Mọi người đều
có khả năng sáng suốt,
chân chánh và thanh tịnh
Tỳ Khưu
Thích Chân Tuệ
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Kính
quí Ðạo Hữu,
Lời đầu
thư, chúng tôi hoan hỷ kính chào quí ÐH, kính cảm niệm
quí ÐH đã dành thời giờ viết email và kính mong quí ÐH
thông cảm việc hồi âm không sớm này. Lý do: chúng tôi
vừa làm xong Phật sự gửi đi khắp nơi tất cả Tập san Phật
Học Tịnh Quang (Từ Bi & Trí Tuệ) số 12, phát hành nhân
dịp Tết Nguyên Ðán Canh Dần 2010. Tập san PHTQ được phát
hành miễn phí hoàn toàn, mỗi năm 3 số, nếu quí ÐH hoan
hỷ nhận, xin cho biết địa chỉ bưu điện, văn phòng PHTQ
sẽ gửi kính biếu.
Bây giờ
chúng tôi xin được bàn về Bát nhã tâm kinh theo đề nghị
của quí ÐH. ÐH Hoang Le có email <batnhabalamatda@yahoo.com>
chắc là thâm cứu và thâm hiểu bản kinh cốt tủy ngắn, gọn,
súc tích và nhiệm mầu này. Nơi đây, chúng tôi chỉ nêu
lên những gì học được, biết được, trong tinh thần học
hỏi lẫn nhau là điều tốt quá, và là duyên lành trên bước
đường tu học và tìm hiểu chánh pháp.
Ðiều
trước tiên chúng ta cần hiểu rõ là: do nghiệp lực dẫn
dắt, chúng sinh phải chịu sự sinh tử luân hồi, nhiều đời
kiếp trong lục đạo (lục đạo là 6 cõi: thiên, nhân, atula,
địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh). Nghiệp lực là sức mạnh do
nghiệp dẫn đi, tức là thói quen tạo nên trong cuộc sống
hằng ngày, rất khó dừng lại, rất khó cưỡng lại, do nơi
thân - con người tạo nghiệp, do nơi khẩu - con người tạo
nghiệp, và nhất là do nơi ý - con người tạo nghiệp; gọi
chung là tam nghiệp thân khẩu ý. Ðây là điều căn bản
khác biệt giữa đạo Phật với các tôn giáo hay tín ngưỡng
khác.
Các tôn
giáo hay tín ngưỡng khác thường tôn thờ một vị thượng đế
hay thần linh tưởng tượng nào đó, họ cho là đấng toàn
năng, có khả năng sáng tạo hay hủy diệt vũ trụ và muôn
loài (người, vật, cỏ cây); và là đấng toàn quyền, có khả
năng ban phúc cho người tuân phục thờ phượng và giáng
họa cho những ai không công nhận vị thượng đế không
tưởng đó.
Các tôn
giáo hay tín ngưỡng khác thường cho rằng: con người chỉ
có đời này thôi, cuối đời không còn gì cả (gọi là chấp
đoạn); con người cuối đời này hoặc lên nước thiên đàng
gặp thượng đế vĩnh viễn, hoặc đọa hỏa ngục đời đời, vì
bất khâm tuân thượng đế (gọi là chấp thường).
Trái
lại, đạo Phật không chấp hai bên (gọi là nhị biên) như
thế. Cốt tủy của đạo Phật là chỉ cho con người thấy rằng:
mọi người đều có khả năng
sáng suốt, chân chánh và thanh tịnh, để giác
ngộ trở thành một vị chánh đẳng chánh giác; còn gọi là
đắc đạo, thành đạo, hay thành Phật. Trong kinh Hoa
Nghiêm, có câu: Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh,
chính là nghĩa đó vậy.
Cái khả
năng sáng suốt, chân chánh và thanh tịnh, để giác ngộ đó,
tạm gọi là Chân tâm, hay Phật tánh. Cái khả năng này
người nào cũng có, không dành riêng cho bất cứ ai, không
phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, sắc tộc, màu da, xuất xứ,
quốc gia, già trẻ lớn bé, giàu sang hay nghèo hèn, học
thức hay bình dân. Nghĩa là không biệt gì cả, gọi là bất
tùy phân biệt.
Làm
sao nhận ra rằng mình có cái khả năng đó, chính là các
pháp môn tu tập. Mục đích chính của các pháp môn là
giúp con người, bất tùy phân biệt, trở lại với bản tâm
bản tánh thanh tịnh đó. Mặt trời luôn sáng tỏ, chỉ vì bị
mây đen che khuất tạm thời thôi. Cũng vậy, bản tâm bản
tánh con người luôn sáng suốt, chân chánh và thanh tịnh,
chỉ vì bị tham lam, sân hận và si mê che khuất tạm thời
thôi. Các pháp môn giúp con người từ từ dẹp tan mây đen
(tham, sân, si), dần dần bản tâm bản tánh con người trở
về nguyên trạng. Khi đó, con người vẫn sống như bao
nhiêu con người khác trên thế gian này, hình tướng bề
ngoài không khác, nhưng nội tâm trở về sáng suốt, chân
chánh và thanh tịnh (gọi là tam bảo). Khi thái tử
Tất đạt đa thành đạo, trở thành một vị Phật, tâm của
ngài hoàn toàn thanh tịnh khác hẳn trước đây, nhưng hình
tướng bề ngoài vẫn chỉ là một vị tu hành, gọi là sa môn
Cồ đàm. Chỉ có những người chân thật, những vị giác ngộ
mới nhận ra được một vị Phật đang sống trên thế gian này
như mọi người, hình tướng không khác mọi người. Như vậy
nghĩa là: một vị Phật không phải là thần linh, thượng đế
không tưởng.
Bát nhã
tâm kinh tuy là bản kinh ngắn gọn, nhưng bản kinh này
chỉ rõ đầy đủ thế nào và làm sao nhận ra rằng mình có
cái khả năng đó. Muốn nhận ra cái khả năng vô hình
tướng đó, con người cần phải thấy rõ thân xác (hình
tướng) của con người là không thật - không tồn tại mãi
mãi. Con người khi sinh ra đời là có hình tướng, đẹp xấu
khác nhau, tùy theo nghiệp báo mỗi người khác nhau. Con
người trải qua sinh lão bệnh tử, là hình tướng kia bị
hủy diệt.
Thêm
nữa, muốn nhận ra cái khả năng vô hình tướng đó,
con người cần phải thấy rõ tâm thức (vô hình tướng, có
khi gọi là tâm linh, tâm tư, tâm trạng, ..) của con
người là không thật - không tồn tại mãi mãi. Tâm thức
của con người thay đổi liên miên, nay thương mai ghét,
nay thân mai thù, nay tốt mai xấu, nay hiền mai dữ, nay
bồ tát mai dạ xoa, nay bảo vệ chánh pháp mai phá hoại
chánh pháp, nay huynh đệ mai đối nghịch, nay tán dương
mai cơ bài, nay ngồi cùng bàn mai cưa cẳng ghế. Tâm thức
lăng xăng lộn xộn như vậy gọi là vọng tâm (kinh Lăng
nghiêm).
Lắng
hết mọi vọng tâm nhờ các pháp môn tu tập, chân tâm sáng
suốt thanh tịnh hiển bày, hiển lộ. Khi mọi cơn sóng to
gió lớn trên biển (ví như vọng tâm) lặng hết, mặt biển
bao la thanh tịnh hiện ra trước mắt (gọi là chân tâm
hiển lộ). Khi mọi cặn cáu trong ly nước đục lắng hết,
nước trong hiện ra rõ ràng. Mặt biển sóng gió cuồng nộ
đen tối và mặt biển phẳng lặng thanh bình sáng sủa, tuy
khác trạng thái nhưng không phải là hai (pháp môn bất
nhị). Nước trong sạch dùng trong sinh hoạt có nguồn gốc
từ nơi sông hồ không trong sạch, sau khi thanh lọc trở
thành nước trong sạch.
Cũng
vậy, một con người dù có quá khứ không tốt, không sạch
(do vô minh, nên tạo nghiệp), nếu biết tu tâm dưỡng tánh,
quyết tránh các điều xấu ác, quyết làm các việc thiện
lành, quyết giữ tâm ý thanh tịnh, người đó chuyển hóa
thành vị Phật. Cho nên, đạo Phật chủ trương chuyển hóa
tam nghiệp bất thiện thành tam nghiệp thanh tịnh, chuyển
hóa phàm nhân thành thánh nhân, chứ đạo Phật không chủ
trương tiêu diệt tất cả người xấu ác, như các tôn giáo
hay tín ngưỡng khác. Một vị Phật tùng địa dũng xuất,
nghĩa là từ nơi tâm địa chuyển hóa từ xấu thành tốt mà
thành Phật. Câu nói: đồ tể buông dao cũng thành Phật,
chính là nghĩa như vậy.
Do đó,
bông sen từ bùn nhơ ngoi lên, cố vượt qua thế giới đen
tối, vươn lên trong không gian tỏa hương thơm ngát, là
hình ảnh tượng trưng cho sự tu tập, cố gắng vượt bực để
chuyển hóa từ phàm phu thành một vị giác ngộ hoàn toàn,
gọi là toàn giác.
Cái khả
năng vô hình tướng đó không phải là cái thân xác
này, cho nên không có mắt tai mũi lưỡi (gọi là: vô nhãn,
nhĩ, tĩ, thiệt). Cái thân xác có lục căn (nhãn, nhĩ, tĩ,
thiệt, thân, ý) và cảnh trần bên ngoài trên đời có lục
trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Cho nên, khi
lục căn (nơi con người) tiếp xúc với lục trần (6 cảnh
trong trần đời), con người sanh ra lục thức (gọi chung
là tâm thức, gồm có: nhãn thức, nhĩ thức, tĩ thức,
thiệt thức, thân thức, ý thức).
Ví dụ:
mắt (nhãn căn) của con người nhìn thấy lượng vàng (sắc
trần), sanh tâm tham, muốn chiếm đoạt (gọi là nhãn thức).
Ví dụ: tai (nhĩ căn) của con người nghe thấy tiếng (thanh
trần), sanh tâm khen chê hay dở (gọi là nhĩ thức). Tương
tự như thế, các căn khác như: mũi, lưỡi, thân, ý, tiếp
xúc với các trần cảnh như: hương, vị, xúc, pháp, bèn
sanh vọng tâm thương ghét, khen chê, thị phi, phải quấy.
Chính đây gọi là nghiệp lực, là động cơ, là
nguyên nhân chính của sự sinh tử luân hồi.
Thiền
sư Bá Trượng Hoài Hải có dạy: "Tâm cảnh không dính
nhau là giải thoát". Nghĩa là: Chúng ta vẫn thấy,
vẫn nghe, vẫn hiểu, vẫn biết tất cả các cảnh trên trần
đời, trong kinh điển gọi là: kiến văn giác tri, nếu tâm
không dính mắc, thì không phiền não. Không phiền não tức
là giải thoát. Thật là hết sức đơn giản! Lý lẽ tuy cao
siêu vi diệu, nhưng hết sức thực tế. Bất cứ ai cũng có
thể làm được, không cần phải thờ lạy, cúng kiến, không
phân biệt tôn giáo, sắc tộc, ngôn ngữ, nghề nghiệp, xuất
xứ, học thức, nam nữ, già trẻ, bé lớn, giàu nghèo, sang
hèn, tại gia hay xuất gia. Tâm không phan duyên chạy
theo cảnh trần là: giải thoát!
Tu theo
Phật không cần phải cố chấp thờ lạy Phật hình tướng một
cách mê tín, tu mù, với vọng tâm mong cầu điều nọ điều
kia cho riêng mình, gia đình mình, đoàn thể mình, giáo
hội mình, dân tộc mình, tôn giáo mình, không cần chọn
chùa to tượng lớn, không cần theo giáo hội giáo phái nào,
không cần phải là giáo phẩm cao thấp, không cần phải
xưng là chính thống hay tiếm danh, không cần phải xưng
là Phật tử hay không là Phật tử, không cần được khen
thuần thành thường hay đi chùa, không cần khoe gõ mõ,
tụng kinh bao nhiêu bộ, không cần hành tam bộ nhất bái,
nhất tự nhất bái, không cần phải niệm Phật om trời vang
vang chính điện, không cần vỗ ngực tự xưng đã tu và làm
việc Phật sự năm bảy chục năm, không cần khoe khoang đã
xây năm bảy chục cảnh chùa, không cần khoe có năm bảy
chục hay hằng trăm đệ tử, không cần tự hào là danh môn
chánh phái, đệ tử của vị này vị kia, không cần phải quì
lụy, van xin thế quyền, giáo quyền, tìm kiếm chức phẩm
danh vị trong đạo cũng như trong đời, không cần tất cả
hình thức nghi lễ rườm rà của một tôn giáo, kể cả Phật
giáo !
Tu
theo Phật là để giác ngộ cái khả năng (vô hình
tướng) thành một vị chánh đẳng chánh giác và
thoát ly khỏi sanh tử luân hồi. Người nào phát tâm tu
cũng được, bất tùy phân biệt !
Tóm lại,
Bát nhã tâm kinh là bài kinh tuy ngắn gọn, nhưng giải
thích để hiểu rõ tường tận thật không thể ngắn gọn, tùy
theo mỗi người, mỗi hoàn cảnh và sở thích của cá nhân.
Bài viết này chỉ đơn giản, sơ lược đại ý mà thôi. Chúng
tôi đề nghị quí ÐH tham khảo thêm các bài viết khác để
vấn đề được sáng tỏ hơn, thấu đáo hơn. Chúng ta nên nhớ
một điều khá quan trọng trong lịch sử của đức Phật Thích
Ca Mâu Ni là: Thái tử Tất đạt đa ra đi tầm đạo giải
thoát năm 29 tuổi và thành đạo năm 35 tuổi, trong khi
các vị tu sĩ thời bấy giờ cao tuổi hơn nhiều, tu lâu năm
hơn nhiều, nhưng vẫn không giác ngộ và giải thoát như
Ngài.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Ty-Khuu
Thich-Chan-Tue
Chu -Nhiem
PHAT-HOC TINH-QUANG
108 - 123 Railroad St. ,
Brampton , ON , L6X-1G9.
CANADA
Tel.: 647-828-1016
Email:
cutranlacdao@yahoo.com