Nắng. Cái nắng làm người ta lúc nào cũng phải hấp háy mắt, ánh sáng dư thừa đến mức dường như có thể nhìn thấy từng mảng không khí xung quanh đang chuyển động như những váng dầu trên mặt nước. Nắng. Nắng như thế mà không nóng. Ngọn núi này có điều đặc biệt như thế. Những thân cây trụi lá, khô khốc, khẳng khiu, thế nhưng khi đưa tay thử bẻ một cành nhỏ, ta sẽ bất ngờ vì sự tươi mềm của nó. Giống như cây mai mới vừa được lặt lá trong những ngày sắp tết vậy. Chỉ có cây là hiểu rõ mùa, hiểu rõ nắng mưa vốn có. Ông Núi sống trong ngọn núi này cũng thế.
Chẳng ai biết gốc gác của ông, chỉ biết là từ lâu lắm, khi mới vài người đến đây lập nghiệp, ông Núi đã sống trong hang. Chẳng ai biết ông tên là gì nên cứ gọi là ông Núi. Ông sống bằng trái, lá cây và nước suối. Một lần, có người mang đến cho ông buồng chuối chín, ông để nguyên buồng, tách vỏ, lấy ra từng trái rất khéo, buồng chuối ăn xong mà như vẫn còn nguyên. Người ta thấy vậy liền mang buồng vỏ chuối về treo giữa nhà, buồng chuối khô nguyên nhìn rất ngộ. Từ đó, dân trong vùng, nhà nào cũng chọn buồng chuối đẹp nhất, mang cúng ông rồi đem vỏ buồng chuối về nha, treo lên nhìn ngắm như một vật thiêng.
Xóm núi lơ thơ vài căn nhà nhỏ, bình yên giữa rừng cây cổ thụ bạt ngàn. Ông Núi thỉnh thoảng đến nhà chữa bệnh cho những người trong xóm. Ông có một xâu chuỗi rất đặc biệt, khi chữa bệnh, ông mài những hạt chuỗi ra, hòa với nước cho uống đúng ba lần là khỏi bệnh. Ông ngồi bên bờ suối, giữa đá và nước, trong không khí yên ắng của rừng, chậm rãi, ung dung, nhẹ nhàng mài từng hạt, từng hạt... Nhìn dáng ngồi thanh thoát của ông khi mài chuỗi, người bệnh chưa uống thuốc đã thấy lành. Ông không đeo xâu chuỗi luôn bên mình, mỗi khi vào hang, ông treo xâu chuỗi lên vách đá. Trong xóm mỗi lần có người bệnh, đến tìm, nhìn thấy xâu chuỗi treo trước cửa hang là biết mình được cứu.
Dân cư xóm núi ngày thêm đông đúc, cây cối thưa dần dù lắm chính sách bảo vệ tuyên truyền. Ông Núi thường xuyên đi vắng, ít chữa bệnh hơn dù người bệnh ngày một tăng. Xóm núi đông người nảy sinh nhiều mối quan hệ phức tạp. Núi bị chia chẻ thành nhiều mảnh sở hữu riêng lẻ kèm theo những cuộc cải vả, xô xát bởi tranh giành. Xóm núi đặc biệt có hai nhóm họ xung khắc rất dữ: nhóm họ nhà ông Trần và nhóm họ nhà ông Phạm. Họ cùng là dân tứ xứ lưu lạc đến xóm này, cùng đốt rừng làm rẫy và cùng ra sức ... oán ghét nhau bởi những quyền lợi cũng... rất cùng.
Sắp đến mùa mưa - mùa gieo hạt, lại sắp phải cãi nhau vì mấy lằn ranh lắng ngoắng trên đồi. Lòng người không đo được, nhưng vật sở hữu của người thì thứ gì cũng được cân đong đo đếm rất kỹ càng. Đất đai liền mạch, nhưng ranh giới vạch ra bởi con người thì lắm nỗi dọc ngang. Nếu đất mà nói được thì những cục đất đang phải đội các vạch phân chia chắc nhiều tâm sự lắm!
Ông Trần ngã bệnh. Nhà họ Phạm hay tin này còn nhanh hơn nhà họ Trần. Ở đời, có khi nỗi đau của người này lại là niềm vui của người kia một cách... chí lý!
Cách đây hơn hai mươi năm, có lần ông Trần vác phảng rượt ông Phạm chạy chí chết vì tranh nhau miếng đất gần chân núi. Lần ấy, nếu không nhờ con suối cứu mạng - vì ông Trần không biết bơi - thì chắc là suối đã đổi màu. Mảnh đất ấy cuối cùng không về tay ai cả, vụ kiện chỉ đem lại cho làng khoản đất sở hữu chung. Riêng ông Phạm “sở hữu” một mối nhục tháng ngày âm ỉ. Ông nhờ vào đôi chân và khả năng bơi lội của mình để tự bảo vệ trước nên pháp luật đâu có cơ hội để bảo vệ ông. Đôi khi ông ngồi nghĩ quẩn: Phải chi lúc ấy mình để hắn chém cho mình một phảng thì chắc chắn là hắn đã phải ngồi nghe xương mục trong tù (ông háo hức tưởng tượng chuyện đối thủ mục xương trong tù đến mức quên luôn cái... xương của mình sau khi “tiếp chiêu” cái phảng thì nó sẽ ra sao?!)
Nghe tin ông Trần bệnh, ông Phạm ngấm ngầm đi lên hang ông Núi dò la. Không nhìn thấy xâu chuỗi treo trên vách đá, ông khấp khởi mừng thầm, nhưng không yên tâm, ông tìm một góc khuất, ngồi quan sát. Người nhà ông Trần cứ vài giờ lại đến thăm chừng xem ông Núi đã về chưa. Hai luồng ý muốn, mong mỏi khác nhau, người mong ông Núi về, kẻ mong ông Núi đừng có mặt; bên công khai, bên bí mật, nhưng cả hai đều sốt ruột, bất an và căng thẳng như nhau. Nhiều ngày trôi qua, vậy rồi ông Núi xuất hiện trong tiếng reo vui vỡ òa hy vọng và tiếng thở dài len lén thất vọng. Ông Phạm lủi thủi ra về khi ông Núi bắt đầu ngồi xuống mài hạt chuỗi đầu tiên .
Cơn bốc hỏa, nỗi bực tức vẫn đeo đẵng theo từng bước chân ông Phạm. Ông nhớ như in gương mặt đằng đằng sát khí và cái phảng lấp loáng ánh nắng sắc ngọt của ông Trần năm xưa. Lửa căm hận trong lòng ông Phạm lại cháy. Ông cảm thấy nóng bức vô cùng. Bước chân vô tình dẫn ông đến đúng cái lối ngày trước ông Trần đã rượt đổi ông. Con suối bắt đầu vào mùa mưa, nước chảy rất mạnh, dâng tràn khiến đôi bờ suối mỗi ngày một xa rộng thêm ra. Ông bước ào xuống suối, đưa tay đánh tung tóe trên mặt nước. Không! Ông không thể chịu đựng mãi khi ông Trần cứ mỗi lần say rượu lại huênh hoang kể lại chuyện cũ, kể lại cái “thành tích” của mình, rồi miêu tả, rồi thêm thắt đủ thứ về cái sự yếu hèn, nỗi nhục nhã của kẻ thất thế để bôi nhọ ông. Ông đã chịu đựng nhiều rồi, ông không muốn con cháu ông sau này lại tiếp tục nghe câu chuyện ấy. Tháng trước, ông suýt vác dao sang nhà liều mạng với ông Trần một phen, khi nghe thằng cháu nội đích tôn của ông mới vừa 6 tuổi, đi ngang lúc ông này đang say rượu, ông ngoắc thằng bé vô và nói với nó: “Ông nội mày là thằng hèn! Tao đã từng vác phảng rượt nó chạy thục mạng, nếu nó không lạy tao đến bật máu trán ra, thì tao đâu có tha cho nó, để làm gì bây giờ có cái mặt mày trên đời!”. Câu nói này hơn hai mươi năm trước ông Trần đã nói tương tự như vậy với đứa con trai 8 tuổi của ông. Ông Phạm uất đến tím cả người. Nhục một mình ông chịu được, nhưng đến con ông, rồi đến cháu ông cũng phải chịu nhục vì ông thì ông không thể chịu đựng được nữa! Cái lão Trần ấy còn sống ngày nào là còn rêu rao, còn chọc ngoáy vào vết thương của ông, bôi nhọ ông và cả đến con cháu nhiều đời của ông nữa. Càng nghĩ ông càng căm hận. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu, ông Phạm vội vàng bước lên khỏi suối, hối hả đi về nhà. Năm xưa, một người dân tộc đã cho ông một loại thuốc, hình như làm bằng nhựa cây hòa cùng nọc rắn gì đó, cực độc, dùng để bôi lên đầu mũi tên khi săn thú dữ. Bao nhiêu năm qua ông chẳng dùng để làm gì, vẫn cất kỹ. Ông vạch sẵn một kế hoạch trong đầu, ông sẽ tìm cách bôi lên xâu chuỗi của ông Núi. Dễ thôi mà, xâu chuỗi ông Núi vẫn treo ở cửa hang...
Tiếng trống mõ đám ma ông Trần thỉnh thoảng lại vang lên, dội vào tim ông Phạm từng nhát khó tả. Tiếng trống mõ đi vào cả trong giấc ngủ chập chờn của ông sau hơn ba tháng kể từ ngày ông Trần mất. Ngày nào ông Phạm cũng lên hang, ngồi chờ ông Núi, chờ để lấy xâu chuỗi mà chính tay ông đã bôi thuốc độc. Ông sợ ông Núi lại dùng xâu chuỗi ấy để chữa bệnh cho nhiều người thì tội của ông không biết đến đâu. Nhưng ông Núi đi đâu vắng biệt. Ngày nào ông cũng sống thấp thỏm trong sự âu lo và đợi chờ và dằn vặt. Ông nhìn mãi lên cửa hang, đôi khi hoa mắt, ông như nhìn thấy xâu chuỗi ẩn hiện trên vách đá, khi thì nhòe nhoẹt màu đỏ như máu, khi lại thấp thoáng gương mặt ông Trần... Tinh thần ông Phạm ngày thêm hoảng loạn. Ông gầy rộc, hốc hác, ngơ ngẩn như người mất trí.
Ông Núi rồi cũng trở về. Lấy được xâu chuỗi, ông Phạm gói rất kỹ, giấu dưới giường và cấm tiệt không ai bước lại gần. Đã giữ xâu chuỗi, ông ngỡ rằng sẽ được bình tâm, nhưng không, bệnh tình ông ngày càng trầm trọng. Người nhà lại thay phiên đứng ở cửa hang khẩn chờ ông Núi. Cho đến một ngày, khi ông Phạm lên cơn hấp hối thì ông Núi xuất hiện cùng một xâu chuỗi khác trên tay. Ông Phạm gượng chút sức tàn, bảo con trai và cháu nội dìu ông quì xuống, định kể lại tội lỗi của mình, nhưng ông Núi đã từ tốn nói:
- Con không cần kể lại đâu. Ta còn có chuyện này để kể cho con nghe:
Sau nhiều ngày chờ đợi ông Núi trở về chữa bệnh cho mình, ông Trần nằm trên giường mà nghe như mình đang tuột dốc, cái chân cái tay ngày nào cầm phảng rượt đuổi ông Phạm qua mấy ngọn đồi giờ đã không thể tự lần vách bước đi. Khi gần đến cái chết người ta mới thấm thía những trò phù phiếm của đời. Những ngày cuối, người mà ông nhớ đến nhiều nhất vẫn là ông Phạm...
Ông Núi đã cẩn thận mài thuốc, bưng đến bên giường ông Trần và nói: “Thật ra, bệnh của con đã đến hồi không cứu được nữa rồi, nhưng nếu con còn muốn sống để tiếp tục cái nghiệp mà từ lâu nay con đã gieo với nhà họ Phạm, thì con hãy uống chén thuốc này.” Nhìn gương mặt hiền hòa thanh thoát diệu kỳ của ông Núi, ông Trần như người chợt tỉnh cơn mê. Ông Trần đã không uống. Chén thứ nhất, rồi chén thứ hai (là chén mà ông Phạm đinh ninh được mài từ xâu chuỗi tẩm độc) rồi chén thứ ba... Ông Trần vẫn không uống, mặc cho người nhà vật vã khóc than nài nỉ.
Ông Phạm nở một nụ cười nhẹ nhõm, trút hơi thở sau cùng trong ánh nhìn từ bi, bao dung của ông Núi. Dù chỉ là một ánh nhìn, nhưng cũng đủ làm thành một hành trang quí, nếu người ra đi biết trân trọng xếp nó vào trong hành lý của mình.
Mùa mưa qua rồi, con suối chảy nhẹ nhàng hơn và gần lại đôi bờ. Nắng. Trời lại nắng, và những thân cây trụi lá tiềm ẩn trong mình những nụ non xanh vẫn sẳn sàng cho một mùa lộc mới, chỉ cần có nắng có mưa.