Trang nhà Quảng Đức.com
Tập "Mười Ngày Thiền Tập" được phát hành nhân dịp lễ lạc thành Thích Ca Thiền Viện, ngày 23 tháng 3 năm 1997 (Rằm tháng 2, năm Đinh Sửu).
Tập sách gồm những bài pháp do Ngài Thiền Sư Khippapanno Kim Triệu ban giảng trong khóa thiền thứ 21 Mùa Đông 1986, được tổ chức tại Chùa Kỳ Viên, Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ. Những bài pháp này vừa có tính cách dẫn giải, khuyến tu cho các thiền sinh, vừa mang chứa những lợi lạc thiết thực đến thân tâm cho tất cả chúng ta.
Tập sách được hoàn thành do nhờ công sức cùng sự nhiệt tình bền bỉ của cô Tâm Thuận và bạn hữu.
Thiền viện xin chân thành tri ân đến tất cả.
Thích Ca Thiền Viện
Thiền sư Khippapanno Kim Triệu sanh tại làng Phương Thạnh, tỉnh Trà Vinh, Việt Nam vào ngày 5 tháng 12, năm 1930. Từ lúc tuổi thơ, Ngài đã được cụ bà thân sinh có nhiều đạo tâm thường dẫn đi chùa và khuyến khích làm quen với nếp sống ở chùa. Nhưng chẳng may Cụ Bà qua đời vào năm Ngài vừa lên chín, rồi vài năm sau, lúc Ngài được mười hai tuổi, Cụ Ông cũng mãn phần.
Ngài Kim Triệu xuất gia Sa-di lúc được 17 tuổi, và từ lúc bấy giờ đã có ý thích tìm hiểu và học tiếng Pàli, nghĩ rằng đó là ngôn ngữ mà chính Đức Phật đã dùng để truyền bá Giáo Pháp. Vào năm 1949, ngày 11 tháng 5, Ngài thọ Cụ Túc Giới, xuất gia Tỳ-khưu tại Cao Quý Tự, Phương Thạnh, Trà Vinh (lúc bấy giờ đổi tên là Vĩnh Bình). Thầy Bổn sư cho Pháp Danh là Khippa-Panno (có nghĩa là Thiện Trí hay Tốc Trí), thường được gọi là Sư Panno, hoặc Sư Kim Triệu.
Năm 1950, Ngài học đạo tại chùa Giác Quang, Bình Đông, Chợ Lớn, và năm 1956 nhập Hạ tại Kỳ Viên Tự, Bàn Cờ, Sàigòn.
Năm 1957, Ngài học Pàli và giáo lý tại Chùa Tam Bảo Tự, do Ngài Đại Đức Giới Nghiêm và Ngài Đại Đức Shanti Bhadra, người Tích Lan hướng dẫn.
Năm 1958, Ngài Đại Đức Giới Nghiêm, lúc bấy giờ là Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam, phái Ngài đến chùa Phước Quang, Bình Định, dạy đạo. Cũng như ở các nơi khác, Ngài luôn luôn hợp tác với chư vị thiện tín địa phương thành lập đoàn Nhi Đồng, dạy kinh điển và giáo lý cho trẻ em.
Vào cuối năm 1958, nhân dịp Phật Học Viện Pháp Quang, Gia Định, khai giảng lớp Giáo Lý và Pàli, Ngài trở về tu học, nhận bằng cấp danh dự Sơ Đẳng Pàli và bằng cấp Trung Đẳng Phật Học, và lưu lại đây phụ dạy văn phạm Pàli và kinh kệ.
Từ năm 1962 đến năm 1964, Ngài tu học tại chùa Bửu Quang, xã Tam Bình, quận Thủ Đức. Năm 1964, Ngài được Viện Đại Học Nalanda, Ấn Độ, cấp học bổng đi tu học với nhiều giáo sư Ấn Độ, Tích Lan, Miến Điện. Đến năm 1970, Ngài đỗ bằng Pàli Acharya (giáo sư dạy môn Pali), bằng B.A. Phật Học, và bằng M.A. Pàli. Sau đó, Ngài theo học lớp Cổ Sử Ấn Độ tại Đại Học Maghadh.
Năm 1974, Ngài sang Thái Lan hành đạo 6 tháng. Năm 1975, một người Phật tử Mỹ tên Larry Gregory cung thỉnh Ngài sang Nepal, gần thành phố Kathmandu, dạy 7 khóa thiền trong thời gian 7 tháng. Năm 1979, Ngài trở lại đây lần thứ hai để mở một khóa hành đạo 10 ngày.
Từ năm 1975 đến năm 1979, trong hai nhiệm kỳ với nhiệm vụ phụ tá Tổng Thư Ký Trung Tâm Thiền Định Quốc Tế tại Bồ Đề Đạo Tràng, Ngài phụ giúp việc xây cất Trung Tâm. Vào năm 1978, Ngài theo học đạo và hành thiền tại Bồ Đề Đạo Tràng và Pondichery với Ngài Tuang Pulu Kaba Aye Sàyadaw, một vị cao tăng người Miến Điện. Trong hai năm 1978-1979, Ngài nhập hạ tại Asoka Mission Vihara, New Delhi và trong thời gian này, tiếp tay với hội Phật Tử Việt Mỹ tại Hoa Thịnh Đốn, cứu trợ đồng hương tại Ấn Độ.
Vào tháng 7 năm 1980, Ngài sang Ngưỡng Quang (Miến Điện) thực hành pháp Tứ Niệm Xứ trong sáu tháng dưới sự hướng dẫn của Ngài Đại Đức Mahasi Sàyadaw, và gặt hái nhiều thành quả khả quan.
Từ năm 1976, theo sự khuyến khích của Ngài Đại Đức Ghosananda, Ngài Kim Triệu theo học với nhiều vị Thiền Sư nổi tiếng tại Ấn Độ như Ngài Shree Acharya Anagarika Munindra, Ngài Goenkar, Ngài Rastrapal, Ngài Tuang Pulu Kaba Aye Sàyadaw, và sau cùng sang Miến Điện được duyên lành thọ huấn với Ngài Mahasi Sàyadaw.
Theo lời mời của Cụ Bà Lê Thành Nghiệm, Hội Trưởng Hội Phật Tử Việt Mỹ tại Hoa Thịnh Đốn, Ngài Kim Triệu sang Mỹ vào năm 1981 và lưu ngụ tại Chùa Kỳ Viên, Hoa Thịnh Đốn. Tại nơi đây, từ năm 1982 đến nay, ngoài những buổi lễ hàng tuần và những buổi thiền tập theo nghi thức thường lệ, mỗi mùa -- Xuân, Hạ, Thu, Đông -- Ngài Thiền Sư Kim Triệu mở một khóa thiền 10 ngày.
Các chùa ở tiểu bang khác, tùy duyên, cũng thỉnh Ngài đến hướng dẫn những khóa thiền như: Chùa Pháp Vân, Pomona, CA; chùa Lake Wood (người Cam Bốt), Long Beach, CA; Tu Viện Kim Sơn, CA; chùa Veluvana, AL; chùa Taung Pulu Kaba Aye (người Miến Điện), CA; Chùa Phật Ân, MN; Như Lai Thiền Viện, San Jose, CA; v.v... Các nhóm Phật tử đó đây thỉnh thoảng cũng cung thỉnh Ngài đến dạy thiền.
Trong những năm 1990-1992, chùa Phật Bảo tại Savigny-Sur-Orge, Pháp, Thích Ca Thiền Viện tại Saint Agnan, Pháp, các nhóm Phật tử tại Paris và các vùng phụ cận, cung thỉnh Ngài Kim Triệu sang Pháp mở những khóa thiền.
Năm 1994, nhân dịp cung nghinh Tam Tạng Kinh về Pháp Bảo Tự, Mỹ Tho, Việt Nam, theo lời thỉnh cầu của vị Viện Chủ Phước Sơn Thiền Viện, tỉnh Đồng Nai, Ngài hướng dẫn một khóa thiền tại đây.
Nhận thấy thành quả tốt đẹp của những khóa thiền do Ngài Khippapanno Kim Triệu hướng dẫn và nhu cầu cần được đáp ứng của đồng bào Phật Tử địa phương, vào năm 1986, quý vị Phật tử vùng California cung thỉnh Ngài đứng ra sáng lập một đạo tràng để tu tập, và ngày 15 tháng 7 năm 1988, ngôi Thích Ca Thiền Viện, Riverside, bắt đầu hoạt động. Từ đó, tại đây hằng năm, mỗi mùa đều có một khóa thiền.
Vừa hoạt động vừa mở mang cơ sở, công trình xây cất Thích Ca Thiền Viện phần lớn đã hoàn tất viên mãn và Lễ Lạc Thành được cử hành vào ngày 23 tháng 3, năm 1997
Ngày Thứ Nhất
Hôm nay là bắt đầu khóa thiền mùa Đông năm 1986 (năm thứ ba của quý vị). Sư lấy làm hoan hỷ thấy quý vị có đạo tâm, có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo.
Kiểm điểm sự thực hành của quý vị, thiền sinh nào cũng có tiến bộ, hiểu rõ như thế nào là Thiền Quán hoặc Minh Sát Tuệ, và như thế nào là Thiền Chỉ. Khi đã biết rõ và biết cách tu niệm, thì hành giả lại càng nên tinh tấn thêm, không thối chí. Tinh tấn hành trì cho đến khi nào đức tin của quý vị không còn thay đổi. Tới lúc đó, dù quý vị không hành, thì nhiệm vụ Pháp Bảo vẫn hướng dẫn quý vị đến nơi đến chốn. Đó là mục đích chung của hành giả ở trên thế gian này.
Đức Phật thường gọi "đệ tử của Như Lai" là những người có đức tin không thay đổi. Như thế nào gọi là đức tin không thay đổi? Đó là đức tin không thay đổi về Tam Bảo. Biết rõ có Phật thật, có giáo lý rõ ràng của Ngài và thực hành theo các lời dạy đó. Những vị này cũng được gọi là những vị Tăng chân đế vì họ đã chứng nghiệm rõ Vô Thường, Khổ Não, Vô Ngã, cũng như thấy rõ Tứ Diệu Đế. Được vậy là chúng ta không uổng công sinh ra làm người, cũng như không uổng công làm người Phật tử.
Mục đích của hành giả đến đây trong 10 ngày của khóa thiền là để có tâm định và tạo trí tuệ. Vì vậy khi đến đây, với một đức tin vững chắc trong nội tâm, chúng ta xin cúng dường Đức Phật về vật chất cũng như tinh thần. Về vật chất, quý vị bỏ tất cả công ăn việc làm trong 10 ngày. Về tinh thần, quý vị đến đây để rèn luyện tâm. Sự cúng dường bằng hành động tu tập này là cúng dường quý báu nhất trên thế gian.
Việc hành đạo như vậy không phải là dễ. Mỗi khi chúng ta đi hành thiền, nói là trong 10 ngày nhưng không phải trọn đủ 10 ngày. Ngày thứ nhất kể như mất vì tâm vẫn còn bận rộn như ở nhà. Tâm ta cần một thời gian tu tập mới yên định được. Ngày cuối, gần về nhà thì tâm chúng ta bận rộn trở lại. Vì vậy, có thể xem như chúng ta hành thiền đầy đủ chỉ có trong 8 ngày thôi. Dù chỉ 8 ngày, quý vị cũng sẽ thấy một vài kết quả của sự thực hành. Đức Phật dạy rằng nếu hành giả có duyên lành trong Phật Pháp, tinh tấn hành trì chỉ trong 7 ngày thôi là được đắc đạo quả bậc A-La-Hán hay A-Na-Hàm (Bất Lai). Nếu có duyên lành ít hơn thì đắc đạo quả thấp hơn, v.v... Vậy, ta thấy có quả báu thật sự của công phu hành đạo và ta nên hết lòng tin tưởng thực hành trong những ngày còn lại trong khóa thiền này.
Việc thực hành ở xứ này rất là khó, không phải như ở những xứ Phật Giáo Á Đông. Ở đó, muốn đi tu tập rất là dễ. Nhưng ở xứ này như quý vị cũng biết, mỗi lần đi là mỗi lần khó khăn, mà mỗi 3 tháng mới đi được một lần. Vì vậy, quý vị phải tinh tấn và tranh đấu với thời gian còn lại, đừng cho hao mất. Căn bản của sự thực hành là gì? Đức Phật chỉ con đường đi đến Niết-Bàn rất rõ ràng, và Ngài để lại một cái thang rất đẹp có 3 nấc: Đó là Giới, Định, và Huệ. Chúng ta đến đây thực tập là để phát triển Định và Huệ. Làm sao phải định tâm và phát triển trí huệ cho được, phải thấy rõ chân tướng của vạn vật. Đức Phật chỉ cho chúng ta phương pháp để Định tâm và khi Định tâm rồi, chúng ta sẽ có Huệ.
Trước khi hành thiền, chúng ta cần phải có Giới. Giới giúp thân và khẩu trong sạch. Khi thân và khẩu trong sạch thì tâm mới Định được. Tại sao vậy? Vì tâm định trong thân. Thân sạch, khẩu sạch mới làm nền tảng cho tâm Định được. Vì vậy khi mới vào khóa thiền, sau khi lễ Phật, quy y Tam Bảo là quý vị thọ trì giới đức. Khi Giới trong sạch rồi, tâm nhẹ nhàng thì Định sẽ phát sanh, tiếp theo là Huệ phát sanh. Nếu không giữ Giới đức, tâm sẽ có nhiều trạo hối và không Định được. Khi không Định được thì sẽ không bao giờ có Huệ. Chắc chắn như vậy. Khi Giới trong sạch, rồi Định Huệ lần lần sanh lên thì quý vị thấy rõ chân tướng trên thế gian này. Vì vậy, Giới là quan trọng.
Làm thế nào cho Giới được trong sạch? Trong bộ Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo), tác giả Đại Đức Buddhaghosa đã dành một phần lớn để nói về Giới. Ngài nói: Giới là cao thượng, Giới là trong sạch, Giới là nền tảng, Giới là đầu. Đức Phật dạy tất cả những con sông lớn tại xứ Ấn Độ là sông Yamuda, Sarapu, Saravati, Achiravati, hoặc con sông cao thượng nhất là Maghi cũng không thể tắm gội cho sạch những người không có Giới, cũng không có dầu thơm hoặc trầm hương nào có thể gội rửa sạch cho những người không có Giới. Chỉ có Giới mới rửa sạch thân ác và khẩu ác của chúng sanh. Người không có Giới bị thế gian khiển trách và tâm không được an vui. Giới giúp người có của cải. Giới có khả năng đưa hành giả đi đến các cõi Thiên, và tiếp tục đưa hành giả đi tới Niết Bàn. Cho nên, thọ trì Giới luật là nền tảng cho sự thực hành.
Ngày đầu tiên trong khóa thiền, quý vị thọ Ngũ Giới, Bát Giới, hoặc Thập Giới. Ngũ Giới là Giới căn bản, là luân lý trên thế gian này. Dù Đức Phật có ra đời hay không, khi có chúng sanh thì tự nhiên có Ngũ Giới trong xã hội. Ngũ Giới gồm: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.
1) Không sát sanh là không giết hại từ loài người đến các loài súc vật.
2) Không trộm cắp là không lấy những vật gì không cho mình.
3) Không tà dâm là giới thứ ba.
4) Không nói dối là phải luôn luôn nói lời chân thật. Giới này rất khó giữ, nên ở các trung tâm thiền, thiền sinh phải tịnh khẩu. Dù cho đàm luận giáo lý giữa các thiền sinh, cũng không được làm. Vì nếu thiền sinh chưa phải là bậc thánh nhân, vẫn còn phiền não, thì khi nói quá lâu, tâm thiền sinh sẽ không được trong sạch.
Ngoài những bậc thánh nhân đã đắc đạo quả cao thượng, chỉ có hai hạng người không nói dối. Thứ nhất là Đức Bồ Tát. Dù có hạĩi đến sanh mạĩng đi nữa, Ngài cũng không bao giờ nói dối. Đức Bồ Tát có thể phạm giới sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nhưng không khi nào phạm Giới nói dối. Khi hỏi Ngài: "Vậy chớ Ngài có sát sanh không?" Ngài trả lời: "Dạ tôi có." Vậy là Ngài không nói dối.
Hạng chúng sanh thứ nhì cũng giữ Giới không nói dối được trong sạch là gia quyến của Đức Phật. Khi Đức Thế Tôn còn tại thế, dòng họ Thích Ca bị hoàng tử Vidũdabha tru diệt. Hoàng tử cho quân lính xét hỏi từng người, nếu ai thuộc dòng Thích Ca sẽ bị giết, nhưng dù chết không một ai nói dối. Họ đều thừa nhận là họ thuộc dòng Thích Ca.
5) Giới thứ năm là Giới không uống rượu và dùng các chất say như thuốc phiện, xì ke, ma túy.
Đây là Ngũ giới, là Giới căn bản nhất của hành giả. Ít nhất, quý vị phải có ngũ giới. Bằng không, vì thân và khẩu không trong sạch, tâm không thể nào định được.
Ngũ giới là Giới
luân lý. Sau khi Đức Phật thành
đạo và bắt đầu hoằng pháp,
còn có những Giới khác nữa. Sở
dĩ Đức Phật đặt thêm các
Giới sau này vì Ngài thấy Giới về thân
và khẩu liên quan đến tâm.
Nếu giữ thân và khẩu trong
sạch thì tâm ít phiền não,
nhẹ nhàng. Và khi tâm được
nhẹ nhàng thì ít nghĩ đến vấn
đề phá Giới. Vì vậy có Bát
quan trai Giới và những Giới khác nhằm
mục đích giúp cho thân khẩu thanh
tịnh hơn nữa.
Bát quan trai Giới có
thêm 3 điều:
- Một là không ăn
sái giờ. Quý vị ăn trước ngọ,
lúc 11 giờ, trễ lắm là 11:30 giờ
sáng.
- Hai là không múa hát,
thổi kèn, đờn, xem múa hát, nghe
đờn kèn, trang điểm, thoa vật thơm,
dồi phấn và đeo tràng hoa.
- Ba là không nằm ngồi nơi
quá cao và xinh đẹp. Ở xứ Mỹ
khác hơn ở Á Châu. Ở xứ ta,
nếu có giường như vậy là sang
trọng; nhưng ở Mỹ hình như đây
là tiêu chuẩn bình thường. Ta thông
cảm vậy.
Thêm vào đó, giới
thứ ba - không tà dâm - được sửa
lại là không hành dâm trong khi thọ trì
Bát quan trai giới.
Bát quan trai Giới thường
được thọ trì trong những xứ Phật
Giáo vào những ngày mồng 5, 8, 14, 15, 20, 23
, 29, và 30 âm lịch. Còn Bát quan trai
trường là giữ luôn suốt cuộc
đời như Cụ Bà Hội Trưởng
Hội Phật Tử Việt Mỹ tại chùa
Kỳ Viên, Hoa Thịnh Đốn.
Người cư sĩ cũng
có thể thọ Thập Giới, là thêm 2
giới nữa. Ở đây Giới thứ 7 chia ra
làm hai phần: một là không múa
hát, thổi đờn kèn, xem múa hát,
nghe đờn kèn. Hai là không trang
điểm, thoa vật thơm, dồi phấn và
đeo tràng hoa. Giới thứ 8 trở thành
Giới thứ 9. Giới thứ 10 là không giữ
tiền bạc, vàng bạc, và thỏa thích
trong việc cất giữ tiền bạc.
Đó là những Giới
của hành giả trong 10 ngày. Nếu giữ
Giới trong sạch thì chắc chắn Định
và Huệ sẽ phát triển. Bằng không
thì Định và Huệ sẽ không lên
được.
Đức Phật dạy về
quả báu của Giới đức như sau: "Tất
cả chúng sanh được sanh về cõi
Trời cũng nhờ giữ Giới, được
giàu sang cũng nhờ giữ Giới, được
giải thoát nhập Niết Bàn cũng nhờ
giữ Giới." Vậy Giới đức có
khả năng đưa hành giả đến
Thiên Đàng và tiếp tục đưa
hành giả đi đến cửa Niết Bàn.
Niết Bàn ở đâu? Ở Định và
Huệ. Khi tham thiền, người thấy Chân
Lý là thấy Niết Bàn; người
thấy Tứ Diệu Đế là thấy Niết
Bàn, người thấy rõ Vô Thường,
Khổ, Vô Ngã là thấy Niết Bàn.
Đức Phật dạy rất
rõ ràng: Muốn thấy Niết Bàn phải
quán sát Danh Pháp và Sắc Pháp. Hai
pháp cao thượng này là pháp chúng
ta đang thực hành trong lúc ngồi,
lúc đi, hay trong lúc đang nghe giảng
này vậy. Đó là hai pháp mà
chúng ta đang cúng dường Đức
Phật. Dù người ta có là triệu
phú tới chùa cúng dường bông hoa,
thức ăn, cũng chỉ một ngày đó
thôi rồi trở lại với công ăn
việc làm. Còn quý vị không phải
vậy. Tới chùa trong 10 ngày, nguyện khắn
khít nơi cửa Niết Bàn, chúng ta chỉ
thấy Danh và Sắc Pháp; và chúng ta
cúng dường Pháp chứ không cúng
dường vật thực, trái cây hoặc
bông hoa. Với vật thực, sau khi cúng
dường, lui ra là chúng ta quên hẳn.
Còn cúng dường Pháp Bảo trong khi ngồi
khi đi, không phải chúng ta chỉ
cúng dường một lúc nào đó
thôi mà là từng giờ, từng phút,
từng giây, từ lúc thức giấc cho
đến khi lên giường ngủ.
Đức Phật đã bảo
rằng: "Đường đi Niết Bàn
Như Lai đã tìm thấy và đã
chỉ rõ cho các con. Tới hay không là do
nơi các con vậy." Vậy với chìa
khóa trong tâm, ta cứ mở ra xem trong thân
tâm này cho đến khi không còn
gì dấu được ta nữa thì chúng
ta mới hết hoài nghi. Ví dụ, các
tôn giáo khác nói trong thân có linh
hồn. Cái gì khác có thể thay
đổi, chứ linh hồn không thay đổi. Hay
là họ cho rằng Thượng Đế tạo ra
con người. Nếu chúng ta u mê, mờ ám
không thấy thì cũng nói rằng Thượng
Đế tạo ra ta và để cho vô minh che
kín không chuyển nghiệp được,
rồi chìm đắm trong sông mê bể
khổ. Giờ đây, chúng ta thức tỉnh,
sáng suốt đi tới Niết Bàn với
một trí nhớ theo dõi, Định ở trong tâm.
Khi có Định rồi, chúng ta phải biết
phân tách tâm định.
Với Chánh Niệm hay trí
nhớ, quý vị sẽ thấy rõ đề
mục. Niệm phồng xẹp, đi, đứng,
nằm, ngồi, co tay ra vô, v.v... gọi là
niệm thân. Khi co tay quý vị quán, khi ăn
cũng quán, khi nhai cũng quán, khi
bụng phồng xẹp cũng quán, để
xem có đúng với giáo lý của
Đức Phật hay không. Gọi cái này
là thân (hay sắc), có đúng
vậy không? Rồi phần biết thân này
là tâm (hay danh), có đúng vậy
không? Như vậy Sắc Pháp và Danh
Pháp có đúng không? Rồi quý
vị hành trì chi tiết thêm, niệm tỉ
mỉ, thấy hai pháp này luôn thay đổi.
Đôi khi hành giả có
thói quen, ước muốn mọi việc như
ý mình. Ví dụ như quý vị
nói khi trước cảm thấy đau rồi
niệm đau thì hết, bây giờ thấy
đau nhưng niệm hoài không hết, rồi
sinh hoài nghi pháp hành của mình. Vậy
là không đúng. Dù cái đau có
hết hay không hết, đó là chuyện
của cái đau. Nếu nó không hết,
chúng ta phải quán trở lại, suy nghĩ
tại sao không hết. Khi suy nghĩ, quý vị
sẽ thấy là nó không ở dưới
sự kiểm soát của ta. Ta không muốn
đau mà vẫn có nó. Ta không bảo nó
hết đau được vì ta không làm
chủ nó. Đấy là Vô Ngã. Hiểu
như vậy, ta không chấp thủ. Nếu có
chấp thủ ở đây là chúng ta
kẹt.
Đề mục chính ở
đây là phồng xẹp. Tại sao
dùng phồng xẹp làm đề mục?
Trước hết, đây là cử động
của thân, là yếu tố gió trong
Tứ Đại (đất, nước, lửa,
gió). Khi hơi thở vào thì bụng phồng;
hơi thở ra thì bụng xẹp. Hơn
nữa, đây là đề mục thay
đổi: hết phồng rồi xẹp,
hết xẹp rồi phồng. Đề
mục thay đổi giúp hành giả dễ
nhận thức được Vô Thường.
Điểm này rất là quan trọng.
Ngoài đề mục chánh,
còn có những đề mục phụ sanh
lên. Có khi sanh lên rồi diệt,
hoặc lâu, hoặc mau, hoặc đều đều;
cũng như hơi thở vậy. Hơi thở phồng
rồi xẹp, khi nhanh, khi chậm, khi đều
đều. Hoặc Thọ: đôi khi đau rồi mau
hết, đôi khi lâu hết. Cũng như
bệnh cảm cúm: đôi khi bệnh cảm mau
hết, đôi khi lâu hết, đôi khi
còn bị bệnh cảm nặng hơn. Ở
đây, nếu không hết đau thì cứ
tiếp tục Niệm. Chỉ vậy thôi. Niệm
rồi bỏ qua. Không có gì suy nghĩ,
thắc mắc ở trong đó. Đừng thắc
mắc, tại sao khi trước tôi ngồi thiền
thì thấy nó như thế mà bây
giờ nó lại không như thế. Nếu
chú niệm hoài mà không hết đau,
quý vị có thể trở về đề
mục chính. Đây là nhiệm vụ của
hành giả.
Hành giả không nên
hoài nghi trong cách thức tu niệm. Về kinh
nghiệm, chúng ta không mong rằng hôm nay
phải khác hơn hôm qua. Dù nó thay
đổi hay không thay đổi, nó cũng
là nó. Nhiệm vụ chúng ta là biết
trong hiện tại thôi. Nếu có ghi nhận
thì chỉ ghi nhận trong lúc này, dù
giống hay khác lúc trước thì cũng
không thành vấn đề, và ta chỉ
cần biết nó là như vậy. Đặt
hết niềm tin tưởng, tinh tấn, và luôn
luôn có trí nhớ biết mình, thì
sẽ có tiến bộ.
Trên đây, Sư chỉ cho
quý vị thấy rõ Giới là căn
bản trong sự thực hành. Giới
được trong sạch thì chúng ta thắng
được ta. Người đời trên thế
gian có thiện có ác. Muốn
trở thành người thiện, phải làm
thế nào? Từ ác muốn thành thiện
thì chỉ có trì Giới thôi. Khi giữ
giới được trong sạch thì người
đó trở thành thiện ngay.
Giới là khí cụ
để thắng phiền não. Giữ Giới trong
sạch thì chúng ta mới thắng
được Tham Sân Si trong nội tâm của ta.
Muốn loại được phiền não,
tâm chúng ta phải trong sạch vì phiền
não ở trong tâm. Mà tâm trong
sạch như thế nào? Tâm trong sạch phải
có Định và Huệ. Mà muốn có
Định và Huệ, cần phải có Giới.
Vì vậy, Giới, Định và Huệ luôn
luôn liên kết với nhau.
Ở đây, quý vị
đã và đang thọ trì cả ba phần:
Giới, Định, Huệ. Quý vị nên
gắng gìn giữ Giới đang thọ trì trong
10 ngày, nhất là Giới không nói
dối như Sư mới giảng hồi nãy. Khi
nói chuyện, tâm sẽ phóng túng,
chạy theo suy nghĩ và ta quên niệm. Mà
quý vị cần có trí nhớ, chú
ý trong đề mục rồi niệm. Giữ
Giới được như vậy là quý
vị có lợi ích trong 10 ngày này.
Mong rằng quý vị gặt
hái được quả báu cao thượng.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật
Ngày Thứ Nhì
Hôm nay là ngày thứ
nhì của khóa thiền mùa Đông
năm 1986. Sư xin đề cập đến mục
đích hành thiền của chúng ta.
Nếu quý vị có
đọc sách hay nghe thuyết pháp thì
quý vị thường thấy hay nghe danh từ Araham
hay A-La-Hán. A-La-Hán có nghĩa là gì?
A-La-Hán là bậc đã giác ngộ
giáo lý của Đức Phật, là bậc
thánh ng Cúng. ng Cúng có nghĩa là
người đáng thọ lãnh vật cúng
dường của người tại gia. Vì khi
một bậc trong sạch như vậy thọ lãnh
vật cúng dường, người thí chủ
sẽ được nhiều phước báu,
được sự an vui và hạnh phúc trong
đời này cũng như trong đời sau.
Chỉ có bậc đắc quả A-La-Hán
mới đáng thọ lãnh vật cúng
dường vì các Ngài không còn Tham
Sân Si trong nội tâm. A-La-Hán cũng có
nghĩa là đã diệt trừ điều
ác hay kẻ thù. Kẻ thù đây là
phiền não hay Tham Sân Si chồng chất
trong lòng của mọi chúng sanh.
Muốn biết rõ ý
nghĩa của từ A-La-Hán, chúng ta cần
biết sơ qua bốn bậc được đắc
đạo quả trong giáo lý của Đức
Phật. Những bậc này là Sơ quả,
Nhị quả, Tam quả và Tứ quả, hay
Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm,
A-Na-Hàm và A-La-Hán. Họ cũng
được gọi là Ariya, nghĩa là
thánh nhân. Gọi là thánh nhân vì
các Ngài đã thấy rõ giáo
lý của Đức Phật và tâm không
còn thối chuyển trên con đường
giải thoát. Họ đã chứng nghiệm
được Tam tướng của vạn vật
gọi là Vô Thường, Khổ Não, Vô
Ngã, hay Tứ Diệu Đế. Đức Phật
gọi bốn bậc đắc đạo quả
trên là đệ tử của Ngài.
Bốn bậc thánh
được đắc đạo quả do nhờ
thực hành Minh Sát Tuệ (Vipassana). Nếu
không có Tuệ Minh Sát sẽ không bao
giờ đắc được đạo quả.
Để đạt được đạo quả
của Đức Phật, cần phải có
đường lối đi và phương pháp
thực hành. Đường lối đi là
Bát Chánh Đạo, phương pháp thực
hành là Tứ Niệm Xứ.
Tâm đắc quả là
tâm gặt hái được pháp cao
thượng. Giây phút đầu tiên khi
tâm kinh nghiệm được đạo quả
gọi là Maggacitta hay Đạo tâm.
Chỉ trong một giây phút, người ấy
bước vào dòng thánh, và đạo
tâm ấy không bao giờ trở lại với
người ấy nữa. Kế đó là
quả của Huệ tâm liên tục phát sanh
đến người đó. Nếu hành giả
kinh nghiệm như vậy lần đầu tiên
thì gọi là đắc đạo quả
Tu-Đà-Hườn.
Nếu muốn tiến nữa
trên con đường đạo, người
đó phải tiếp tục tu hành. Người
đó lại bắt đầu từ Tứ Niệm
Xứ và Bát Chánh Đạo. Sau khi thực
hành một thời gian, khi có trí tuệ
đầy đủ và duyên lành,
người ấy sẽ kinh nghiệm đạo tâm
lần thứ nhì. Cũng trong một giây
phút thôi rồi Đạo tâm diệt
mất, tiếp liền là Quả tâm.
Đây là bậc Tư-Đà-Hàm.
Khi vị này muốn thực
hành đến đạo quả cao hơn thì
cũng phải thực hành Tứ Niệm Xứ
và Bát Chánh Đạo như trên. Khi
duyên lành đầy đủ, vị này
đắc đạo quả thứ ba gọi là
A-Na-Hàm quả. Cũng vậy, nếu tinh tấn tu
hành nữa thì vị này sẽ đắc
A-La-Hán quả. Đây là công phu cuối
cùng của một bậc thánh nhân.
Đến đây các Ngài không còn
hành trì công phu gì nữa vì phiền
não đã hết sạch trong tâm. Như
vậy, chúng ta hiểu đạo quả theo thứ
tự và biết được danh từ
A-La-Hán mà trong kinh sách thường
đề cập.
Khi thấy đạo trong một giây
phút, đó gọi là Đạo tâm hay
tâm kinh nghiệm Niết-Bàn. Niết-Bàn
thật ra không phải là xứ sở, cũng
không phải là nơi có thể dùng
những phương tiện vật chất mà đến
đó được. Hành trình đây
là hành trình của tâm. Chúng ta
thực hành trong Danh Sắc thì phải kinh
nghiệm qua Danh Sắc. Ý nghĩa thật sự
của Niết-Bàn rất khó hiểu. Chỉ
trừ khi hành giả có duyên lành kinh
nghiệm qua, rồi mới biết được vị
của Niết-Bàn.
Pháp học có giảng
giải để chúng ta biết được
bề ngoài của Niết-Bàn. Nhưng cũng
như muốn biết rõ hương vị trái
xoài, ta phải ăn xoài. Còn nếu ta
chỉ nhìn hay nghe người khác tả lại
thì chỉ tưởng tượng thôi mà không
biết hương vị thật sự của trái
xoài. Niết-Bàn cũng vậy. Muốn biết
Niết-Bàn ta phải thực hành và khi kinh
nghiệm qua, ta mới biết được vị
của Niết-Bàn.
Đạo tâm có năng
lực diệt trừ phiền não. Bậc Sơ
Quả khi qua kinh nghiệm đạo tâm, đắc
được 3 pháp. Một là người
đó không còn chấp linh hồn hay có
cái ta tồn tại mãi mãi, biết rõ
trong con người có thân và tâm.
Hai là hết hoài nghi trong Tam-Bảo, hiểu
rõ Phật, Pháp, Tăng. Ba là không
còn giới cấm thủ, và người
đó chỉ tin tưởng vào nhân quả,
trì giới, bố thí, tham thiền, mà
không còn mê tín dị đoan.
Bậc Nhị Quả, ngoài 3
pháp trên, còn giảm bớt tham ái và
sân hận. Quả thứ nhì có khả
năng làm Tham và Sân yếu đi. Vị
này vẫn còn 2 pháp chướng ngại
đó (2 kiết sử), chúng chỉ yếu
đi thôi. Đến bậc Tam Quả, A-Na-Hàm,
người đó diệt hẳn tham dục
và sân hận. Người ấy không
còn tham ái trong cõi Dục Giới
này, nghĩa là không còn dính mắc
ở Sắc tốt, Thinh hay, Hương thơm, Vị
ngon, Thân xúc nữa. Bậc A-Na-Hàm chỉ
còn dính mắc ở cõi Sắc Giới
và Vô Sắc Giới. Chỉ đến
đạo tâm thứ tư, người ấy mới
diệt phiền não hoàn toàn và
chứng ngộ được đạo quả
A-La-Hán. Khi đắc quả A-La-Hán, các
vị ấy không còn dính mắc ở cõi
người cũng như cõi trời Dục giới,
Sắc Giới, và Vô Sắc Giới, chẳng
khác gì như ngọn đèn tắt vậy.
Bậc Sơ quả hay
Tu-Đà-Hườn (Nhập Lưu) diệt 3 sợi
dây chướng ngại và không đi vào
4 đường ác đạo (a-tu-la, ngạ quỷ,
địa ngục, súc sinh). Người ấy
chỉ sanh vào cõi người hoặc cõi
trời, và luân hồi nhiều nhất là
bảy kiếp. Bậc Nhị quả hay
Tư-Đà-Hàm (Nhất Lai) chỉ còn
trở lại thế gian này một kiếp thôi
vì tâm vị này đã giảm tham
ái và sân hận. Sau đó vị này
sẽ đắc A-Na-Hàm hay A-La-Hán nên sẽ
tái sanh lên cõi trên và không
còn trở lại cõi người nữa. Bậc
A-Na-Hàm (Bất Lai) chỉ sanh về cõi Phạm
Thiên cho tới ngày đắc A-La-Hán quả.
Trong bốn đạo quả, ba
quả đầu vẫn còn dính mắc, còn
đạo quả A-La-Hán hoàn toàn trong
sạch. Có câu hỏi: Vậy thì
người đời có thể đắc
được đạo quả A-La-Hán cao
thượng này chăng? Trong thời kỳ
Đức Phật còn tại thế cũng như sau
khi Ngài nhập diệt, có vô số kể
cả những cư sĩ tại gia đắc
A-La-Hán. Khi đắc A-La-Hán, vị này
phải tìm cách xuất gia cho kịp trong thời
gian bảy ngày. Vì quả A-La-Hán là
quả vị cao, hình thức phàm bên
ngoài không thể nào chứa đựng
nổi. Nếu vị ấy xuất gia kịp thời
thì sẽ sống cho đến hết tuổi
thọ. Bằng không, vị ấy sẽ nhập
Niết-Bàn trong vòng bảy ngày. Tìm
được y bát để xuất gia hay không
là do phước báu của vị ấy trong
kiếp trước. Nếu trong kiếp trước
vị ấy có bố thí y phục thì
kiếp này sẽ tìm được y phục
kịp thời, nếu không thì không kịp.
Vì vậy, sự đắc đạo quả
không phân chia giai cấp tại gia hay xuất gia.
Không phải chỉ xuất gia mới đắc
đạo quả còn tại gia thì không
đắc đạo quả.
Làm sao biết được ai
đắc quả A-La-Hán? Ta không thể biết
được vì chúng ta không thể biết
tâm người đó, mà chỉ đoán
qua hành động và giới hạnh của
vị ấy. Khi thấy vị này có giới
hạnh trong sạch và phẩm hạnh cao
thượng, ta đoán có lẽ Ngài là
một vị A-La-Hán. Hoặc giả chính vị
ấy thốt ra thì ta mới biết, bằng
không, ta không thể biết chính xác
được.
Trong Phật Giáo Nguyên
Thủy, có nhiều sách trong Tam Tạng Pàli
có đề cập: Phật là đấng
giác ngộ. Như thế, có bao nhiêu bậc
giác ngộ? Tam Tạng Pháp Bảo có chia
rõ: một là Samma-Sambuddha, Phật Chánh
Đẳng Chánh Giác; hai là Pacceka-Buddha
cũng gọi là Bích Chi Phật hay Độc
Giác Phật, ba là Araham hay cũng gọi
là Thanh Văn Phật (Savakabuddha).
Buddha là bậc Giác Ngộ
Chánh Đẳng Chánh Giác (Samma-Sambuddha),
tự Ngài giác ngộ, không thầy chỉ
dạy. Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác
có nhiều đức hạnh Ba-La-Mật, cho nên
khi giác ngộ rồi, Ngài không quên đi
một chi tiết nào. Ngài có nhiều
đức hạnh để tế độ chúng
sanh. Ngài biết rõ quá khứ, vị lai, biết
rõ chúng sanh nào có thể tế
độ hay không tế độ được.
Bậc Độc Giác cũng
tự giác ngộ, nhưng không có những
oai lực khác như của bậc Chánh
Đẳng Chánh Giác. Giác ngộ xong,
Ngài không nhớ những phương pháp
để tế độ cho chúng sanh để
giác ngộ như Ngài. Còn bậc
A-La-Hán cũng là bậc giác ngộ nhưng
do nhờ Đức Chánh Đẳng Chánh
Giác tế độ, chỉ dạy. Một vị
A-La-Hán cũng có khả năng hướng
dẫn người khác đắc đạo quả
như Ngài vậy.
Tu hành bao lâu thì
được đắc đạo quả? Căn cứ
theo kinh kệ trong Tam Tạng Pali, Đức Phật
Chánh Đẳng Chánh Giác thuộc về
hạnh trí tuệ như Đức Thích Ca
Mâu Ni phải tu 4 A-tăng-kỳ 100 ngàn kiếp
mới đắc đạo quả và hướng
dẫn chúng ta được như vậy. Trên
quả đất này có tất cả 5 vị
Chánh Đẳng Chánh Giác, mỗi vị
có thời gian giáo lý khác nhau như 80
ngàn năm hay 5 ngàn năm, v.v... Và trong
lúc không có giáo lý của Đức
Chánh Đẳng Chánh Giác nào thì
Đức Phật Độc Giác ra đời.
Đức Phật Độc Giác phải tu 2
A-tăng-kỳ 100 ngàn kiếp và đắc
đạo quả trong thời kỳ không có
giáo lý của Đức Toàn Giác.
Ngài tự giác ngộ vì duyên lành
của Ngài rất nhiều.
Cũng theo kinh kệ trong Tam Tạng
Pàli, có 3 loại A-La-Hán: một là
A-La-Hán thường, hai là đại
A-La-Hán, ba là đại đệ tử của
Đức Phật. Sở dĩ có phân loại
như thế là do các Ngài có lời
nguyện trong kiếp xưa. Có hằng hà sa
số bậc A-La-Hán thường. Các vị
này tinh tấn tu hành trong một kiếp, 10
kiếp hay 100 kiếp, v.v... đắc đạo quả
A-La-Hán và diệt hết phiền não trong
tâm. Đại A-La-Hán thì có 80 vị
đã từng tu hành trong 100 ngàn kiếp
trái đất. Những vị này, ngoài
dứt bỏ hết phiền não, còn có
những pháp Ba-La-Mật riêng. Như Ngài
Ananda thuộc hết Tam Tạng Pháp Bảo, còn
Ngài Ca-Diếp thì giỏi về Luật.
Còn đại đệ tử
Phật có 2 vị là Ngài
Xá-Lợi-Phất và Ngài
Mục-Kiền-Liên. Ngài Xá- Lợi-Phất
có trí tuệ và Ngài
Mục-Kiền-Liên có thần thông bậc
nhất trong hàng đệ tử của Đức
Phật. Một vị đại đệ tử của
Đức Phật tu một A-tăng-kỳ 100 ngàn
kiếp - một A-tăng-kỳ bằng thời gian
hột cải bỏ vào 14 kilômét vuông,
mà cứ mỗi 100 năm mới bỏ vào
một hột.
Vậy ta thấy quả A-La-Hán
là mục đích chúng ta đang nhắm
đến. Phương pháp thực hành ta
biết được là nhờ Đức Phật
để lại. Khi hành trì tròn đủ
thì ta cũng có kinh nghiệm qua giáo lý
ghi chép trong Tam Tạng hay do các vị thiền
sư thuyết giảng. Sư đã hướng
dẫn hành thiền các nơi trong 20 khóa
đã qua. Riêng tại chùa Kỳ Viên
này (Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ), quý vị
đã hành thiền được 12 khóa,
và đã biết cách thực tập trong
các oai nghi. Khi Tham Sân Si sanh lên, quý vị
biết là Tham Sân Si. Khi biết như vậy
là quý vị đi trên con đường
đạo.
Thời giáo lý đến
đây xin tạm dứt. Trước khi dứt, Sư
xin cầu nguyện Hồng Ân Tam Bảo hộ
trì cho quý vị được sự an vui, tinh
tấn tu hành, mau đến nơi giải
thoát./.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật
Ngày Thứ Ba
Hôm qua Sư có nói về
danh từ A-La-Hán và mục đích hành
Minh Sát Tuệ của người tu Phật là
để dập tắt phiền não, đắc
quả A-La-Hán nhập Niết-Bàn.
Sư xin nhắc lại, trước
khi đắc quả A-La-Hán, hành giả phải
đắc dần dần, từ thấp đếân
cao, nghĩa là từ Sơ quả, lên Nhị
quả, Tam quả và Tứ quả. Quả thứ
nhất là quan trọng nhất cho hành giả.
Vì vậy, hành giả cần phải nguyện
là ít nhất phải kinh nghiệm
được Sơ quả. Sơ quả còn
được gọi là quả Nhập Lưu,
là nhập vào dòng thánh, là
người đi theo bước chân của
Đức Phật. Người muốn đắc Sơ
quả hay Tu-Đà-Hườn quả, phải kinh
nghiệm được 16 Tuệ Minh Sát, bắt đầu
là Tuệ Danh Sắc.
Khi tu hành như vậy,
chúng ta phải có đức tin mạnh, tin
tưởng là chúng ta sẽ gặt hái
được những gì mà Đức Phật
chỉ dạy, và tinh tấn cho đạt
được những đạo quả cao
thượng. Tại sao vậy? Vì khi còn
phàm, đời sống chúng ta không
được bảo đảm, do thân và tâm
ta luôn thay đổi không chừng. Nếu thay
đổi như vậy, ta không biết sẽ
luân hồi về đâu và không chắc
có gặp được Phật Pháp để
thực tập hay không. Vì vậy, khi bắt
đầu hành thiền, quý vị phải
có đức tin vững mạnh nơi Tam Bảo.
Nếu không đắc đạo quả thì
quý vị cũng phải kinh nghiệm được
một loại tuệ thấp hơn.
Tuệ đầu tiên là
Tuệ Danh Sắc. Muốn thấy Danh Sắc thì
phải làm thế nào? Hành giả cần
phải có sát-na Định. Cũng
như người thực tập thiền Định
cần phải có cận Định thì mới
đắc sơ thiền, nhị thiền, v.v... Riêng
thiền Huệ hay thiền Minh Sát cần có sát-na
Định.
Đề mục để
định tâm rất là nhiều. Trong kinh Tứ
Niệm Xứ và trong các kinh khác nữa,
Đức Phật dạy có thể dùng những
đề mục khác nhau, như đề mục
về hơi thở và các đề mục
khác, để trụ tâm. Nhưng mới
đây, có phương pháp của thiền
sư Mahasi người Miến Điện dùng
sự phồng xẹp ở bụng
làm đề mục. Ngài thấy bụng phồng
xẹp cũng ở trong thân và khi lấy
làm đề mục sẽ dễ tập trung tư
tưởng hơn. Song song với sự chú tâm
nơi bụng, hành giả còn dùng trí nhớ
(Chánh Niệm) theo dõi tác động của
bụng cũng như các đối tượng
khác sanh lên theo lục căn. Ví dụ, khi
tiếng động hay mùi thơm hay cái gì
khác phát sanh trong lục căn, chúng ta
cũng phải theo dõi mà niệm.
Trước khi có tâm
định, hành giả phải đối phó
với 5 pháp chướng ngại (5 triền cái)
thường sanh lên là: tham ái, sân
hận, hôn trầm, phóng tâm, và
hoài nghi. Năm pháp này luôn chen
vào trong khi chúng ta đang tu Định và tu
Huệ. Vì vậy, hành giả phải cố
gắng để vượt qua 5 chướng ngại
ấy. Luôn luôn có trí nhớ, khi những
pháp cảnh này khởi sanh, hành giả
phải chú tâm niệm liền thay vì theo
dõi phồng xẹp.
Trong trường hợp khi tham
ái khởi sanh, hành giả phải niệm tham-tham-tham;
hay khi giận khởi sanh, hành giả phải niệm
giận-giận-giận, v.v... Những pháp
chướng ngại này không cho hành giả
định tâm, nên các chi thiền không
sanh lên được. Khi những pháp này
phát sanh mạnh, chúng ta có thể bỏ
hành thiền. Ví dụ, khi hoài nghi sanh
lên, chúng ta nghĩ hành thiền có
lợi ích gì, không biết đạo quả
có rõ vậy không, rồi hoài nghi về
Tứ Diệu Đế và có thể ngưng
hành thiền. Có tâm hoài nghi, suy nghĩ
như vậy gọi là Tà kiến, vì nó
áng cửa, không cho trí tuệ thấy
rõ sự thật trên thế gian. Vì vậy,
khi những pháp này khởi sanh, hành giả
phải thanh toán cho xong, phải niệm ngay,
trước khi bắt đầu vào sát-na
định trở lại.
Khi có tâm định,
hành giả bắt đầu thấy Danh Sắc. Danh
Sắc tiếng Pàli gọi là Nama Rupa. Nama
(Danh) nghĩa là tâm hướng về hay
nghiêng về đối tượng của nó.
Vậy tâm của ta hướng về mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Hướng
về mắt thì tâm thức bắt cảnh
thấy; hướng về tai thì bắt tiếng
nghe; hướng về mũi thì bắt mùi;
hướng về lưỡi thì bắt vị;
hướng về thân thì bắt cảm
giác; hướng về tâm thì bắt sự
suy nghĩ hay những đối tượng của
tâm. Còn Rupa (Sắc) là đối
tượng ở trong mấy căn.
Theo sách Visuddhimagga (Thanh
Tịnh Đạo), khi thấy Sắc rõ rồi
thì tự nhiên thấy Danh. Vì vậy phải
theo niệm Sắc. Ở đây, quý vị
niệm phồng xẹp của bụng, theo dõi
tỉ mỉ, không gián đoạn, cho thấy
rõ cái phồng cái xẹp là
Sắc. Phồng xẹp là sự chuyển động
của thân. Thấy rõ sự chuyển
động, mới nhận thức được
"cái biết" sự chuyển động
này là tâm. Cái biết này
chính là Danh hay tâm thức. Sở dĩ
ta thấy như vậy là vì Danh Sắc luôn
luôn đi chung với nhau. Chúng ta cũng có
thể tự hỏi: phồng xẹp là
thân, rồi làm sao ta biết được phồng
xẹp? Và hỏi thêm nữa: cái gì
biết được phồng xẹp và
hồi nãy cái gì chú tâm nơi
bụng? Cái đó chính là Danh hay tâm
thức. Khi tâm hướng về bụng, bắt
được phồng xẹp. Biết được
vậy là biết Danh Sắc.
Khi ta thấy Sắc rõ rồi,
tự nhiên phát sanh hỷ lạc. Tại sao
vậy? Vì trong lúc đó tâm
không bị 5 chướng ngại che mờ. Tâm
luôn luôn ở trong đề mục, trong Sắc
pháp: trong bụng lúc ngồi và trong chân
lúc đi. Khi tâm thấy Sắc pháp rõ,
phát sanh hỷ lạc. Khi có hỷ lạc,
hành-giả cũng phải niệm hỷ-lạc,
hỷ-lạc, hỷ-lạc hay vui-vui-vui.
Khi hành thiền, quý vị
phải siêng năng khắn khít với đề
mục trong khi ngồi cũng như trong khi đi.
Nếu khắn khít với đề mục từng sát-na
một, quý vị sẽ thấy rõ Danh Sắc.
Đây là bước đầu tiên và
cũng quan trọng nhất trong Thiền Minh Sát.
Vì nếu không thấy rõ Danh Sắc, quý
vị không thể lên Tuệ thứ hai
được.
Khi thấy rõ Danh Sắc,
quý vị sẽ biết rõ bản chất
của con người. Thế gian thường cho con
người là một cái Ta, một linh hồn
bất biến không thay đổi. Nhưng khi
hành thiền, quý vị biết rõ con
người chỉ có thân và tâm.
Nhìn vào bụng thì thấy phồng
xẹp. Nhìn ra ngoài thì thấy cảnh
mà trong đó một là đối
tượng chỉ gồm Sắc (thân) thôi, hai
là đối tượng có cả Danh và
Sắc, như người ta hay thú vật. Vậy
dù ở trong con người hay ở ngoài,
quý vị cũng thấy toàn Danh Sắc. Rồi
ta phân tách tâm và thân
của con người như thế nào. Nếu
mình tìm hiểu cho hết chi tiết thì
sẽ thấy thân tâm của người
ngoài không khác gì của ta vậy.
Trong kinh Mi-Tiên Vấn
Đáp, đức vua Milanda hỏi đại
đức Na Tiên: "Bạch Ngài, như
thế nào gọi là Danh, và như thế
nào gọi là Sắc?" Đại
Đức Na Tiên trả lời: "Hai cái
phải nương nhờ với nhau như chiếc xe
vậy. Khi ráp đủ thì mới gọi
là xe. Thì con người cũng vậy. Khi
còn Danh Sắc thì con người còn
sống, nếu Danh Sắc rời ra thì không
còn sống nữa."
Nếi chỉ có tâm thì
không bao giờ làm gì được. Vậy tâm
phải nhờ thân mới thấy, nghe, ngửi,
nếm, đi được. Còn cái thân
cũng vậy. Nếu không có tâm
thì thân cũng không làm gì
được, giống như một đống củi
hay đống đất thôi. Thân và tâm
cũng giống như người mù và
người què. Người mù có chân
nhưng không thấy đường để đi.
Người què thấy đường nhưng
không đi được. Vậy hai người
này nương nhau để đi đường. Thân
và tâm cũng vậy, nương qua
nương lại để làm việc và
tạo thành con người.
Khi hành giả thấy rõ
Danh Sắc thì biết đây không phải
là một linh hồn. Nếu thấy rõ như
vậy gọi là Chánh kiến hay thấy đúng.
Cho nên, chúng ta phải niệm làm sao cho
đánh đổ sự hiểu lầm đó.
Từ trước đến nay, lúc nào mình
cũng bảo là ta đi, ta ăn, ta vui, ta buồn. Rồi
một chữ "ta" bao gồm cái vui,
cái buồn, cái thấy, cái nghe, cái
ăn, cái uống, v.v... Bây giờ quán
niệm, ta thấy rõ những trạng thái này
rất khác nhau. Vậy hành giả phải
niệm cho đến khi nào đánh đổ
được cái chấp là có "ta".
Bây giờ, Sư nói về
trạng thái của thân và tâm.
Trạng thái của thân là thay
đổi; thay đổi theo mùa và theo
thời tiết, như thân của ta: khi nóng, khi
lạnh, khi đói, khi no - luôn luôn thay
đổi vậy. Sắc pháp bên ngoài
cũng luôn thay đổi. Mùa Thu thì cây
rụng lá. Mùa Xuân cây mọc lá
trở lại. Vì vậy, Sắc pháp luôn
luôn thay đổi. Trạng thái của tâm
cũng không ngừng thay đổi. Tâm ta lúc
vui, lúc buồn, lúc hăng hái, lúc
chán nản, v.v...
Muốn thấy rõ thân
tâm, ta cần có sát-na Định.
Để có sát-na Định, ta
phải chú niệm chặt chẽ và tỉ
mỉ, niệm cho đến khi không còn gì
để che dấu trong thân tâm nữa.
Đây là phương pháp của Đức
Phật để diệt trừ đau khổ; mà khi
thực tập chúng ta sẽ gặp nhiều khó
khăn. Gặp cái đau, đau không có
thuốc chữa trị. Gặp cái khó, khó
không giải thích được. Nhưng dù
Đức Phật còn tại thế, Ngài cũng
chỉ có thể cho ta phương pháp này
để chúng ta tự trị cho đến khi
nào vượt qua khỏi khó khăn là
tự nhiên hết bệnh.
Khi mới thực tập, hành
giả gặp nhiều khó khăn. Khi niệm phồng
xẹp một cách khắn khít thì tâm
phát sanh Định và Huệ. Chính
Định và Huệ lại thành thuốc hay
để trị bịnh nan y. Khi Định mạnh, niệm
đau thì tự nhiên hết đau. Khi hết
đau, hết khổ thì tự nhiên là vui.
Khi thân đau, tâm
cũng đau theo. Thân thì lúc nào cũng
thay đổi từng sát-na một. Mà khi thân
thay đổi thì tâm cũng không
yên. Chỉ khi ta niệm, tâm ở trong
đề mục thì mới yên được.
Ví dụ không ngủ được, ta niệm phồng
xẹp để tâm định trong bụng
thì ngủ được, tin rằng có lẽ
lúc sắp chết, nếu cũng niệm như
vậy thì tâm được an vui và
được sanh về cõi an vui. Khi có Chánh
Niệm, thấy rõ Danh Sắc thì ta sống trong
trí tuệ và như vậy mới
được sự an vui. Vậy, chúng ta phải niệm
để trí nhớ (Chánh Niệm) luôn
phát triển cho đến khi đạt
được đạo quả cao thượng.
Thời giáo lý đến
đây xin tạm dứt. Trước khi dứt, Sư
xin cầu nguyện Hồng Ân Tam Bảo hộ
trì cho quý vị được sự an vui, tinh
tấn tu hành mau đến nơi giải thoát.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật
Ngày Thứ Tư
Hôm nay Sư sẽ giảng
thêm về Danh Sắc hay Nama Rupa để
quý vị được rõ hơn, vì
đây là pháp quan trọng trong Tứ Niệm
Xứ.
Cái gì mà ta biết
rõ thì nó chắc chắn là của ta.
Bây giờ đây, biết phương pháp tu
niệm và muốn chắc chắn đề mục
là của ta, ta phải nắm vững đề
mục. Nắm vững nghĩa là có trí
nhớ hay có Chánh Niệm, thì ta mới
có Huệ được. Có trí nhớ
là chủ động, trong khi Danh Sắc (đối
tượng) là thụ động.
Đề mục của ta là
Danh Sắc. Ta cần phải biết rõ đề
mục chính mà chúng ta thường niệm.
Hơn nữa, trong lúc đang tu niệm ở
chùa hay ở nhà, cái gì khởi sanh
thì ta cũng phải biết rõ. Để
thấy rõ những đối tượng khởi
sanh lên, ta phải luôn luôn duy trì và
giữ gìn Chánh Niệm. Như vậy, trí
nhớ hay Chánh Niệm, tiếng Pàli là sati,
là quan trọng trong Thiền Minh Sát. Chính
nó là chủ động trong Thiền Minh Sát
vậy.
Như Sư đã giảng
hôm qua, Chánh Niệm là trí nhớ ghi
nhận những gì xảy ra trong thân tâm
trong lúc hiện tại. Chẳng hạn khi ngồi, ta
nhớ ta ngồi. Ngồi là thân hay cũng
là sắc. Khi có trí nhớ, chú
tâm vào Sắc Pháp thì tự nhiên ta
cũng biết được Danh Pháp, vì hai
pháp này luôn luôn đi cùng với
nhau. Có trí nhớ sống trong hiện tại
và luôn luôn chủ động là
điều quan trọng nhất. Ta niệm càng
nhiều, trí nhớ càng tăng, thì
đề mục càng rõ. Đó là
luật thiên nhiên của Minh Sát Tuệ.
Niệm thân tâm của
ta là đề mục nội quán. Ví dụ,
quý vị niệm phồng xẹp; hay lúc
đang niệm phồng xẹp, có pháp
cảnh nào khởi sanh trong tâm, quý vị
niệm thấy-thấy-thấy. Trường hợp
nhìn ra ngoài, ta thấy quang cảnh thì ta
cũng niệm là thấy-thấy-thấy
vì đây cũng là Sắc Pháp như
cảnh trong nội tâm của ta vậy. Sắc
Pháp bên ngoài là đề mục ngoại
quán. Vì vậy, niệm có hai phương
pháp. Một là ta kinh nghiệm nơi thân
tâm của ta. Hai là ta kinh nghiệm ngoại
cảnh bên ngoài thân tâm. Do đó,
chúng ta sống trong hai thế giới: thế giới
bên trong của ta và thế giới bên
ngoài của chúng sanh có liên quan đến
ta.
Khi có trí nhớ, khi đi,
ta niệm là đi, hoặc mặt bước
- trái bước. Nếu thấy cảnh, niệm thấy-thấy-thấy.
Nếu tai nghe, niệm nghe-nghe-nghe. Nếu mũi
ngửi, niệm ngửi-ngửi-ngửi. Nếu
lưỡi nếm, niệm nếm-nếm-nếm,
v.v... Đây là đề mục mà ta học
tập trong khóa thiền 10 ngày nầy.
Khi thấy rõ Danh Sắc, nếu
chỉ có Sắc ta biết rõ chỉ có
Sắc, nếu Sắc liên quan đến Danh ta cũng
biết Sắc liên quan đến Danh. Mà không
phải chỉ có bấy nhiêu đó thôi.
Trong Danh và Sắc còn có sự cử
động, thay đổi của chúng mà ta
sẽ kinh nghiệm thêm nữa.
Bây giờ khi đi, niệm mặt
bước - trái bước; khi ngồi, niệm phồng
xẹp. Đây là niệm thân hay sắc.
Còn danh thì sao? Sau đúng một giờ
ngồi, nghe tiếng chuông gõ, làm sao quý
vị đứng lên được? Để
thân đứng dậy, trước hết phải
có tâm muốn đứng dậy. Như
vậy ta phải xem coi có cái gì làm
thân này đứng dậy được, gọi
là tác yù. Quý vị dùng
trí nhớ niệm muốn đứng dậy -
muốn đứng dậy trước khi đứng
dậy. Đây là niệm tâm hay niệm tâm
quyết định. Sau khi đứng dậy, phải
có tác ý muốn đi, quý vị
niệm muốn đi - muốn đi - muốn đi
rồi mới đi.
Khi đi, quý vị niệm
chặt chẽ mặt bước - trái bước.
Nếu tiếp tục niệm như vậy thì
tâm không phóng ra nơi khác
được. Quý vị dùng trí nhớ theo
dõi sự cử động của thân và
niệm theo nó. Nếu bước nhanh thì
niệm mặt bước - trái bước.
Nếu chậm thì niệm dở, đạp -
dở, đạp. Nếu chậm hơn nữa
thì niệm dở, bước, đạp - dở,
bước, đạp. Khi đi đến cuối
đường, có tác ý muốn
ngừng lại khởi sanh, quý vị phải
niệm muốn đứng - muốn đứng -
muốn đứng rồi mới đứng. Khi
đứng rồi, muốn quay thì niệm muốn
quay - muốn quay - muốn quay. Lúc quay, niệm quay-quay-quay.
Quay xong thì niệm muốn đứng - muốn
đứng - muốn đứng; rồi khi
đứng, niệm đứng-đứng-đứng.
Đứng rồi muốn đi thì niệm muốn
đi. Lúc đi thì niệm mặt
bước - trái bước trở lại.
Trên đây là tuệ Nhân
Quả. Vì tâm muốn đi, cái thân
mới đi được, muốn ngồi thân
mới ngồi được, muốn đứng
thì thân mới đứng được. Nếu
không có tác ý thì thân
không đi được, ngồi được, hay
đứng được. Vừa qua, trong một
tiếng đồng hồ theo dõi phồng xẹp
của bụng, vì tâm chưa muốn đứng
dậy nên thân không muốn đứng dậy
được. Rồi sau đó, tâm muốn
đứng dậy nên thân mới đứng
dậy, và tâm muốn đi nên thân
mới đi được.
Muốn này hoặc tác ý
này thuộc Danh Pháp. Tiếng Pàli gọi
là Nama (Danh). Muốn đi thì thân
mới đi. Muốn ngồi thì thân mới
ngồi. Vì vậy, muốn đi là nhân
của cái đi, và ngược lại đi
là quả của sự muốn đi. Muốn
ngồi là nhân của cái ngồi, và
ngồi là quả của sự muốn ngồi.
Như vậy hành giả phải niệm tác
ý để thấy rõ nhân
quả.
Nếu hành giả niệm
tác ý, thật là quý báu vô
cùng vì hành giả sẽ nhận thức
được động lực sai khiến cho thân
làm việc. Nếu quý vị thiếu ghi nhận
tác ý là cũng như thể quý vị
thiếu tâm. Con người lúc nào cũng
có thân và tâm, nhưng cao thượng
hơn, mình ghi nhận cái tâm mà người
khác không ghi nhận được. Sự cử
động của người không hành thiền
rất nhanh vì họ không có ghi nhận.
Ở đây quý vị phải ghi nhận và
phải làm chậm từng cử động một.
Nếu làm nhanh thì quí vị sẽ không
ghi nhận được, chỉ nghĩ đến
rồi làm theo mà thôi.
Tại sao Đức Phật chỉ
dạy cho chúng ta phương pháp này?
Vì phương pháp này là phương
pháp giải thoát phiền não Tham Sân Si
trong nội tâm. Có bấy nhiêu đó thôi.
Bây giờ, mình đem ra thực hành
để kinh nghiệm những gì mình
đã từng nghe, từng đọc, chứ
không phải chỉ nghe suông hay chỉ đọc
suông. Chỉ có bấu nhiêu mà cả
mấy khóa rồi, chúng ta cũng chỉ ghi
nhận trạng thái của phồng xẹp. Bây
giờ đã đến lúc mời quý
vị ngồi và ghi nhận cho rõ sự phồng
xẹp để thấy nó như thế nào.
Bây giờ, Sư hỏi thiền
sinh: như vậy sự ghi nhận phồng xẹp
từ khóa đầu đến bây giờ có
khác nhau không? Chắc thế nào quý
vị cũng trả lời là khác. Bây
giờ, quý vị ghi nhận được nhiều
hơn và biết những nét thay đổi trong phồng
trong xẹp một cách chi tiết hơn lúc
trước. Ở đây, chỉ ghi nhận phồng
xẹp thôi mà quý vị luôn luôn
có sự tiến bộ. Trong mỗi khóa
thiền, quý vị niệm phồng xẹp
là có cái mới lạ hơn trước.
Nếu ta ghi nhận rõ thì không phải
chỉ ghi rõ thân thôi mà còn ghi
rõ luôn tâm.
Khi ghi nhận tâm, chúng
ta nên ghi nhận một cách tỉ mỉ hơn,
vì tâm không thấy hay cảm xúc
được nên khó ghi nhận. Ta cũng
nên có những hành động chậm
chạp hơn, nếu hấp tấp không bao giờ
thấy được tâm. Ví dụ, khi quý vị
muốn uống nước, đừng hấp tấp
hành động liền, mà nên niệm muốn
uống - muốn uống - muốn uống vài
lần cho thấy rõ tác ý muốn
uống rồi mới chậm chạp uống
nước. Thực tập lâu ngày, khi nhân
"muốn hành động" phát sanh, quý
vị có thể niệm nhanh được, nhưng
ban đầu hành giả phải niệm chậm
mới thấy rõ tâm tác ý.
Không việc gì xảy ra
trên thế gian này mà không có
Nhân. Vì vậy mới có Quả. Thông
thường chúng sanh sợ là sợ
cái Quả mà không biết sợ cái
Nhân, chỉ có Đức Bồ-Tát mới
sợ Nhân vì Ngài thấy rõ cái
Nhân và niệm Nhân nên mới thành
Phật. Bây giờ nếu ta là đệ
tử Phật và muốn thành Phật, ta phải
thấy rõ cái Nhân và sợ cái
Nhân như Ngài vậy. Đó là
phương pháp chúng ta đang thực tập.
Ở đây chúng ta phải
niệm chậm chậm. Ví dụ lúc ăn,
chúng ta phải niệm nhai-nhai-nhai thật
là chậm. Tại sao vậy? Điều này
có nhiều ý nghĩa. Ví dụ để
làm một việc gì tỉ mỉ, ta phải
làm chậm và làm nhiều lần. Thì
trong Thiền Minh Sát cũng vậy. Muốn hiểu
rõ đề mục một cách tỉ mỉ,
chúng ta phải cẩn thận chu đáo, xem
xét thật là kỹ lưỡng từ
đầu đến cuối. Dù đề mục
là phồng xẹp đi nữa, nó có
ý nghĩa của cái phồng, cái xẹp.
Trong một cái phồng, có bao nhiêu
sự chuyển động của cái phồng. Xẹp
cũng vậy.
Hoặc đưa tay ra rồi
kéo tay vào cũng vậy. Nếu thu hình qua
máy quay phim thì phải có nhiều hình
ghép lại mới thấy được sự
chuyển động của tay; còn nếu chỉ
lấy một hình ra thì không thấy
được sự chuyển động của tay.
Ở đây cũng vậy, nếu niệm đưa
ra - đưa ra - đưa ra chậm chậm thì
ta cũng biết được chi tiết của thân
và của tâm trong sự đưa tay ra hay co
tay vào. Chỉ là cái tay đưa ra và
đưa vào mà nếu quay phim thì biết
bao nhiêu phim mà chúng ta có thể thấy
được. Huống chi là tâm. Nếu ta
có thể chụp hình được tâm,
trong một cái đưa ra của tay là có
biết bao sự sinh diệt của tâm
để nó theo dõi sự chuyển động
của tay.
Đức Phật bảo: "Sắc
sanh diệt một lần thì Tâm sanh diệt 17
lần." Vì vậy, mỗi lần niệm, ta
phải niệm cho thật chậm để thấy
rõ danh sắc. Làm chậm để dễ
niệm và phát triển Chánh Niệm, nhờ
vậy sẽ có nhiều trí tuệ. Khi
có trí tuệ, hành giả biết
rõ Danh Sắc và Nhân Quả. Còn hấp
tấp thì không bao giờ thấy rõ Danh
Sắc hoặc Nhân Quả.
Vì Tuệ Danh Sắc và
Nhân Quả quan trọng nên quý vị cần
phải kinh nghiệm qua. Nếu Sư giảng theo kinh
sách thì không bao giờ quý vị kinh
nghiệm được. Quý vị đã
từng học rất nhiều trong kinh sách, như
trong Vi Diệu Pháp, mà đâu có kinh
nghiệm Danh Sắc được đâu! Vì
vậy, sau khi thực hành, quý vị đến
trình pháp, nói biết rõ cái này
là Danh, cái kia là Sắc, Sư rất hoan
hỉ. Và nếu quý vị thấy thêm
Nhân Quả nữa, Sư càng hoan hỉ hơn. Cho
nên, đôi khi Sư khuyên quý vị tự
viết lại những kinh nghiệm của mình
để xem có đúng hay không. Sách Visuddhimagga
(Thanh Tịnh Đạo) có nói rõ về hai Tuệ
này. Tuy hai tuệ này là phàm tuệ,
nhưng nếu ta kinh nghiệm hoặc thấy rõ
thì nó là trợ duyên cao cho hành
giả trong kiếp sống này. Ý nói là
nếu hành giả thấy Nhân Quả, thấy
được sự thay đổi hay sanh diệt
của Danh Sắc, và bắt được
tác ý thì quý vị thật sự
có một trợ duyên trong Phật Pháp.
Sách Visuddhimagga cũng
có nói rằng, hành giả nào thấy
rõ được Danh Sắc và Nhân Quả
với Tuệ Minh Sát thì người đó
sẽ không đi vào 4 đường ác
đạo (a-tu-la, ngạ quỷ, địa ngục,
súc sinh) trong kiếp kế. Và nếu không
đi vào 4 đường ác đạo, quý
vị sẽ được tái sanh vào những
cõi có trợ duyên để có thể tu
tập tiếp và có thể đắc quả
cao. Người thấy rõ Danh Sắc, rõ Nhân
Quả, và thấy sự sanh diệt từng sát-na
một, gọi là tiểu Tu-Đà-Hườn.
Bây giờ nói về Nhân
Quả. Khi ngồi lâu quý vị bị đau,
niệm đau-đau-đau. Đôi khi quý
vị sợ, nghĩ rằng cái đau này do
nghiệp kiếp trước làm những việc
xấu. Chỉ vì thấy Nhân Quả mà quý
vị có thể thấu triệt được
hành động trong kiếp trước. Hoặc
đôi khi quý vị nghĩ: Tại sao tôi
già? Sở dĩ có già là vì có
sanh. Tại sao sanh? Sanh tại có Nghiệp. Tại sao
có Nghiệp? Tại ái dục, tại thủ,
tại chấp thân này nên có thân này.
Chúng ta có thể xem và thấy nhân
quả đưa đẩy theo thứ tự của
Thập Nhị Nhân Duyên. Ngược, ta cũng
tìm thấy Nhân Quả; mà xuôi, ta cũng
tìm thấy như vậy.
Kế đến, quý vị
thấy thân tâm này liên quan với
nhau. Nếu có thân mà không có tâm
thì thân này chết. Nếu có tâm
mà không có thân thì tâm không
hoạt động được. Ví dụ, qua
cái thấy, sở dĩ tâm hoạt
động được là nhờ có mắt
mới thấy cảnh bên ngoài. Nếu mắt
hư là tâm không thấy chi cả.
Nếu có mắt mà không có tâm
thì mắt chẳng biết chi cả. Như vậy,
chúng ta không có Ngã, chỉ có sự
làm việc của thân tâm, mà từ
trước đến nay, chúng ta cứ tưởng
là có cái "ta".
Bây giờ nói về tâm
thức. Khi có trần cảnh bên ngoài,
thức sẽ hiện ra trong căn và trí nhớ
theo niệm tâm thức. Khi ta không
có trí nhớ (Chánh Niệm), tâm
sẽ hoạt động theo thiện ác.
Người không có Chánh Niệm sẽ
bị cảnh ở ngoài chi phối và ác
pháp khởi sanh. Khi có Chánh Niệm, ví
dụ khi thấy thì ta niệm thấy, thì
ác pháp không khởi sanh được;
và nhờ đó, ta không bị lầm. Từ
trước đến nay, khi thấy hay khi nghe ai,
chúng ta không cho đó chỉ là
người mà còn cho là cái gì
khác hơn nữa rồi tô điểm thêm.
Vì vậy phiền não sanh lên. Giờ
đây dù thấy người đó tốt
hay xấu, mình cũng chỉ niệm thấy-thấy-thấy.
Niệm được giây phút nào thì
tâm ta trong sạch trong giây phút ấy.
Chánh Niệm ghi nhận rõ
đề mục và dạy tâm thức trú
trong đề mục. Chánh Niệm khi thấy
thì nói thấy nên tâm không
bị những tư tưởng khác bôi nhọ.
Từ trước đến nay vì không có
Chánh Niệm, vừa thấy thì tâm
đã tưởng một cái gì khác
xấu hoặc tốt, rồi phiền não sanh
lên. Vậy Chánh Niệm có khả năng
sửa ác pháp thành thiện pháp
và chỉ sửa được trong giây phút
này thôi. Nếu thấy qua rồi hay chưa
thấy thì không bao giờ sửa được.
Vì vậy đang thấy phải niệm thấy-thấy-thấy.
Đang nghe, phải niệm nghe-nghe-nghe. Đang nhai,
phải niệm nhai-nhai-nhai. Thì lúc
đó phiền não không khởi sanh
được. Và cứ như vậy ta niệm cho
đến khi không còn phiền não
nữa.
Làm việc gì cũng
có Nhân, có Quả. Ta ngồi đây
cũng có Nhân, có Quả; hay đi đâu
cũng có Nhân, có Quả. Vì vậy,
Sư khuyến khích quý vị tinh tấn tu
niệm trong những ngày còn lại cho thấy
rõ Danh Sắc và Nhân Quả. Có như
vậy, quý vị mới không còn nghi ngờ.
Khi hành giả tích cực niệm không
gián đoạn, tâm không phóng
và sẽ thấy đề mục rõ ràng.
Khi hành giả đang ăn hoặc đang đi,
nếu làm chậm chậm, tinh tấn niệm, và
chú ý kỹ thì sẽ thấy rất rõ
Danh Sắc đi chung với nhau cũng như lúc
ngồi vậy.
Khi chú tâm niệm vào
bất cứ đề mục nào, hành giả
sẽ thấy đó là Danh và Sắc,
là sự thay đổi Vô Thường từng sát-na
một; và như vậy không chấp vào
nó. Đề mục khởi sanh có thể
nhỏ, to, dễ chịu, khó chịu hay thay
đổi. Quý vị không nên sợ sệt
vì đề mục thay đổi, cũng không
nên dính mắc vì đề mục dễ
chịu. Cứ niệm cho qua, dù khó khăn hay
dễ chịu. Nhiệm vụ hành giả là ghi
nhận cái gì đang xảy ra trong hiện
tại; không nên nghĩ lại quá khứ
và tưởng tượng đến tương lai.
Hành giả cứ sống trong hiện tại. Vì
vậy trong thời gian còn lại của khóa
thiền, Sư khuyến khích quý vị tinh
tấn tu niệm và mong quý vị kinh nghiệm
chính chắn những loại Tuệ mà Sư
vừa trình bày.
Thời giáo lý đến
đây xin tạm dứt. Trước khi dứt, Sư
xin cầu nguyện Hồng Ân Tam Bảo hộ
trì cho quý vị được sự an vui, tinh
tấn tu hành, mau đến nơi giải thoát
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật
Ngày Thứ Năm
Hôm nay Sư sẽ giảng về
Tứ Diệu Đế, một đề tài sâu
xa nhất và khó hiểu nhất trong Phật
giáo.
Tứ Diệu Đế hay Tứ
Thánh Đế là gì? Đây là
bốn sự thật. Gọi là thật
vì nó không thay đổi. Bốn sự
thật này chỉ có bậc thánh nhân
mới thấy rõ được. Bậc thánh
nhân là các vị: Tu-Đà-Hườn,
Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm, A-La-Hán, Phật
Độc Giác và Phật Chánh Đẳng
Chánh Giác. Chỉ những bậc thánh
nhân mới thấy rõ Tứ Diệu Đế,
hiểu rõ đó là thật, và
nhận thức đó là thật.
Đức Phật tìm ra Tứ
Diệu Đế, chứ Ngài không sáng
tạo ra Tứ Diệu Đế. Lịch sử Phật
Giáo có ghi rằng: "Tất cả các
vị Phật trong quá khứ, hiện tại, và
tương lai, như Đức Thích Ca Mâu Ni,
đều tìm thấy Tứ Diệu Đế."
Vì vậy, Tứ Diệu Đế hay Tứ
Thánh Đế là những sự thật luôn
luôn hiện hữu và không thay đổi.
Đức Phật thuyết giảng
về Tứ Diệu Đế lần đầu tiên
tại rừng Lộc Giả cho năm anh em
Kiều-Trần-Như. Và trong 45 năm trên
đường hoằng pháp của Đức
Phật, Ngài luôn luôn nhắc nhở về
Tứ Diệu Đế, vì Tứ Diệu Đế
rất quan trọng. Ngài luôn luôn nhắc
đến bốn sự thật đó vì
muốn chúng sanh thấy được sự
thật như Ngài. Chỉ có bấy nhiêu
đó thôi. Đó là những sự
thật có lợi ích mà Ngài đã
tìm kiếm trong bao nhiêu kiếp. Công phu tu
luyện, từ khi nguyện trong tâm cho đến khi
nguyện ra lời, thành Phật của Ngài
chỉ có một mục đích là
để thấy rõ sự thật.
Ngày hôm nay, Đức
Thế Tôn đã thấy rõ ràng, nên
Ngài luôn luôn đề cao sự thật
và hướng dẫn cho các đệ tử
của Ngài để nếm được
hương vị của sự thật như Ngài.
Chỉ có bốn sự thật này là
liên quan đến tất cả các pháp
của Đức Thế Tôn thuyết giảng trong 45
năm. Bất cứ đề tài nào của giáo
pháp cũng không ngoài Tứ Diệu
Đế.
Đức Phật dạy rằng chỉ
có bốn sự thật, gọi là Tứ
Diệu Đế. Tứ Diệu Đế gồm
có: Khổ Đế, Tập Đế, Diệt
Đế, và Đạo Đế. Đức
Phật bảo Khổ là thật. Nếu ta nghĩ
Khổ là giả là ta vẫn còn mê
lầm. Nhân gây ra Khổ, gọi là Tập,
cũng là thật nữa. Nhân này gây ra
sự đau khổ cho chúng sanh cũng như cho
chính Đức Bồ-Tát trong bao nhiêu
kiếp. Sau khi biết được hai sự thật
này rồi, Đức Phật còn tìm
thấy sự Diệt Khổ. Do vậy, sự Diệt
Khổ hay Niết-Bàn cũng là một sự
thật. Và cái gì có thể dập
tắt sự đau khổ? Đức Phật tìm ra
phương pháp để diệt hẳn sự
khổ. Phương pháp diệt khổ, gọi
là Đạo, là sự thật thứ tư.
Tóm lại, Tứ Diệu Đế là bốn
sự thật mà chư Phật tìm ra và
chỉ dẫn lại cho các hàng đệ tử
của Ngài.
Một bậc thánh nhân
phải thấy bốn sự thật này. Nếu
chưa thấy thì chưa phải là thánh
nhân. Vì vậy, giáo lý của Đức
Phật luôn đề cập đến Tứ
Diệu Đế. Khi nói đến Tứ Diệu
Đế thì có Khổ là đầu;
mà chúng sanh thì không muốn nghe như
vậy, cho nên họ thấy dường như
giáo lý đạo Phật có vẻ bi quan. Tuy
nhiên, nếu chúng ta thông hiểu sâu xa
thì không phải như vậy.
Thế nào gọi là
Khổ? Đức Phật bảo sanh là khổ.
Tại sao vậy? Vì đây là nhân
của sự giaụ. Sau cái sanh là già,
mà già thì khổ thật vì nhiều bệnh
hoạn ốm đau. Cái Khổ này, không ai
muốn có nhưng không thể tránh
được. Suy xét lại, ta thấy nếu
không có sanh thì làm sao có già
và có khổ? Vì vậy, có phải sanh
là nhân làm cho ta khổ không? Tại
vì ta không có trí tuệ suy xét
nên không biết đó thôi. Bây giờ
ta thấy già có cái Khổ của
già, lại thêm bệnh hoạn vì
thân này đã cũ. Cái gì
đã cũ, đã hư hoại thì đau
khổ. Vậy già là khổ, bệnh hoạn
là khổ. Kế đó là sự chết,
một cái khổ nữa. Không ai muốn đi
đến cái chết; mà dù muốn dù
không, lúc nào ta cũng phải bước
về chỗ đó. Vì vậy, cuộc
đời là một chuỗi đau khổ từ
đầu đến cuối.
Còn có những cái
khổ khác trong đời sống. Một là
cái ta thích mà lại xa lìa ta thì
cũng làm ta đau khổ. Hai là cái ta
ghét mà lại phải gặp thì ta cũng
khổ. Ba là điều mà Đức Phật
tóm tắt trong câu: "Sankhithena paccuppanna
khandhadukkha." Nghĩa là gom tất cả các
sự khổ ấy trong một chỗ gọi là "ngũ
uẩn thủ". Khi chúng ta chấp vào
ngũ uẩn này, đó là khổ.
Điều này hơi khó hiểu. Ngũ uẩn
là sắc, thọ, tưởng, hành, thức trong
con người. Thuộc về ngoại thân là
ngũ trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc.
Chữ "chấp" ở đây có nghĩa
là khi thấy thân này, ta chấp vào
một cái Ta hay một cái Ngã. Con
người thường cho sắc là ta, thọ
là ta, tưởng là ta, hành là ta,
thức là ta; và chấp vào đó.
Ví dụ: chấp ta đau. Khi có cái chấp
này rồi, tự nhiên cũng có chấp
vào ngoại cảnh: sắc, thanh, hương,
vị, xúc là ta nữa. Chẳng hạn
chấp vật đó là của ta. Càng
chấp nhiều chừng nào thì ta càng
khổ nhiều chừng ấy. Vì vậy, Đức
Thế Tôn thường nói chấp ngũ
uẩn thủ là khổ.
Đức Phật và các
bậc A-La-Hán cũng có ngũ uẩn nhưng
không còn khổ vì các Ngài không
còn chấp ngũ uẩn này là của
các Ngài nữa. Các Ngài đã
thấy rõ con người là Danh và Sắc.
Do đó, cái Ta của các Ngài mất
hẳn. Đối với các Ngài, đây
chỉ là Danh Sắc đang hoạt động
đó thôi. Dù có chuyện gì xảy
ra đi nữa, các Ngài không có chấp
cái sắc là ta, cái thọ là ta, v.v...
Vì vậy các Ngài không đau khổ.
Chúng sanh khổ vì chúng sanh chấp ngũ uẩn
là của ta. Cho nên, Khổ là khổ ở
cái chấp đó.
Khi thân tâm khổ, ta cho
là khổ, thì dễ hiểu. Nhưng tại sao
khi thân tâm vui, mình cũng cho là khổ?
Đây là điều chúng sanh không
nhìn nhận vì thấy khó hiểu. Muốn
hiểu điểm này, phải hiểu thêm
giáo lý của Đức Phật. Ở
đây, Ngài thuyết giảng về các
loại khổ cho ta hiểu. Nếu hiểu rõ, ta
sẽ thấy đạo Phật không phải bi quan.
Đức Phật nói có ba
cái Khổ cần phải hiểu rõ:
1. Một là dukkha dukkha
(khổ khổ): Khổ vì khổ, hay nói
rõ hơn khi thân đau, tâm cũng cảm
thấy khó chịu.
2. Hai là viparinamadukkha
(hoại khổ): Khổ vì thay đổi.
Đức Phật bảo, nếu không có thay
đổi thì chúng sanh không khổ. Nhưng
mọi việc trên thế gian đều thay
đổi, vì vậy mà chúng sanh khổ
nhiều nhưng không hay biết. Ví dụ,
trèo cao thì té nặng. Chức vị
càng cao thì khi bị giáng chức, lại
càng đau buồn. Càng vui nhiều thì
lúc hết vui cũng buồn nhiều. Vui bao nhiêu
thì cái khổ cũng trả lại bấy
nhiêu, không bao giờ ít hơn. Cũng như
khi ta có một cái gì làm ta hết
sức vui mừng, mà sau đó vật ấy
lại bị hư hỏng thì ta khổ cũng
nhiều như vậy hoặc còn hơn đó
nữa. Tại sao vậy? Vì cái vui có
thời hạn. Vui được một tháng, hai
tháng, một năm, hai năm. Mà cái khổ
không có thời hạn. Một năm vẫn
còn khổ, hai năm vẫn còn khổ,
đôi khi khổ suốt đời. Do đó
Đức Phật dạy: "Sự thay đổi
gây ra cái khổ".
3. Ba là sankharadukkha
(hành khổ): Khổ ở trong
điều-kiện-pháp. Chỗ này hơi
khó hiểu. "Điều kiện pháp"
là gì? Tất cả các pháp thên
thế gian này đều nằm trong 3 điều
kiện pháp, cũng được gọi là tam
tướng. Điều kiện thứ nhất là
Vô Thường, thứ hai là Khổ, thứ ba là
không có ai làm chủ được hết,
cũng gọi là Vô Ngã. Vậy sankharadukkha
bao gồm hai cái Khổ trên. Vì Khổ ở
trong điều kiện pháp này nên hành
giả mới lại tu tập. Mà làm sao thấy
được những điều kiện pháp
này được? Muốn thấy rõ, chỉ
có thực hành Thiền Minh Sát hay Vipassana,
và khi có Minh Sát Tuệ mới thấy
những điều kiện pháp như vậy
được. Vì vậy có câu kệ: "Sabbe
sankhara aniccati yada pannaya passati atha nibbindati dukkhe esa maggo
visuddhiya"; có nghĩa là "Khi hành
giả suy xét các tập hợp pháp là
Vô Thường trong giờ nào thì ắt
chán nản sự khổ trong giờ ấy.
Đó là con đường thanh bạch trong
sạch."
Tất cả các tập hợp
pháp đều là Vô Thường. Ở
đây, các tập hợp pháp có nghĩa
là sắc, thọ, tưởng, hành, thức,
hay là sắc, thanh, hương, vị, xúc,
hay là danh sắc. Chỉ có người
có trí tuệ mới thấy được
Vô Thường. Khi hành giả thấy
được Vô Thường như vậy thì
phát sanh sự chán nản trong các tập
hợp pháp hay là trong Danh Sắc. Đây
là con đường thanh bạch hay là con
đường Niết Bàn vậy.
Khi hành giả tu niệm trong 10
ngày, niệm Danh niệm Sắc, thì hành
giả sẽ thấy sự thật hay chân
đế. Danh Sắc hay Ngũ Uẩn gom lại
gọi là tập hợp pháp hay pháp
hành. Bằng Tuệ Minh Sát, hành giả
luôn luôn thấy nó. Ngoài Tuệ Minh
Sát, không bao giờ ta thấy được
những pháp này. Nếu không có Tuệ
Minh Sát, chúng sanh lầm lẫn, cho đời
là vui, là thường rồi mừng. Càng
vui mừng nhiều, khi nó thay đổi, thì
càng khổ nhiều, vì không thấy
được pháp sanh diệt.
Như Sư vừa nói, chỉ
có Đức Phật và các vị
A-La-Hán mới không còn khổ nữa.
Chúng sanh còn Khổ vì chưa diệt trừ
được phiền não trong tâm. Nhưng
dù chưa hoàn toàn diệt được
phiền não, khi đang hành Thiền Minh Sát,
hành giả có thể tranh đấu với
sự Vô Thường, Khổ Não một phần
nào; hay là có trí tuệ để
diệt sự Khổ một phần nào. Do nhờ
Tuệ Minh Sát, hành giả thấy rõ Danh
cũng như Sắc luôn luôn sanh diệt.
Nếu thấy rõ sanh diệt (hay thay đổi)
là quý vị sẽ thấy Khổ trong lúc
đang tham thiền. Thiết tưởng hành giả
nào cũng vậy, chán nản sự Khổ
này, không muốn có nó. Để
giải thoát đau khổ, chúng ta phải
niệm cho thấy danh sắc rõ ràng và
có như vậy, mới giải thoát
được. Đây là phương pháp
của Đức Phật dạy. Chính nhờ Tuệ
Minh Sát này, Đức Phật mới diệt
hẳn phiền não, diệt hẳn điều
kiện pháp.
Như vậy, Đức Phật
dạy: "Khổ là do sự thay đổi, Khổ
do sự chấp, và Khổ do ngũ uẩn."
Tất cả đều là Khổ hết. Đây
gọi là Khổ đế. Đức Phật
thuyết bài pháp này cho loài người
trên thế gian nghe vì con người mới
có đủ trí để suy xét và
nhận thức được giáo lý này.
Chúng sanh ở cõi thấp hơn thì lại
quá đau khổ, luôn bi quan, không nhận
thức được. Còn chúng sanh ở
cõi cao thì lại quá vui, quá lạc quan,
cũng không nhận thức được.
Đức Phật cũng dạy giáo lý này
ở cõi trời cho những Chư Thiên nào
đã tu tập và có chánh kiến,
nhận thức giáo lý của Đức
Phật; chứ không phải thuyết cho vật
vô tri vô giác.
Bây giờ chúng ta đã
thấy rõ Khổ và nhìn nhận có
thật như vậy. Khổ này không thay
đổi, gọi là Khổ Đế. Có
Khổ rồi, vậy cái gì làm cho chúng
sanh Khổ? Đức Phật dạy rằng nhân sanh
ra Khổ là ái dục. Ái dục
hay tham lam, tham ái là guồng máy của
sự đau khổ. Tâm tham ái là
tâm không muốn mất. Nếu chúng sanh
có tâm như vậy thì tự nhiên
có hành động hay tạo nghiệp để
gìn giữ những cái mình có mà
không muốn mất. Có ba cấp ái dục:
ái dục ở cõi người và cõi
trời Dục giới, ở cõi Sắc Giới,
và ở cõi Vô Sắc Giới.
Bây giờ nói về ái
dục ở cõi Dục Giới. Khi có tâm ham
muốn thì tự nhiên tạo hành
động cũng gọi là tạo nghiệp. Nghiệp
thì có nghiệp thiện và nghiệp ác.
Và khi có nghiệp thì có quả. Nếu
có quả rồi, tự nhiên sẽ đưa tới
những nghiệp và quả khác nữa. Vì
vậy, khi nói về Khổ, ta thấy rõ sự
Khổ trong hiện tại do nghiệp trước
đưa lại; mà nghiệp là do ái
dục. Vậy sự Khổ trong hiện tại là do
ái dục đưa lại. Rồi ái dục
còn bảo hộ, duy trì, gìn giữ, và
tạo thêm nghiệp mới nữa.
Cũng vậy, nghiệp mới
sẽ sanh ra những quả mới. Quả mới sẽ
đưa đẩy chúng sanh đi trong kiếp
khác nữa. Đây là guồng máy
luân hồi tạo đau khổ không bao giờ chấm
dứt; từ những đau khổ trong quá khứ
đến những đau khổ khác trong kiếp
này và từ những đau khổ trong kiếp
này đến những đau khổ khác trong
kiếp vị lai. Như thế, nếu còn ái
dục thì sự đau khổ sẽ không bao
giờ chấm dứt.
Khi ta thấy rõ lý Tứ
Diệu Đế thì sẽ thấy đây
là khía cạnh của luân hồi và
đau khổ. Không phải là ta không
thoát ra được. Đức Phật còn
thuyết thêm hai sự thật kế tiếp.
Đó là Diệt Đế và Đạo
Đế. Diệt Đế có khả năng dập
tắt sự đau khổ, và làm cho sự
đau khổ không còn trở lại nữa.
Muốn có Diệt Đế, phải có
phương pháp cho chúng ta thực hành,
đó là Đạo Đế.
Chữ Diệt Đế có
nghĩa là Niết-Bàn, vì Niết-Bàn
diệt hẳn phiền não và làm phiền
não không còn trở lại. Đây là
có ý nói về Đức Phật và
các bậc A-La-Hán. Còn các bậc
Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm và
A-Na-Hàm chỉ diệt được một phần
nào và vẫn còn những phiền não vi
tế. Diệt ở đây là do đạo
tâm diệt. Các bậc A-La-Hán diệt
phiền não rồi đi đến Niết-Bàn
thì sự khổ không còn trở lại
nữa.
Riêng hành giả khi thực
hành, làm sao biết được là
phương pháp đó đúng và
kết quả của sự thực hành đó
là gì? Như thế nào là diệt
trừ phiền não? Sư xin nhắc lại: "Khi
ái dục diệt thì phiền não cũng
diệt, vì ái dục là nhân của
phiền não." Diệt trừ phiền não
hay diệt trừ ái dục cũng có cấp
bậc. Đức Phật và các vị
A-La-Hán có đạo tâm đi đến
Niết-Bàn và diệt hẳn phiền não.
Riêng hành giả, lúc tu niệm cũng
diệt được phiền não một phần
nào. Với chánh niệm, hành giả diệt
được phiền não từng sát-na một.
Vì vậy khi thực tập, hành giả phải
luôn luôn có Chánh Niệm và tâm
Định. Định, Huệ ở trong Chánh Tinh
Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định.
Đây là những chi của sự giải
thoát. Khi ta ở trong những chi phần này
thì ta có khả năng diệt trừ phiền não
trong lúc ấy.
Đức Phật dạy sankharadukkha,
nghĩa là ngũ uẩn là khổ hay các
pháp hành là khoạ. Nếu chúng ta chấp
nó là chúng ta khổ. Nếu có ngũ
uẩn này mà chúng ta không chấp nó
thì chúng ta không khổ. Vì vậy, khi
chúng ta niệm Danh Sắc chính là niệm
ngũ uẩn này. Niệm Danh, niệm Sắc
chính là niệm các tập hợp
pháp này. Và khi niệm, chúng ta có
huệ, thấy sự thay đổi hay sanh diệt
trong Danh Sắc. Người đời thấy vui chạy
theo vui mà khi hết vui trở thành buồn.
Nhưng hành giả không phải vậy. Có
đề mục, dù vui dù buồn, hành
giả đem ra thực tập, niệm cho thấy sự
Khổ Não, cho thấy các điều kiện
pháp mà chúng sanh thường không
thấy.
Như Đức Phật đã
nói, muốn thấy Niết-Bàn phải thấy
điều kiện pháp. Vì vậy, ta phải
thấy điều kiện pháp ở trong
Danh Sắc này. Nếu chúng ta thấy điều
kiện pháp rồi, thì hiểu Danh Sắc
ở trong điều kiện pháp là ở
trong sự vô thường. Nếu ở trong vô
thường như vậy, ta dạy tâm ta, là danh
sắc sanh rồi diệt. Hay khi Tham sanh lên, với
trí nhớ mạnh ta niệm, cái Tham sẽ
diệt mất đi. Như vậy mình có
khả năng diệt Tham được liền trong
giây phút đó. Nhưng vì chúng ta
còn ở trong sát-na Định, chưa
đi đến đạo tâm, nên tâm
Tham còn trở lại sau đó. Nếu ta đi
tới đạo tâm thứ tư như vị A
La Hán, phiền não tiêu diệt hoàn
toàn và không bao giờ trở lại.
Như chúng ta, khi niệm
đến ngày thứ năm, thứ sáu, là
đã thấy phiền não khó khởi
sanh làm chi phối tâm ta. Huống chi là
các Ngài A-La-Hán. Khi các Ngài đi
đến đạo tâm thứ tư, phiền
não hoàn toàn diệt hẳn, không còn
khởi sanh trở lại trong tâm. Nghĩa là
mất hẳn. Tham không còn sanh lại
được, Sân cũng không còn sanh lại
được, thì đâu có gì có
thể chi phối tâm của một vị
A-La-Hán. Vì không có phiền não,
các Ngài không cần phải niệm. Trong khi
chúng ta phải niệm vì phiền não
còn khởi sanh trong tâm ta. Và vô
thường, phiền não có thể khởi
sanh bất cứ lúc nào. Ví dụ như
đang vui, cái buồn khởi sanh lên, cắt
đứt niềm vui đi. Nếu chỉ có vui thôi,
còn buồn không sanh lên thì mình
đâu có lo. Vì vậy chúng ta phải
niệm, niệm cho thấy vui cũng vô thường
mà khổ cũng vô thường. Đang vui,
niệm vui là nó mất rồi. Đang buồn,
niệm buồn là nó cũng mất. Đức
Phật chỉ dạy đây là viparinama dukkha,
là "khổ vì thay đổi" mà
chúng sanh thường mê lầm, không biết
vậy.
Chúng ta phải có kinh
nghiệm hết tất cả các điều
đó. Chúng ta phải nhìn nhận Khổ
vì khổ, Khổ vì sự thay đổi,
và Khổ vì chấp ngũ uẩn. Và
cứ như vậy, ta niệm. Đây là
phương pháp diệt trừ phiền não
từng sát-na một. Chúng ta cứ diệt
từng cái cho đến khi phiền não
không còn trở lại trong tâm. Bây giờ
phiền não của ta đang "ốm
yếu" dần dần. Nghĩa là phiền
não lắng xuống, không còn hoạt
động mạnh, như vậy tâm hành giả
có thể khắn khít với đề mục.
Và khi tâm khắn khít trong đề mục
thì phiền não lại càng yếu
và càng không có sức mạnh nổi
dậy. Đây là sát-na diệt trong khi
hành giả đang hành thiền tích cực,
nhưng chưa phải là cái diệt cuối
cùng của phiền não. Cái diệt
cuối cùng của phiền não chính
là Diệt Đế, là sự thật thứ ba
vậy.
Làm sao có sự thật
thứ ba này? Để có Diệt Đế,
phải có phương pháp cho chúng ta
thực tập. Phương pháp diệt hẳn phiền
não hay diệt trừ từng sát-na một
là Đạo Đế. Đạo Đế, hay con
đường đến Niết-Bàn có tám
chi: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh
Nghiệp, Chánh Ngữ, Chánh Mạng, Chánh
Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định.
Nói tóm lại, tất
cả là bốn sự thật mà Đức
Thế Tôn tìm thấy. Ngài không tìm
thấy ở nơi nào khác, không phải
cõi trời, hay ở cõi Phạm Thiên. Mà
Ngài tìm thấy trong thân tâm này.
Vì vậy, Đức Phật dạy con
đường đến Niết-Bàn chính ở
trong thân tâm ta, và Ngài chỉ
phương pháp cho chúng ta áp dụng.
Chúng ta phải trở lại
với chính bản thân ta và thực tập.
Đức Phật bảo, phải thấy Danh Sắc
là điều thứ nhất. Làm sao thấy Danh
Sắc? Phải niệm: niệm thân, niệm
thọ, niệm tâm, niệm pháp. Phải
niệm cho đến khi thấy rõ Danh Sắc. Khi
thấy rõ Danh Sắc rồi, niệm cho đến
khi thấy trong Danh Sắc có Nhân có Quả.
Danh Sắc ở đâu đưa lại đây?
Trước khi ngồi đây, từ đâu
đưa lại? Tại sao thân cử động
được? Cái gì là chủ chốt
đưa thân này ngồi xuống trong khi tứ
đại không biết gì hết?
Phần chủ động sự
cử động của thân chính là tâm.
Tác ý muốn cử động như
muốn đi, muốn đứng, muốn nằm,
muốn ngồi, v.v... làm chủ động cho sự
cử động. Tác ý muốn cử
động là nhân của sự cử
động và sự cử động là quả
của tác ý muốn cử động.
Đây là nhân quả. Vì vậy, quý
vị phải niệm tác ý muốn cử
động. Đây là nhân quả. Vì
vậy, quý vị phải niệm tác ý
trước khi làm một điều gì, niệm
cho đến khi bắt được nó.
Quý vị cần phải
khuyến khích tâm, đừng dải đãi.
Người ta ở đời còn dạy
được. Con cháu ta không biết chi hết
mà ta còn dạy cho biết đi, đứng,
nằm, ngồi, ăn uống, v.v... được.
Huống chi chúng ta có trí tuệ đầy
đủ và ở đây ta chỉ làm
lại những việc đã làm rồi trong bao
nhiêu năm. Chỉ khác là bây giờ ta
tìm sự thật đang ẩn trong ta. Vì
vậy, Đức Phật nói, Niết-Bàn ở
trong thân tâm. Bây giờ, chúng ta đang
tìm kiếm từ từ, sự sáng suốt
sẽ lần lần đến với chúng ta.
Nếu thấy rõ Danh Sắc,
lần lần ta không còn chấp vào một
cái Ngã. Như vậy là bớt một
cái khổ rồi. Và nếu niệm, ta thấy nhân
quả và sanh diệt nữa thì càng
đáng vui cho thân tâm này.
Mỗi lần ta thấy rõ
sự sanh diệt là mỗi lần ta thêm xa
rời phiền não, vì ta bớt chấp thân
tâm này. Đây là diệt phiền
não. Ta xa nó bằng cách nhìn nó,
hiểu nó cho rõ. Không phải ta xa nó
bằng cách chạy trốn. Vì vậy
Đức Phật bảo rằng Niết-Bàn ở
trong thân tâm chứ không phải ở
ngoài thân tâm.
Sự khổ không ngoài thân
tâm. Ái dục không ngoài thân
tâm. Niết-Bàn không ngoài thân
tâm. Cũng như Bát Chánh Đạo
không ngoài thân tâm. Vì vậy,
cái khổ, cái vui ở trong thân tâm
chứ không phải ở ngoài thân tâm.
Và con đường đi đến
Niết-Bàn cũng ở trong thân tâm.
Bây giờ, chúng ta đang
trên con đường đến Niết-Bàn. Mong
rằng quý vị phát triển trí tuệ
hiểu biết Danh Sắc, hiểu biết nhân
quả, và trí tuệ thấy sự sanh diệt
từng sát na một của Danh cũng như Sắc.
Mong rằng quý vị luôn gặt hái được
quả báu cao thượng cho đến khi
đắc đạo quả Niết-Bàn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật
Ngày Thứ Sáu
Khi nói đến giáo lý
của Phật giáo, chúng ta nói về nhân
quả. Tay làm thì thân sẽ
hưởng quả. Miệng (khẩu) nói thì thân
sẽ hưởng quả. Tâm suy nghĩ thì tâm
sẽ hưởng quả. Như vậy, giáo
lý Phật Giáo chỉ nói đến nhân
quả của thân và tâm, mà
không nói đến Ngã. Và vì
vậy, khi thuyết giảng, Đức Phật
thường dùng chữ Danh Sắc để chỉ
con người. Trong xã hội, Đức Phật
cũng dùng chữ Ta hay Như Lai để chỉ
Ngài khi nói chuyện. Đây là tục
đế chứ không phải là chân
đế. Để hiểu nghĩa đó
thật đúng mức, ta phải thực hành
như quý vị đang thực hành đây.
Như Sư đã nói
hôm trước, mọi việc trên thế gian
này, có ta hoặc không có ta làm,
có người hoặc không có người
làm, đều liên quan đến Thập Nhị
Nhân Duyên. Sư sẽ giảng về Thập
Nhị Nhân Duyên sau khi giải thích cho quý
vị rõ hơn thế nào là nhân
quả.
Con người có từng giai
đoạn liên quan với nhau. Những giai
đoạn này không hoàn toàn giống nhau
mà cũng không hoàn toàn khác nhau.
Như vậy, con người chỉ là sự thay
đổi từng giây từng phút một,
là vô thường, tùy theo nhân quả.
Vì vậy, không có một việc gì
bất biến, trường tồn mãi mãi.
Nếu không có sự thay đổi, thì
không bao giờ con người có thể thành
Phật, thành Thánh. Thành Phật, thành
Thánh được là vì có nhân thay
đổi. Thay đổi từ phàm đến
thánh, đến khi thành Phật. Vì vậy,
chúng ta phải chắc chắn tin tưởng là
không có một cái Ta trường cửu,
mà chỉ có một sự thay đổi.
Nếu nhìn nhận không
có luật trường tồn, ta nên hiểu
giáo lý sâu hơn, trong Thập Nhị Nhân
Duyên, cũng gọi là Thập Nhị Duyên
Khởi. Chỉ có Thập Nhị Duyên Khởi
mới đánh đổ được thường
kiến và đoạn kiến vì nó giải
thích rõ từng giai đoạn một của con
người và cho ta thấy sự liên quan
giữa những giai đoạn này. Sự thay
đổi từ chặng này qua chặng kế
tiếp có một ý nghĩa sâu xa. Chúng
ta xem, từ vô minh đổi sang hành,
từ hành đổi sang danh sắc,
rồi thức, lục căn, v.v... theo hệ
thống của nó. Sự thay đổi này
luôn luôn diễn biến không ngừng nghỉ,
cho đến khi con người đi tái sanh,
rồi già, chết.
Luật thay đổi này,
dù có Đức Phật Toàn Giác ra
đời hay trong thời kỳ không có giáo
lý của bậc Toàn Giác, vẫn tồn
tại với chúng sanh và nhân loại.
Dưới cội Bồ-đề, Đức Phật
dùng hơi thở làm đề mục để
nhập định. Ngày xưa, một đêm chia
làm ba canh, mỗi canh có bốn giờ
đồng hồ. Chỉ trong canh đầu, Ngài
đắc Thiền Sắc Giới (theo thứ tự
từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ
thiền, ngũ thiền) và Vô Sắc Giới
(theo thứ tự từ sơ thiền, nhị thiền,
tam thiền, tứ thiền). Sau đó cũng trong canh
đầu, Đức Phật đắc Túc Mạng
Minh. Với tuệ này, Ngài soi thấy sự sanh
tử luân hồi của Ngài. Bắt đầu
từ thời điểm ngồi ở đó và
đi ngược lại thời gian, Ngài thấy
sự luân hồi của Ngài trôi lăn
không tận cùng. Và Ngài soi thấy những
chúng sanh khác cũng như thế. Đó
gọi là Túc Mạng Minh.
Ngài tiếp tục tham thiền
và đắc Thiên Nhãn Minh, cũng gọi
là Sanh Tử Minh, trong canh thứ nhì. Ngài
thấy chúng sanh sau khi chết rồi, lại đi
tái sanh nữa. Điều nầy có nghĩa
là luật luân hồi không bao giờ ngừng
nghỉ đối với chúng sanh. Đi tái sanh
là do nghiệp. Rồi tạo thêm nghiệp
và trả quả từ kiếp này qua kiếp
khác, kéo dài nghiệp quả như vậy,
không bao giờ ngừng nghỉ trong thời gian vô
định.
Trong canh thứ ba, Đức Phật
quán về Thập Nhị Nhân Duyên. Ngài
bắt đầu từ già, đau, chết.
Rồi tìm xem trước già, đau, chết
là cái gì; Ngài thấy là sanh.
Rồi trước sanh là nghiệp. Nghiệp
là do chấp, do ái. Rồi theo Thập
Nhị Nhân Duyên, Ngài đi lần tới danh
sắc (hay con người) và thức. Khi
quán tới đó, Ngài quán ngược,
cũng thấy chết trở lại. Kế
đó, Ngài quán thuận, quán nghịch,
để tìm hiểu làm sao cho mất cái
già, đau, chết. Ngài quán thấy, nếu
muốn mất già, đau, chết phải mất
sanh; rồi tuần tự, những giai đoạn
khác cũng phải mất hết. Nếu cái
này mất thì cái kia phải mất; cái
kia mất thì cái nọ mất, v.v... Như
vậy là cắt đứt vòng sanh tử
luân hồi. Quán như vậy gọi là
quán Thập Nhị Nhân Duyên.
Trong khi quán, Ngài tuần
tự đắc quả Tu-Đà-Hườn, kế
đến là Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm
và A-La-Hán. Làm sau quán như vậy?
Ngài biết công thức niệm. Lúc
đầu, Ngài dùng hơi thở đắc
Thiền Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Sau
đó, Ngài đắc thêm hai tuệ Túc
Mạng Minh và Thiên Nhãn Minh. Rồi tại sao
Ngài lại quán Thập Nhị Nhân Duyên?
Sự thật, đây là luật lệ của
một vị Bồ-Tát. Các vị Bồ-Tát
tu Ba-La-Mật không biết là bao nhiêu
A-tăng-kỳ kiếp và khi Ba-La-Mật tròn
đủ rồi, Ngài có đủ trí
tuệ quán như vậy. Tất cả các
vị Bồ-Tát đều quán giống nhau;
phải qua Thập Nhị Nhân Duyên rồi mới
đắc quả theo thứ tự
Tu-Đà-Hườn, Tư-Đà-Hàm,
A-Na-Hàm, A-La-Hán trong canh ba.
Sau khi đắc quả A-La-Hán,
Ngài kiểm điểm lại pháp Ngài
đang quán, thấy rằng Ngài không còn
sanh tử luân hồi nữa. Vì sau kiếp
này, không còn sanh tử luân hồi nên
gọi là Lậu Tận Minh. Sau đó, Ngài
ngồi dưới cội cây Bồ-đề
hưởng hương vị giải thoát trong
bảy ngày. Đến ngày thứ tám,
Ngài quán thêm thấy nguồn gốc sanh
tử luân hồi là vô minh; "avijja
paccaya sankhara, sankhara paccaya vinnanam...";
nghĩa là vô minh sanh ra hành, hành sanh ra
thức, v.v... Quán thuận hay nghịch, Ngài
cũng thấy vòng Thập Nhị Nhân Duyên
như vậy.
Giáo lý này thật
là cao siêu và khó hiểu, cho nên
một hôm Ngài Ananda đến hầu Đức
Phật tại xứ Kammasadama và bạch hỏi
Phật:
- Bạch Đức Thế Tôn,
con thấy rằng giáo lý của Ngài
giác ngộ thật là sâu xa và khó
hiểu; nhưng nhờ Đức Thế Tôn giảng
dạy con hiểu được rõ ràng.
Ngài Ananda vừa nói xong,
Đức Phật liền ngăn lời:
- Ananda, không nên nói
như vậy. Giáo lý của Như Lai thật
là sâu xa khó hiểu, không phải là
dễ hiểu.
Dù là bậc Sơ Quả,
đã thông hiểu và thuộc Tam Tạng
Pháp Bảo mà Ananda còn bị Phật ngăn
lời, bảo rằng không nên nói là
"dễ hiểu". Chữ "dễ hiểu"
ở đây có ý chỉ rằng phải
giác ngộ rốt ráo, không còn Tham
Sân Si trong nội tâm, mới hiểu
được thuyết Thập Nhị Nhân Duyên.
Đôi khi, có người
vì có duyên lành đầy đủ
nên chỉ nghe thuyết có một câu ngắn
thôi cũng lãnh hội được. Tuy rằng
có những câu kệ ngôn khác nhau,
chúng cũng đều có ý nghĩa thâm
sâu vi diệu liên quan đến Thập Nhị
Nhân Duyên. Để đưa ra một thí
dụ điển hình, Sư xin kể về cuộc
gặp gỡ giữa Ngài Asajji và Đức
Xá-Lợi-Phất:
Lúc bấy giờ, Ngài Asajji
là một trong năm anh em Kiều-Trần-Như,
đã giác ngộ giáo lý của
Đức Phật; còn Ngài
Xá-Lợi-Phất là một vị đạo
sĩ đang khao khát đi tìm sự giải
thoát. Một hôm, Ngài Xá-Lợi-Phất
thấy Ngài Asajji đi trì bình khất
thực với một tác phong trong sạch và
một dáng điệu giải thoát, bèn
đi theo. Đợi đến khi Ngài Asajji tìm
nơi thanh vắng và dùng cơm xong, Ngài
Xá-Lợi-Phất mới bạch hỏi:
- Bạch Ngài, Ngài tu theo
giáo lý nào? Thầy của Ngài là
ai? Thầy của Ngài dạy những giáo
lý nào cho Ngài?
Ngài Asajji đáp:
- Bần tăng tu với vị sa môn
Cồ-Đàm. Thầy của bần tăng dạy
bần tăng rất ít. Bần tăng không
hiểu được nhiều.
Ngài Xá-Lợi-Phất
thưa:
- Bạch Ngài, tuy rằng
thầy của Ngài dạy Ngài rất là
ít, mong Ngài chỉ dạy cho con. Con thiết
tưởng sau khi nghe, có thể con sẽ giác
ngộ được giáo lý của Ngài.
Sau khi nghe lời yêu cầu
của Ngài Xá-Lợi-Phất, Ngài Asajji
chỉ đọc một bài kệ tóm tắt
mà Ngài đã học từ Đức
Phật. Bài kệ như sau: "Ye dhammà
hetuppabhavà tesam hetum tathàgato àhatesamca yo nidrotho
evamvàdì mahà samano." (Về
các pháp phát sinh từ một nhân,
Đức Như Lai đã chỉ rõ, và
cũng chỉ rõ sự diệt các pháp
đó. Đó là lời dạy của bậc
Đại Sa-môn). Ý nói,
tất cả các pháp đều có nhân
sanh. Theo bài kệ này, có nhân sanh thì
có quả; muốn diệt quả đó phải
biết cái nào là nhân. Vậy, bài
kệ này liên quan đến Thập Nhị
Nhân Duyên.
Đức Xá-Lợi-Phất
chỉ cần nghe hai câu đầu của bài
kệ là Ngài giác ngộ được
giáo lý của Đức Phật, đắc
Sơ Quả và trở thành bậc thánh
nhân. Ngài hỏi tiếp:
- Bây giờ thầy của
Ngài ở đâu?
Ngài Asajji trả lời:
- Bây giờ thầy của tôi
đang ở Vương Xá Thành.
Nghe vậy, Ngài đi tìm
người bạn thân là Đức
Mục-Kiền-Liên vì họ đã hứa
với nhau là nếu ai gặp được
giáo lý giải thoát trước thì
phải cho người kia biết. Đức
Mục-Kiền-Liên thấy bạn mình đi
lại, gương mặt từ bi, thanh tịnh; dáng
đi nhẹ nhàng, thanh thoát, Ngài rất
lấy làm lạ. Ngài bèn hỏi cớ
sự. Ngài Xá-Lợi-Phất lập lại
bài kệ đã nghe từ Ngài Asajji ,và
sau khi nghe xong, Ngài Mục-Kiền-Liên cũng
đắc Sơ Quả. Sau đó hai người
đi tìm Đức Phật. Khi thấy hai người
từ xa, Đức Phật biết rằng hai vị
đại đệ tử của Ngài đã
đến.
Cho nên, giáo lý của
Đức Phật thật là vi diệu; và
chúng ta đang thực hành giáo lý ấy
tại đây. Nếu chúng ta tin tưởng
rằng có thiện ác, có nhân
quả, đó là một việc tốt.
Mà nếu chúng ta còn tìm thêm nữa
để cho thấy là không có Ngã
như lời Đức Phật giảng dạy thì
còn tốt hơn nữa. Nghĩa là không
có Ngã, mà chỉ có nhân quả,
có nghiệp làm, có sự thay đổi
như vậy. Điều này có nghĩa là
chỉ có Danh Sắc, chỉ có Thập Nhị
Nhân Duyên: bắt đầu từ vô minh sanh ra
hành, thức, v.v... Đếm một loạt như
vậy thì ta không thấy có một
người nào cả, chỉ là một hệ
thống của danh và sắc vận hành mà
thôi. Do vậy, con người là một cái
trống biết đi. Nhưng đôi lúc, khi ta
nói về luật tái sanh thì lại cảm
thấy khó hiểu.
Người đời có
thể lý luận rằng, phải có
người ta thì mới tái sanh được;
khi chết rồi, người ta đi đầu thai
lại, thì mới gọi là tái sanh. Giờ
đây, nếu nói là không có ta,
làm sao có thể nhìn nhận luật
đó được? Vì vậy mà nó
khó hiểu. Nói là không có ta mà
lại bảo có tái sanh, có luân hồi,
thì làm sao hiểu được? Chỗ này
phải hiểu là có luân hồi thật,
nhưng không có cái "ta" hay là
một "linh hồn" đi tái sanh. Có
nghĩa là vì có nhân quả, có
danh sắc, mà đi luân hồi đó
thôi.
Thời giáo lý đến
đây xin tạm dứt. Trước khi dứt, Sư
xin cầu nguyện Hồng Ân Tam Bảo hộ
trì cho quý vị được sự an vui, tinh
tấn tu hành mau đến nơi giải thoát.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật.
Ngày Thứ Bảy
Hôm qua, Sư có giảng
về Thập Nhị Nhân Duyên. Trong Thập
Nhị Nhân Duyên, chi pháp này liên quan
đến chi pháp khác, nên cũng còn
gọi là Thập Nhị Duyên Khởi. Sư
cũng có nói là vị Bồ-Tát
quán Thập Nhị Nhân Duyên trước khi
thành đạo. Sau khi thành đạo, Ngài
đem giáo lý này giảng dạy cho
chúng sanh trong 45 năm vì đây là
giáo pháp rất quan trọng.
Thập Nhị Nhân Duyên
là gì? Có câu kệ bằng tiếng
Pàli, Sư xin đọc cho quý vị nghe: "Avijja
(vô minh) paccaya (sanh ra) sankhara (hành), sankhara
paccaya vinnana (thức), vinnana paccaya namarupa (danh
sắc), namarupa paccaya ayatana (lục căn), ayatana
paccaya phassa (xúc), phassa paccaya vedana (thọ), vedana
paccaya tanha (ái dục), tanha paccaya upadanam (thủ),
upadana paccaya bhavo (hữu hay cảnh giới hay
nghiệp), bhava paccaya jati (sanh), jati paccaya vachanam (già
chết), charamaranam sakhaparaveta dukkha domanasa payasasam pavanti (già
chết, buồn rầu, khóc than, khổ não,
phiền muộn, đau đớn cũng phát sanh
lên)." Đó là 12 chi của Thập
Nhị Nhân Duyên.
Đức Phật dạy: "Này
các vị Tỳ-khưu, vô minh khởi, kế
tiếp là điều kiện pháp bắt
đầu khởi, khi hành khởi rồi thì
pháp kế tiếp sanh lên, v.v... Thì khi
diệt trừ vô minh, hành mới diệt
được và các pháp kế tiếp
cũng không sanh lên được."
Đây là các chi pháp Thập Nhị
Nhân Duyên mà Sư giảng hôm qua. Hôm
nay, Sư xin nói về sự quan trọng của
Giáo Pháp này.
Trước hết, Vô Minh trong
Thập Nhị Nhân Duyên là gì? Vô minh
là sự hiểu biết không đúng, hay
là không có trí tuệ trong sự quán
sát. Như vậy, vô minh là hiểu biết
không đúng. Đức Phật chỉ rõ
vô minh trong Tứ Diệu Đế là không
thấy Khổ Diệu Đế, không thấy Tập
Diệu Đế, không thấy Diệt Diệu
Đế, không thấy Đạo Diệu Đế.
Nghĩa là hiểu không đúng trong
Khổ-Tập-Diệt-Đạo. Theo Khổ Diệu
Đế, tất cả vạn vật trên thế gian
này đều là Vô Thường, Khổ
Não và Vô Ngã; nhưng trái lại
chúng sanh cho là thường, vui và ngã.
Hiểu ngược sự thật như vậy gọi
là vô minh.
Vô Minh này thật là
sâu dày, khó diệt được.
Đức Phật có nói rõ: "Vô
minh chỉ được diệt hẳn khi hành
giả đắc A-La-Hán quả." Vì
vậy, ta thấy cái gốc của Vô Minh rất
là sâu dày. Sơ Quả, Nhị Quả
và Tam Quả vẫn còn vô minh. Tại sao ta
có vô minh? Vì ta không chú ý và
không có trí nhớ trong những kinh nghiệm.
Như thế nào là không chú ý và
không trí nhớ trong kinh nghiệm? Có ý
nói là không nhớ trạng thái, bản
chất của nó. Ví dụ đây là
lửa và trạng thái của lửa là
nóng, ta kinh nghiệm như vậy. Nhưng sau
đó không kinh nghiệm nữa nên ta không
còn nhớ lửa là nóng. Vậy là
không chú ý và không có trí
nhớ trong kinh nghiệm. Quên như vậy gọi
là vô minh. Trên thế gian này, tất
cả chúng sanh cho ngũ trần (sắc, thinh,
hương, vị, xúc) là vui, là đẹp;
mà sự thật nó là không vui, không
đẹp. Bản chất nó là như vậy.
Biết bao chúng sanh trên thế gian này gặp
những chuyện khổ não. Tuy nhiên, khi xa
nó một thời gian, rồi cũng lặp lại
những chuyện đó và chịu khổ
nữa. Cứ luôn tiếp diễn như thế!
Tại sao vậy? Tại vì chúng sanh không
có trí nhớ. Nếu biết cái đó
là khổ, mình tránh xa nó thì
không còn bị khổ nữa. Nhưng vì
thói quen nên cứ quay trở lại. Như
vậy gọi là Vô Minh.
Vô Minh như thế là
vì thiếu Minh Sát Tuệ. Chỉ có Minh
Sát Tuệ mới cho ta thấy rõ bản chất
của sự vật. Nếu thấy rõ, gọi
là Minh. Minh Sát Tuệ tiếng Pàli gọi
là Vipassana, có nghĩa là "pannati
visesena passati vipassana" -- "thấy vạn
vật trên thế gian với thật tướng
của nó, gọi là Vipassana". Như
vậy, ta phải quán sát tất cả vạn
vật trên thế gian này với Tuệ Minh
Sát để thấy rõ. Đó gọi
là Minh Sát Tuệ.
Không thấy rõ, không
nhận thức rõ điều khổ, đó
là Vô Minh trong Khổ Diệu Đế. Ví
dụ khổ già, khổ sanh; tuy vậy nhưng
có bao giờ chúng sanh thấy sanh là khổ
đâu? Ngay cả khi những người già,
dù đang đau yếu, cũng không bao giờ
nghĩ trong tâm: già là khổ. Và ngay
cả mình đang khổ đây mà cũng
không thấy là khổ nữa. Tại sao vậy?
Vì thiếu Minh Sát Tuệ. Huống chi những
vật trên thế gian liên quan đến danh
sắc, lục căn, lục trần, luôn luôn
che mờ chúng sanh không cho thấy sự khổ!
Hai là Vô Minh trong Tập
Diệu Đế. Chúng sanh lúc nào cũng
muốn được vui mà không biết khổ
là do ái dục sanh ra. Khi muốn được
vui, chúng sanh tạo biết bao hành động
để tìm sự vui thú, rồi cũng tạo
biết bao hành động để bảo vệ,
duy trì sự vui thú và ham muốn của
mình. Bất cứ cái gì mà chúng
sanh tạo với sự ham muốn, với nhân
ái dục, là toàn đem lại Khổ
Não.
Bây giờ lấy ví dụ
là mấy chương trình quảng cáo
trên máy truyền hình. Khi đem ra quảng
cáo, cái gì xem cũng hay, cũng đẹp,
cũng tốt; và nếu chúng sanh thấy
cái đó là hay, là đẹp, là
tốt thì cứ chạy theo. Mà càng chạy
theo đời sống vật chất thì càng lo
lắng để kiếm tiền của cung ứng cho
những nhu cầu trên. Như vậy, càng
chạy theo ái dục (nhân) nhiều chừng
nào thì càng chịu khổ đau (quả)
nhiều chừng ấy. Đó là Vô Minh trong
Tập Diệu Đế.
Bậc thánh nhân thấy
thế gian này là Khổ; ngược lại,
phàm nhân thấy thế gian này là vui.
Đó là vì bậc thánh nhân có
Tuệ Minh Sát và hiểu sự thật thế
gian toàn là Khổ; và vì phàm
nhân không có Tuệ Minh Sát nên thấy
thế gian toàn là vui. Vì thế, phàm
nhân cứ mãi bị dính mắc trong Tam
giới -- đó là Dục giới, Sắc
giới, và Vô Sắc giới. Còn bậc
thánh nhân thấy Khổ nên không dính
mắc trong Tam giới. Nếu ta thấy thế gian
này vui thì chính ta đang có vô minh
trong Dục Giới hay ái dục, hay ta đang vô
minh trong Tập Diệu Đế.
Vì vô minh nên thấy
đời khổ cho là vui, thấy vô
thường cho là thường, không có
Ngã nhưng lại cho là có Ngã. Như
vậy, làm sao diệt được Vô Minh?
Chỉ có con đường đến
Niết-Bàn mới diệt được thôi.
Diệt đây là diệt cái gì? Như
ta đã biết, Vô Minh là căn bản
tạo ra Danh Sắc (nama rupa). Nói gọn lại,
khi Danh Sắc này còn, ta vẫn tiếp tục
luân hồi, thì sự đau khổ kéo
dài. Nhưng nếu không thấy rõ Danh Sắc
này là khổ, là thay đổi, thì
làm sao thấy Niết-Bàn được? Tại
sao vậy? Vì Danh Sắc che áng không cho
chúng sanh thấy Niết-Bàn. Và vì
không thấy Niết-Bàn, nên chúng sanh
không muốn đến Niết-Bàn. Đây
là Vô Minh trong Diệt Diệu Đế. Sự
sanh diệt hay sự diệt hẳn của Danh Sắc
rất là khó hiểu vì Vô Minh che
áng không cho ta thấy rõ điều này.
Vì vậy, Khổ Đế, Tập Đế,
và Diệt Đế là ba sự thật mà
chúng sanh không thấy rõ.
Còn Diệu Đế thứ
tư là Đạo Diệu Đế hay Bát
Chánh Đạo, là con đường tốt
nhất trên thế gian này; nhưng cũng vì
Vô Minh che áng, chúng sanh không nhận
thức được đó là con
đường đúng. Như vậy, bốn sự
thật đều bị che áng bởi Vô Minh,
khiến cho chúng sanh không thấy một sự
thật nào. Nếu Vô Minh như vậy gọi
là Vô Minh trong Tứ Diệu Đế hay là
Vô Minh trong Thập Nhị Nhân Duyên.
Với sự vui thú, con
người tạo biết bao hành động
tàn ác, như giết súc vật để
tế thần. Làm như vậy không phải
là con đường vui, là con đường
diệt khổ. Chỉ vì mê lầm, chúng sanh
cầu sự an vui bằng cách làm như vậy.
Nhưng thật ra, con đường an vui là con
đường đi đến Niết-Bàn. Và
ta chỉ thấy được con đường đi
đến Niết-Bàn nếu ta có Minh Sát
Tuệ (Vipassananana). Nếu không có Minh
Sát Tuệ thì không bao giờ thấy con
đường an vui. Nhưng vì bị Vô Minh che
áng nên chúng sanh không tìm thấy Minh
Sát Tuệ được. Mà không có
Tuệ Minh Sát thì làm sao thấy rõ Danh
Sắc? Nhờ Tuệ Minh Sát, ta thấy đúng
thật, hay thấy Tứ Diệu Đế.
Thấy rõ Tứ Diệu
Đế gọi là thấy rõ sự thật.
Vậy thì làm sao có Tuệ Minh Sát
để ta thấy rõ Tứ Diệu Đế?
Muốn có Tuệ Minh Sát, ta phải thực
hành. Chính Đức Bồ-Tát cũng
thực hành Vipassana để đắc
đạo quả. Hôm qua, Sư có giảng, qua
canh thứ ba Đức Bồ-Tát quán Thập
Nhị Nhân Duyên bắt đầu từ chỗ
sanh, già, đau, chết. Ngài quán thấy: "Sở
dĩ có già, có chết là tại
có sanh. Tại sao có sanh? Vì có hữu.
Tại sao có hữu? Vì có thủ. Tại sao
có thủ? Vì có ái. Tại sao có
ái? Vì có thọ? Tại sao có thọ?
Vì có xúc. Tại sao có xúc? Vì
có lục căn. Tại sao có lục căn?
Vì có Danh Sắc. Tại sao có Danh Sắc?
Vì có thức. Vì khi có thức là
có hành vi." Đến đây, Ngài
quán ngược lại, thấy rằng nếu
muốn không già, đau, chết thì phải
không có sanh, v.v... Nghĩa là nếu pháp
này mất thì pháp kia cũng mất; rồi
tuần tự những pháp khác cũng mất
hết. Cứ thế, Ngài quán xuôi quán
ngược. Sau khi quán phần này rồi,
Ngài chuyển sang hành Minh Sát Tuệ (hay
Tứ Niệm Xứ) và đắc đạo quả
thánh theo thứ tự Tu-Đà-Hườn,
Tư-Đà-Hàm, A-Na-Hàm và A-La-Hán;
nghĩa là đắc Lậu Tận Minh, thành
Phật trong canh ba. Đó là Ba-La-Mật của
một vị Bồ-Tát.
Sau khi thành Phật, đến
ngày thứ tám, Ngài quán Thập Nhị
Nhân Duyên một lần nữa. Nhưng ở
đây, Ngài quán thêm, thấy rõ
nguồn gốc của hành là Vô Minh. Và
dưới cội cây Bồ Đề, Ngài
thốt lên: "avijja paccaya sankhara"
nghĩa là "Vô Minh sanh ra Hành." Theo
thứ tự trong Thập Nhị Nhân Duyên,
pháp này sanh thì pháp kia cũng sanh;
pháp này diệt thì pháp kia cũng
diệt. Khi diệt một pháp thì mọi
pháp khác cũng diệt, nghĩa là Vô
Minh cũng diệt. Khi diệt được Vô Minh thì
có Minh, tức là Niết-Bàn vậy.
Thời giáo lý đến
đây xin tạm dứt. Trước khi dứt, Sư
xin cầu nguyện Hồng Ân Tam Bảo hộ
trì cho quý vị được sự an vui, tinh
tấn tu hành mau đến nơi giải thoát.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật
Ngày Thứ Tám
Sư đã giảng về
phương pháp tực tập của Thiền
Chỉ và Thiền Quán. Hôm nay, Sư xin
nhấn mạnh về sự an vui của các pháp
thiền này, nhất là Thiền Quán.
Sự an vui của Thiền Chỉ
có 5 chi: Tầm, Sát, Hỷ, Lạc, Định.
Khi tâm chú trên một đề mục,
các chi thiền bắt đầu sanh lên theo
thứ tự. "Tầm" là sự chú
tâm nơi đối tượng. "Sát"
là bắt dính theo đối tượng và
quán cho kỹ. Tâm không rung động theo
đối tượng khác. Tâm được an
vui gọi là "Hỷ". Sau đó tâm
lên đến Lạc và Định.
Sơ thiền bao gồm cả 5 chi
trên. Đến Nhị thiền, tâm của
hành giả bén nhạy, tự nhiên mất
Tầm và bắt đầu từ Sát trở
lên Hỷ, Lạc, Định. Tam thiền thì
mất hai chi đầu là Tầm và Sát,
chỉ bao gồm Hỷ, Lạc, Định. Tứ
thiền mất ba chi đầu chỉ bao gồm Lạc
và Định. Ngũ thiền thì có Xả
và Định. Đó là trạng thái an
vui của tâm định trong một đối
tượng cố định. Khi có đối
tượng, hành giả chú tâm khắn
khít trên đối tượng. Tâm sẽ
được an vui, tránh khỏi 5 pháp
chướng ngại là Tham Ái, Oán Thù,
Phóng Dật, Hôn Trầm và Hoài Nghi.
Đó là sự an vui của Thiền Chỉ hay
Thiền Định.
Hôm nay, quý vị đi
sâu trong Thiền Quán, cũng được
gọi là Thiền Minh Sát hay Thiền Tuệ,
sự an vui của Thiền Tuệ là Niết-Bàn.
Tuy rằng Niết-Bàn khó hiểu đối
với hành giả nào chưa kinh nghiệm,
nhưng qua những câu Phật ngôn trong kinh
tạng Pàli và qua sự thực hành,
hành giả có thể đoán được
ý nghĩa của Niết-Bàn.
Cái gì mà có thân,
có tâm, có ngũ căn, có ngũ
trần làm đối tượng thì vấn
đề đó dễ hiểu. Trái lại,
nói về Niết-Bàn là một vấn
đề khó hiểu, vì Niết-Bàn
không có thân tâm, không có ngũ
uẩn làm đối tượng. Như vậy,
nói về một vấn đề không thân,
không tâm mà được sự an vui
là một vấn đề khó hiểu vô
cùng.
Trừ những người Phật
Tử có duyên lành, có nhiều
Ba-La-Mật mới có đức tin mạnh mà
đi tìm và thực hành để giác
ngộ được Niết-Bàn. Còn lại,
chúng sanh thường chạy theo những thú vui
của thế tục. Đó là thú vui qua lục
căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý),
mà đối thượng là lục trần
(sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp hay
đối tượng của ý). Thú vui ở
đời thấy rõ như vậy. Tại sao
hành giả lại chạy theo một sự an vui
khác không có đối tượng, một
sự an vui mà nhiều người không chấp
nhận là có như vậy? Điều này
khó giải thích được, mà tại
sao ta lại ngồi tìm?
Nếu hành giả không
hấp tấp chạy theo bàn luận ở
đời mà suy nghĩ cho kỹ, thì hành
giả phải nhìn nhận là sự vui thú
ở đời không phải là cái vui
vĩnh viễn. Nhìn nhận có sự vui thật,
nhưng sau cái vui ấy có một sự khổ.
Tại sao vậy? Tại sao mà sự vui ở thế
gian này không vĩnh viễn? Sự vui do
đối tượng của lục căn là lục
trần có sẵn như vậy mà nó
không vĩnh viễn, vì có sự thay
đổi trong cái vui. Khi mắt thấy cảnh
vật hoặc tai nghe tiếng động, mắt cũng
như tai bắt được đối tượng
mà đối tượng lại không tồn
tại lâu dài. Vì đối tượng
không tồn tại lâu dài nên biến
thành sự khổ. Đành rằng lúc ban
đầu nó vui thật, nhưng cuối cùng
nó cũng mất đi. Cái mất đó
làm cho tâm đau khổ. Vì vậy, nếu
chúng sanh thèm khát, càng chạy theo
thú vui ở đời bao nhiêu thì càng
khổ bấy nhiêu.
Cụ thể trên thế gian
này, biết bao người chỉ nghĩ đến
và chạy theo lạc thú của ngũ trần.
Biết bao người phạm luật pháp để
phải bị tù tội, chẳng những chỉ
trong kiếp hiện tại thôi mà còn hậu
quả lâu dài trong những kiếp tương
lai. Ta mới thấy rằng sự an vui trong ngũ
dục có cái quả không mát mẻ;
mà lại nóng nảy, đưa tới đau
khổ.
Không phải chỉ có
ngày nay, mà từ xa xưa đã có
câu hỏi về Niết-Bàn. Vào thời
Đức Phật còn tại thế, có câu
chuyện bàn luận về Niết-Bàn như sau:
Tại Trúc Lâm Tịnh
Xá ở Vương Xá Thành, Ngài
Xá-Lợi-Phất hội họp các thầy
Tỳ-khưu lại và hỏi:
- Vậy sự an vui ở
Niết-Bàn như thế nào? Nghĩa của
Niết-Bàn như thế nào?
Ngài Udayi trả lời:
- Niết-Bàn thì không
còn cảm thọ.
Ngài Udayi lại hỏi:
- Nếu không còn cảm
thọ, làm sao có sự an vui?
Ngài Xá-Lợi-Phất
trả lời:
- Như vậy đó, Niết
Bàn thì không còn cảm thọ, không
còn vui thú ở ngoại cảnh. Nơi
đó dập tắt hết mọi khổ đau,
không còn già, không còn chết.
Trong thời xưa, có nhiều
tín ngưỡng quan niệm về Niết-Bàn
khác nhau. Có người nói Niết-Bàn
là tinh hoa của thân và tâm.
Có người lại bảo Niết-Bàn là
một cái nghiệp báo do con người
đào tạo. Khi thân tâm này
chềt rồi thì nghiệp báo đó
trở thành một sự an vui. Nhưng theo Phật
Giáo, Niết-Bàn là sự dập tắt
hết Danh và Sắc. Có nghĩa là cho
dù có giác quan tiếp xúc với trần
cảnh, tâm vẫn không bị chi phối. Tâm
không bị chi phối gọi là tâm
Niết-Bàn.
Chúng sanh trên thế gian
này không chấp nhận có sự an vui
của Niết-Bàn, vì Niết-Bàn ở
ngoài sự kinh nghiệm của thân tâm,
của giác quan này. Mở mắt ra nhìn,
thấy cảnh đẹp thì vui với cái
đẹp; tiếng hay tới tay thì với tiếng
hay; v.v... Mà lại bảo rằng Niết-Bàn không
có thân tâm, không có ngũ
uẩn, không có giác quan; như vậy, sự
an vui ấy từ đâu mà có? Khi phủ
nhận, không cho rằng cái vui theo mắt, tai,
mũi, miệng, thân, ý là sự an vui
thật sự, như vậy còn cái vui nào
hơn nữa? Vì vậy Niết-Bàn khó
hiểu vô cùng! Ngoại trừ những hành
giả nào có duyên lành, có một
đức tin mạnh và đã từng trải
luân hồi ở sông mê bể khổ,
đã từng kinh nghiệm sự vui thú ở đời
và nhận thức rằng nó không đưa
tới sự an vui vĩnh viễn, thì mới đi
tìm cái gì khác hơn. Nghe nói
Niết-Bàn là an vui vĩnh viễn nên mới
thử đi tìm và ngày hôm nay mới
ngồi tại đây trong khoá thiền này.
Niết-Bàn có
được là phải đầy đủ
Ba-La-Mật. Như Đức Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni hay các Chư Phật khác trong qua khứ
đã đầy đủ Ba-La-Mật mới
giác ngộ, đắc được pháp cao
thượng là Niết-Bàn. Mười pháp
Ba-La-Mật gồm có:
1. Bố Thí Ba-La-Mật,
2. Trì Giới Ba-La-Mật,
3. Xuất Gia Ba-La-Mật,
4. Trí Tuệ Ba-La-Mật,
5. Tinh Tấn Ba-La-Mật,
6. Nhẫn Nại Ba-La-Mật,
7. Chơn Thật Ba-La-Mật,
8. Nguyện Vọng Ba-La-Mật,
9. Tâm Từ Ba-La-Mật, và
10. Tâm Xả Ba-La-Mật.
Mười Ba-La-Mật này khi
tròn đủ sẽ đưa chúng sanh
đến nơi an vui vĩnh viễn. Sự an vui
đó ở ngoài sáu giác quan này.
Đó là sự an vui của Niết-Bàn.
Sư không biết nói chi
hơn, vì Niết-Bàn thuộc về kinh
nghiệm thực chứng. Bây giờ thì Sư
chỉ thí dụ thôi cho quý vị có
đức tin mạnh để tiến bước
và không bỏ Ba-La-Mật của quý vị.
Ở đây, Sư không dám đề cập
đến kiếp trước, nhưng trong kiếp
này quý vị đã và đang
đào tạo 10 pháp Ba-La-Mật kể từ
Bố Thí, Trì Giới, Xuất Gia, Trí
Tuệ, v.v... trong những khóa thiền như thế
này.
Hành thiền gặp khó
khăn, quý vị rán nhẫn nại chịu
đựng sự khó khăn. Đó là
Nhẫn Nại Ba-La-Mật. Ngồi tinh tấn kéo
tâm lại, không cho buông lung là Tinh Tấn
Ba-La-Mật. Người đời không nghĩ như
quý vị. Đụng một chút đau khổ
là người ta phản ứng ngay, tìm một
cái gì để che lấp sự đau khổ
đó. Ngược lại, hành giả ngồi
như thế này, nguyện chịu đựng sự
khổ đau và lấy đó làm đối
tượng để tìm sự an vui. Tại sao
lấy sự đau khổ ấy nhìn để
đổi lấy sự vui? Ai ai cũng đã
từng kinh nghiệm rằng thú vui ở đời
chỉ mở đường cho đau khổ và
hội ngộ sẽ nảy mầm chia ly. Chỉ có
Niết-Bàn mới dập tắt được
sự khổ và sự hội ngộ ấy mới
được an vui mãi mãi.
Không gì hơn là bây
giờ quý vị từ chối những lạc
thú ở đời và đến đây
để thực hành những Ba-La-Mật pháp
như vậy. Ba-La-Mật nhiều chừng nào,
quý vị lại càng có đức tin
mạnh chừng ấy, có một nguyện vọng,
một sự chân thật và tâm Từ
mạnh chừng ấy. Không phải luyện tâm
Từ mới có tâm Từ. Tâm Từ của
chúng sanh đã có từ hồi nào
đến giờ, chỉ cần hành giả cố
gắng thì sẽ phát triển nó.
Thương thân tâm này, không muốn
cho thân tâm này đau khổ nữa
nên quý vị mới nhẫn nại lại
ngồi đây, cầu cho thân tâm
được an vui mãi mãi. Vì thương
mình nên quý vị mới hành thiền
thanh lọc tâm. Quý vị dám hy sinh bỏ
những thú vui ở đời mà người
khác luôn chạy theo, vì biết đó
chỉ là vui tạm và chỉ có
Niết-Bàn mới là vĩnh viễn.
Bây giờ hỏi lại, tại
sao chúng ta không kinh nghiệm được
Niết-Bàn mà vẫn cố gắng đi
tìm? Chúng ta chỉ nghe Chư Phật và
các vị đã từng đi theo dấu chân
của Đức Phật thuyết lại, nói
rằng sự an vui của Niết-Bàn không
có giác quan mà cũng không có
đối tượng của giác quan. Nói về
ngũ uẩn này, có mắt, chúng ta mở
từ sáng đến tối thì mắt mỏi.
Tai nghe từ sáng đến tối cũng mỏi.
Mũi ngửi, lưỡi nếm, thân đụng
chạm cả ngày nên cũng mỏi mệt.
Nói tóm lại, ngũ uẩn chạm xúc
cả ngày nên mệt mỏi lắm rồi.
Làm sao cho mắt đừng thấy, tai đừng
nghe, mũi đừng ngửi, lưỡi đừng
nếm, thân đừng đụng chạm thì
được an vui. Mà cũng làm sao quên
được cái thấy, cái nghe, cái
ăn, v.v... thì nó sẽ được an vui.
Để tìm kiếm an vui,
không gì hơn là chúng sanh đi ngủ
một giấc ngon lành. Cũng như có một
người sau một đêm ngủ dài, không
mộng mị xấu xa, thức dậy khoe:
"Đêm hôm qua tôi ngủ ngon lành."
Hỏi: - Trong lúc ngủ ngon
lành như vậy, mắt có thấy không?
- Dạ không.
- Tai có nghe không?
- Dạ không.
- Thân có đụng chạm,
giường cao chiếu rộng có cảm giác
không?
- Dạ không.
Như vậy nếu giác quan
không có cảm giác, tại sao người
đó có thể nói là ngủ một
đêm ngon lành? Câu hỏi này, không ai
trả lời được; chỉ biết là an vui
trong cái quên, quên cái mỏi mệt
của giác quan mà xác nhận là một
đêm ngủ ngon lành. Nếu Sư không
lầm thì có lẽ sự an vui đó
là một an vui của cái gì không thay
đổi.
Hậu quả cuối cùng
của ngũ trần lục dục, mà chúng sanh
đeo đuổi, là đau khổ. Và nếu
chúng sanh thức tỉnh, tâm không còn
bị chi phối bởi ngũ trần, thì cảm
thấy được sự an vui. Sự an vui này
gọi là an vui Niết-Bàn mà Đức
Thế Tôn đã tìm thấy dưới
cội cây Bồ Đề. Giác quan Ngài
vẫn dùng mà tâm Ngài không
bị động. Vì vậy tâm Ngài
lúc nào cũng có sự an vui. Chúng sanh
thì không như vậy. Chạm vào ngũ
trần thì bị động, không thương
thì ghét, không ghét thì thương.
Ghét cũng là một cái ghét rung
động. Thương cũng là một cái
thương rung động. Có chỗ nào là
an vui đâu? Trái lại, một tâm không
rung động mới là một tâm an vui. Có
nghĩa làụ tâm không bị chi phối
bởi sự thay đổi, sự Vô Thường
của trần cảnh. Trong khi đó, chúng sanh
đau khổ vì sự thay đổi của ngũ
trần, của giác quan, và của đối
tượng. Đó là ví dụ sơ qua
về Niết-Bàn mà hành giả đang
đi tìm.
Nếu hỏi lại
Niết-Bàn ra làm sao, thưởng thức như
thế nào, thì khó trả lời
được. Như một người ngủ thức
dậy nói là ngủ được một giấc
ngon lành, thì có lẽ người kinh
nghiệm Niết-Bàn cũng vậy. Mà có
lẽ Niết-Bàn còn an vui hơn nhiều. Trong
A-Tỳ-Đàm (Vi Diệu Pháp) có giải
thích rõ về Tâm Vương, Tâm Sở,
Sắc Pháp và Niết-Bàn. Khi nói về
Tâm Vương hay Tâm Sở là nói về
trạng thái tâm làm việc thiện
hoặc ác, chủ động hoặc thụ
động, là một tâm luôn luôn
tạo nghiệp không ngừng nghỉ. Khi nói
về Sắc Pháp là nói về đất,
nước, gió, lửa mà
trạng thái của nó cũng không ngừng
thay đổi. Nhưng khi nói về Niết-Bàn,
thì lại nói là ở ngoài Sắc
Pháp, ngoài Tâm Vương và Tâm
Sở. Như vậy, khi nói về Niết-Bàn
có thể nói là khi nào dập tắt
được Danh và Sắc này. Nếu ở
ngoài Danh Sắc, thì khi Danh Sắc này
diệt rồi, tự nhiên đó là
Niết-Bàn vĩnh viễn vậy. Nếu còn thân
tâm này mà tâm hành giả không
còn bị phiền não, không còn bị chi
phối theo giác quan, đó gọi là "Niết-Bàn
tâm" hay "hữu dư Niết-Bàn".
Đấy là cái nghĩa của Niết-Bàn.
Nếu quý vị nào đã kinh nghiệm qua
thì sẽ hiểu được.
Sư xin đọc một
đoạn trong quyển Thắng Pháp Tập Yếu
Luận (hay A-Tỳ-Đàm Tập Yếu, Abhidhammattha
Sanghaha) để quý vị nhận thức thêm
về Niết-Bàn:
"Niết-Bàn là Lokuttara
Sankhàtam, được gọi là Siêu
Thế, là Catumagganànena do bốn Đạo
cần được chứng đắc. Sacchikàtabbam:
trở thành đối tượng cho Đạo
và Quả. Vànasankhataya tanhàya: Ái
được gọi là vàna (rừng
rậm). Nikkhantattà: Thoát ly. Sabhàvato:
Về tự tánh. Ekavidhampi: Chỉ một
loại. Saupàdisesa vibbànadhàtu:
Hữu-dư-y Niết-Bàn giới. Anupadisese
vibbànadhàtu: Vô-dư-y Niết-Bàn
giới. Karanapariayyena: Theo phương thức tự
kinh nghiệm trước và sau khi chết. Sannatam
nghĩa là Không. Animittam là Vô
Tướng. Niết-Bàn không có Tướng.
Appanihitam làVô Nguyện. Akarabhedena Theo
hành tướng."
Việt văn: "Niết-Bàn được
gọi là Siêu Thế và phải
được chứng ngộ bởi trí của
bốn Đạo, thành một đối tượng
cho bốn đạo và quả. Và
được gọi là Niết-Bàn, vì
là một sự thoát ly khỏi tham ái xem
như là rừng rậm (vanà).
Niết-Bàn theo tự tánh
chỉ có một loại; theo phương thức
tự kinh nghiệm trước và sau khi chết
có hai: Hữu dư y Niết-Bàn giới và
Vô dư y Niết-Bàn giới. Còn theo
hành tướng có ba: Không, Vô
Tướng và Vô Nguyện."
Giải thích: "Niết-Bàn, Nirvana hay
Nibbana, gồm có Ni và bana. Ni
có nghĩa là không, bana có nghĩa
là dệt hay ái. Chính ái này tác
dụng như một sợi dây nối liền
đời sống của một cá nhân, khi
cá nhân này trôi lăn trong biển sanh
tử luân hồi. Ni có nghĩa là
không. Bana có nghĩa là thổi tắt. Nibbana
có nghĩa là thổi tắt lửa tham ái,
sân hận, và si mê. Niết-Bàn là
nguyên lý cuối cùng, (Vatthudhama) thuộc
về Siêu Thế, ra ngoài thế giới của
Danh và Sắc, hay Năm Uẩn. Niết-Bàn
được chứng ngộ nhờ trực giác (Paccakkha),
hiện kiến hay là Thông-đạt-trí (Pativedhanàna),
và Tỷ Lượng (Anumàna), hay
Tùy-Giác-Trí (Anubothanàna). Để
diễn đạt hai ý trên, Niết-Bàn cần
phải được chứng ngộ bởi trí
tuệ thuộc bốn thánh đạo và trở
thành một đối tượng cho các
Đạo và Quả.
Về tự-tánh (Sabbhàvatto),
Niết-Bàn là an tịnh (santi), và
như vậy chỉ có một (kevala).
Niết-Bàn này được xem là hai,
tùy theo sự chứng nghiệm trước và
sau khi chết. Trong chính văn có dùng danh
từ Karanapariyàyena được các
tập sớ Pàli ở Tích Lan giải thích
là nguyên nhân được gọi vậy
vì có hữu dư y hay không có hữu
dư y. Saupadisesa: sa là với, upàdi
là 5 uẩn (thân và tâm), Sesa là
còn dư sót lại. Upàdi từ
nguyên chữ upa+a+da lấy nghĩa là 5
uẩn do tham ái và tà kiến chấp chặt.
Upàdi cũng có nghĩa là Kilesa (phiền
não). Theo chánh bản và các tập
sớ, Niết-Bàn do các vị Sotàpanna,
Sakadàgami, và Anàgami chứng ngộ
thuộc Saupadisesanibbànadhàtu. Vì còn
thân và còn phiền não. Niết-Bàn
của các vị A-La-Hán cũng vẫn là Saupadisesanibbànadhàtu
vì các vị này vẫn còn thân.
Chỉ có Niết-Bàn của vị A-La-Hán
sau khi chết mới gọi là anupadisesanibbànadhàtu.
Vì cả phiền não và ngũ uẩn
đều đã được vất bỏ,
dứt sạch. Sunnata là Không, có
nghĩa là không có Tham Sân Si hay mọi
pháp hữu vi. Animitta, Vô Tướng, có
nghĩa là không có tướng Tham Sân Si
hay tướng các pháp hữu vi. Appanihita,
Vô Nguyện, có nghĩa là không còn
đèo bồng, luyến ái gì nữa."
Đây là Niết-Bàn.
Có bấy nhiêu đó thôi. Nói rất
là tóm tắt mà Đức Phật phải
tu 4 A-Tăng-Kỳ 100 ngàn kiếp mới kinh
nghiệm được. Như vậy, ta thấy
Niết-Bàn nằm ngoài sự suy nghĩ,
ngoài cái thấy, nghe, ngửi, vị, xúc
giác của thân.
Như thế nào gọi là
kinh nghiệm hay thấy Niết-Bàn? Và làm
sao tin tưởng đó là Niết-Bàn?
Hành giả phải hành thiền, lấy
đối tượng để quán. Và khi
quán, tất cả đối tượng đem
lại đều thấy Vô Thường, Khổ
Não và Vô Ngã. Vô Thường là
luôn luôn thay đổi. Và cái gì thay
đổi là Khổ. Cứ như vậy, Thay
Đổi - Khổ, Thay Đổi - Khổ, Thay
Đổi - Khổ. Và nếu cứ thấy vậy,
hành giả sẽ không còn chấp vào
sự thường tồn ở chỗ nào nữa.
Trong khi hành thiền, quý
vị nhận thức được cảm xúc trong thân;
và khi theo dõi tỉ mỉ, hành giả sẽ
nhận thức được sự thay đổi
của cảm xúc. Chính sự thay đổi
đó làm cho quý vị đau khổ.
Cuối cùng, trong một giây phút nào
đó, quý vị không còn chấp là
của mình nữa. Không chấp là không
chấp vào suy nghĩ, vào thân,
cũng như vào thọ hoặc vào pháp.
Tất cả những đối tượng nào
thuộc ngũ uẩn cũng đều thấy
đến rồi đi, ngoài ý muốn của
quý vị. Sự thay đổi hay sanh diệt là
Vô Thường. Không còn chấp cái
này là của ta, là thuộc quyền sở
hữu của ta, hay dưới sự kiểm soát
của ta, chính là Vô Ngã.
Mong rằng Ba-La-Mật mà
quý vị đang đào tạo đây sẽ
đưa quý vị đến kinh nghiệm
Niết-Bàn trong một giây phút nào
đó. Hãy tĩnh lặng mà kinh nghiệm,
không có suy nghĩ ngoài đối
tượng. Đó gọi là Niết-Bàn
tâm.
Thời giáo lý đến
đây xin tạm đứt. Trước khi dứt,
Sư xin cầu nguyện Hồng Ân Tam Bảo hộ
trì cho quý vị được sự an vui, tinh
tấn tu hành mau đến nơi giải thoát.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật
Ngày Thứ Chín
Hôm nay là ngày thứ
chín. Chỉ còn ngày mai nữa là
quý vị hành trì tròn đủ 10
ngày của khóa thiền này. Thông
thường lớp học nào cũng vậy, tới
ngày cuối chúng ta nên ôn lại những
bài đã học. Cho nên, hôm nay, Sư xin
ôn lại những gì quý vị cần kinh
nghiệm và hiểu biết trong 9 ngày qua.
Chúng ta đã và đang
học những gì? Chúng ta học phương
pháp sống theo Đức Phật. Chúng ta
đã từng biết đau, biết buồn, và
chúng ta để trôi theo cái đau cái
buồn. Bây giờ, ta không buông trôi theo
nó mà nhìn thẳng vào nó, để
biết rõ những cảm xúc này. Khi
biết rõ, ta mới có thể đối
phó với chúng được. Khi xưa,
lúc đi, lúc cười, ta trôi theo cái
đi, buông theo tiếng cười. Ngày nay, ta
đi và ta cười theo phương pháp
của Đức Phật. Đi, ta biết ta đi.
Cười, ta biết ta cười. Nếu biết
đi, biết cười theo phương pháp của
Đức Phật, ta sẽ sống an vui mãi mãi.
Đức Phật dạy: Sabbesata
aharatthitika, nghĩa là tất cả chúng
sanh trên thế gian này sống nhờ vật
thực. Hôm nay ta cũng học làm sao ăn theo
cách của Đức Phật. Từ trước
đến nay, ta ăn theo thói quen, theo thói vui,
ăn mà nhiều khi không biết mình ăn.
Hôm nay, ta ăn theo cách của Đức Phật.
Ta ăn trong tỉnh thức. Khi ăn, ta biết ta ăn.
Khi không ăn, ta biết ta không ăn. Ta ăn theo
cách ăn của Đức Phật. Ăn cách
này sẽ tạo chất bổ tinh thần cho tất
cả chúng sanh có duyên lành muốn
giải thoát những khổ não đã
đầu độc thân tâm ta.
Vấn đề chúng ta đang
tìm hiểu ở đây chính là vấn
đề ở gần ta nhất. Đó là con
người của ta. Đức Phật dạy: con
người là Danh Sắc cũng gọi là thân
tâm, hay con người là Ngũ uẩn.
Như vậy, trong thân tâm này, có
cái gì cho ta biết cái này là Danh,
cái kia là Sắc? Đó là trí
nhớ (hay Chánh Niệm). Chính trí nhớ này
làm cho ta cao thượng hơn, và dẫn ta
đi đến nơi an vui vĩnh viễn. Vì
vậy, ta dùng trí nhớ đó mà
thực tập trong mấy ngày nay.
Đức Thế Tôn dạy
rằng Bát Chánh Đạo có tám chi,
mà quan trọng nhất là Chánh Niệm.
Chính như bản thân Ngài cũng như
tất cả chúng sanh, khi đem Chánh Niệm ra
áp dụng thì tất cả những chi pháp
khác cũng sẽ phát sanh. Vì vậy, hôm
nay ta đem chánh niệm hay trí nhớ ra áp
dụng.
Trí nhớ là gì?
Trí nhớ là sự phân biệt của tâm
ở trong thân này. Chúng sanh nào
cũng có một phần trí nhớ; mà khi
trí nhớ này được đem ra áp
dụng thì nó sanh lên đều đều
và đưa tuệ giải thoát lại cho
chúng ta.
Tập như thế nào
để ta có trí nhớ và trí
tuệ? Không phải tập ở đâu
bên ngoài, mà chính là ở trong thân
ta. Sư xin kể lại một câu chuyện
để quý vị thấy sự thực hành
rất là quan trọng: Câu chuyện ở Âu
Mỹ về một vị thuyền trưởng và
một ông giáo sư.
Một hôm nọ. ông
giáo sư đi nghỉ hè theo đường
biển. Trong chuyến du lịch, vị giáo sư
muốn tìm hiểu thêm, cho nên mỗi ngày
ông đến hỏi vị thuyền trưởng.
Lần đầu, ông hỏi:
- Ông là thuyền
trưởng, vậy ông có biết Hải
Dương Học không?
Vị thuyền trưởng trả
lời:
- Thưa ông, không. Tôi
không học về môn đó. Tôi chỉ
chuyên lái thuyền thôi.
Vị giáo sư bảo:
- Vậy là ông đã
mất một phần tư của đời sống.
Hải Dương Học là môn học quan
trọng về biển.
Ngày thứ nhì, ông
giáo sư hỏi nữa:
- Thưa thuyền trưởng,
ông có biết Khí Tượng Học
không?
Ông thuyền trưởng trả
lời:
- Thưa giáo sư, tôi
không biết. Đừng nói đến biết,
ngay cả danh từ ấy tôi cũng ít nghe
tới.
Ông giáo sư nói:
- Vậy là ông mất
hết hai phần tư của đời sống.
Đến ngày thứ ba, ông
giáo sư lại hỏi:
- Thưa thuyền trưởng,
ông có biết Thiên Văn Học không?
Vị thuyền trưởng trả
lời:
- Thưa ông, tôi không
biết về môn học đó. Sự thật,
nghề của tôi là lái thuyền. Và
tôi lái đã 10 năm rồi.
Vị giáo sư nghĩ vị
thuyền thưởng này không biết chi hết,
nên bảo:
- Vậy là ông mất
hết ba phần tư của cuộc sống.
Đến ngày thứ tư,
có một trận bão to thổi đến.
Thuyền trưởng báo động để
mọi người chuẩn bị khi bão tới. Trong
lúc ấy, vị thuyền trưởng chạy
tới chạy lui, nhắc nhở mọi người. Khi
đến ông giáo sư, thuyền trưởng
hỏi:
- Thưa giáo sư, ông
có biết bơi lội không?
Vị giáo sư trả lời:
- Thưa ông, tôi không
biết bơi.
Vị thuyền trưởng bảo:
- Vậy là giáo sư
mất hết bốn phần của đời sống
rồi!
Quý vị thấy đó,
mặc dù sự học hỏi có lợi cho
đời sống thật, nhưng chỉ có lợi
phần nào thôi. Nếu đi biển mà
không biết bơi lội thì thật là
có hại cho sinh mạng chúng ta.
Hôm nay, quý vị đến
đây học phương pháp bơi lội trong
biển sanh tử luân hồi. Chúng sanh vì
mù quáng tối mê nên luôn luôn
nằm trong luân hồi, bị sanh lão bệnh
tử mãi mãi. Chỉ có Đấng Giác
Ngộ là Đức Phật mới tìm thấy
phương pháp để ra khỏi sự đau
khổ này. Đó là phương pháp
chúng ta đang thực tập mấy ngày nay.
Phương pháp niệm cho biết cái
nào là Danh, cái nào là Sắc.
Đây là phương
pháp bơi lội mà đại dương
chính là thân tâm của ta. Tuy rằng
đại dương này nhỏ mà ta lại
không biết bờ bến, không biết chiều
sâu, nghĩ không cùng, đi không cạn,
tìm hiểu không hết. Mặc dù vẫn
còn trong sanh tử luân hồi, nếu ta biết
được phương pháp Đức Phật
dạy là chúng ta vững tâm hơn. Tuy
vẫn còn trầm luân, nhưng nhờ biết
bơi lội, ta yên lòng đi trên chiếc
thuyền Danh Sắc. Nếu ta không biết
phương pháp Đức Phật dạy là ta
mãi mãi chìm đắm trong đau khổ.
Tóm lại, con người
chỉ có hai phần thôi, phần vật chất
gọi là Sắc (hay thân) và phần tinh
thần gọi là Danh (hay tâm). Nếu chỉ
có bấy nhiêu thôi, ta phải thực tập
để kinh nghiệm sâu xa trong thân tâm
chúng ta. Nếu đem thân tâm ra phân
tách thì ta sẽ thấy có một
phần tử cao quý hơn mà Đức Phật
đã tìm ra và dạy lại cho chúng ta.
Đó là yếu tố giải thoát, gọi
là trí nhớ (hay Chánh Niệm). Chính
trí nhớ này, ta đem ra áp dụng.
Trí nhớ hay Chánh Niệm,
tiếng Pali gọi là Sati. Sati nghĩa là
phải để trước mặt, phải đem
đề mục ra áp dụng. Đề mục
đầu tiên phải là đề mục về
Sắc. Tại sao vậy? Vì trí nhớ là
phần của tâm. Và tâm không có
hình ảnh nên tâm không thể nào
nhìn thấy tâm được.
Đức Phật, với trí
tuệ siêu phàm, hiểu rõ vấn đề.
Ngài cho mình biết, phần từ đầu
đến chân là vật chất hay cũng
gọi là thể Sắc. Ngài dạy ta lấy tâm
soi lại thể Sắc này và lấy trí nhớ
ra để niệm. Ngài dạy mình để
trí nhớ vào một địa điểm
nào nhỏ, dễ trụ tâm; nên các
thiền sư nhiều kinh nghiệm dùng hơi
thở nơi mũi hoặc nơi bụng. Hai đề
mục này liên quan với nhau. Khi hơi thở
vào thì bụng phồng, thở ra thì bụng
xẹp. Vì lý do này nên dùng
chỗ nào cũng được; nhưng ở
bụng thì dễ chú tâm hơn.
Bây giờ, vì ta muốn
sát cánh trong thân hơn nên ta
để trí nhớ nơi bụng. Chính ở
trong thân thì dễ theo dõi hơn là
một thể sắc từ ngoài chen vào
thân. Ví dụ, hơi thở vô ở mũi
khó cho mình cảm giác nó một
cách rõ ràng từ đầu đến
cuối vì nó vi tế hơn sự chuyển
động ở bụng. Một hơi thở vô
mà mình tìm bắt, kinh nghiệm cho
được một cách rõ ràng ở
mũi rất là khó cho người mới
thực tập. Thay vào đó, chúng ta
để tâm niệm nơi bụng. Bụng
phồng, nó cử động rõ ràng.
Bụng xẹp, nó cử động rõ ràng.
Vì sự cử động của bụng thô
sơ hơn nên dễ theo dõi. Ngoài ra nó
còn có thân xúc mạnh hơn nên
dễ bắt và dễ theo dõi hơn. Vì
vậy khi hành giả mới chú tâm nơi
bụng là tự nhiên thấy bụng phồng
xẹp liền. Mà khi thấy bụng phồng
xẹp, đó chính là ta học về thân
(sắc) vậy.
Phồng Xẹp là gì?
Là sự cử động hay chuyển động
của thân. Tại sao chúng ta niệm theo
phồng xẹp, mà không niệm nơi chân hay
bàn tay hay nơi nào khác? Thật ra, niệm
ở những nơi này cũng được;
nhưng nếu để tâm một chỗ không
có sự cử động làm cho nó thức
tỉnh, thì tâm định ở đó
dễ đưa đến buồn ngủ. Để
tâm trong đề mục chuyển động là
bắt tâm luôn luôn thức tỉnh. Vì
vậy, đề mục nơi bụng phồng xẹp
là đề mục của Thiền Minh Sát,
một đề mục Thiền Quán; nghĩa là
làm cho mình luôn thức tỉnh và sự
thay đổi của đề mục (hết phồng
rồi xẹp) làm cho mình có một
trí nhớ phân biệt.
Sau khi niệm một thời gian, ta
sẽ biết bụng cử động đều
hoặc không đều, mạnh hoặc yếu,
dài hoặc ngắn. Do vậy mà ta luôn kinh
nghiệm được sự cử động của thân.
Rồi chúng ta dạy tâm phân tách.
Phần nào trong thân cử động hay nhìn
được, rờ được, cảm giác
được gọi là sắc (thân).
Phần thể sắc này không biết chi hết.
Dùng trí nhớ kinh nghiệm, cảm
giác nó, biết sự cử động của
nó. Sự phân biệt này gọi là danh
(tâm).
Chánh Niệm là trí
nhớ ghi nhận những gì xảy ra trong
hiện tại; còn tâm thức là
phần suy nghĩ. Nhưng bây giờ quý vị
thấy tâm không suy nghĩ. Vậy tâm ở
đâu? Khi trí nhớ chạy sát theo phồng
xẹp, tâm ở yên trong đề mục.
Nhờ có Chánh Niệm ghi nhận tỉ mỉ
nên tâm thức nhận biết đề mục
rõ ràng. Biết sự cử động và
xúc giác của bụng trong hiện tại.
Như vậy, Chánh Niệm luôn luôn theo từ
đầu đến cuối của phồng của
xẹp. Khi có trí nhớ như vậy
gọi là biết mình.
Biết mình là phần
trí tuệ. Nhờ vậy mới phân tách
được phồng rồi xẹp, xẹp
rồi phồng; biết được sự cử
động của phồng xẹp. Đây
gọi là trí tuệ phân tách. Nghĩa
là trí nhớ theo dõi đối tượng;
và song song với trí nhớ, tâm phân
tách được đây là phồng,
khác với xẹp. Tuy có một chút suy
nghĩ, nhận xét. Nhưng suy nghĩ này là
suy nghĩ, phân tách và kinh nghiệm trong
đề mục hiện tại và thực tế,
không phải do tưởng tượng hay suy nghĩ
về quá khứ và tương lai. Đây,
tâm luôn luôn ở trong hiện tại, có
đề mục chắc chắn của nó để
tâm kinh nghiệm, cảm giác được.
Vì vậy ta mới phân tách được
cái nào là Danh, cái nào là
Sắc.
Khi phân tách được,
ta thấy phần thân (sắc) cử động
và chỉ cử động thôi, không biết
chi cả. Rồi có cái biết sự cử
động của thân. Biết đó thuộc
về tâm (danh). Khi thấy vậy, ta biết con
người chỉ là Danh Sắc, thân tâm,
hay là thể chất và tinh thần. Đấy
là bài học đầu tiên của hành
giả.
Bây giờ ta đã tìm
thấy trong con người có thân có tâm.
Khi niệm như vậy, ta phân tách
được trong thân có trạng thái
như thế nào, và trong tâm có trạng
thái như thế nào. Theo Vi Diệu Pháp,
trong thân có Tứ Đại: đất,
nước, gió, lửa. Nhờ có trí
nhớ ở trong thân, ta mới cảm giác
được trạng thái của Tứ Đại;
và nhận thức được mỗi thể
chất có một trạng thái riêng.
Đó là cứng mềm, dính mắc,
chuyển động, và nóng lạnh.
Nếu tiếp tục Niệm như
vậy, chúng ta càng có trí tuệ,
càng có thể đi sâu vào vấn
đề và phân tách rõ từng chi
tiết một. Phần cử động trong thân
là gió, thuộc về thể sắc. Nó
luôn luôn thay đổi và không biết chi
hết. Chỉ có Tâm là phần cao
thượng hơn, mới biết được. Khi
có nhiều trí nhớ, ta sẽ kinh nghiệm
hơn nữa, sẽ thấy thân tâm này
sanh diệt chung nhau. Kế đó, ta kinh nghiệm
thêm một phần tử tế nhị hơn nữa,
gọi là thọ.
Nếu ta đếm đủ ngũ
uẩn theo thứ tự: sắc, thọ, tưởng,
hành, thức; thì tiếp theo sắc
là thọ. Vì thọ là cảm giác
trong thân nên cũng gọi là thân thọ.
Thân thọ có thọ dễ chịu (thọ
lạc), thọ khó chịu (thọ khổ),
và thọ không lạc không khổ (thọ
vô ký). Có Chánh Niệm theo dõi,
tâm phân tách được thọ này
là dễ chịu hoặc không dễ chịu.
Dù dễ chịu hoặc không dễ chịu, ta
vẫn niệm. Thọ là thọ. Ví dụ,
khi nóng, ta niệm là nóng. Nóng lạnh
là lửa; cứng mềm là đất
đó thôi. Hay là khi đau, ta cũng niệm
là đau.
Khi niệm như vậy là ta
cũng tập đi trong thân này với một tâm
xả, không vui không buồn. Thân này
chuyển động, ta đi song song với nó
mà không chìm đắm. Cảm thọ
này nổi lên, ta cũng đi song song với
nó. Đấy là ta biết được Danh
Sắc, bài học đầu tiên mà
Đức Phật đã dạy.
Chúng sanh thường chấp con
người có cái Ta. Nếu chấp vậy
gọi là tà kiến. Nếu có tà
kiến, ta sẽ chìm đắm dưới
đáy biển. Riêng hành giả hôm nay
làm một vị thuyền trưởng, học theo
phương pháp của thuyền trưởng. Tuy
rằng có học thức ít, nhưng ta chú
trọng về phần kinh nghiệm. Kinh nghiệm trong thân
và trong tâm, và phân tách hơn
nữa để biết thân tâm làm
việc như thế nào.
Bây giờ nói về tâm.
Như thế nào gọi là tâm? Trạng
thái của tâm là suy nghĩ. Khi nãy,
Sư có nói chánh niệm là trí
nhớ ghi nhận Danh Sắc trong hiện tại. Vì
vậy, chánh niệm là một phần tử
giải thoát ở trong thân tâm
đó nữa. Khi tâm ta suy nghĩ hoặc
muốn làm gì, ta cũng biết. Người
không thực tập thì không thấy rõ thân
tâm, muốn làm gì thì làm. Tại
sao vậy? Bởi một cái Ngã đã che
áng luôn thân tâm này. Khi đi
lúc nào cũng nói "ta đi". Khi
nghỉ lúc nào cũng nói "ta
nghỉ", v.v... Nhưng hành giả ở
đây lại phân tách. Khi đi hoặc
nghỉ, hành giả phải niệm, phải phân
tách Danh Sắc coi cái gì xảy ra, cái
gì chuyển động.
Bây giờ lấy một ví
dụ. Lúc nãy thân này ngồi,
bây giờ lại đi. Nhưng tại sao ta đi
được? Trước khi đi, phải có
cái gì sai khiến cái đi, mới đi
được. Như vậy thì phải có
cái tâm. Trí nhớ trong hiện tại
lần lần cho ta thấy rõ ý định
mình muốn làm gì. Trước khi đi,
phải có một ý định muốn đi
thì thân này mới đi được;
và trí nhớ biết như vậy. Lúc
nãy thân phồng xẹp, chúng ta biết
niệm vì đã quen niệm phồng xẹp.
Bây giờ tâm muốn đi, thì trí
nhớ cũng phải niệm muốn đi - muốn
đi - muốn đi. Như vậy, trí
nhớ biết thêm một phần tử nữa
thuộc về tâm (danh), gọi là tác
ý.
Chúng ta thấy danh và
sắc nương qua nương lại nhau tạo
thành con người. Khi tâm muốn đi
thì thân mới đi được. Khi tâm
muốn ngồi thì thân mới ngồi
được. Và hơn đó nữa, vì
có trí nhớ nên ta phân tách
được thân tâm mấy ngày nay.
Chỉ vậy thôi. Nếu nhớ như vậy
mãi mãi là ta đánh đổ cái
gọi là Ta, chỉ thấy có Danh Sắc đó
thôi. Đây là điều đầu tiên
mà hành giả phải có trong Thiền Minh
Sát.
Muốn có Minh Sát Tuệ
để giải thoát phiền não trong thân
tâm này, ta phải biết cái nào
là thân, cái nào là tâm,
mới đi vào chi tiết được. Như
quý vị thấy, đầu tiên chỉ có
niệm thân là phồng xẹp thôi mà
quý vị đã biết tới bản chất
của nó (nóng lạnh, nặng nhẹ, chuyển
động) và biết được thân
thọ. Quý vị cũng biết được
ý muốn của mình trước khi làm
gì. Vì vậy, chúng ta luôn luôn đi
trên con đường Bát Chánh Đạo.
Và đi như vậy, ta không bị chìm
đắm trong sông mê bể khổ này.
Chúng sanh trên thế gian cứ mãi chìm
đắm trong sanh tử luân hồi vì không
thấy Danh Sắc và cứ chấp vào một
cái Ngã.
Bây giờ ta biết con
người là Danh và Sắc. Rồi hơn
đó nữa, ta phân tách thấy Danh Sắc
luôn luôn ở trong trạng thái thay đổi.
Cứ theo dõi vậy, thì ta sẽ thấy
không một ngày nào, một giờ nào,
một phút nào mà nó không thay
đổi. Trạng thái thay đổi này
làm cho ta khó chịu. Cái khó chịu
này là phần của trí tuệ - trí
tuệ chán nản. Chán nản thân
vì nó có trạng thái thay đổi;
chán nản tâm vì nó có
trạng thái thay đổi. Mà ai cấu tạo thân
tâm này? Ta không biết được.
Nguyên nhân nó từ đâu? Ta không
biết được. Cho dù từ trước
đến nay, người ta nói là có Bề
Trên tạo con người đi nữa, ta vẫn
để qua một bên. Ai gieo cho mình? Mình
không biết. Bây giờ, chúng ta chỉ thấy
sự Khổ; rồi làm sao ra khỏi cái Khổ
mà ta đang có đây. Để giải
thoát sự khổ này, chỉ có
phương pháp Đức Phật dạy mà
chúng ta đang thực tập ở đây.
Trong mười ngày, quý
vị đã kinh nghiệm thế nào là
trạng thái thay đổi của thân tâm,
và thế nào là sự chán nản thân
tâm này. Chúng ta được lợi
ích gì trong 10 ngày nay? Lợi ích trong
sự đau mỏi của thân hay là sự
đau khổ của tâm? Có như vậy,
chúng ta kinh nghiệm sự đau khổ của thân
cũng như tâm. Hơn đó nữa, ta kinh
nghiệm phần chán nản của thân tâm
này, và lấy chán nản đó
để ta trắc nghiệm. Tại sao vậy? Vì do
chán nản đó, ta mới lần lần
rời khỏi sự đau khổ. Tâm không
chán nản là tâm luôn luôn ở
trong bóng tối Tham Sân Si. Khi tâm chán
nản, tự nhiên Tham Sân Si lần lần
diệt mất.
Khi Đức Thế Tôn còn
tại thế, có lần Ngài hỏi một
nhóm các thầy Tỳ-khưu:
- Đêm qua, lúc nằm hay
lúc ngồi, tâm các con để đâu?
Vị Tỳ-khưu thứ nhất
đáp:
- Bạch Đức Thế Tôn,
tâm con đêm qua ở trong thế giới này.
Ý nói là vị
Tỳ-khưu kinh nghiệm việc trong quá khứ
và tương lai, nơi nào tâm cũng
đều biết tới hết. Đức Thế
Tôn im lặng. Vị Tỳ-khưu thứ nhì
trả lời:
- Bạch Đức Thế Tôn,
tâm con đêm qua ở trong làng này. Từ
đầu làng cho đến cuối làng, con
đều biết hết.
Đức Phật cũng im lặng.
Vị thứ ba trả lời:
- Bạch Đức Thế Tôn,
tâm con đêm qua ở trong nhà này.
Đức Phật cũng im lặng.
Vị thứ tư trả lời:
- Bạch Đức Thế Tôn,
tâm con đêm qua ở trong thân này.
Đức Thế Tôn tán
dương vị Ty-khưu thứ tư:
- Này con, thật đúng như vậy. Thân tâm luôn luôn nương nhờ nhau. Phải sống như vậy mới gọi là sống đúng chân lý, sống đúng theo chánh đạo.
Bây giờ biết sống theo Đức Phật, ta xóa bỏ những cái sống trong dĩ vãng hay tương lai. Sống trong kinh nghiệm của quá khứ hay trong tưởng tượng của vị lai thì sẽ mãi mãi đau khổ. Nhưng, sống bên bờ giác ngộ, sống theo Đức Phật, thì có hương vị giải thoát như chúng ta đang thực tập đây.
Quý vị còn thêm một ngày nữa. Một ngày vẫn còn nhiều thời gian, vì có 24 giờ đồng hồ. Ngồi một giờ là có 60 phút. Một phút có 60 giây mà một giây có biết bao sự sanh diệt của thân và tâm này. Như vậy thì chúng ta có cơ hội tu niệm được nhiều nữa trong ngày nay và đêm nay. Còn một ngày một đêm nữa, mong quý vị lấy thời giờ quý báu ấy mà cố gắng thực tập như vị Tỳ-khưu thứ tư. Quý vị cố gắng để kinh nghiệm bơi lội trong thân tâm này như vị thuyền trưởng biết bơi lội trong đại đương. Chúng ta sống với thân tâm mà không bị chết chìm với nó, nghĩa là luôn luôn sống thực với nó.
Thời giáo lý đến đây xin tạm dứt. Trước khi dứt, Sư xin cầu nguyện Hồng Ân Tam Bảo hộ trì cho quý vị được sự an vui, tinh tấn tu hành mau đến nơi giải thoát.
---o0o---
Chân thành cảm ơn Cư sĩ Bình Anson
đã gởi tặng
phiên bản điện tử tập sách
này.
Trình bày: Mỹ Hạnh &
Nhị Tường
Cập nhật: 01-07-2003