Đang chăm
chú thêu, nghe tiếng cháu nội Ngọc Diệp reo vang
trước cửa, thím Thanh ngưng lại, trễ mắt kiếng
xuống, dang hai tay đón núm ruột thân yêu duy nhất
của mình hun chùn chụt:
- Hôm nay
con học có giỏi không?
Bé chu
mỏ:
- Giỏi
lắm chứ nội! Con trả bài thuộc lòng được 10
điểm nè, toán cũng 10 điểm nữa nè!
Nghe con
bé trổi giọng đớt đát nhão nhoẹt, thím cưng quá
mắng yêu: “Tổ cha mầy!”, đoạn thím mĩm cười cầm
cái bánh cam trao cho cháu:
- Vậy thì
đáng thưởng quá rồi!
Thím Thanh
lẵng lặng nhìn cháu háo hức ăn mà niềm vui dâng
tràn. Rồi bỗng nhiên thím chợt nhớ đến ba nó,
đang vui thím biến thành thương cảm, buông tiếng
thở dài để che dấu nỗi nghẹn ngào chất chứa
trong lòng.
Thím thầm
than thở, người ta thường kháo với nhau là “Phước
bất trùng lai, họa vô đơn chí”, nhận định nầy áp
dụng cho hoàn cảnh thím chính xác đến nổi càng
nhớ nghĩ thím càng lo sợ chẳng hiểu tại sao tai
họa cứ tuần tự tới hoài, biết đến bao giờ tai
họa mới chịu buông tha thím? Chỉ mới mười năm
trước đây, gia đình thím đang lặn ngụp trong cảnh
sung túc an lành tại thị xã Rạch Giá. Vợ chồng
thím – Hải và Thanh – “đụng” nhau khi cả hai đang
là công nhân mạt hạng cho một vựa cá biển tại
thị xã Rạch Giá. Vợ chồng tận lực làm việc
ngày đêm, tằn tiện, nhặt nhạnh từng đồng góp
thành vốn nhỏ khả dĩ tự đứng thu mua cá biển,
rồi chuyên chở đến chợ Cầu Ông Lãnh giao hàng.
Tiền bạc lại đẻ ra tiền, thương vụ tăng lên dần,
chú thím tậu tàu đánh cá để bớt được khâu trung
gian, và cứ thế, chỉ trong một thời gian ngắn họ
vừa củng cố vị trí chủ vựa cá biển to lớn vừa
làm chủ đoàn tàu đánh cá hùng hậu, tiền bạc vô
như nước. Đã vậy, Hưng đứa con trai duy nhất ngoan
hiền, học giỏi, lại trúng tuyển vào trường đại
học công nghệ, khiến cho bà con cô bác ai cũng
trầm trồ khen ngợi.
Thế rồi,
ngay trong tiệc rượu tưng bừng mừng con đỗ đạ̣t,
đang cụng ly cười nói vang trời, bỗng nhiên chú ôm
bụng kêu đau, Thanh đỡ chồng vào giường thì Hải
đã nôn mửa thốc ra, rồi nằm rũ riệt thở không ra
hơi. Thím cuống quít lăng xăng, lau mồ hôi, thoa
dầu, cạo gió, đắp nước nóng... những tưởng bệnh
trạng của chú chỉ là thứ trúng thực nhẹ, cần
một đêm nghỉ ngơi cũng bình phục, nào ngờ chú
cứ oằn oại rên la mãi. Thím hốt hoảng chở vào
bệnh viện tỉnh, sau khi thử nghiệm họ khuyên thím
khẩn cấp đưa chồng đi Bệnh viện Chợ Rẫy. Từ Chợ
Rẫy chú được chuyển sang Viện Ung Thư giải phẩu,
cắt bỏ một khúc ruột dài vì bệnh ung thư đại
tràng. Sau mấy đợt mổ liên tiếp, chưa kịp hoàn
hồn thì chú lại phải chịu đựng sáu trận xạ
trị liên tiếp, đồng thời, lại phải uống toàn
những loại y dược cực độc, thân xác Hải bèo
nhèo khô kiệt, tựa hồ như cơ hội sống sót vô
cùng mỏng manh. Cuối cùng, sau bảy tháng trị
liệu, mầm mống ung thư dường như đã biến dạng,
sức khỏe tương đối vãn hồi đôi phần, hi vọng sẽ
có ngày hoàn toàn bình phục. Trong thời gian tận
lực lo lắng sanh mạng người chồng yêu, Thanh bỏ
xụi công việc kinh doanh, ủy thác viên quản lý
tín cẩn toàn quyền quyết định. Trái với niềm
tin của thím, khi kiểm soát sổ sách, Thanh khám
phá ra cả hai cơ sở đều lỗ lã nặng với những
khoản thất thu đáng ngờ. Tệ hại nhất là đoàn
đánh tàu đánh cá, đã không sanh lợi, mà có
chiếc còn bị hư hỏng bỏ phế chỉ vì thiếu chăm
sóc. Thời điểm nầy, tuy mạng sống của Hải có
thể bảo toàn, nhưng làm sao chàng đủ sức tiếp
tay vợ gánh vác bao nhiêu công việc đổ tấp lên
đầu như xưa. Một mình thím, cố gắng lắm, may ra
thím đủ sức kiểm soát vựa cá, nhưng mải mê kiếm
tiền, bỏ bê chồng lây lất với cơn bệnh ngặt
nghèo thì thím không nỡ. Vì vậy, thím đành
quyết định sang vựa cá và bán đổ bán tháo đoàn
tàu cá, mang toàn bộ tài sản lên Saigon sinh
sống. Thanh mua ngôi nhà rộng rãi tại mặt tiền
đường Sư Vạn Hạnh, xéo xéo chùa Ấn Quang, với
giá tương đối rẻ. Thím chọn khu xóm bình dân ở
để dấu tông tích giàu sang của mình, địa điểm
nầy lại rất thuận tiện để thím đưa chồng tới
lui bệnh viện. Thật ra, Thanh dự trù trong tương
lai, khi hoàn cảnh cho phép, thím có thể cơi lầu
và biến nhà ở thành một cơ sở kinh doanh hoành
tráng được. Nếp sống lần lần trở nên ổn định,
nhưng Thanh chưa thanh thản bao nhiêu ngày thì lại
phải bồn chồn lo lắng tiển đứa con trai cưng lên
đường nhập ngũ. Hưng bị bác đơn hoãn dịch vì
trợt cả hai kỳ thi cuối năm. Thằng bé vừa lên
đại học, bài vở khó khăn, lại mất tinh thần về
căn bệnh quái ác của cha, nên hơ hỏng không vượt
qua nổi kỳ thi gay go. Ra trường sĩ quan, Hưng liền
nhận được lệnh phục vụ tại một đơn vị tác
chiến, Thanh phải vận động mãi, tốn hao tài sản
khá nhiều mới kéo con về văn phòng, thuộc Ban
Quân Huấn tiểu khu Long Khánh. Hưng vừa yên thân,
thì Hải liền khuyến khích con lập gia đình, hi
vọng sớm có cháu nội ẵm bồng trước khi phải
nhắm mắt lìa đời. Thế nhưng Hưng cố tình lảng
tránh chuyện nầy, chàng cho rằng mình quá trẻ
để bận bịu vợ con, huống chi trong buổi chiến
tranh, mạng sống người lính chiến rẻ như bèo,
rủi có bề gì thì sao!?
Sức khỏe
của Hải sa sút rõ rệt, căn bệnh hiểm nghèo của
chú, sau ba năm tiềm phục, bỗng có dấu hiệu bùng
nổ trở lại, nhưng chú trì hoãn mãi không chịu
tái khám. Thanh nài ép lắm chú mới chịu vào
bệnh viện. Lần nầy, y sĩ cho biết bệnh trạng
biến chứng trầm trọng vì đã di căn, mạng sống
khó kéo dài hơn sáu tháng và việc chữa trị đã
trở thành vô ích...
Nghe hung
tin nầy, Hưng vâng lời mẹ, “khẩn cấp” tổ chức lễ
thành hôn với Hạnh, người yêu lâu năm tại tỉnh
nhà, và chỉ trong vòng một năm họ đã “khẩn cấp”
sản xuất ngay được cô con gái mũm mĩm khiến ông
bà nội hỷ hả rộn ràng. Lòng thiết tha mong đợi
cháu nội có lẽ đã giúp cho Hải thêm nghị lực
phấn đấu với tử thần, nhờ vậy chú sống lây lất
mãi cho đến khi ăn thôi nôi cháu nội mới vĩnh
viễn ra đi.
Thời bôn
ba làm giàu, Thanh chỉ biết tôn trọng Thần Tài
và cúng kiến cô hồn để cầu mua may bán đắt,
tuyệt nhiên thím chẳng màng nghĩ đến việc lễ
Phật nói chi đến chuyện tu tập. Do đó, tuy cư ngụ
cạnh chùa Ấn Quang đã hơn bốn năm mà Thanh vẫn
ngại ngùng chưa hề đặt chân đến cổng chùa. Mãi
đến khi lâm vào hoàn cảnh góa bụa, con cháu cách
xa, vò võ một mình một bóng trong chuỗi ngày dai
dẳng buồn tênh, Thanh mới chịu theo dì Ba bán cơm
tấm cạnh nhà đi chùa lễ Phật, nghe Pháp và làm
công quả. Nhờ vậy, thím lần lần nếm hương vị
đạo: nhận chân được lý vô thường, lý nghiệp báo
và sự thật về cái “khổ” lúc nào cũng đang rình
rập kiếp sống mong manh của con người. Thím bèn
khẩn thiết xin thọ giới quy y và được ban pháp
danh là Thanh Liên, dịch nghĩa là đóa sen xanh. Từ
đó, thím càng tích cực tham gia mọi sinh hoạt
chùa chiền, lấy việc tu học, lễ bái và làm công
quả làm niềm vui. Một hôm thím đang chăm chỉ quét
dọn sân chùa, bỗng liên tưởng đến giấc mộng kinh
hoàng đêm qua, thím rối loạn tâm thần, choáng
váng vịn tay vào tường mới đứng vững được. Thầy
Minh Phát vô tình đi ngang vội dừng lại ái ngại
lên tiếng:
- Con mệt
lắm phải không?
- Con chỉ
hơi xây xẩm chút xíu thôi, giờ đã khỏe lại rồi
ạ!
Thầy nhíu
mày trầm tư, đoạn lên tiếng:
- Thầy
đoán có lẽ con thường cảm thấy hồi hộp bất an,
ban đêm còn bị ác mộng hành hạ nữa phải không?
Thím ngạc
nhiên chẳng hiểu sao thầy biết rõ chuyện nầy,
muốn hỏi kỹ nhưng ái ngại, nên ngần ngừ rồi
đáp:
- Dạ đúng
như vậy đó thầy!
Thầy lắc
đầu, thở dài:
- Thầy xem
ra nghiệp sát của con nặng nề quá! Tội nghiệp!
Thật là tội nghiệp!
Từ khi
học Phật, biết nhân quả tội phước, thím Thanh
vẫn canh cánh trong lòng nỗi lo lắng kinh hoàng
về nghiệp sát lớn lao khó ước lường của mình.
Lòng dạ thím đâu đến nổi ác độc, vậy mà, tính
ra có lẽ thím đã trực tiếp hoặc gián tiếp tàn
sát hằng triệu triệu sanh linh các loài thủy
tộc, đó là chưa kể các loài thú vật trên bờ,
có loại nào ngon bổ mà thím buông tha mạng sống
đâu? ngay như những loại hàng khan hiếm, bẫy bắt
khó khăn cùng với lối sát hại tàn nhẫn như lộc
nai, mật rắn, mật gấu, huyết se sẻ, nai hà nàm,
óc khỉ... chỉ vì nghe lời đồn đãi là bổ âm
tráng dương thím liền hùa theo, tranh nhau đặt mua
về tẩm bổ nữa kìa.
Khi thu
dọn cơ nghiệp về ẩn thân chốn nầy, thím Thanh
chẳng hề thổ lộ bà con lối xóm ngành nghề của
mình thuở trước, thành thử mối lo âu dằng dặc về
quả báo của nghiệp sát đeo đẳng ngày đêm, thím
chỉ âm thầm chịu đựng chẳng thể tâm sự với ai
cho vơi nhẹ nỗi lòng.
Vì vậy,
khi nghe thầy Minh Phát “phán” một câu khơi dậy
đúng ngay mối sợ hãi thầm kín của mình, thím
Thanh bỗng rờn rợn điếng cả người, rồi bật khóc
nức nở:
- Con sợ
quá thầy ạ! Mà con phải làm sao bây giờ? Thầy
có cách gì cứu giúp con giải nghiệp được không
thầy?
- Nếu con
một dạ chí thành tu tập Phật Pháp thì nghiệp
nặng nào cũng nhẹ lần con ạ!
- Thầy ạ!
Mỗi tháng hai ngày mười bốn và ba mươi con đều
nghiêm chỉnh tham dự lễ Phật Sám Hối chẳng quên,
ngoài ra, con cũng tham gia đạo tràng tịnh độ do
thầy Minh Thành hướng dẫn, tụng kinh và niệm
Phật A di Đà hàng ngày, liệu như vậy có đỡ chút
nào không thầy!
- Ơ! thầy
nghĩ rằng thành tâm lễ Sám hối và việc vô cùng
cần thiết, Niệm Phật lại càng hiệu nghiệm công
đức khó ước lường. Chư cổ đức thường dạy “Chí
thành xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà, sẽ được tiêu tội
nặng trong tám mươi ức kiếp sanh tử”, tóm lại, pháp
môn Niệm Phật diệu dụng khôn lường, miễn là con
cố gắng niệm sao cho có phẩm chất, niệm tinh
chuyên không tán loạn thì tội nào chẳng tiêu trừ!
Thầy ngập
ngừng giây lâu, rồi ôn tồn tiếp lời:
- Tổ Ấn
Quang từng khuyên nhủ rằng thời mạt pháp hung
hiểm khó lường nên người hành giả, ngoài thời
khóa Niệm Phật, cũng cần Niệm Bồ Tát Quán Thế
Âm cho vạn sự đều được an lành.
Từ đó,
thím Thanh một mực nương theo lời dạy của thầy,
tu tập ngày càng tinh chuyên, điểm đặc biệt là
thím rất tha thiết niệm Bồ Tát Quan Âm, có lẽ
niềm tin nầy giúp thím yên ổn tâm thần, đỡ nghĩ
quẩn, lo âu về hoàn cảnh đứa con trai đang dấn
thân trong vòng binh lửa.
Tình hình
chiến sự đầu năm 1975 ngày càng sôi động ác liệt,
miền Trung tan rã, tỉnh Long Khánh trở thành ải
địa đầu chống đỡ thủ đô Saigon, tất cả lính văn
phòng đều bị phân phối bổ xung cho các đơn vị
tác chiến, Hưng bèn hối thúc vợ đưa con di tản về
Saigon với mẹ. Chỉ một thời gian ngắn sau, thím
Thanh lại hãi hùng nghe tin Long Khánh bị tràn
ngập, bạn bè quân ngũ của Hưng, có kẻ tử trận,
người chạy thoát thân về Saigon, riêng tin tức về
số phận của Hưng vẫn mù mờ và đầy mâu thuẩn.
Thế rồi, giờ phút sụp đổ của thủ đô Saigon kề
cận. Trong cảnh thành phố bị cô lập rồi bỏ ngỏ,
người Hoa Kỳ hấp tấp rút lui mang theo nhóm cộng
sự viên thân tín, và Saigon phút chốc trở thành
vô chủ, hổn loạn kinh hoàng. Dân chúng hoang mang
cùng cực, lăng xăng tuôn ra khắp nẻo đường tìm
cách thoát thân ra nước ngoài bằng đủ mọi phương
tiện. Gia đình bên vợ của Hưng nhà sát cửa biển
Rạch Giá cũng chuẩn bị sẵn sàng vượt biên, nhưng
chuyến đi đành đình hoãn vì con cháu chưa tụ về
đầy đủ. Trong thời buổi nầy, làm sao Thanh giữ
tâm thanh thản tu tập cho được, thím hoang mang
thảng thốt, nhưng chẳng có phương cách nào khác
hơn là suốt ngày sụt sùi trước tượng Quan Âm lâm
râm khẩn cầu Bồ Tát gia hộ cho con. Cô dâu giao con
cho mẹ chồng chăm sóc, hàng ngày đôn đáo chạy
ngược xuôi trông ngóng dò la tin tức chồng, nàng
cũng liều lĩnh lội khắp các trận địa, đến từng
nhà tù thuộc phạm vi tỉnh Long Khánh, thăm hỏi
tung tích chồng... nhưng chỉ nghe toàn là những
tin đồn mù mờ đầy bi thảm, chớ chẳng có gì
chính xác cả. Sau bao ngày vất vả vô ích, nàng
khổ đau tuyệt vọng gần như điên loạn, đến nổi bà
mẹ ruột phải kèo nài với thím Thanh rước con
gái về quê tịnh dưỡng. Điều khá bất ngờ, là
chỉ mới hai tuần sau, thím Thanh nhận được tin
nhắn gởi từ Rạch Giá cho biết, gia đình sui gia
dính líu với đường giây tổ chức vượt biên bị đổ
bể, nên cả nhà đã vội lên thuyền đi ngay chẳng
kịp thông báo và rước đứa cháu ngoại đang ở
Saigon. Thím Thanh tạm tin điều đó, nhưng thật ra,
chính thím đã linh cảm chuyện nầy khi chứng kiến
cảnh cô dâu ôm con khóc ngất trước khi ra đi...
Thay đổi
chánh trị khiến cho nền kinh tế đất nước trở nên
què quặt, người dân bám víu vào Saigon bị chao
đảo thảm thương vì mất việc làm và cũng không
còn có việc để làm. Như phần đông cư dân, nếp
sống của thím Thanh tuy chưa đến mức khẩn trương
nhưng cũng chới với vô cùng: Một phần ba tài sản
thím cày cục mua công phố phiếu đã “tiêu ra ma”,
tiền giao cho bè bạn hùn hạp mua bán hầu như bị
“xí huề” mất hết, may mà thím cẩn thận giữ một
mớ vàng y chôn dấu kỹ dưới nền gạch. Đây là
phần gia tài dành cho con, bằng mọi cách thím
bảo vệ giữ gìn, nên dễ dầu gì thím chịu đào
lên tiêu pha trong lúc nầy. Thím đành áp dụng
phương pháp lần lượt vét đủ loại đồ đạc trong
nhà đưa ra chợ Trời đổi gạo; những thứ bán chác
được còn tồn trữ nhiều, nên phải lâu lắm thím
mới sợ đói, bây giờ, thím chỉ sợ bị lên án là
“không lao động sản xuất” là hạng “ăn bám” xã
hội để rồi bị khuyến khích phải bỏ nhà bỏ cửa
về vùng kinh tế mới tham gia sản xuất mà thôi.
Dì Ba cơm tấm, bày vẽ cho thím chịu khó “thổi”
một sề xôi đậu phộng, đặt bên cạnh quán cơm tấm
của dì Ba buôn bán để lấy điểm lao động tốt.
Thời giờ còn lại, thím sang chùa tận lực công
quả trong Ban Ẩm Thực. Nguyên chùa chiền cũng lâm
nguy vì bị gán cho hai chữ “ăn bám”, Phật tử
tránh né không dám đến chùa lễ Phật, thùng
“Phước Sương” èo uột không đủ khả năng nuôi chúng,
thầy Minh Phát bèn chủ trương nấu cơm chay bày
bán tạo hoa lợi cho chùa.
Sinh hoạt
theo lối kinh tế bao cấp thêm phần gay go, thầy
Minh Phát giới thiệu thím vào tổ thêu, lãnh hàng
về nhà thêu lấy công đổi gạo. Thời thiếu nữ,
thím thêu thùa giỏi giang, giờ nầy đã lớn tuổi
tuy mức sản xuất chậm mà nét thêu vẫn sắc sảo
như xưa. Trở ngại lớn của thím, là đang thêu mà
động tâm nhớ đến con, thì mũi kim cứ lệch lạc
phải tháo gỡ hao tốn rất nhiều công sức. Thầy
Minh Phát biết được, dạy thím áp dụng nguyên tắc
“một câu Niệm Phật, một mũi kim thêu”, cứ bình
tâm “niệm thêu tiếp nối nhau không dứt” là được.
Thím nhất nhất tuân theo thực hành và tương đối
thành công: Niệm Phật không xen tạp niệm, mà thêu
thùa cũng chẳng còn bầm giập.
Hôm đó,
như thường lệ, cơm nước xong xuôi, hai bà cháu rủ
nhau quì trước Bàn Phật niệm một chuỗi Quán Âm
cầu nguyện Bồ Tát gia hộ cho Hưng, đứa con trai đã
mất tích từ ba năm trước, nhưng với niềm tin vô bờ
đặt vào đấng “Mẹ Hiền Quan Âm” thím chẳng bao giờ
bỏ cuộc. Thình lình có tiếng xô cửa, rồi dì Ba
cơm tấm bước vào nhà, ông ổng cất tiếng:
- Hì! hì!
Chị tạm ngưng thời khóa một chút được không? Tôi
nghe được chuyện nầy hay lắm, phải báo cho chị
nghe liền mới chịu được!
Thím Thanh
đang lễ Phật bị kêu réo cảm thấy hơi khác
thường, nhưng nể người bạn thân thím đành tươi
cười bước ra:
- Chà!
Chắc phải là chuyện ghê gớm như “Trời sập” mới
khiến chị “hăng tiết vịt” phun ra ngay cho hả dạ
phải không?
Dì ba tỏ
vẻ thích thú, cười hớn hở rồi tửng tửng đáp:
- Đây là
chuyện “Ông Trời ngó lại”, chắc chắn hấp dẫn hơn
chuyện “Trời sập” nhiều! Mà vụ nầy, ai muốn nghe
tui nói thì phải bình tĩnh mới được nghen!
- Lúc nào
tôi chẳng bình tĩnh hả chị Ba? Mà hôm nay bỗng
nhiên sao chị cứ ỡm ờ làm khó dễ tôi quá vậy?
- Hì! hì!
Người ta đồn rằng có toán lính Cộng Hòa thuộc
tỉnh Long Khánh bị Pathet Lào bắt từ năm 1975,
vừa được thả về nước. Chuyện khó tin quá phải
không chị?
Dù chuyện
vô lý khó tin thế nào mà dính dấp đến tù cải
tạo thím Thanh cũng quan tâm đặc biệt cả, nên chi
vừa nghe ba chữ lính Cộng Hòa tỉnh Long Khánh là
thím đã điếng người, khuỵu xuống suýt xĩu. Dì
Ba hoảng hốt chụp đỡ bạn ngồi xuống ghế. Thím
Thanh hổn hển thở không ra hơi mà vẫn ráng ú ớ
hỏi loạn lên:
- Thiệt
hả chị! Thiệ̣t hả chị! Người nào thuật cho chị
chuyện nầy? Họ có kể ra tên ai không chị?
- Dĩ nhiên
là chuyện thiệt. Tôi mới gặp thằng lính Cộng
Hòa đó tức thời đây nè!
Nó kể
rằng khi rã ngũ bọn nó năm thằng rủ nhau chạy
ngược lên Pleiku Kontum dự định theo đường rừng đi
Thái Lan, nhưng vừa qua Lào thì bị bắt. Bọn Lào
giam giữ mãi mới giải giao về nước...
Thím Thanh
dợm đứng dậy, líu lưỡi:
-
Chị..chị...cho...cho... tôi...
Tôi hiểu
ý chị rồi! Chị muốn hỏi tin tức thằng Hưng phải
không?
- Phải...
! phải!...
- Coi kìa!
Mình đã giao hẹn là phải bình tĩnh để nghe mà!
Đừng run rẩy như vậy tôi không dám kể nữa đâu!
Ơ... ơ... Nó cho biết thằng Hưng cũng còn sống...
Thím Thanh
ràn rụa nước mắt quì xuống chắp tay hướng về
tượng Quán Âm tha thiết: “Con cảm tạ̣ Đức Bồ
Tát! Con chân thành cảm tạ Bồ Tát đã từ bi gia
hộ cho gia đình con!” Có lẽ, nhờ tưởng nhớ đến
Bồ Tát mà thím trầm tĩnh lại, thím ngẫm nghĩ
giây lâu rồi lên tiếng:
- Vậy thì
nó vẫn còn bị giam hả chị? Chị có hỏi rõ dùm
là trại giam nào không?
- Thằng
Hưng cũng được trả tự do rồi, nó chưa dám đột
ngột về nhà chỉ vì sợ má nó quá xúc động,
bệnh tim cũ tái phát nguy hiểm mà thôi!
Thím Thanh
mĩm cười, mắng yêu con:
- Thằng
mắc dịch đó nghĩ cũng đúng! Nó mà bước vào
nhà thình lình, tôi dám lăn đùng ra chết chớ
chẳng chơi!
- Như vậy
nghĩa là bây giờ chị đã chuẩn bị tinh thần sẵn
sàng rồi phải không?
- Hà! Hà!
tỉnh rụi như vầy nè, được không?
Dì Ba
bỗng hướng ra cửa trước, réo vang:
- Hưng ơi!
má mầy coi bộ đã vững vàng rồi đó! Mầy có thể
yên tâm vào nhà được rồi!
Một gả
bụi đời gầy gò nước mắt lưng tròng, phóng vào
nhà ôm chầm thím Thanh. Thím mừng rỡ rú lên:
“Hưng! Hưng con!” Nước mắt tuôn rơi lả chả, thím
mếu máo: “Tội cho con tôi! Mấy năm nay phải gánh
chịu bao khổ nhọc bầm giập. Ôi! thương thiệt là
thương!” Bé Ngọc Diệp mừng mừng tủi tủi lấm lét
nhìn cha, Hưng ngoắt con mấy lần, con bé mới dám
rụt rè nhích từng bước, rồi bỗng bé phóng ào
tới ôm cha khóc nức nở. Dì Ba nhận thấy sự có
mặt của mình đã trở thành thừa thãi, bèn len
lén ra về với nụ cười tươi.
Sự hiện
hữu của Hưng mang thêm sức sống rạng rỡ cho cả
nhà. Nhà cửa lâu nay bị bỏ bê u ám, anh dọn dẹp
sắp xếp trong ngoài gọn ghẽ, rồi chỉ vài ngày
sau anh ra chợ trời gom về mớ dụng cụ sửa xe gắn
máy xe đạp về hành nghề ngay cột đèn trước nhà.
Anh cũng lãnh phần lo liệu cơm nước cho hai cha
con, hầu thím Thanh có thể dành phần lớn thời
giờ cho việc tu tập, và làm công quả trong Ban Ẩm
thực chùa Ấn Quang. Vốn là sinh viên công nghệ
giỏi máy móc, Hưng lại làm việc tận tụy và có
lương tâm, nên chỉ sau một thời gian ngắn thiên hạ
nườm nượp mang xe đến sửa, cái nghề chơi chơi chỉ
nhằm mục đích lấy điểm lao động tốt, vô tình
lại biến thành nghề kiếm ăn thiệt, đúng là
chuyện lạ lùng. Lấy cớ hoa lợi sửa xe dồi dào,
Hưng nài ép mẹ ngưng nghề thêu nhọc nhằn, nhưng
thím chủ trương “một câu niệm Phật, một mũi kim
thêu nối tiếp không dứt” là một phương pháp tu
tập lợi lạc nên thím chẳng đồng ý, mặc dầu,
thời gian sau nầy, bệnh tim bẩm sinh của thím
thỉnh thoảng nổi cơn hành hạ khiến thím ngột
ngạt mệt nhoài. Hưng dự định bán vàng tìm mua
mật gấu, mật rắn... cho mẹ uống trị bệnh như
ngày xưa, nhưng thím Thanh phản đối quyết liệt:
mấy năm nay thím đã ăn chay để nuôi dưỡng lòng từ
bi, thím đâu nỡ lấy mạng sống chúng sanh để bồi
dưỡng mạng sống của mình, huống chi sống chết
là sự thường có ai tránh khỏi được đâu?
Vào tối
ngày 19 tháng 02 âm lịch, sau hai ngày liên tiếp
công quả và tham dự lễ “Ngũ bách danh” xướng lạy
năm trăm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, vừa trở
về nhà bỗng thím Thanh bị choáng váng mặt mày,
nhịp tim hổn loạn, thím ngạt thở... và cơ hồ như
sắp đứt hơi. Hưng hoảng hốt, gởi tạm con cho dì
Ba, tìm được chiếc xích lô chở mẹ, chàng đi xe
đạp kèm sát bên, khẩn trương hối thúc bác xích
lô gắng sức tiến nhanh đến bệnh viện Chợ Rẫy.
Chiếc
xích lô trờ tới bệnh viện ngừng lại. Thím Thanh
quên là mình đang cơn đau yếu vội vã bước xuống.
Bất ngờ thời tiết bỗng thay đổi thình lình, mây
đen cuồn cuộn phủ vây, mưa như trút nước ồ ạt,
rồi thì sấm sét vang lừng, trời vụt tối vụt
sáng ghê rợn... khiến thím kinh hoàng vừa niệm
Quan Âm cầu Bồ Tát cứu mạng vừa phóng chạy điên
cuồng với dự tính sẽ vào bên trong bệnh viện ẩn
nấp. Cảnh tượng bỗng đột ngột biến thành quang
đãng, thím phỏng đoán là do thím nhắm mắt chạy
bừa nên đã lạc khỏi bệnh viện đến một công viên
lạ mà không hay. Công viên êm đềm xinh đẹp, hoa lá
xanh tươi, chim hót vang lừng như cảnh thần tiên
khiến thím say mê ngắm nhìn mãi không chán. Thím
chợt thấy bà cụ phúc hậu ngồi trên bãi cỏ,
định dọ hỏi đường về. Bà cụ lem nhem cầm sợi
chỉ màu xanh da trời run rẩy xỏ kim, nhưng cứ
trật vuột mãi. Thím Thanh thương quá, lên tiếng :
“Xin bà để con xỏ kim cho!”. Nhìn tấm khung vải
có nét vẽ phơn phớt mẫu thêu một đóa hoa sen linh
động, thím bỗng cảm nhận một niềm bình an kỳ
diệu tràn ngập cõi lòng. Thím bèn nài nĩ:
- Bà ơi!
Bà để cho con thêu bà nhé! Thêu là nghề ruột của
con mà!
Thế
rồi, như thường lệ thím cứ theo đúng phương pháp
“một câu niệm Phật, một mũi kim thêu nối tiếp
nhau không dứt”, thím xả bỏ mọi ràng buộc, quên
cả thời gian không gian, và trong trạng thái an
lạc thanh thản thím hoàn tất đóa sen xanh.
Thím cầm
đóa sen thêu dâng lên cụ bà, nhưng cụ bà lắc đầu
ôn tồn nói:
- Đóa sen
nầy dành cho con! Con hãy giữ lấy!
- Bà ơi!
con thương bà quá hà! Con mong mỏi gần gũi bên bà
hoài hoài hà!
Cụ bà
thương yêu vuốt tóc thím, ngọt ngào lên tiếng:
- Con
ngoan, con xứng đáng ở đây với ta lắm! Nhưng có
lẽ con cũng nên về thăm nhà một chút!
- Dạ!
dạ!
- Để ta
dẫn đường cho, con hãy theo ta!
Thím Thanh
bước theo bà mấy bước thì bà dừng lại trỏ tay:
- Nhà cũ
của con kia kìa!
Thím nhìn
lại thấy mình đang đứng tại một khu phố tương
đối sầm uất, xe cộ tấp nập... khác hơn khu phố
đường Sư Vạn Hạnh nhiều lắm. Thím quay tìm cụ
bà, chẳng thấy cụ đâu. Định thần lại, nhìn bên
kia đường thím thấy rõ ngôi chùa Ấn Quang thân
thương của thím, cây cột đèn thằng Hưng hành nghề
ngay chỗ nầy, vậy nhà mình đâu rồi, nó phải nằm
ngay vị trí căn nhà hai tầng lầu nầy mới phải.
“Có lẽ
mình nằm chiêm bao chăng?”, thím thầm nghĩ. Thím
dụi mắt mấy lần vẫn không thấy có gì thay đổi
nên rón rén bước tới căn nhà lầu sang trọng bày
bán toàn là xe gắn máy bóng láng lặng lẽ ngắm
nhìn. Một cô gái đang xuân xinh đẹp, mà thím cảm
thấy nét thân thương quen thuộc, đang ngồi tại
quầy hàng nhanh nhẩu lên tiếng:
- Thưa
bác! Bác cần chi ạ?
- Cô ơi! Cô
có biết nhà thằng Hưng ở đâu không?
- Ba ơi!
ba! Có ai tìm ba kìa!
Một người
đàn ông đứng tuổi, từ quán cà phê bên cạnh hấp
tấp bước vào. Thím Thanh và hắn trố mắt nhìn
nhau. Thím Thanh chợt hiểu, hiểu rõ và hiểu tất
cả.
Thím mĩm
cười.
Hắn bỗng
la thất thanh:
- Má!
Trời ơi! Chính là má đây mà!
Cô thiếu
nữ cũng ấp úng:
- Nội!
Nội của con!
- Má từ
cõi mộng về thăm con cháu phải không?
Thím mĩm
cười:
- Nếu kể
đây là cõi thực thì má ở cõi mộng, còn nếu
biết chốn nầy là giả tạm mộng ảo thì má từ
cõi thực dạo chơi cõi mộng thăm con! Má về để
nhắc nhở con cháu một điều là “hàng ngày phải
tinh chuyên niệm Phật A Di Đà, khi hoạn nạn hãy
nhớ khẩn cầu Quán thế Âm Bồ Tát”. Hãy nhớ lấy!
Thôi má đi đây!
Thím
trịnh trọng mở khăn thêu đóa sen xanh trải xuống
đất. Đóa sen lung linh chuyển động thành tòa sen.
Thím vừa bước vào, thì tòa sen đã bay vút lên
trời...
- Hưng!
Hưng!
Hai cha con
đang mải miết phóng tầm mắt theo dõi tòa sen xanh
hội nhập cùng vô lượng tòa sen ẩn hiện trên không
gian, bất chợt bị tiếng hét “giựt ngược” của dì
Ba làm tỉnh lại.
- Có chi
không dì Ba?
- Hai cha
con bây làm khùng làm điên, nói năng múa máy như
mớ ngủ, mà tại sao tao gọi hoài không chịu lên
tiếng?
Hưng thầm
nghĩ: “Thì ra sự kiện mẹ hiện về chỉ hai cha con
chàng do liên hệ nghiệp duyên chiêu cảm mới thấy
được, còn dì Ba là người dưng nên mù tịt.
Chuyện
nầy mình làm sao giải thích cho dì Ba hiểu đây?”
Thấy cha cứ ấp úng mãi, cô con gái vội nhanh
nhẩu đỡ lời:
- Bà Ba
ơi! Cha con cháu bàn chuyện chiêm bao đó mà! Con
chiêm bao thấy nội.
Nội con
từ trần tại cổng bệnh viện đã mười sáu năm
rồi, bây giờ con mới chiêm bao lần đầu, nên con
mừng như khùng điên như vậy đó, bà Ba ạ!
Giải
thích xong con bé cảm động khóc rấm rứt, như còn
muốn tiếp tục kéo dài trò làm khùng thêm chút
nữa.
- À! Thì
ra là như vậy!, dì Ba ha hả cười vang.
Tháng
01.2009
Ghi chú
cuối truyện:
Tác giả
chiêm bao thấy lạc bước đến chốn thần tiên quên
đường về. Giật mình tỉnh dậy, suy nghĩ rằng nếu
như mình giả từ cõi đời thình lình mà không
biết mình đã chết thì sẽ ra sao? Mình có thể
lâm vào trường hợp thấy cảnh thần tiên thì mê
mẩn hoặc gặp cảnh tượng ghê rợn rồi sợ hãi
trốn chạy, hoàn toàn quên tuốt Niệm Phật, Niệm
Quan Âm thì nguy quá. Vì vậy, tác giả bèn viết
truyện ngắn nầy để nhắc nhở mình và cũng để
chia sẻ với bạn đọc.
Tác giả
cũng vắn tắt trích lục hai đoạn ngắn (trong Liểu
sanh thoát tử) về cảnh tượng người chết có thể
chiêu cảm:
Liểu sanh
thoát tử:
1.Cảnh
tượng rùng rợn do ác nghiệp chiêu cảm: ... Và có
một thứ nghiệp phong mãnh liệt, thổi đưa nghiệp thức đi
vào phương hướng vô định; cũng như mảy lông bị gió cuốn:
qua, lại, lên, xuống đều tùy theo chiều gió thổi. Cái
thân ấy không do ở ý mình, phải phiêu lưu không nhất
định. Bỗng nhiên lại gặp một thứ ánh sáng vô cùng mãnh
liệt, vùn vụt chớp lòe, tia sáng chói lòa, không thể mở
mắt mà xem được. Ánh sáng ấy chuyển biến giống như áng
mây mùa thu, hiện ra những hình thái lạ lùng để hăm dọa
người đã chết. Và ở trong những chỗ ánh sáng mạnh mẽ,
lớn lao ấy đã xuyên qua, phát ra một thứ tiếng rất dữ
dội, không có gì sánh kịp. Nó có thể mạnh gấp ngàn lần
sấm sét. Một khi nghe đến càng thêm ghê rợn; có thể tan
gan nát mật.
2.Tình
hình khi sanh vào ác đạo: ... Người chết thường vì
nghiệp duyên nên gặp phải rất nhiều cảnh tượng nguy hiểm
như: tối tăm, bão táp, sấm sét, sương mù v.v… khi đó
khiếp sợ quá đỗi nên phải tìm phương trốn tránh bỏ thân
mạng mà tuôn chạy, thì lại thấy ở trước mắt: núi đèo,
hang hố, cây cối, bụi rừng. Vì muốn vội vàng tránh thoát
cho khỏi nên không rảnh rang để lựa chọn chỗ nào; chỉ
biết được núp vào một chỗ nào tức không muốn ra khỏi. Vì
sợ rằng nếu ra khỏi tức là bị khổ. Chỉ vì tỵ nạn không
muốn ra, nên rốt cuộc không ngờ mình đã trở lại thọ thân
hèn hạ và chịu rất nhiều đau khổ.
01-23-2009