình thể hấp dẫn, mầu sắc
đẹp, món ăn tuyệt hảo...vân
vân... - nhưng chúng ta không thực
sự nhận biết được
sự thật của chúng, bản chất
thực của hình thể, của mầu
sắc và của mùi vị.... Đó
là lý do tại sao chúng ta luôn
luôn có những
nhận xét sai lầm. Những nhận
biết sai lầm của chúng ta là một
tiến trình cung cấp tin tức sai lạc
từ năm giác quan chuyển vào
tâm, rồi nó được diễn
lại dưới ảnh hưởng của
“cái tôi”. Kết quả là
chúng ta luôn luôn ở trong huyễn
ảo, chúng ta không nhìn ra
được bản tính thực của
sự vật, chúng ta chỉ đứng
bên lề của sự thật, ngay trong
thế giới cảm giác.
Hỏi: Nghiệp
quá khứ có ảnh hưởng
đến tri giác của chúng ta không?
Lạt ma: Dĩ nhiên là
có. Nghiệp quá khứ ảnh
hưởng rất nhiều đến
những nhận thức của chúng ta.
Cái tôi của chúng ta ôm giữ,
nắm bắt tất cả những nhận thức
không được kiểm soát và
tâm của chúng ta chỉ chạy theo chúng:
toàn thể tình trạng không kiểm soát
đó được gọi là
nghiệp. Nghiệp
không chỉ đơn giản là
những lý thuyết, đó chính
là những tri giác hàng ngày
của chúng ta trong cuộc sống.
Hỏi: Thưa Lạt ma, sự
liên hệ giữa tâm và thân
là gì? chẳng hạn như thức
ăn có liên hệ gì không?
Lạt ma: Thân không phải
là tâm, tâm cũng không phải
là thân, nhưng cả hai có một
liên hệ rất đặc biệt. Chúng
rất gần nhau, rất ảnh hưởng
đến nhau. Thí dụ, khi một
người dùng ma túy thì vật
chất không ảnh hưởng đến
tâm một cách trực tiếp, nhưng
vì tâm liên hệ với hệ
thần kinh của thân và những cơ
quan trong người, nên sự thay
đổi vì thuốc khiến cho hệ
thần kinh không còn hòa hợp,
đó là nguyên nhân để
tâm có những ảo giác. Vì
biết có một sự liên hệ sâu
xa giữa thân và tâm nên mật
tông du già Tây Tạng mới
lợi dụng cơ hội này : tập trung
sự chú ý vào những trung
tâm thần lực trong cơ thể
để gây ảnh hưởng tâm. Do
đó, ngay cả thức ăn
thường ngày hay bất cứ
gì thân xác đụng đến
cũng đều có ảnh hưởng
đến tâm chúng ta.
Hỏi: Thưa ngài, nhịn
ăn có tốt không?
Lạt ma: Việc nhịn ăn
không quan trọng lắm, trừ khi chúng
ta đang trong thời kỳ thực tập
một vài phương pháp đặc
biệt thì sự nhịn ăn lại rất
cần. Đó là kinh nghiệm của
một số lạt ma. Thí dụ, nếu
chúng ta ăn uống cả ngày rồi
ngồi thiền vào buổi tối thì
sự tập trung thiền định rất
khó. Vì thế, nếu muốn thiền
một cách đúng đắn, chúng
tôi chỉ ăn ngày một bữa.
Buổi sáng chúng tôi uống trà, ăn
buổi trưa, buổi tối uống trà. Với
chúng tôi, sống như vậy để
cuộc đời đơn giản hơn,
thân xác nhẹ nhàng hơn. Nhưng
với những người không
thấy cần thiết phải luyện tâm
thì họ lại cho đó là một
cực hình. Thường thường
chúng tôi không nhịn ăn. Chúng ta
không nên tự hành hạ mình,
nên sống đơn giản, vui vẻ và
hợp lý để giữ cho thân
thể luôn khỏe mạnh. Nếu thân
thể yếu đuối, tâm cũng
trở nên vô dụng. Khi tâm vô
dụng, đời sống cũng trở
nên vô dụng. Trong một vài
trường hợp, nếu nhịn
đói để thăng tiến việc
thực tập thiền định hay để
tiến xa hơn trong một vài lãnh
vực thì nhịn ăn là một
điều tốt.
Xin cám ơn
qúy vị, nếu không còn câu
hỏi nào khác, xin kính chào qúy
vị.
Lama Yeshe thuyết
giảng tại Brisbane, Australia, ngày 28 tháng 4
năm1975
MỘT CÁI NHÌN
THOÁNG QUA
VỀ
TÂM LYÙ HỌC
PHẬT GIÁO
Người
ta thường nghĩ, nghiên cứu
Phật giáo thì không khô khan,
đó là một sự chọn lựa
khôn ngoan hay là một sự phân
tích hời hợt về một vài
điểm của tôn giáo hoặc đó là những học
thuyết về triết lý, đạo học.
Nhưng trái lại, khi chúng ta nghiên
cứu Phật giáo, học hỏi về
thiền định là chúng ta đi
thẳng vào vấn đề cốt tủy
của con người: tâm bản nhiên
của chúng ta là gì? bản tính
nguyên thủy của chúng ta là gì?
Phật học
là một phương pháp kiểm soát
tâm rối loạn, tâm vô kỷ luật,
để hướng dẫn nó đi từ
đau khổ đến hạnh phúc. Trong
một lúc nào đó, tất cả
chúng ta đều có một cái tâm
rối loạn, nhưng nếu chúng ta trau
dồi một sự hiểu biết
đúng đắén về bản
tính tự nhiên của tâm, thì
sự kiểm soát sẽ đến một
cách tự nhiên và chúng ta có
thể cởi bỏ được
những cảm xúc vô minh cùng
những đau khổ mà chúng
đã mang lại. Vì thế, không cần
biết chúng ta có tín ngưỡng
hay không có tín ngưỡng, theo
đạo hay không theo một tôn giáo
nào, dù là Thiên Chúa giáo,
Aán độ giáo hay là một khoa học
gia, dù là đen hay trắng, dù
người Đông phương hay
người Tây phương..., một điều
vô cùng quan trọng cần biết là
tâm của chúng ta là gì? nó
làm việc như thế nào?
Nếu chúng ta
không hiểu tâm của chúng ta, thì
tất cả những ý niệm sai lầm
của chúng ta sẽ ngăn cản không cho
chúng ta nhìn thấy được sự
thật. Mặc dầu chúng ta nói rằng
chúng ta đang thực hành giáo
lý tôn giáo này, tôn giáo kia,
nếu chúng ta thành thật khám nghiệm
sâu xa hơn nữa, chúng ta sẽ
thấy chúng ta chẳng theo một tôn
giáo nào cả. Hãy thận trọng!
Không có một tôn giáo nào
ngăn cấm chúng ta tìm hiểu bản
tính tự nhiên của chính chúng
ta, nhưng phần đông chúng ta chỉ
đổ xô đi tìm hiểu những
vấn đề như lịch sử tôn
giáo, giáo lý tôn giáo hay
những vấn đề triết học
mà quên hẳn đi vấn đề
tự tìm hiểu chính chúng ta là
gì, chúng ta hiện hữu như thế nào?
Thay vì dùng tôn giáo để
thực hiện những mục đích
như -làm việc
thiện, tự do nội tại, giải phóng
tâm, phúc lạc trường cửu-
họ lại chơi những đòn tiểu
xảo qua tôn giáo của họ như xây
dựng công danh, tích tụ tài sản
vật chất.
Nếu không
hiểu tâm của chúng ta tham gia vào
đời sống như thế nào
thì làm sao chúng ta có thể khám
phá ra phúc lạc vĩnh cửu cho
chúng ta? Phúc lạc thường hằng
ở đâu?
Nó không ở trong bầu
trời kia cũng không ở trong
rừng sâu, chúng ta không thể
kiếm nó trong không khí hay trong lòng
đất sâu. Hạnh phúc vĩnh
cửu đang nằm trong chúng ta, ở
bên trong nội tâm của chúng ta, nó
chính là tâm thức của chúng
ta. Đó là lý do vô cùng quan
trọng tại sao chúng ta phải nghiên
cứu, phải tìm hiểu tâm bản
nhiên của chính mình.
Nếu
những lý thuyết tôn giáo mà
chúng ta đã học không mang lại
phúc lạc cho đời sống
thường ngày của chúng ta, thì
mục đích chính của nó là
gì? Mặc dầu chúng ta vẫn
thường nói: “ Tôi đang
thực hành giáo lý tôn giáo
này, tôn giáo kia,” hãy kiểm
soát những gì chúng ta đã
làm, chúng ta đã hành động
như thế nào, chúng ta đã
khám phá được những
gì từ khi chúng ta theo nó?
Đừng sợ, hãy tự hỏi
mình trong từng chi tiết. Nó rất
có lợi ích vì nó sẽ cho
chúng ta những kinh nghiệm của riêng
chúng ta. Hãy thành thật tự hỏi
tất cả những gì chúng ta
đã làm, nếu không, chúng ta
sẽ không hiểu được chúng
ta đã làm như thế nào và
đã làm những gì? Và tôi chắc
chắn rằng chúng ta đã biết
tất cả, đã hiểu tất cả,
niềm tin mù quáng vào bất
cứ một tôn giáo nào sẽ
không bao giờ giúp chúng ta giải
quyết được những vấn
đề rắc rối của chúng ta.
Có rất
nhiều người trả lời
không được tự nhiên về
sự thực hành tâm linh của họ:
“ Dễ thôi, tôi đi chùa, đi
nhà thờ mỗi tuần. Thế là
đủ rồi! ” Đó không
phải là câu trả lời. Mục
đích của tôn giáo chúng ta theo
là gì? Chúng ta có câu trả
lời cho những câu hỏi, cho
những thắc mắc của chúng ta hay
không? hay đó chỉ là một
sự thực hành hời hợt,
thực hành cho có lệ? Chúng ta hãy kiểm
soát xem. Tôi không muốn diễu qúy
vị, tôi không muốn làm buồn
lòng qúy vị, nhưng chúng ta phải
biết chắc chắn rằng chúng ta
đang làm gì?
Chúng ta có đi lạc
đường không? chúng ta có
vào mê hồn trận không? hay chúng ta
đang đi đúng đường? Nếu con
đường chúng ta đang theo dạy
chúng ta hành động, khuyến khích
và hướng dẫn trực tiếp
chúng ta đến lãnh vực tâm linh
như phát triển trí tuệ, tình yêu
thương và lòng từ bi đến
muôn loài chúng sinh thì đó
thực là có gía trị, thật
là tuyệt hảo. Nếu không như vậy,
chúng ta chỉ mất thời giờ
vô ích.
Một tinh thần
bị ô nhiễm bởi những ý
niệm sai lầm thì nguy hiểm hơn là
ảnh hưởng bởi ma túy rất
nhiều. Tư tưởng sai lầm, thực
hành không đúng cách tạo nên
những căn bản sai lầm sâu
đậm trong tâm,
rồi cứ tiếp tục như vậy,
chúng ta mang ra áp dụng trong đời
sống từ thế hệ này qua thế
hệ khác. Điều đó cho chúng
ta thấy nó còn nguy hiểm hơn
những nguyên nhân vật chất rất
nhiều.
Tất cả
chúng ta, dù theo tôn giáo hay không theo
một tôn giáo nào, dù Đông
hay Tây, chúng ta đều muốn sống
hạnh phúc. Ai cũng tìm kiếm phúc
lạc, nhưng chúng ta có đi tìm
đúng chỗ hay không? Có khi hạnh
phúc ở đây, chúng ta lại
đi tìm ở kia. Hãy chắc chắn
rằng chúng ta đi tìm đúng
chỗ, đúng nơi.
Chúng ta nên
biết rằng những lời dạy
bảo của Đức Phật rất
gần với tâm lý học và triết
học hơn là những giáo
điều, những mơ tưởng cao
siêu của tôn giáo. Hình như
rất nhiều người quan niệm rằng
tôn giáo phần nhiều đòi
hỏi sự tin tưởng, nhưng nếu
việc thực hành tôn giáo của
chúng ta chỉ đặt trên lòng tin
thì đôi khi cũng chỉ vì một
lời nói nghi ngờ của bạn
bè như: “ Hãy thực tế, anh
chị đang làm cái gì trên qủa
đất này? ” là chúng ta sẽ
bị lung lay, gẫy đổ ngay: “ Trời
ơi, vậy là những gì tôi
đã làm đều sai hết rồi!
” Vì thế,
trước khi chúng ta quyết định
đi theo một con đường tâm linh
nào, chúng ta phải hiểu cho thấu
đáo, phải biết chắc mình
sẽ làm gì.
Tâm lý
học Phật giáo dạy rằng tất cả
những tình cảm bám víu vào
những rung cảm thế gian đều bắt
nguồn từ vật chất và từ
những rung động tinh thần. Năm
giác quan của chúng ta cung cấp
những dữ kiện cho tâm, kèm theo
sự rung cảm của chính nó, tất
cả những sự kiện này
được chia thành ba nhóm: hài
lòng (cảm thọ dễ chịu, lạc
thọ), bất mãn (không hài lòng,
cảm thọ khó chịu, khổ thọ) và
dửng dưng (cảm thọ trung tính,
không hài lòng cũng không bất
mãn). Những loại cảm xúc này
xẩy ra để đáp ứng
những kích thích của vật chất
hay tinh thần.
Mỗi khi
chúng ta kinh nghiệm (có) loại cảm
xúc hài lòng là tình cảm
bám víu xuất hiện liền theo
đó, rồi nó lắng đọng, khi
lòng ham muốn phát khởi, chúng ta
lại muốn kinh nghiệm (có) nó
nữa. Bản tính của cái tâm tham
này không bao giờ được
thỏa mãn, nó luôn luôn quấy
rầy sự yên tĩnh tinh thần của
chúng ta vì bản tính của nó
là náo động. Mỗi khi chúng ta kinh
nghiệm loại cảm xúc không hài
lòng, thì tự nhiên (một cách
rất tự nhiên) chúng ta không
thích và muốn chạy xa chúng; sự
kinh tởm, chán ghét liền phát
khởi (sân), nó lại quấy rầy
sự yên tĩnh tinh thần của chúng
ta. Mỗi khi chúng ta có thái độ
dửng dưng, chúng ta liền (rất
tự nhiên) bỏ qua những sự
kiẹân đang xẩy ra và không
muốn nhìn sự thật (si). Do đó, bất
cứ một loại tình cảm nào
khởi lên trong đời sống
hàng ngày của chúng ta -hài lòng, bất
mãn, dửng dưng- cũng đều
quấy phá sự yên tĩnh, như
vậy là có một tình trạng mất
cân bằng hay mất thanh tịnh hiện diện
ở trong tâm rỗng lặng của
chúng ta.
Như vậy,
sự khám xét những cảm
xúc riêng của chúng ta bằng cách
này sẽ chẳng liên hệ gì
đến vấn đề đức tin
một chút nào, phải không quý
vị? Cũng chẳng dính dáng gì
tới những người
Đông phương hay những
người trên dãy Hy Mã Lạp
Sơn. Đó chính là chúng ta,
sự việc của chúng ta, tâm của
chúng ta. Quý vị không thể bắt
bẻ những điều tôi vừa
trình bày bằng cách trả
lời: “ tôi không có cảm
nghĩ, không có ý kiến gì
cả.” Nó quá đơn giản
phải không quý vị?
Nói xa hơn,
có rất nhiều hành động tiêu
cực của chúng ta là những
phản ứng của tình cảm. Hãy
thử nhìn vào chúng ta, khi chúng ta
cảm thấy hài lòng về sự quen
biết với một vài người
hay một vài sự việc vừa ý,
hãy thành thật phân tích xem tại sao
chúng ta hài lòng. Sự cảm
thấy hài lòng đó không
phải ở những đối
tượng bên ngoài, phải không?
Nó ở trong tâm chúng ta. Tôi
chắc chắn rằng chúng ta đều
đồng ý sự hài lòng
này không phải ở bên ngoài
chúng ta. Vậy, tại sao chúng ta lại cảm
thấy như thế? Nếu chúng ta thí
nghiệm như vậy, chúng ta sẽ khám
phá ra rằng phúc lạc, đau khổ hay
tình cảm dửng dưng đều
ở trong tâm của chúng ta. Chúng ta
sẽ nhận ra rằng chính chúng ta
trực tiếp có trách nhiệm về
tất cả những cảm xúc mà
chúng ta kinh nghiệm và chúng ta không
thể đổ lỗi cho người
khác: “ anh ta làm tôi đau khổ,
cô ta làm tôi đau khổ, sự
việc đó làm tôi đau
khổ.” Chúng ta không thể đổ
lỗi cho xã hội về những vấn
đề của chúng ta, mặc dầu
chúng ta vẫn thường đổ
lỗi như vậy, phải không? Điều
đó không hợp lý chút
nào, không thật chút nào.
Có rất
nhiều người, ngay cả một số
tâm lý gia cũng nghĩ rằng chúng
ta có thể dập tắt những tình
cảm tham muốn bằng cách thay thế
chúng bằng những sự vật
khác hay người khác, như: “
nếu anh khổ vì vợ anh, chị khổ
vì chồng chị, hãy đi kiếm
người khác là hết khổ
ngay.” Điều đó không thể
được, chắc chắn không
giải quyết được gì. Nếu
chúng ta không hiểu tận gốc rễ
bản tính của tình cảm hài lòng,
của bất mãn và của tình cảm
dửng dưng, chúng ta sẽ không bao
giờ khám phá ra được
những căn nguyên cốt tủy của
những thái độ tinh thần của
chúng ta; nếu không khám phá ra
chúng, chúng ta sẽ chẳng bao giờ
dập tắt hoặc chuyển hóa
được những ngọn lửa
cảm xúc này.
Thí dụ,
Phật giáo dạy chúng ta nên cảm
nhận, nên gửi lòng từ bi,
tình yêu thương đến muôn
loài chúng sinh; làm sao chúng ta có
thể cảm nhận được
điều đó trong khi sự vô minh,
lòng kỳ thị đang hoành hành trong
tâm của chúng ta, mặc dù chúng ta
chỉ cảm nhận một cách kín
đáo, thầm lặng? Không thể
được, chúng ta không thể
làm được bởi vì tâm
chúng ta đang náo động. Với
một đối tượng mà chúng ta
đang say mê, đang có thiện cảm
với nó thì nó rất dễ
làm tăng cường độ hài
lòng, tăng sự vừa ý của
chúng ta lên, ngay chính chúng ta cũng
muốn những cảm xúc này tăng
lên. Khi chúng ta gặp được
đối tượng là tất cả những
tình cảm này diễn ra một cách
mãnh liệt, nồng nàn. Nhưng chúng ta
nên biết rằng
“cái-tâm-này” của chúng ta
không thể tăng theo như vậy được,
“cái-tâm-này” có giới
hạn, nó vô thường, nó
nhất thời, nó chóng qua, nó thay
đổi, nên chẳng bao lâu tình
cảm này sẽ tan vỡ. Lúc
đó, cũng một cách rất
tự nhiên, cái tâm không cân
bằng của chúng ta sẽ rơi vào
tình trạng bất an, hụt hẫng, đau
khổ, trầm uất. Chúng ta đã
tốn rất nhiều năng lực cho loại
tình cảm này, cũng như đã
tiêu phí rất nhiều sức
lực để chạy trốn nó,
chúng ta nên thấu hiểu sự kiện
này. Như vậy là chúng ta đã
đi đến đầu của một
cực điểm, đã mất cân
bằng. Chúng ta nên đi con
đường trung dung, trung đạo thì
cân bằng hơn.
Nếu nhìn vào
sâu hơn một chút, chúng ta sẽ
nhận thấy những loại tình cảm
này ảnh hưởng đến tất
cả những sinh hoạt, những xung
đột trên thế giới, từ
sự kiện hai đứa trẻ tranh nhau
một cục kẹo đến việc hai
đại cường đánh nhau vì muốn
có sự hiện diện của mình. Họ
gây chiến vì lý do gì vậy? Chỉ
vì một lý do: tình cảm ham muốn
vừa lòng. Ngay cả những
đứa bé còn rất trẻ
cũng nói rằng chúng đánh nhau
vì chúng muốn vui, muốn vừa
lòng.
Qua thiền
định, chúng ta sẽ nhìn ra
được sự thật này một
cách dễ dàng. Thiền định
sẽ phát hiện ra tất cả những
sự kiện này trong tâm của chúng
ta: tất cả những rác
rưởi, tất cả những
điều tốt, tất cả những
hiện tượng đều
được nhìn ra trong thiền
định. Đừng nghĩ rằng
thiền là kiếm một chỗ nào
đó, ngồi trong thế liên hoa rồi
chẳng làm gì cả. YÙ thức,
tỉnh thức trên tất cả mọi
vấn đề trong khi đi, trong lúc
làm việc, trong lúc nói chuyện, trong khi
đang ăn....vân vân.... đó là
thiền! Càng nhìn ra được
vấn đề này sớm bao nhiêu,
càng nhận ra được trách
nhiệm của chúng ta trong từng hành
động nhanh bấy nhiêu. Chính chúng ta
tự mang trách nhiệm trên tất cả
những tình cảm vui mà chúng ta
muốn cũng như những tình cảm
bực bội, bất mãn mà chúng ta
không muốn. Chẳng ai gây ra, chẳng ai
mang lại cho chúng ta cả, cũng như
chẳng ai kiểm soát chúng ta cả.
Chính chúng ta là chủ nhân của
tất cả những tình cảm đó.
Khi một tình
cảm vui chợt đến -như bản
tính tự nhiên của nó- rồi
nó lắng chìm xuống, làm cho
chúng ta buồn chán khi chúng ta muốn
nó trở lại mà không
được. Điều này chẳng
phải tại Chúa, chẳng phải tại
Phật, chẳng phải tại Krishna, cũng
chẳng phải tại một lý do bên
ngoài nào... Nó tại chính chúng
ta. Điều này khó phát hiện ra
phải không? Những người
có tâm mềm yếu thường
nghĩ rằng: “ Ồ, anh ta làm tôi
buồn qúa, cô ta làm tôi đau
khổ qúa! ” Những tâm hồn
yếu đuối thường đổ
lỗi cho người khác, vật khác.
Một điều hợp lý, theo tôi
nghĩ, chúng ta nên khám nghiệm
đời sống thường ngày
của chúng ta để nhìn ra
được những tình cảm
vật chất hay tinh thần khởi phát ra
như thế nào, đó là một
công việc vô cùng quan trọng và
hữu ích. Chúng ta luôn luôn học
hỏi, không có một giây phút
nào trong đời mà chúng ta
không học hỏi, không gặp những
điều mới lạ. Trong chiều
hướng đó, qua việc áp
dụng kinh nghiệm của riêng chúng ta,
chúng ta sẽ khám phá ra những
nguồn an lạc, những nguồn hạnh
phúc vĩnh cửu đang ở trong
tâm của chúng ta. Đáng tiếc thay,
những tâm hồn yếu đuối không
có được những nguồn
trí tuệ đó, chúng ta hãy
thực tập, chúng ta hãy nuôi
dưỡng, chúng ta hãy phát
triển những nguồn năng lực
này ra trong tâm của chúng ta.
Tại sao Phật
giáo Đại thừa lại dạy
chúng ta nên phát triển loại tình
cảm thanh tịnh, an bình này đến
muôn loài chúng sinh? Trong đời
sống thường ngày, chúng ta hay
có thói quen chọn một hành vi coi như
có vẻ đơn giản, một
“hạt-nhân-tí-hon”, một sự
kiện “đơn-giản-kinh-khủng”, chúng
ta nghĩ: “ cái này dành cho tôi,
đây là cái tốt nhất.”
Có phải chúng ta đang sáng tạo
một gía trị cực đoan một chiều:
chúng ta thêu dệt một gía trị
quá lố cho cái mà chúng ta
thích, đồng thời chúng ta tạo
ra một sự khinh miệt cho những cái
còn lại? Điều này không
tốt, hoàn toàn không tốt cho
sự an bình, cho sự cân bằng
của nội tâm. Thay vì như thế,
chúng ta nên kiểm chứng tư cách
của chúng ta: “tại sao tôi làm
như vậy? Đó
là một cái tâm gỉa dối, một
cái tâm ngã chấp đang che lấp,
đang đánh lừa tâm thức
của tôi! ” Rồi cùng với
sự thiền định về thanh
tịnh - tất cả
muôn loài chúng sinh cũng đều
muốn an tịnh và hạnh phúc - chúng
ta sẽ học cách làm giảm bớt
từ từ những bám víu
mạnh mẽ vào một đối
tượng hay giảm bớt những
bực bội với người
khác. Bằng cách này, chúng ta
có thể dễ dàng giữ tâm
của chúng ta cân bằng và khỏe
mạnh. Rất nhiều người đã
có kinh nghiệm này.
Do đó,
tâm lý học của Đức Phật
rất có lợi cho chúng ta trong
những sinh hoạt thường ngày
mà chúng ta phải đối diện
với, như những khổ đau và
rắc rối của cuộc sống. Hãy
nhớ rằng, mỗi khi tình cảm vui
tươi xẩy ra thì lòng ham muốn,
lòng khao khát thụ hưởng và
sự bám víu cùng xẩy ra một
lúc (tham); mỗi khi tình cảm bất
mãn (không hài lòng) xẩy ra thì
sự ganh ghét, sự bực tức
và sự nóng giận (sân) cũng
xuất hiện ngay ở đó và khi
tình cảm dửng dưng, hờ
hững xẩy ra thì vô minh và mù
quáng (si) cũng tràn ngập tâm
chúng ta ngay lúc đó. Nếu qua
bài diễn giảng này, qúy vị
có thể học hỏi được
một sự thật về sự phát
khởi của tình cảm ở trong
nội tâm chúng ta và làm thế
nào để phản ứng lại mỗi
khi nó xuất hiện thì đời
sống của chúng ta sẽ tinh tiến
hơn, sẽ vui tươi hơn và an lạc
hơn.
Qúy vị
có câu hỏi gì không?
Hỏi: Thưa Lạt ma, Phật
giáo luôn luôn nói về nghiệp,
nghiệp là gì?
Lạt ma: Nghiệp (karma) là
những kinh nghiệm của chúng ta qua
thân khẩu và ý. Đó là
một danh từ chữ Phạn, nó
có nghĩa là nhân qủa. Những
kinh nghiệm của chúng ta về những vui
buồn của tinh thần lẫn vật chất
là hậu qủa của một nguyên nhân
nào đó, nhưng chính những
hậu qủa này lại trở thành
nguyên nhân cho một kết qủa khác
trong tương lai. Một hành động (action)
sản xuất một phản ứng (reaction),
đó là nghiệp. Cả triết học
Đông phương cũng như khoa học
ngày nay đều giải thích rằng
tất cả sự vật đều có
một sự liên hệ nội tại. Nếu
chúng ta hiểu được điều
này, chúng ta sẽ hiểu
được nghiệp làm việc như
thế nào. Tất cả mọi hiện hữu,
dù bên trong hay bên ngoài, đều
không xẩy ra một cách không có
lý do; năng lực của tất cả
mọi hiện tượng bên trong hay bên
ngoài đều liên quan, tùy thuộc
lẫn nhau (duyên khởi). Thí dụ,
năng lực của thân xác chúng ta
có liên hệ đến năng lực
của thân xác cha mẹ chúng ta; năng
lực của thân xác cha mẹ chúng ta
có liên hệ đến năng lực
của thân xác ông bà chúng
ta...vân vân...Sự phát triển
nối tiếp này gọi là nghiệp.
Hỏi: Thưa ngài, niết
bàn là gì, có nhiều
người đạt được
không?
Lạt ma: Mỗi khi chúng ta
dồn hết năng lực vào sự
tập trung tại một điểm thì chúng
ta sẽ từ từ hóa giải
được những ngã chấp cho
tới khi chúng tan biến, hoà nhập
cùng với nhau. Tại thời
điểm đó, chúng ta sẽ chuyển
hóa được “cái tôi”
của chúng ta, đồng thời
chúng ta sẽ khám phá
được một sự bất diệt,
thường hằng, đó là
cảnh thanh tịnh, an lạc của tâm chúng
ta. Cảnh giới đó chúng tôi
gọi là niết bàn. Đã có
rất nhiều người đạt
được cảnh giới này
và cũng có
rất nhiều người khác
đang trên đường tiến
tới đó.
Hỏi: Trong niết bàn,
chúng ta có thoát ra khỏi thân
xác này không, phải chăng hình
thể con người biến mất?
Lạt ma: Không, chúng ta
vẫn còn hình thể, nhưng nó
không có một hệ thần kinh bấn
loạn, không có một hệ thần kinh
vô ý thức như chúng ta đang
có. Đừng qúa lo lắng, chúng
ta vẫn hiện hữu khi chúng ta
đạt cảnh giới niết bàn,
một cảnh giới hoàn toàn hạnh
phúc. Hãy cố gắng đạt
được cảnh này càng
sớm càng tốt.
Hỏi: Có phải
Đức Phật nói rằng Ngài
sẽ không tái sinh khi Ngài đã
nhập niết bàn?
Lạt ma: Có thể là
như vậy, nhưng Ngài có ý nói
gì đây? Ngài có ý nói
rằng Ngài sẽ không tái sinh
dưới sự lôi cuốn, ảnh
hưởng của nghiệp lực, đây
là con đường tái sinh vào
các cõi giới luân hồi như
chúng ta và các chúng sinh khác. Thay
vì như vậy, Ngài có thể tái
sinh một cách hoàn toàn
được kiểm soát, hoàn
toàn tỉnh thức với mục
đích duy nhất để cứu
độ chúng sinh.
Hỏi: Ngài đã
nói rất nhiều đến vấn đề lạc
thú và hạnh phúc, tôi đã
cố gắng hiểu hai vấn đề
này. Thưa ngài, chúng có giống
nhau không? Một người có thể
bám víu vào khoái lạc mà
không bám víu vào hạnh phúc
không?
Lạt ma: Chúng giống nhau,
chúng ta bám víu vào cả hai. Hãy
kinh nghiệm niềm hạnh phúc nhưng
đừng bám víu vào chúng.
Chúng ta nên hưởng hạnh phúc
trong khi hiểu thấu được bản
tính tự nhiên của chủ thể,
tâm chúng ta, của đối
tượng và của những tình
cảm này. Những người
đạt cảnh niết bàn có thể
làm được những việc
này.
Hỏi: Tôi muốn hiểu rõ
ràng vấn đề thiền của Phật
giáo. Thưa ngài, có phải như
là “ quan sát sự di chuyển,
sự chuyển hoá của tâm ?”
Lạt ma: Đúng, có
thể hiểu như vậy. Như tôi
đã trình bày trước
đây, thiền của Phật giáo
không chỉ có nghĩa là ngồi khoanh
chân, nhắm mắt. Một cách rất
đơn giản là chúng ta hãy theo
dõi, quan sát xem tâm của chúng ta phản
ứng như thế nào mỗi khi nó
đối diện với thế giới
cảm xúc; giống như một
người đang ngồi quan sát
những người đang đi siêu
thị, đang nói chuyện, đang mua hàng,
đang làm việc...vân vân....
Đó có thể là một sự
thiền định hoàn hảo mang lại
rất nhiều kết qủa.
Hỏi: Về vấn đề
tái sinh, cái gì tái sinh? Thưa
ngài.
Lạt ma: Khi chúng ta chết,
thần thức của chúng ta tách
rời khỏi thân xác, nó vào
một trạng thái trung gian (cõi trung ấm,
bardo) và từ đó nó sẽ
đi vào một thể vật chất khác.
Chúng ta gọi là tái sinh. Năng
lực tinh thần khác năng lực vật
chất. Năng lực vật chất thì
rất giới hạn trong khi năng lực
tinh thần thì liên tục không
ngừng.
Hỏi: Thần thức
có thể phát triển sau khi chết
không? hay nó chỉ có thể phát
triển trong đời sống mà nó
đang sống?
Lạt ma: Trong tiến trình
của sự chết, thần thức
của chúng ta tiếp tục, liên tục trôi chạy, như
dòng điện từ máy phát
điện cứ tiếp tục trôi
chảy đến từng nhà,
đến từng chiếc máy...vân
vân... nó chiếm cứ từng
sự vật khác nhau. Như vậy, nó
có thể phát triển ở cõi
trung gian.
Hỏi: Nếu vậy, tâm thức
có thể phát triển mà không
cần một thân xác?
Lạt ma: Có một cái
thân ở cõi trung gian, nhưng không
giống thân của chúng ta. Nó rất
nhẹ, đó là thể tinh thần.
Hỏi: Khi ngài tụng mật
chú, ngài có tập trung vào
những cơ quan trong người không?
hay chỉ tập trung vào tâm? Ngài có
tập trung vào những luân xa hay vào
những trung tâm năng lực không?
Lạt ma: Có thể là
như vậy, nhưng chúng ta cần nhớ
một điều là có rất nhiều
phương tiện, có rất nhiều
phương pháp khác nhau cho những
mục đích khác nhau. Đừng
nghĩ rằng Đức Phật chỉ
dạy, chỉ để lại một phương
pháp. Phật giáo có hàng ngàn,
hàng ngàn, không đếm hết
được, hàng ngàn cách
thiền định khác nhau, tất cả
chỉ với một mục đích là
để thích hợp với
từng căn cơ, từng khuynh
hướng của mỗi chúng sinh.
Hỏi: Có phải thần
thức phát triển trong lúc sống
và rời thân xác lúc chúng
ta chết là một phần của siêu
thần thức? như Thượng Đế
hay một loại thần thức siêu vũ
trụ nào đó?
Lạt ma: Không phải vậy,
nó rất bình thường, rất
đơn giản trong một chiều hướng
liên tục không ngừng với
tâm mà chúng ta đang có ngay bây
giờ. Sự khác biệt là nó
sẽ tách rời khỏi thân xác
và đi tìm một thân xác khác.
Ở cõi trung gian, nó chịu ảnh
hưởng, chịu sự kiểm soát
của nghiệp, ở đây rất
náo động, nên rất dễ có
những nhận xét lầm lẫn.
Chúng ta không thể gọi nó là
siêu việt tính được.
Hỏi: Thưa ngài, ngài
có quan niệm gì về một Atman (linh
hồn) hay một Brahman của Aán Độ
giáo ?
Lạt ma: Trong khi Aán Độ
giáo chấp nhận tư tưởng có
một linh hồn, thì Phật giáo không
chấp nhận chúng ta có một linh hồn.
Chúng tôi hoàn toàn không
đồng ý chúng ta có một linh
hồn độc lập, một tự ngã
hiện hữu, thường hằng,
bất biến. Tất cả những cảnh
giới của tâm và của thân
đều vô thường: thay đổi,
thay đổi và luôn luôn thay đổi....Phật
giáo cũng phủ nhận, không chấp
nhận có một hỏa ngục đời
đời kiếp kiếp. Tất cả
những đau khổ, tất cả
những khoái lạc mà chúng ta kinh
nghiệm được đều nằm trong
một thể liên tục chuyển biến
không ngừng nghỉ; rất thay đổi,
vô thường, luôn luôn chuyển
hóa, không bao giờ ngừng. Do
đó, chúng ta hãy nhận diện ra
những đặc tính tự nhiên hay thay
đổi của bất mãn trong
đời sống hàng ngày và
đừng bám víu vào những
gía trị vật chất, đó chỉ
là những đối tượng
cảm xúc nhất thời, tác
động trên những cơ quan xúc cảm
nhất thời của cơ thể,
để cho chúng ta những tình cảm
cũng nhất thời. Tất cả
những sự kiện đó
đều không có một gía trị
vĩnh cửu để chúng ta bám
víu vào, thay vào đó, chúng ta
hãy đi tìm những gía trị
thường hằng, phúc lạc trường
cửu trong sự giác ngộ hay trong
niết bàn.
Hỏi: Để giúp
những người Tây phương
cố gắng thực hành Phật Pháp
như người Đông phương,
ngài có nghĩ rằng họ cần
những nghi lễ đặc biệt không?
Lạt ma: Nó tùy thuộc
vào từng hoàn cảnh đểø
chúng ta áp dụng. Thiền định
Phật giáo không đòi hỏi
chúng ta phải kết hợp nó
(thiền) với những đối
tượng vật chất, chỉ có một
điều quan trọng duy nhất là tâm
của chúng ta. Chúng ta không cần
phải rung chuông hay phất cờ. Đó
có phải là ý của anh về nghi
lễ không? --(Dạ phải)-- Tốt, anh
không cần phải bận tâm qúa
về vấn đề này, nếu cần,
nó sẽ được áp dụng
giống nhau cho cả người Đông
phương cũng như người Tây
phương. Vì thế, có những
người cần những nghi lễ này,
có những người không
cần, mỗi người cần một
phương tiện khác nhau. Thí dụ, anh
đang đeo kính. Nó không quan trọng
nhưng có người không có
nó là không được. Cũng
giống như vậy, những tôn giáo
khác nhau trên thế giới giảng
dạy những phương pháp khác nhau
để thích hợp với khả
năng của mỗi người, với
trình độ hiểu biết khác nhau
của mỗi tín đồ. Vì thế,
chúng ta không thể tuyên bố:
“Đây là sự thật, tất
cả mọi người phải theo đạo
của tôi ! ”
Hỏi: Có cần một
phương pháp mới cho người
Tây phương không?
Lạt ma: Không. Theo tôi
nghĩ, chúng ta không cần một
phương pháp mới nào nữa.
Tất cả mọi phương pháp cần
thiết đã có rồi, chúng ta
chỉ cần tìm ra chúng.
Hỏi: Tôi đã cố
gắng tìm hiểu mối liên quan
giữa thân và tâm trong Phật
giáo. Phải chăng tâm quan trọng hơn
thân xác? Thí dụ, trường
hợp một số tu sĩ mật tông
tụng kinh bằng những âm điệu
rất cao, họ hát để khai mở
những trung tâm năng lực trong cơ
thể, vậy, thân thể quan trọng như
thế nào?
Lạt ma: Tâm quan trọng hơn
thân, nhưng có một vài phương
pháp thực hành thiền
được thăng tiến bằng
cách thực tập thân xác. Nếu
thân xác chúng ta bệnh tật, tâm
chúng ta cũng bị ảnh hưởng.
Như vậy chúng ta hãy cố gắng
giữ thân xác khoẻ mạnh luôn.
Nhưng nếu chúng ta chỉ lo săn sóc
thân thể mà thiếu sót trong vấn
đề tìm hiểu bản tính của
tâm thì đó là một
điều chẳng khôn ngoan chút nào,
nó không được cân bằng,
không thực tế. Tất cả chúng ta
đều đồng ý tâm quan trọng
hơn thân, nhưng chúng ta nên quan tâm
đến cả hai. Tôi biết có
rất nhiều người Tây phương
qua Đông phương để học hỏi,
khi họ biết có nhiều vị Lạt ma Du
gìa Tây Tạng sống trên những
đỉnh núi cao mà không cần
ăn, họ liền thốt ra: “ôi, tuyệt
diệu qúa! Tôi cũng muốn như
Milarepa!” Đó là một ý nghĩ
sai lầm. Nếu anh sinh ra là người
Tây phương, cơ thể anh đã
thích hợp với môi
trường sinh sống ở đây,
để được khỏe mạnh, anh chỉ
cần sống thích hợp với
những điều kiện anh đang có.
Hãy khôn ngoan, đừng qúa
cực đoan!
Hỏi: Có phải khi
mới sinh ra, tâm chúng ta hoàn toàn
trong sạch và vô tội?
Lạt ma: Như chúng ta
đã biết, khi mới sinh ra, tâm
chúng ta không qúa bận rộn với
những phiền phức trí
thức. Khi khôn lớn hơn, chúng
ta bắt đầu suy nghĩ. Do đó,
tâm chúng ta bắt đầu nhồi
nhét rất nhiều thứ: triết
học, tôn giáo, cái này cái kia,
cái này tốt cái này xấu,
tôi nên có cái này tôi
không nên có cái kia; chúng ta
thông minh hoá tất cả mọi vấn
đề một cách qúa độ,
chúng ta dồn vào tâm toàn rác
rưởi. Những cái đó
làm cho tâm chúng ta càng ngày
càng trở nên tồi tệ. Lại
nữa, điều đó không có
nghĩa là chúng ta sinh ra hoàn toàn
trong sạch và tất cả những
điều tồi tệ kia đều là
kết qủa của công việc học
đòi trí thức. Nó hoàn
toàn không có nghĩa như vậy. Tại
sao? Bởi vì
nếu ngay từ ban đầu chúng ta
không vô minh, không bám víu thì
bất cứ loại rác rưởi
nào đến cũng không thể lọt
vào tâm chúng ta được.
Đáng tiếc thay, chúng ta đã không
như vậy. Từ căn bản, chúng ta
không những mở cửa cho tất
cả mọi loại rác rưởi vào
mà chúng ta còn cắm bảng
đón chào chúng một cách
rất nồng nhiệt. Thế rồi với
thời gian, càng ngày càng nhiều
rác rưởi thấm nhập vào
tâm của chúng ta. Do đó, chúng ta
không thể nói rằng một
đứa trẻ sinh ra là hoàn toàn
trong sạch. Điều đó sai.
Đứa bé vừa mới
chào đời đã bật lên
tiếng khóc, bởi vì chúng có
cảm giác. Khi một cảm giác không
vừa ý xẩy ra - có thể vì
đói, đòi sữa mẹ- là
chúng khóc.
Hỏi: Chúng ta biết
thần thức di chuyển từ thân
này qua thân khác, từ
đời này qua đời khác,
đó là một sự di chuyển
liên tục không ngừng nghỉ, vậy
tại sao chúng ta không nhớ
được những kiếp
trước của chúng ta?
Lạt ma: Có lẽ có
qúa nhiều tin tức về chợ,
về thị trường, về siêu
thị... dồn vào tâm chúng ta làm
chúng ta quên đi những kinh nghiệm
của kiếp trước chăng? Mặc
dầu khoa học nói rằng bộ óc
của chúng ta có giới hạn nên
những dữ kiện mới
tới sẽ khai trừ những
dữ kiện cũ. Họ nói vậy
nhưng không hoàn toàn đúng.
Vấn đề căn bản là tâm
của con người thường vô
ý thức, vô minh, không tỉnh
thức, lại có qúa nhiều lo
lắng, bận bịu về những vấn
đề mới nên chúng ta quên
đi những chuyện cũ. Hãy
thử ôn lại trong tháng vừa qua,
những gì đã xẩy ra,
những cảm xúc nào, những
tình cảm nào đã xẩy ra trong
từng ngày? Chúng ta không nhớ
nổi phải không? Hãy kiểm chứng
xa hơn một chút nữa về qúa
khứ, về thời gian mà chúng
ta mới chỉ có một vài bộ
phận nhỏ xíu trong bụng mẹ; rồi
lại trở về xa hơn nữa, xa
hơn nữa... Khó qúa phải không
qúy vị? Nhưng
nếu chúng ta cứ cố gắng
thực tập như vậy, từ từ,
từ từ, tiếp tục từ
từ, từ từ kiểm chứng
trong tâm của chúng ta, thì một lúc
nào đó chúng ta có thể
nhớ được những kinh
nghiệm của chúng ta từ những
kiếp trước.
Có rất
nhiều người trong chúng ta kinh nghiệm
được những hành động
lạ lùng, khác thường hoặc
những phản ứng mà chúng ta
chưa hề học, chưa hề biết qua.
Những sự kiện này chứng minh
một điều là có những
vấn đề mà chúng ta hoàn
toàn không có một căn bản
hiểu biết nào trong hiện tại. Trong
những lúc đó, chúng ta
thường hay nói: “ thật là
lạ lùng, tại sao tôi lại phản
ứng được như vậy, tại sao
tôi lại hành động
được như vậy, tôi hoàn
toàn không có ý kiến gì
về những điều xẩy ra
đó.” Những điều
đó xẩy ra vì chúng ta đã có
kinh nghiệm trong những kiếp
trước. Tâm lý học ngày nay
không thể giải thích được
những hiện tượng này vì
họ không hiểu sự liên tục
của tinh thần, bản tính tự nhiên
không có khởi đầu của
tâm mỗi cá nhân. Họ không
hiểu được những phản
ứng tinh thần có thể là kết
qủa của những rung động
đã phát ra từ hàng ngàn,
hàng ngàn năm về trước.
Nếu chúng ta tiếp tục theo dõi tâm
qua việc thiền định, chúng ta có
thể hiểu được tất cả
những sự kiện này qua kinh nghiệm
riêng của mỗi người chúng ta.
Hỏi: Phải chăng biết
được qúa khứ là một
điều không tốt? Nó có
quấy rầy, có ảnh hưởng
đến đời sống hiện tại
không?
Lạt ma: Nó có thể
là những kinh nghiệm tốt mà
cũng có thể là những kinh
nghiệm xấu. Nếu chúng ta biết
được kiếp trước,
đó là một điều rất
tốt. Bị ảnh hưởng là do
vô minh. Chúng ta nên cố gắng tìm
hiểu tất cả những đặc
tính tự nhiên của những hiện
tượng xấu, của những sự
kiện tiêu cực. Khi làm như vậy,
những rắc rối, những vấn
đề sẽ được giải
quyết ngay. Hiểu được bản
tính của sự kiện, hiểu
được những căn nguyên
của sự kiện thì sẽ chặn
đứng được những
hậu qủa mà nó mang lại. Do
đó, hiểu đúng là một
phương thuốc tốt nhất để
diệt trừ mọi rắc rối của
cả thân và tâm. Chúng ta hãy
luôn luôn tỉnh thức trong tất
cả mọi hành động của chúng ta:
nó có đem lại hạnh phúc cho
chúng ta không? Trách nhiệm này vô
cùng quan trọng, qúy vị có
đồng ý như vậy không?
Đây là sự chọn lựa: đi
con đường trí tuệ hay đi con
đường vô minh?
Hỏi: YÙ nghĩa của
đau khổ là gì?
Lạt ma: Một tinh thần loạn
động là đau khổ, bất mãn
là đau khổ. Thực ra, điều quan
trọng là nên tìm hiểu những
cấp độ khác nhau của sự
đau khổ, một số người
nói rằng: “tại sao Đức
Phật nói mọi
người đều đau khổ mà
tôi lại hạnh phúc qúa!” Khi
Đức Phật nói về khổ
đau, Ngài không có ý nói
về cái đau của vết thương hay
những kiểu đau tinh thần mà
chúng ta thường gặp. Chúng ta
nói rằng chúng ta hạnh phúc, nhưng
nếu tìm hiểu sâu hơn một chút,
chúng ta sẽ tìm thấy rất nhiều
điều không vừa ý, rất
nhiều bất mãn đang chồng chất
trong tâm của chúng ta. Nói một
cách đơn giản, theo quan điểm
của Phật giáo thì tất cả
những sự kiện không
được kiểm soát bởi
tâm đều mang lại đau khổ. Cái
đau của tinh thần thì khổ gấp
nhiều lần cái đau của thể
xác, đó là một sự thật!
Do đó, khi Phật giáo nói về
đau khổ, nó nhấn mạnh đến
lãnh vực tinh thần hơn là vật
chất, đó là lý do tại sao
Phật giáo luôn luôn đặc biệt
chú trọng đến những vấn đề
căn bản tâm lý trong việc thực
hành Phật Pháp. Phật giáo dạy
về bản tính tự nhiên của
khổ đau trong lãnh vực tinh thần và
dạy những phương pháp chế
ngự nó cũng như tẩy trừ
nó.
Hỏi: Chúng ta ai cũng
có kinh nghiệm về khổ đau mà
tại sao chúng ta không học hỏi
được gì về những kinh
nghiệm đó?
Lạt ma: Điều đó
qúa dễ hiểu, phải không? Tại sao
chúng ta khổ? Bởi vì chúng ta tham
gia vào những hành động vô
minh, vô ý thức và chỉ biết
tranh giành, bám víu. Nếu chúng ta
biết được khổ đau
đến từ đâu và biết
chính xác cái gì làm chúng ta
đau khổ thì chúng ta sẽ học
hỏi được nó. Trong những
kiếp dài vô tận, chúng ta
đã có biết bao kinh nghiệm, nhưng
chúng ta vẫn chẳng học
được bao nhiêu. Rất nhiều
người thường tự hào
họ đã học được rất
nhiều kinh nghiệm nhưng thực sự
họ chẳng học được gì.
Họ có cả một kho tàng kinh nghiệm
vô tận trong vô thức nhưng họ
vẫn chẳng biết gì về bản
tính chân thật của tâm họ.
Hỏi: Tại sao chúng ta
có cơ hội để bám víu?
Lạt ma: Bởi vì chúng
ta mơ tưởng hão huyền; chúng ta
không nhìn ra được sự
thật của cả chủ thể lẫn
đối tượng. Mỗi khi chúng ta
thấu triệt được bản tính
tự nhiên của vật (đối
tượng) bị bám víu thì cái
tâm bám víu (chủ thể) sẽ
tự động biến mất. Tâm
bám víu là một cái tâm
đầy sương mù che phủ, nó
bị lôi cuốn, bị hấp dẫn
bởi những đối tượng,
từ đó nó tạo ra những
dự phóng không thực, tạo ra
những giấc mộng không bao giờ
đến (vọng tưởng), điều
đó làm chúng ta khổ. Tất
cả chỉ là như vậy, qúa đơn
giản! phải không qúy vị?
Hỏi: Tôi có
được chứng kiến những
cảnh thần linh của người Tây
Tạng xuất hiện, mặc dầu trông họ
có vẻ hung bạo nhưng họ không
giống ma qủi. Điều này làm
tôi ngạc nhiên, phải chăng Phật
giáo chú trọng đến ma qủi
và những hình ảnh xấu?
Lạt ma: Phật giáo không bao
giờ chú trọng đến sự
hiện hữu ngoại tại của ma qủi. Ma
qủi là những phóng chiếu của
chính tâm chúng ta. Nếu ma qủi có
thực, hiện hữu, thì nó
đến từ tâm của chúng ta.
Không có một con qủi thực nào
ở ngoài đời. Những
vị thần hung bạo là sự thị
hiện của trí giác ngộ, với
mục đích giúp những
người không kiểm soát
được sự hung dữ của
chính họ. Trong thiền định, một
người có tâm nóng giận
sẽ chuyển hóa sự nóng giận
vào trí tuệ, khi đó nó
được quán tưởng như
một vị thần hung bạo; như vậy năng
lực của sự nóng giận sẽ
được tiêu hóa bởi
trí tuệ. Tóm lại, đó là
tất cả sự thực hiện, sự
làm việc của phương pháp!
Phương pháp chuyển hóa là như
vậy !
Hỏi: Ngài cảm thấy
thế nào khi một người phải
giết người vì tự vệ? Ngài có nghĩ
rằng con người có quyền bảo
vệ chính họ, ngay cả việc xâm
lấn vào mạng sống?
Lạt ma: Trong hầu hết
các vụ giết người đều
lấy lý do tự vệ, đó vẫn
là hành động của một cái
tâm không kiểm soát được
sự nóng giận. Chúng ta vẫn có
thể bảo vệ chúng ta một cách
tốt đẹp mà không cần phải
giết người. Thí dụ, nếu anh
tấn công tôi, tôi có trách
nhiệm phải bảo vệ, nhưng tôi không
giết anh.
Hỏi: Nếu giết tôi
là một phương cách duy nhất
để ngài có thể ngăn cản
hành động của tôi, ngài có
thực hiện không?
Lạt ma: Nếu vậy thì
tốt hơn anh hãy giết tôi.
Nếu không
còn một câu hỏi nào nữa, xin
kính chào qúy vị và cũng xin
cám ơn qúy vị rất nhiều.
Lama Yeshe thuyết
giảng tại Christchurch, New Zealand, ngày 14 tháng
6 năm 1975
MUỐN GIẢI THOÁT: HÃY
TỰ CHỮA BỆNH TÂM
Nguyên tác
Becoming your own therapist của Lama Yeshe,
do Trung Tâm Lama
Yeshe Wisdom Archive xuất bản.
Vô Huệ
Nguyên dịch.
Email: vohuenguyen@yahoo.com
XIN
HỒI HƯỚNG TẤT CẢ CÔNG
ĐỨC ĐẾN MUÔN VÀN
CHÚNG SINH TRONG MƯỜI PHƯƠNG PHẬT
VÀ MƯỜI PHƯƠNG BỒ TÁT,
CON KHÔNG GIỮ LẠI MỘT CHÚT GÌ
CHO RIÊNG CON.