Edward Conze
Một dịch giả Phật
Giáo vĩ đại ở Phương Tây
Thích Nguyên Tạng
Melbourne, Úc Châu 2006
|
Đại
dịch giả Edward Conze |
Tiến
sĩ Edward Conze (1904-1979) là một trong những học
giả, dịch giả Phật Giáo vĩ đại
nhất ở Tây Phương. Là nhà nghiên cứu
đứng đầu trong tất cả các tông phái
Phật Giáo, ông thông thạo những ngôn ngữ Pali, Sanskrit,
Trung Hoa, Tây Tạng, Mông Cổ và Nhật Bản. Trong
hơn ba mươi năm, ông là giảng viên tâm lư học
ở đại học.
Edward Conze (đọc theo tiếng
Đức là Eberhart Julius Dietrich Conze) sinh năm 1904 tại
thủ đô Luân Đôn trong một gia đ́nh
được ḥa lẫn nhiều ḍng máu khác nhau giữa
Đức, Pháp và Hà Lan. Cha của ông thuộc tầng
lớp quư tộc Đức và Mẹ của ông thuộc
giới “tài phiệt” của Đức. Edward Conze xuất
thân từ gia đ́nh theo Đạo Tin Lành (Protestant) mặc
dù về sau mẹ của ông tin theo Ky Tô Giáo.
Edward Conze
chào đời tại Anh quốc do v́ thời gian đó cha
của ông làm việc như là một Phó Đại Sứ
của Đức tại xứ sở này, cũng chính
điều này mà ông được mang quốc tịch Anh,
một phương tiện cần thiết về sau khi
ông quay lại Anh quốc vào năm 1933.
Thuở thiếu thời của
ông trải qua rất êm đềm và được giáo
dưỡng trong môi trường tốt. Ông
được học ở nhiều Trường
Đại học khác nhau ở Đức và đặc
biệt ông chọn khoa ngôn ngữ để theo
đuổi gồm 14 thứ tiếng khác nhau, bao gồm
cổ ngữ Sanskrit. Giống như nhiều người
trẻ Âu Châu khác, ông đă t́m đến Hội Thông Thiên
Học (Theosophy) rất sớm. Ông cũng thích nghiên
cứu về thuật chiêm tinh (Astrology) và trở thành
một chiêm tinh gia sắc sảo trong đời ông. Và khi
đang độ tuổi thanh niên, ông đă viết một
tập sách với tựa đề là “Nguyên lư Phủ
định (The Principle of Contradiction).
Trong
thời điểm quyền lực của Hitler đang
tăng lên, Conze nhận ra ḿnh có quan điểm đối
lập với chủ nghĩa Quốc Xă nên ông đă gia
nhập Đảng Cộng Sản (Communist Party) và
bắt đầu nghiên cứu chủ nghĩa Marx, và
về sau ông từng làm thủ lănh cho phong trào cộng
sản ở Bonn. Năm 1933, ở tuổi 29, ông
đến Anh Quốc với hai bàn tay trắng. Ông tự
nuôi sống bằng cách mở lớp dạy Đức
Ngữ và gia nhập Đảng Lao Động (Labour
Party). Ông quen biết được nhiều nhân vật
nổi tiếng và giới trí thức trong Đảng phái
này. Ông trở nên một người tích cực hoạt
động cho phong trào xă hội tại Anh. Ở tuổi
35, ông nhận ra ḿnh đang ở trong t́nh trạng rối
loạn tri thức và vỡ mộng về chính trị.
Đời sống hôn nhân của ông cũng thất
bại. Trong lúc quá mỏi mệt cuộc sống như
thế ông đă khám phá ra Đạo Phật khi ông bất
ngờ đọc được tập sách “Những
hạt thóc c̣n sót lại trên Những Cánh Đồng
Phật” ( Gleanings in Buddha Fields) của Lafcadio Hearn. Tuy
nhiên sự tiếp xúc ư nghĩa đầu tiên của Conze
đối với Đạo Phật vẫn là ở
tuổi trung niên, tức là đầu Thế Chiến
Thứ Hai và nhất là khi ông đọc các tác phẩm
của Thiền Sư D.T Suzuki. Và từ đó, Edward Conze
đă cống hiến trọn đời ḿnh cho Phật
Giáo, nổi bật nhất là phiên dịch và chú giải Kinh
Bát Nhă (Prajnaparamita or Perfection of Wisdom sutras), bộ Kinh
nền tảng của Phật Giáo Đại Thừa.
Nhưng Edward Conze không chỉ là một học giả theo
chủ nghĩa kinh viện, lư thuyết suông, mà trong
thời gian chiến tranh, ông đă sống và tu tập
thiền định trong một chiếc xe lưu
động caravan tại khu rừng
bản
Việt dịch của Chân Pháp
Sau chiến tranh ông đến định
cư ở
Tập sách rất thành công v́
được sự tiếp nhận rộng răi và
hiện nay tác phẩm này vẫn được liên tục
tái bản. Trong sách này, Edward Conze đă viết “một
người nghiên cứu muốn biết chắc giáo lư
đích thực của Đức Phật là ǵ sẽ
thấy ḿnh đụng phải hàng ngàn kinh sách, tất
cả đều tự nhận là lời của
Đức Phật, nhưng lại chứa đầy
những giáo thuyết khác biệt và mâu thuẫn với
nhau. Một số tác giả có nhiều ảnh
hưởng thuộc phái không theo truyền thống mới
đây đă tranh luận rằng người ta phải t́m
giáo lư Phật Giáo đích thực chỉ trong những ǵ mà
Phật Thích Ca đă giảng dạy khoảng năm 500
trước Tây Lịch. Ư kiến này đă gây ra những
phản ứng gay gắt. Sự thật là đối
với tầng xưa nhất của những kinh sách
hiện đang có, người ta chỉ có thể
đạt đến bằng suy luận và vơ đoán
một cách không chắc chắn. Tất cả những
nỗ lực tái tạo một nền Phật Giáo Nguyên
Thỉ (original Buddhism) này chỉ có một điểm
chung là đều đồng ư rằng giáo lư của
Đức Phật chắc chắn không phải là những
ǵ mà các tín đồ Phật Giáo vẫn hiểu. Thí dụ,
bà Rhys David loại bỏ thuyết vô ngă (not-self) và
tổ chức tu viện của Phật Giáo. Đối
với bà, một sự tôn thờ “Người” (The Man)
là giáo lư nguyên thỉ của Phật Giáo. H.J. Jenning th́
thẳng thừng bác bỏ tất cả những
đoạn nói đến luân hồi (reincarnation) trong
kinh sách, và ông nói rằng như vậy là để phục
hồi ư nghĩa nguyên thỉ của kinh sách. Tiến sĩ
Paul Dahlke cũng không cần biết đến những điều
huyền bí (mythology) có đầy trong Phật Giáo
truyền thống, và giảm giáo lư của Đức
Phật xuống thành một thứ lư thuyết bất
khả tri, duy lư. Trong cuốn sách này tôi mô tả truyền
thống sống động của Phật Giáo qua
những thế kỷ, và tôi thú nhận rằng tôi không
biết giáo lư nguyên thỉ của Phật Giáo là cái ǵ.
Nếu xem tất cả lịch sử Phật Giáo sau
thời kỳ đầu là lịch sử của sự
thoái hóa trừ một số giáo lư nguyên thỉ th́ như
vậy giống như xem một cây sồi (oak tree) là
sự thoái hóa của một hạt sồi. Trong cuốn
sách này tôi xem lời dạy của Đức Phật, là
bao gồm tất cả những giáo lư được
gắn liền vào giáo lư nguyên thỉ bởi sự liên
tục của lịch sử, và những giáo lư này tŕnh bày
những phương pháp đưa đến sự tu
sửa của cá nhân bằng việc giải trừ ngă
chấp”.
Nhận xét
Phật Giáo bằng kết quả của tôn giáo này:
Một người cộng tác của ông
là Tiến sĩ Arthurn Waley nói một cách súc tích về
sự hiểu biết sâu xa của ông về Phật Giáo
như sau: “Đối với Tiến sĩ Conze,
những câu hỏi mà Phật Giáo đặt ra và trả
lời là những câu hỏi sống thực và ông luôn luôn liên
kết những câu hỏi này với lịch sử và
với thực tại “
Edward
Conze tổng kết Phật Giáo một cách ngắn gọn
như sau: “lúc đầu người ta có thể bị
Phật Giáo thu hút một cách xa xôi, nhưng họ chỉ có
thể cảm nhận được giá trị đích
thực của Phật Giáo khi nhận định Phật
Giáo bằng những kết quả mà tôn giáo này sản sinh
trong đời sống hằng ngày của chính ḿnh”.
(Although one may originally be attracted by its remoteness, one can appreciate
the real value of Buddhism only when one judges it by the results it produces in
one’s own life from day to day).
Khi nói về “Phật Giáo Âu Châu” (European
Buddhism), Edward Conze viết “các nhà truyền giáo Ḍng Tên
của Ky Tô Giáo trong thế kỷ 17 và thế kỷ 18
đă biết khá chính xác về PG Trung Hoa và Nhật Bản,
nhưng một triết gia người Đức, Athur
Schopenhauer, là người đầu tiên làm cho Âu Châu
biết về Phật Giáo như một tín ngưỡng
sống thực. Không biết ǵ về kinh sách Phật Giáo,
chỉ được hướng dẫn bởi triết
lư của Kant, một bản dịch tiếng La Tinh từ
một bản dịch tiếng Ba Tư của Áo Nghĩa Thư
(Upanishad) của Ấn Giáo và sự thất vọng với
cuộc đời, đến năm 1819, Schopenhauer đă
lập một hệ thống triết lư với chủ
trương “Phủ nhận ư chí sống”(Negation of
the Will to live) và xem sự cảm thông là hạnh cứu
rỗi độc nhất, và do đó có khuynh hướng
rất giống tinh thần từ bi của Đạo
Phật. Những ư tưởng của Schopenhauer
được tŕnh bày một cách sống động và
dễ đọc đă có ảnh hưởng lớn ở
Lục địa Âu Châu. Richard Wagner đă có ấn
tượng mạnh mẽ với giáo lư PG và trong những
năm gần đây Albert Schweitzer sống một cuộc
đời giống Schopenhauer đă đề ra”.
Công tŕnh
của bốn thế hệ:
Trong thế kỷ 19, cuộc xâm chiếm Á
Châu của các thương gia, các quân nhân, và các nhà truyền
giáo Âu Châu được đi kèm bởi sự xâm nhập
dần dần của những tư tưởng Á Châu vào
Âu Châu. Sự xâm nhập này có hai h́nh thức là nghiên cứu
một cách khoa học và tuyên truyền phổ thông. Việc
nghiên cứu văn học và mỹ thuật Phật Giáo
đă liên tục trong 120 năm nay không gián đoạn. Trong
mỗi thế hệ, lịch sử Phật Giáo đă thu
hút một số đáng kể những học giả có khả
năng. Nhiều người trong số họ, đặc
biệt là trong thời kỳ đầu, đă nghiên
cứu Phật Giáo giống như một người quan
sát địch thủ của ḿnh, chỉ muốn chứng
minh sự vượt trội của Ky Tô Giáo. Một
số ít nghĩ rằng họ phải t́m hiểu một
số tín ngưỡng rất tinh thuần ( faith of supreme
purity) mà Âu Châu có thể học hỏi được.
Đa số học giả nghiên cứu tài liệu Phật
Giáo với sự vô tư của một người
đang giải một ô chữ. Công tŕnh của bốn
thế hệ có kết quả là việc nghiên cứu
Phật Giáo đạt được tiến bộ
lớn, dù vẫn c̣n nhiều việc phải làm. Về
mặt xă hội, môn nghiên cứu Đông Phương ở
Âu Châu gắn liền với chủ nghĩa đế
quốc. Với sự suy tàn của chủ nghĩa
đế quốc Âu Châu, môn Đông Phương Học
hiện đang gặp khó khăn, và không biết sẽ ra
sao trong tương lai. Ở Liên Xô, việc nghiên cứu
Phật Giáo có lẽ đă không c̣n, dù trong quá khứ
người Nga đă đóng góp rất nhiều cho ngành này.
Có thể là huyền học Phật Giáo không thích hợp
với những người theo biện chứng pháp duy
vật.
Năm 1875 diễn ra một sự kiện
có tầm quan trọng rất lớn, bà Blavatsky và
Đại tá Olcott thành lập Hội Thông Thiên Học
(Theosophical Society). Những hoạt động của
Hội này làm gia tăng kiến thức về các tôn giáo Á
Châu và phục hồi sự tự tin trong tâm trí đang lay
động của chính những người Á Châu. Lúc
đó nền văn minh Âu Châu gồm một sự phối
hợp của khoa học và thương mại của Ky
Tô Giáo và chủ nghĩa Quân Phiệt, có vẻ rất hùng
mạnh. Chỉ có một ít người nhận thấy
nguy cơ diễn ra chiến tranh quốc gia và đấu
tranh giai cấp. Một số người có học
mỗi lúc mỗi nhiều hơn ở Ấn Độ và
Tích Lan, cũng như những người Nhật cùng
thời, cảm thấy rằng họ không c̣n có cách nào khác
hơn là chấp nhận nền văn minh Âu Châu với
tất cả những chi tiết của nó. Các nhà
truyền giáo Ky Tô Giáo trông đợi một sự theo
đạo, cải đạo hàng loạt và mau chóng của
người Á Châu, nhưng trào lưu này đă bất
ngờ đảo ngược. Một số ít
người nam nữ thuộc chủng tộc da trắng
chiếm ưu thế ở Nga, Mỹ và Anh quốc,
những người Thông Thiên Học, đă xuất
hiện giữa những người dân Ấn Độ
và Tích Lan để bày tỏ sự cảm phục của
họ đối với nền minh triết cổ
truyền của Đông Phương. Bà Blavastky nói về
Phật Giáo với những lời ca tụng cao nhất,
Đại tá Olcott viết một tập sách “Phật
Pháp Vấn Đáp”(Buddhist Catechism) và A.P. Sinnett xuất
bản một cuốn sách rất thành công trong đó
tất cả những loại ư tưởng huyền bí và
hấp dẫn được giới thiệu là “Phật
Giáo Bí Truyền” (Esoteric Buddhism). Huyền thoại về
các vị Mahatma nói rằng các vị lănh đạo thông thái
và bán thiêng liêng của loài người đang sống trong
rặng núi Hy Mă Lạp Sơn ở Tây Tạng và Ấn
Độ, và là những nơi được bao phủ
bởi hào quang trí tuệ siêu nhân. Với sự can thiệp
đúng lúc của ḿnh, Hội Thông Thiên Học đă làm
được rất nhiều cho Phật Giáo. Sau đó
Hội này như một tổ chức đă suy thoái v́
vật chất và những hoạt động mờ ám,
nhưng vẫn tiếp tục là động lực cho
việc nghiên cứu Phật Giáo và đă gây cảm hứng
cho nhiều người t́m hiểu xa hơn. Một người
ở trong Hội Thông Thiên Học là Sir Edwin Arnold, có tác
phẩm trường ca về Phật Thích Ca với nhan
đề “ Ánh Sáng Á Châu” ( The Light of Asia), làm cho
nhiều người kính phục Đức Phật về
cuộc đời thanh tịnh và đầy ḷng từ bi
của Ngài đối với hết thảy chúng sinh.
Đánh
trống Pháp:
Edward Conze viết tiếp: “Sau năm 1900
một số nhà truyền giáo Phật Giáo từ Á Châu
đến hoạt động ở Luân Đôn và những
nơi khác, những không đạt được
nhiều thành công. Ở những thủ đô của Âu Châu
như
Việc thiết lập những tu
viện Phật Giáo ở Âu Châu gặp những
chướng ngại lớn, nhưng có lẽ không lớn
hơn ở Trung Hoa trước kia. Khi sự phá sản
nền văn minh của chúng ta trở nên rơ rệt hơn,
sẽ có thêm nhiều người t́m về nền minh
triết quá khứ, và một số họ sẽ t́m
đến h́nh thức Phật Giáo của nền minh
triết này. Chúng ta chưa biết những người Âu
Châu mặc áo vàng sẽ xuất hiện lần đầu
tiên ở đâu và khi nào”.
Edward Conze là người biên tập chính
của một bộ hợp tuyển kinh văn Phật
Giáo bao quát và là tác phẩm độc nhất thuộc
loại này, “Kinh Điển Phật Giáo qua các thời
đại” (Buddhist Texts Through the Ages). Đây là phần
tiếp theo tác phẩm của ông Tinh hoa và sự Phát
triển của Phật Giáo, và được chia thành
bốn phần. Bà I.B. Horner biên tập phần thứ
nhất về Phật Giáo Pali, phần thứ hai do
chính Edward Conze viết về Phật Giáo Đại
Thừa, phần thứ ba về Mật Giáo do
Tiến sĩ David Suellgrove đảm trách và phần
thứ tư gồm những văn bản kinh sách Trung
Hoa và Nhật Bản do Tiến sĩ Arthur Waley biên
tập. Tất cả những văn bản đă
được dịch lại từ nguyên văn tiếng
tiếng Pali, Sanskrit, Tây Tạng, Trung Hoa và Nhật Bản.
Ba thời
kỳ triết học của Phật Giáo
Trong cuốn sách “Thiền Định
Phật Giáo” (Buddhist Meditation), Edward Conze đă tŕnh bày
cả pháp môn thiền của Nguyên Thỉ lẫn pháp môn
thiền của Đại Thừa. Nhưng phần
lớn nội dung của tập sách này được
trích dẫn từ “Thanh Tịnh Đạo Luận”
(Visudhimagga) tác phẩm tiếng Pali của luận sư
Buddhaghosa (Phật Âm) mà ông mô tả là “cuốn sách tuyệt
vời gồm 616 trang được viết trong thế
kỷ thứ năm”. Ông nói rằng “giống như
tất cả những tác giả ở thế gian này,
Buddhaghosa cũng có những khuyết điểm. Nhưng
đó chỉ là những lỗi nhỏ, và ông đă soạn
một trong những tác phẩm đạo học vĩ
đại nhất của loài người. Nếu phải
chọn một cuốn sách độc nhất để
mang theo với ḿnh ra một hoang đảo th́ đây
sẽ là cuốn sách của tôi” (like all human authors, Buddhaghosa
has his faults. But these are minor irritants, and he has composed one of the
greatest spiritual classics of mankind. If I had to choose just one book to
take with me on a desert island, this would be my choice)
Tư Tưởng Phật Giáo Ấn
Độ” (Buddhist Thought in India) là
một tác phẩm xuất sắc khác của ông, nói về
ba thời kỳ phát triển của triết học
Phật giáo trong hơn 1100 năm, từ khoảng năm
500 trước Tây lịch đến năm 600 Tây lịch.
Phần thứ nhất được gọi là
“Phật Giáo Cổ Đại” (Archaic Buddhism), tức là
những giáo lư chung cho tất các tăng sĩ trong
khoảng triều đại Hoàng đế Asoka, phần
thứ hai và phần thứ ba nói về sự phân phái
của Phật Giáo vào khoảng đầu Tây lịch thành
hai phái Nguyên Thỉ (Hinayana hay Theravada) với Luận
Tạng của phái này và Đại Thừa Phát Triển
(Mahayana) với siêu h́nh học xuất thế
gian. Edward Conze là người có thẩm quyền hàng
đầu về Kinh Bát Nhă (Mahaprajanapara Sutra). Trong tác
phẩm “Wisdom Books” ông nói về những kinh sách dung
chứa tất cả những giáo lư cốt tủy của
Đại Thừa mà trong nhiều thế kỷ đă
được phổ biến ở Trung Hoa, Nhật
Bản, Mông Cổ và Tây Tạng. Ông làm cho những
điểm trong Kinh Kim Cương (Diamond Sutra) và Tâm
Kinh Bát Nhă (Heart Sutra). Các nhà nghiên cứu Phật Giáo nói
rằng “đây là chiếc ch́a khóa vô giá đưa
đến trí huệ hoàn hảo vốn là điều quan
tâm của tất cả những nhà tư tưởng sáng
tạo”(this is an invaluable key to that perfection of wisdom which was
once the concern of every creative thinker.”). Giáo lư này dễ
hiểu bằng cách giải thích tất cả những
từ ngữ và đa số những luận án của tín đồ
Phật Giáo trong ba mươi qua, Edward Conze là một trong
những học giả Phật Giáo vĩ đại
nhất thế giới. Ông là giáo sư Ấn Độ
học ở Đại Học
Trong hai thập niên sáu mươi và bảy
mươi, ông đă đi diễn thuyết ở nhiều
trường Đại học ở Mỹ, và ông đă
được các sinh viên nhiệt liệt tán dương
công đức, nhưng ông lại bị Ban Giám Hiệu các
trường Đại học và một số
đồng nghiệp phản đối, do v́ ông từng
hoạt động chính trị cho Đảng Cộng
Sản trước kia cũng như sự chỉ trích
thẳng thừng của ông về việc người
Mỹ tham chiến tại Việt Nam.
Tiến Sĩ Edward Conze là
một con người phức tạp, khó hiểu, không
dễ cho ta có thể đánh giá được toàn bộ
những việc làm ư nghĩa của đời ông. Cũng
giống như bao nhiêu người Trung Âu khác, ông là một
người trí thức tị nạn từ Đức
quốc, nhưng ông không phải là hạng người
đại diện cho tầng lớp trí thức ưu
thế trong thế kỷ 20, v́ chính ông đă phê phán mạnh
mẽ về khuynh hướng này. Ông tự thú nhận là
ông theo Chủ Nghĩa Tinh Hoa (Elitism). Trong cuốn
tự truyện của ông với tựa đề là “ Hồi
Kư về sự Ngộ Đạo Hiện Đại”
(Memoir of Modern Gnostic) ông tin rằng mọi sự mà ông
đă làm được như thuyết Ngộ Đạo
của một người theo theo chủ nghĩa tinh hoa.
Ông không chấp nhận chế độ dân chủ
(democracy) lại càng không đồng ư về nữ
quyền (feminism), ông nhất định là người đại
diện cho một thế hệ tiền chiến ở
Phương Tây để rồi trở thành người
thất chí, mộng vỡ tan tành với chủ nghĩa Marx
theo mô thức của Xô Viết, nhưng ông không đơn
giản là bị tan biến đi cái ảo tưởng khi
tham dự các sinh hoạt xă hội. Cuối cùng ở trong
ngơ cụt của đời sống, ông đă khôn ngoan
chuyển hóa cái chủ nghĩa duy tâm không thoả hiệp
từ chính trị sang Đạo Phật, một lối
thoát, một con đường đưa ông đến an
lạc và tỉnh thức.
Tiến Sĩ Edward Conze
được xem là một trong những dịch giả
Phật Học vĩ đại ở Phương Tây có
thể so sánh với các Đại Dịch Giả ở
Trung Hoa như Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập
(Kumarajiava) hoặc Pháp Sư Huyền Trang (Hsuan Tsang). Như
đă nói, ông không là một học giả Phật giáo trên
sách vở mà là một Phật tử thuần thành có tu hành
thật sự. Ông là một con người tiên phong,
người mở đường, và là một tấm
gương sáng ngời cho thế hệ Phật tử Tây
Phương sau ông trong việc học hỏi, nghiên
cứu, dịch thuật và tu tập theo Phật Giáo. Ông
đă làm việc không mệt mỏi và cống hiến
hết tài năng của ḿnh cho nền Phật Học Tây
Phương cho đến hơi thở cuối cùng, ông qua
đời ngày 24 tháng 9 năm 1979 tại nhà riêng của ông
ở Sherborne, thành phố Dorset, phía Tây Nam Anh Quốc,
thọ thế 75 tuổi.
Trong số những tác
phẩm khác để lại cho đời của ông là
bản dịch “Hiện Quán Trang Nghiêm Luận”
(Abhisamayabankara) xuất bản 1954; “Tuyển tập Giáo lư
Bát Nhă” (Selected Sayings) xuất bản năm 1955; “Kinh Kim
Cương” (Vajracchedika Prajnaparamita) biên tập và
chuyển ngữ năm 1957; “Tiểu Phẩm Bát Nhă” (
Astasahasrika Prajnaparamita), bản dịch năm 1958; “ Kinh
Điển Phật Giáo”(Buddhist Scriptures) biên tập
năm 1959; “Văn Học Bát Nhă” ( The Prajnaparamita Literature)
xuất bản năm 1960; “Lược sử Phật
Giáo” (A Short History) xuất bản năm 1961; “ Đại
Bát Nhă” ( The Large Sutra on Perfect Wisdom) xuất bản 1961; “Thủ
bản Gilgit Tiểu Phẩm Bát Nhă” (The Gilgit Manuscript of
the Astadasasahasika Prajnaparamita) biên tập và dịch năm
1962.
Tổng
hợp theo tài liệu:
-
William Peiris (1973) The Western
Contribution to Buddhism.(1973). Motilal
Banarsidass Publications,
-
Sangharakshita
(1996) Great Buddhists of the Twentieth Century. Windhorse
-
Retrieved from
"http://en.wikipedia.org/wiki/Edward_Conze"