
MỘT
CUỘC ĐỐI THOẠI
GIỮA “TÂM” VÀ
“LINH HỒN”
Tín lý Công giáo xác tín: Thiên Chúa đã
ban cho con người một
linh hồn giống như hình ảnh của Ngài.
Còn nhà Phật thì nói: con người có cái
Tâm. Vấn nạn được đặt ra như sau: Nếu
linh hồn do Thiên Chúa ban, vậy Tâm do
ai ban? Nếu không do ai ban cả thì từ
đâu mà có Tâm?...
Khoa thần học Công giáo luôn trung thành
với phép biện chứng cổ điển, quy kết tạo
vật (quả) vào một đích tối hậu, duy nhất
(nhân) là Thiên Chúa. Nhưng nếu nói
“Thiên Chúa”, e rằng người ngoài Kitô
giáo khó chấp nhận, nên các nhà thần học
thường mượn từ ngữ triết học là "Nguyên
nhân đệ nhất" để ám chỉ Thiên Chúa. Từ
điển và danh từ triết học của Linh mục
Trần Văn Hiến Minh giải thích: "Nguyên
nhân đệ nhất (Cause Première) là nguyên
nhân đứng đầu chuỗi nguyên nhân mà cái
trên ảnh hưởng đến cái sau. Như thế,
nguyên nhân đệ nhất là nguyên nhân không
bị nguyên nhân nào trên đó ảnh hưởng tới.
Thượng đế là Nguyên nhân đệ nhất".[1]
Theo học thuyết Tôma[2]: “Thượng đế là
nguyên nhân đầu tiên của sự tồn tại và
là cơ sở đầu tiên của mọi phạm trù Triết
học.”
Nếu nói “Tâm” cũng chính là Nguyên nhân
đệ nhất, chắc chắn sẽ bị số đông tín đồ
Công giáo phản đối, bởi vì Tâm không thể
là Chúa được... (trừ một số Kitô hữu
phóng khoáng, cởi mở. Nhưng số này rất
ít và thường bị Giáo hội lên tiếng chỉ
trích gay gắt, hăm dọa dứt phép thông
công!). Vì nếu cho rằng: Tâm cũng chính
là Chúa, lập tức anh rơi ngay vào phiếm
thần luận (Panthéisme). Thuyết phiếm
thần cho rằng: Chúa là khởi nguyên phi
nhân, nhưng không nằm ngoài tự nhiên
giới, đồng nhất với tự nhiên giới.
Thuyết phiếm thần hoà tan Chúa vào tự
nhiên giới, bác bỏ khởi nguyên siêu
nhiên của Chúa. Hay nói một cách khác:
cái gì cũng là Thượng đế, tức vạn vật
đồng nhất thể.
Nhưng nếu chỉ dùng luận lý học hình thức
để phân biện: “Tâm” không phải là nguyên
nhân đệ nhất, tất phải là đệ nhị hay đệ
tam!...Và theo Từ điển danh từ triết học
của Linh mục Trần Văn Hiến Minh, chính
nguyên nhân đệ nhất ảnh hưởng (sanh ra)
cái tâm. Trong trường hợp này, tâm chính
là kết quả tất yếu (quả) của nguyên nhân
đệ nhất (nhân). Còn nếu nói theo ngôn
ngữ bình thường của một tín đồ Công giáo
bình thường, thì chính Thượng đế đã ban
cho con người cái tâm, đại để cũng giống
như Ngài ban cho người Kitô giáo có một
linh hồn vậy... Và nếu hiểu như thế thì
Phật giáo có thể khẳng định rằng: Cái
tâm đó không phải là cái Tâm (Chơn Tâm)
mà Phật giáo muốn nói tới.
Nguyên nhân và kết quả được gọi tắt là
nhân quả. Nhân quả là một học thuyết lớn
của Phật giáo. Nhưng Phật giáo chưa bao
giờ có quan niệm về cái gọi là "Nguyên
nhân đệ nhất". Một nhân thường không tạo
ra quả, phải có ít nhất là hai nhân trở
lên mới hình thành được quả. Các yếu tố
nối kết các nhân lại với nhau gọi là
duyên, vì vậy nhân quả còn được gọi là
nhân duyên. Thiếu duyên, các nhân trở
nên vô dụng. Ngoài những duyên trực tiếp,
còn có những duyên gián tiếp gọi là tăng
thượng duyên. Các nhân thì nhiều vô kể,
chúng bàng bạc trong khắp vũ trụ vạn hữu,
chỉ cần có điều kiện duyên là chúng hiện
hành, kinh Hoa Nghiêm gọi là "trùng
trùng duyên khởi".
Phúc âm Kitô giáo có dụ ngôn nói về
người gieo hạt: Khi mang những hạt giống
ra gieo, hạt thì rơi trên đá không nẩy
mầm được, hạt bị chim trời tha đi, nhưng
cũng có những hạt lại rơi vào nơi đất
xốp có điều kiện nẩy mầm tươi tốt...
(Mac 4:3-8). Ðứng ở góc độ hiện tượng
thì đây cũng là một ví dụ rất hay về
duyên. Vì nếu không có duyên, giải thích
thế nào về số phận của từng hạt giống.
Tất nhiên thần học Công giáo có lối giải
thích riêng: “tất cả đều nằm trong sự
quan phòng của thiên chúa”, lối giải
thích này không có tính thuyết phục, nên
giáo hội Công giáo buộc tín đồ đặt tất
cả mọi quan hệ biện chứng vào một phạm
trù tiên thiên: “đức tin”.
Tuy nhiên, Chơn Tâm lại không hề dính
dáng gì đến nhân quả. Chẳng những đối
với thuyết nhân quả, mà ngay cả những
giáo lý căn bản khác như: Tứ đế , Bát
chánh đạo... cũng không quan hệ: "Thị cố
không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành
thức" (không ngũ uẩn)..."Vô vô minh diệc
vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô
lão tử tận" (không thập nhị nhân duyên)...
"vô khổ tập diệt đạo" (Không có tứ diệu
đế). "Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc
cố" [3] (ngay cả trí và đắc cũng chẳng
quan hệ chi tới Chơn Tâm, nói chi đến
thuyết nhân quả!.
Trong kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật nói: "Này
A-nan! Ta nói thuyết nhân duyên là đứng
về phần sự tướng, chỉ các pháp trong thế
gian mà nói, chứ không phải chỉ cho Lý
Tánh tuyệt đối". Lý Tánh, Tâm hay Chơn
Tâm là một phát hiện độc đáo mà Đức
Thích-ca-mâu-ni đã cống hiến cho nhân
loại. Học thuyết nhân quả nhằm để giải
thích thế giới hiện tượng, chứ không
phải để thuyết minh cho Chơn Tâm (Lý
Tánh).
Thắc mắc về Chơn Tâm là nhân hay quả
thực ra đã có từ lâu. Ngay từ thời Ðức
Phật, chính A-nan, một đệ tử xuất sắc
được mệnh danh là "đệ nhất đa văn" đã
mang vấn đề này ra hỏi Ðức Phật: "Bạch
Thế Tôn! Cái tâm này nếu không phải tự
nhiên mà có thì chắc là do nhân duyên
sanh. Con hiểu như vậy có đúng không?
Xin Thế Tôn Từ Bi chỉ dạy..." Nhưng Chơn
Tâm không thể suy nghĩ và bàn luận được,
nên Ðức Phật đã trả lời: "A-nan! Ông
phải biết, cái tâm này không phải nhơn
cũng không phải duyên, không phải tự
nhiên, cũng không phải không tự nhiên ,
không cái phi , không cái bất phi, không
cái thị , không cái phi thị. Nó rời tất
cả các tướng, mà chính là tất cả các
pháp. Như thế thời ông làm sao để tâm
suy cho tới , dùng lời nói để bàn luận
cho kịp và gọi nó bằng thứ gì được (Ly
ngôn thuyết tướng, ly tâm duyên tướng,
ly danh tự tướng)... Nếu ông để tâm suy
nghĩ và dùng lời nói để bàn luận, thì
cũng như người quơ tay chụp bắt hư không
, chỉ thêm mệt nhọc, chứ làm sao mà chụp
bắt hư không cho được".(Kinh Lăng Nghiêm)
Ở một đoạn khác trong kinh Lăng Nghiêm,
Ðức Phật nói với ông Phú-lâu-na: "Cái
Tâm này lại rời tất cả "tức"và "phi" mà
cũng là "tức" và "phi tức". Chơn Tâm như
thế thì kẻ phàm phu cho đến các vị thánh:
Thinh văn, Duyên giác làm sao lấy tâm
trí suy nghĩ cho đến đạo Vô Thượng Bồ-đề
của Như Lai, hay dùng lời nói bàn luận?
của thế gian mà ngộ nhập chỗ tri kiến
của Phật cho được?".
Kinh điển của Phật giáo đã chứng minh
rất rõ ràng: Chơn Tâm không phải nhân mà
cũng chẳng phải quả. Không phải tự nhiên
mà có, cũng chẳng phải chẳng tự nhiên...
Ðến đây, xin mượn tạm lời của Thiền sư
Phật Nhãn:
"...Người hiểu "không" chẳng "tưởng
không". Nếu người dùng ngôn ngữ diễn tả
Tâm trọn chẳng được Tâm. Chẳng dùng ngôn
ngữ diễn tả Tâm cũng chẳng được Tâm. Vì
ngôn ngữ vốn là Tâm nên diễn tả nó vẫn
chẳng được. Không ngôn ngữ cũng vốn là
Tâm, không diễn tả nó vẫn chẳng được.
Các thứ hội đến đều không khế hợp với Tự
Tâm. Thượng Tổ bảo: Thầm khế hội thôi
!"[4]
Mặc dù "Trên đỉnh núi Diệu Cao từ xưa
tới nay chư tổ chẳng cho thương lượng,
nhưng ở đầu non thứ hai, chư tổ lại cho
tóm lược dung hòa, tạm mượn ngôn ngữ để
giải bày..." [5]. Theo kiểu mượn mèo tả
hổ để phần nào chúng ta có thể hình dung
ra cái Chơn Tâm vô hình vô tướng đó. Còn
hương vị ngọt ngào của nó như thế nào
thì... Vâng! "Thầm khế hội thôi!".
Khi thảo luận về vấn đề tâm, linh hồn,
tất không thể không nói đến vấn đề liên
quan: luân hồi, thiên đường, hỏa ngục…
Kitô giáo quan niệm có một linh hồn, và
Phật giáo thì nói về một cái tâm. Một
vấn nạn nữa được đặt ra: Khi chết linh
hồn đi đâu? cái tâm như thế nào?
Sách giáo lý vở lòng Công giáo được
trình bày dưới dạng vấn đáp như sau :
Hỏi : Con người có phải chết chăng ?
Thưa : Ðến kỳ Chúa định chúng ta đều
phải chết.
Hỏi : Chết rồi linh hồn đi đâu ?
Thưa : Hoặc lên thiên đàng hoặc xuống
hỏa ngục...
Như vậy, tín đồ Kitô giáo đã có sẵn một
"địa chỉ" để đến sau khi chết: thiên
đàng hoặc hỏa ngục. Nhưng hình như "địa
chỉ" này chỉ phù hợp cho những tín đồ ở
"trình độ đại chúng" và họ chỉ đến đó
sau khi chết.
Những nhà thần bí Kitô giáo ít quan tâm
hơn đến thiên đường, hỏa ngục. Họ lý
luận rằng, Giêsu đến mang theo một giao
ước mới: đó là Tình yêu chứ không phải
thiên đường hoả ngục. "Cha đã thương yêu
họ như cha đã thương yêu con, để tình
cha yêu thương con ở trong họ và con
cũng ở trong họ nữa (Jn 17:23,26). Thiên
Chúa Cha đã yêu Ðức Giêsu, còn Ðức Giêsu
thì yêu con người và muốn "nên một" với
con người: "Con trong họ và Cha trong
con để họ được hoàn toàn nên một như
chúng ta là một" (Jn 17:22). Trong tu
đức, họ luôn tâm niệm: "Tôi sống, nhưng
không phải tôi sống mà chính Chúa sống
trong tôi"(Gl 2:20).
Theo các nhà chiêm niệm Công giáo, họ có
thể thiết lập mối hiệp nhất với Thiên
Chúa thông qua tình yêu của Ngài, hiệu
qủa và tức thời, không đợi đến lúc chết…
Dĩ nhiên thiên đường, hỏa ngục là những
vấn đề tín lý cần phải tin, nhưng họ vẫn
có một thực tại thành tựu trong tu luyện,
mà những tín đồ bình thường khác không
đạt được. Thánh Têrêxa nói: Nếu phải
xuống hỏa ngục lúc này, tôi lôi Chúa
cùng xuống theo." Thật là một ý tưởng
độc đáo mà chỉ có những ai “hiệp nhất
trong Ngài” mới dám nói như vậy. Thánh
Phanxicô lại rất hào hứng khi nói : "Chúa
là hố thẳm, hãy nhảy vào..." , "Chúa như
cơn lốc mà ta bị cuốn hút vào đó..."
hoặc ấn tượng hơn: "Chúa như con dã thú
mà ta là tay thợ săn luôn rình rập để
tóm lấy con dã thú đó"[6]
Trong xác tín, Kitô giáo không thể không
nói tới thiên đường hỏa ngục, dù nơi đó
chỉ hấp dẫn đối với tín đồ ở trình độ
đại chúng. Những tín đồ có trình độ cao
hơn, sẽ hướng tới một đích cao hơn: "Sống
trong Thần khí của Chúa để kết hơp nên
một với Ngài" chứ không phải mong cầu
thiên đường của Ngài. Tuy vậy họ vẫn
không thể phủ nhận thiên đường, hỏa ngục,
mà tín lý Công giáo đã khẳng định, nếu
họ không muốn bị giáo hội “dứt phép
thông công”!
Ðối với Phật giáo thì sao? Không lên
thiên đường, chẳng xuống hỏa ngục mà
cũng chẳng kết hợp với Ngôi vị nào cả.
Vậy họ đi đâu? Câu trả lời là họ sẽ rơi
vào cái vòng luẩn quẩn của luật luân hồi.
Tín đồ Kitô giáo thường bị "dị ứng" về
thuyết luân hồi, làm sao mà họ có thể
chấp nhận được kiếp sau mình sẽ phải là
con trâu hoặc con bò... thật kinh khủng
khi phải nghĩ như vậy, nên chi họ không
cam tâm chấp nhận…Vậy, phải hiểu vấn đề
luân hồi ra sao?
Nên nhớ rằng, học thuyết luân hồi đã có
từ rất sớm, trước cả thời kỳ của Ðức
Phật. Các hệ phái triết học cổ và các
tôn giáo cổ Ấn Ðộ, thuộc thời kỳ tiền
Phật giáo, đã sử dụng đến học thuyết
luân hồi. Như vậy, về căn bản thì luân
hồi không phải là học thuyết của Phật
giáo. Ðến thời Ðức Phật, Ngài đã tận
dụng lại những học thuyết cũ đã có trước
đó, để giải thích lại theo quan điểm mới
của Ngài. Không những chỉ có luân hồi mà
ngay cả khái niệm Niết-bàn (nirvàna),
cũng là một khái niệm có trước thời kỳ
Phật giáo. Trong Bà-la-môn giáo, học
thuyết Niết-bàn có liên quan đến thần
thoại về mặt trời, mặt trăng. Vì thế,
không ít nhà nghiên cứu lầm tưởng
Niết-bàn của Phật giáo cũng giống như
khái niệm về Niết-bàn được tìm thấy
trong triết học cổ Ấn Ðộ. Nhưng vì sao
không sáng tạo ra học thuyết mới, mà
phải vận dụng lại học thuyết cũ. Có mấy
lý do sau đây:
1. Tôn giáo thuộc phạm trù văn hóa, mà
khi nói tới văn hóa, không thể không nói
tới tính kế thừa của các nền văn hóa
trong cùng một khu vực mà nền văn hóa đó
tồn tại. Ấn Ðộ là một khu vực văn hóa
lớn, là một trong những cái nôi văn minh
của nhân loại. Như vậy, sự kế thừa những
học thuyết thuộc thời kỳ tiền Phật giáo
của Ðức Phật cũng không có gì lạ.
2. Sử dụng lại học thuyết luân hồi mà
đối với tri thức thời đó là rất quen
thuộc, nhằm không mắc phải một lỗi lý
luận trong luận lý học cổ (tương tự như
tam đoạn luận Aristote dùng trong triết
học cổ Tây phương)[7], mà sau này Mã
Minh, Long Thọ, Trần Na, triển khai
thành một phương pháp luận mang tên: "Nhân
minh luận" hay "Nhân minh nhập chánh lý
luận". Lỗi lý luận này gọi là lỗi "thế
gian tương vi".[8]
3. Lý do thứ 3 cực kỳ quan trọng: Khi
các phái triết học và tôn giáo cổ thời
đó đều cho rằng luân hồi là có thật. Thì
đối với Ðức Phật, khi Ngài đại ngộ dưới
cội bồ-đề. Ngài phát hiện ra rằng: Tất
cả các pháp, trong đó có luân hồi là
không thật có. tất cả đều là giả tướng.
Như vậy luân hồi chỉ có giá trị trong
phạm vi thế giới hiện tượng, tức đứng về
mặt sự tướng mà nói. Trên phương diện lý
tánh, Niết-bàn còn chưa có nói chi đến
luân hồi....
Tuy nhiên, chúng ta hiện nay đang sống
trong thế giới hiện tượng. Cái thế giới
được hình thành từ những cặp phạm trù
mâu thuẫn đối kháng, nhưng không loại
trừ lẫn nhau, thuật ngữ Phật học gọi là
những cặp đối đãi như: dài ngắn, sáng
tối, tốt xấu, đen trắng, thiện ác v.v...
Như thế cũng có nghĩa là chúng ta phải
chấp nhận luân hồi, và sẽ luân hồi dài
dài... luân hồi cho đến khi nào ta không
còn là ta nữa (Vô Ngã). Cũng dễ hiểu
thôi! Nếu ta không còn là ta nữa thì lấy
cái gì để mà luân hồi...
Đối với các nhà thần bí Kitô giáo, đỉnh
cao của trạng thái tâm linh trong chiêm
niệm mà họ đạt được là sự kết hợp với
Ngôi vị, tức kết hợp với thiên chúa,
luôn tồn tại một cái "tôi" (bản ngã). "Tôi"
là chủ thể kết hợp, và "Ngôi vị" là đối
tượng để kết hợp. Giả sử Phật tử có kết
hợp được với một Ngôi vị nào đó, thì anh
ta vẫn phải "kết hợp trong luân hồi" do
tác động của "ngã".
Nhân đây, cũng nói thêm cách hiểu lệnh
lạc của một số học giả Công giáo, khi họ
giải thích về khái niệm "Vô Ngã" của
Phật Giáo. Trong quyển Thiên Chúa giáo
và Tam giáo, Linh Mục Cao Phương Kỷ cho
rằng, học thuyết "Vô Ngã" của Phật giáo
đồng nghĩa với "vô hồn". Ông viết: "Chữ
Vô Ngã đã gây ra nhiều thắc mắc, hiểu
lầm đối với các Phật tử và cả với người
ngoài". Bởi vậy, ông tự cho mình cái
quyền "giải thích lại" khái niệm "Vô Ngã"
của Phật giáo đại để như sau: "Phật
Thích-ca đã dùng vỏn vẹn ba chữ để diễn
tả Samsara: anicca, dukkha, anatta. Nên
nhớ rằng đây không phải là thế giới
Nibbana, hoặc đời sống nào khác, nhưng
là một lối sống hèn hạ, đê tiện, hẩm hiu
của con người gọi là Samsara, luân hồi.
Tại sao con người trong trạng thái
Samsara gọi là Vô Ngã (anatta)? Vì nó
cũng phát sinh đau khổ!"… "Ý nghĩa của
cái "ta" giả dối, cái giả ngã tức cái Vô
Ngã, thuộc thế giới Samsara, vô thường,
đau khổ. Ta cũng nhận định rằng cái Vô
Ngã này là căn nguyên của đau khổ, vì nó
bị thất tình chi phối, không tự chủ được.
Ðó là một hình thức, một tình trạng thấp
kém của kiếp sống con người, do đó cần
phải giải thoát. Ðây cũng là chủ đích
của Phật Thích-ca khi giảng thuyết về bộ
ba chữ vô thường, đau khổ, vô ngã."[9]
Do hiểu sai (hay cố tình xuyên tạc?) học
thuyết Vô Ngã của Phật giáo, Linh Mục
Cao Phương Kỷ viết tiếp những dòng sau
đây: "Chủ đích của Phật Thích-ca là giúp
con người giải thoát để tiến tới
Niết-bàn. Muốn thế phải tiêu diệt cái
ngã giả dối tức Vô Ngã."…"Quan niệm Vô
Ngã thuộc bộ ba: vô thường, đau khổ, vô
ngã là một lối sống đê hèn, đau khổ luân
hồi, nghiệp báo, nên cần được giải thoát."[10]
Vô Ngã của Phật giáo là một thể nghiệm
tích cực nhằm đạt đến giải thoát,
Niết-bàn. Nói cách khác, Vô Ngã đồng
nghĩa với Niết-bàn, với giải thoát. Có
thể nói đó chính là một sự chứng nghiệm
sâu thẳm, một bước nhảy vọt để vượt qua
cái ngã cố hữu luôn trì trệ níu kéo, để
đạt đến một tình trạng hoàn toàn giải
thoát, tức liễu sanh thoát tử. Hay nói
theo thuât ngữ thần học Công giáo: Vô
Ngã tức "Tối Hậu".
Do không hiểu Vô Ngã là gì, Linh mục Cao
Phương Kỷ đã đặt vấn đề như sau: "Nếu
không tin một Ðấng Tuyệt Ðối làm Chủ Tể
vạn sự vạn vật, nếu hiểu "Vô Ngã" là cái
"ngã", cái "tôi" tự nó không có giá trị
gì, vì là một hợp chất hổn độn do những
điều ngu muội, sai lầm tạo nên cái kiếp
của một con người, vì ham sống, vì dục
vọng mà con người luẩn quẩn trong vòng
sinh tử, luân hồi nghiệp chướng, kiếp
này là quả báo của kiếp trước, kiếp này
làm người, kiếp sau làm súc vật. Do đó,
cái cá nhân, cái "ngã" đầy tham vọng ích
kỷ đó là vô giá trị cần phải tiêu diệt.
Hiểu như vậy thử hỏi: Nếu tất cả đều là
"vô", "Vô Ngã" thì động lực của lòng Từ
Bi đối với tha nhân phát sinh từ đâu và
dựa trên nền tảng nào?." [11]
Ðạo đế của Tứ diệu đế mở ra một con
đường rộng thênh thang, một "siêu xa lộ
với 37 làn xe chạy", tức ba mươi bảy
phẩm trợ đạo. Bao gồm: Tứ niệm xứ, Tứ
chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ
lực, Thất Bồ-đề phần, Bát chánh đạo phần.
Trong đó, quán pháp Vô Ngã của Tứ niệm
xứ được trình bày tóm tắt như sau:
Pháp, phạm trù Phật học được hiểu là tất
cả những gì thuộc thế giới hiện tượng và
bản chất, phạm vi rất rộng lớn, từ cụ
thể đến trừu tượng, cả những gì gọi là
phi hiện thực như "lông rùa, sừng thỏ" (thỏ
không có sừng, rùa không có lông!) đều
gọi là Pháp.
Ngã, nghĩa cũng vô cùng rộng. (thường
thì người ta chỉ hiểu theo nghĩa hẹp,
chỉ riêng về con người, tức cái "ta",
cái "tôi" nhỏ bé của mình.) Vậy, ngã là
gì? Hiểu một cách vắn tắt: Ngã là "chủ
tể", là "tự tướng riêng có" của vạn pháp.
Các "tự tướng riêng có" của vạn pháp
xuất phát từ căn bệnh "chấp pháp" của
loài hữu tình mà con người là một đại
biểu. Tự tướng tức cái ngã riêng biệt
của sự sự, vật vật. Ví dụ : Người có tự
tướng của người , vật có tự tướng của
vật, thế giới có tự tướng của thế giới.
Suy rộng ra cho đến Niết-bàn, luân hồi,
Phật, Chúa, thiên đàng, hỏa ngục, tất cả
đều có tự tướng của nó. Tuy nhiên tự
tướng của các pháp không thể tồn tại
được nếu không có sự hổ tương đối đãi,
như "dài" nương vào "ngắn" mà có, "sáng"
nhờ "tối" mà thành, "Phật" từ "chúng
sinh" mà ra. Ngay cả đến đối với "Chúa",
nếu không có "con người" lấy ai để "mặc
khải nhận biết Ngài.." Thực tế chứng
minh: nếu thiếu một vế, vế còn lại cũng
không thể tồn tại. Vì vậy, Phật giáo
khẳng định "các pháp đều không có tự
tướng, đều là Vô Ngã". Quán pháp Vô Ngã
là một thực nghiệm tâm linh, là một kinh
nghiệm thân chứng sống động của Phật
giáo, chứ không phải suy luận từ một mớ
lý thuyết suông. Khi pháp quán đạt đến
đỉnh cao của nó, hành giả chứng ngộ được
tâm Vô Ngã, thân Vô Ngã, cảnh Vô Ngã,
pháp cũng Vô Ngã. Nói cách khác, Vô Ngã
bao trùm khắp pháp giới. Ðó là đỉnh cao
của trí tuệ, là Niết-bàn, giải thoát, là
liễu sanh thoát tử.
Không biết Linh Mục Cao Phương Kỷ đã
tham khảo sách vở nào về học thuyết "Vô
Ngã là một lối sống đê hèn, đau khổ luân
hồi, nghiệp báo?." Hoặc: "để tiến tới
Niết-bàn, muốn thế phải tiêu diệt cái
ngã giả dối tức Vô Ngã." ông còn cho
rằng "Vô Ngã" đồng nghĩa với "vô hồn",
hay ông đã tự "chế" ra học thuyết trên
để “đối thoại” với Phật giáo, hoặc để
giảng dạy cho các chủng sinh trong các
chủng viện, nơi mà ông phụ trách giảng
dạy môn triết học ở đó…
Duy thức học là một khoa học chuyên
nghiên cứu thế giới hiện tượng (pháp
tướng) một cách tỉ mỉ theo kiểu "sợi tóc
chẻ làm tư". Tôi không có tham vọng
trình bày Duy thức học trong khuôn khổ
một bài viết, mà chỉ muốn đưa ra một số
vấn đề của Duy thức học, có liên quan
đến đề tài đang bàn là thuyết luân hồi,
để linh mục Cao Phương Kỷ và các đồng
đạo của ông tham khảo.
Theo Duy thức học thì "vạn pháp duy thức"
nghĩa là tất cả các pháp (thế giới hiện
tượng - pháp tướng) đều từ nơi "tâm thức"
mà phát khởi. "Tâm thức" hay còn gọi là
"bát thức tâm vương" gồm :
Nhãn thức: Cái biết của mắt
Nhĩ thức: Cái biết của tai
Tỹ thức: Cái biết của mũi
Thiệt thức: Cái biết của lưỡi
Thân thức: Cái biết của thân thể
Ý thức: Chỉ sự tư duy
Mạt-na thức: Chỉ sự phân biệt và chấp
trước của tư duy
A-lại-da thức: Kho chứa chủng tử
Trong đó, thức thứ tám: A-lại-da thức là
thức có liên quan đến luân hồi mà chúng
ta sẽ bàn sau đây.
Tên gọi của thức thứ tám này cũng rất
phong phú. Xin liệt kê một số tên: A-lại-da,
Tâm, A-đà-na, Sở tri y, Chủng tử thức,
Dị thục thức, Như lai tàng, Hàm tàng
thức v.v... Sở dĩ có nhiều tên như vậy
là tùy vào cái "dụng" của thức này mà
gọi tên cho phù hợp (tuỳ dụng đặt tên).
Ví dụ: đề tài mà chúng ta sẽ bàn là luân
hồi, vậy tên phù hợp để bàn với đề tài
này là A-đà-na thức.
Nhưng trước khi bàn về A-đà-na thức,
phải nói thêm về khái niệm "chủng tử".
Chủng tử hiểu một cách vắn tắt là tất cả
hành vi đạo đức do con người tác tạo bao
gồm hành vi thiện, ác, và cả những hành
vi không thiện, không ác. Tất cả những
hành vi này đều được giữ lại trong một "kho
chứa" là thức thứ tám. Vì vậy thức này
còn gọi là hàm tàng thức.
A-đà-na thức có ba công năng :
• Chấp trì: Giữ gìn tất cả các chủng tử
tức những hành vi thiện, ác, không thiện
không ác...
• Chấp thọ: Chấp thân làm tự thể , sinh
ra cảm giác và lãnh thọ...
• Chấp thủ: Giữ lấy tất cả các chủng tử....
Hai khái niệm "thức" và "trí" thực ra
chỉ là một, nhưng ở vào hai vị thế khác
nhau: Ở bậc giác ngộ gọi là "trí", ở
người chưa giác ngộ (phàm phu) thì gọi "thức".
"Trí" gồm hai phương diện: "Căn bản trí"
và "hậu đắc trí"
• Căn bản trí : tức Như lý trí còn gọi
là Vô phân biệt trí.
• Hậu đắc trí : tức Như lượng trí còn
gọi là Sai biệt trí.
Riêng nói về "Hậu đắc trí" cũng gồm đủ
hai phương diện :
• Hiệp tha hậu đắc trí : Trí năng duyên
các pháp nhiễm tịnh mà lập ra vạn pháp
• Tự trụ hậu đắc trí : Bậc giác ngộ
nương vào trí này duyên với cảnh giới
của A-đà-na thức để thấu rõ căn thân và
thế giới.
"Thân"cũng gồm đủ hai thân :
• Thân tự thọ dụng.
• Thân tha thọ dụng.
Thân tự thọ dụng duyên với Tự trụ hậu
đắc trí, còn Thân tha thọ dụng thì duyên
với Hiệp tha hậu đắc trí. Như đã nói
trên , do A-đà-na thức có công năng duy
trì sự nối kết quá khứ vị lai, công năng
chấp thọ, nối kết căn thân và thế giới,
công năng chấp trì chủng tử của các pháp.
Chính Trí tự trụ hậu đắc duyên với cảnh
giới của A-đà-na thức mà biết có sự liên
hệ nối kết của căn thân và thế giới. Vì
vậy nương vào thức này mà biết có luân
hồi.
Do hành tướng năng biến của thức thứ tám
rất vi tế, nên người đời khó nhận biết:
Tính năng giữ gìn chủng tử, căn thân và
thế giới, giúp căn thân tạo cảm giác và
sự lãnh thọ, biến hiện, nối kết chúng
sanh và thế giới của thức thứ tám không
dễ gì nhận được nếu không có công năng
tu tập (thiền quán). Những đạo sĩ của
các tôn giáo cổ Ấn Ðộ cũng đã thấy được
hành tướng của thức này, vì vậy họ khẳng
định thức này là "thực có". Ðức Phật
cũng đã thấy được hành tướng năng biến
của thức thứ tám. Nhưng trong thiền quán
sâu xa dưới cội bồ-đề, với trí tuệ siêu
việt, Ngài đã phát hiện ra một điều hết
sức lý thú. Ðó chính là tính "không thực"
của chúng. Ðiều này giải thích tại sao
luân hồi của Phật giáo khác với luân hồi
của các tôn giáo cổ ở Ấn Ðộ.
Vậy, học thuyết luân hồi do kinh nghiệm
thân chứng của các Bậc giác ngộ mà thấy
có, chứ không phải do suy đoán. Tuy
nhiên, như đã từng nói, cái "có" ở đây
chỉ là "giả có" chứ không "thực có". Dù
"giả có", nhưng nó vẫn tác động trực
tiếp đến chúng ta vì hiện nay chúng ta
đang sống trong một thế giới được gọi là
"thế giới hiện tượng", tức thế giới của
sự "sai biệt và phân biệt", thế giới của
"thức". Muốn bước ra khỏi luân hồi,
chúng ta chỉ cần bước ra khỏi "thế giới
hiện tượng sai biệt và phân biệt" để hòa
nhập vào thế giới của "Trí". Nhưng đừng
quên rằng "Trí" cũng chỉ là công năng
chuyển hóa từ "Thức" (chuyển bát thức
thành tứ trí).[12]
Đây là một nhận thức luận mang tính khoa
học cao, Tín đồ Công giáo chắc chắn
không uổng công khi tham cứu, nếu không
sợ ảnh hưởng đến “đức tin Công giáo”.