Khung cảnh lịch sử quanh
bộ
kinh “Milinda vấn đạo”
(Milinda-panhà) của Phật Giáo
Trần Trúc Lâm
PB Nghiên cứu Phật Học - 03
Thông thường ai cũng nghĩ rằng
đạo Phật chỉ mới được truyền
sang Tây phương trong các thế kỷ gần
đây, mà quên rằng trong nhiều thế
kỷ trước Tây lịch Phật giáo
đã thấm nhuần vùng Tiểu Á và
Tây Bắc Ấn, rồi ảnh hưởng trên
cả nền triết học Hy Lạp và giáo
lý của vài tôn giáo lớn có
nguồn gốc Tây phương. Phật tử
Việt Nam vốn chịu ảnh hưởng sâu
đậm giáo pháp truyền từ Trung Quốc,
nên ít biết đến sự giao hòa
của hai nền văn hóa Hy Lạp và Phật
giáo khởi đầu rất sớm ở vùng
đất này.
Ngay cả khi đức Phật Thích Ca còn
tại thế, vùng đất xa xôi này
đã tiếp xúc với Phật giáo
rồi. Trong một bộ kinh của Thượng tọa
bộ (Theravada) có ghi câu chuyện hai thương
nhân, tên Tapassu và Bhallika từ xứ Bactria
tìm đến viếng đức Phật và
đã trở thành đệ tử. Lúc
về xứ, họ đã xây dựng nhiều
đền đài thờ Phật.
Khi Alexander xâm chiếm
Chính từ những hạt giống Phật
giáo do hoàng đế Asoka gieo ở vùng
này dần lớn mạnh và đã
để lại ảnh hưởng khá sâu
đậm trong vùng Tây Bắc Ấn, và
còn lưu mãi đến nay như ảnh
tượng đức Phật theo mỹ thuật Hy
Lạp, những ý niệm manh nha của Phật
giáo Đại thừa phát sinh từ những
trung tâm văn hóa Phật giáo có một
thời rất rực rỡ, và một bộ kinh
không kém phần quan trọng, đó là
bộ Milinda-Panhà đã được Việt
dịch là “Di-lan-đà vấn kinh” hay
dưới nhiều tên tương tự.
Bài khảo luận này không bàn
sâu vào giáo nghĩa của bộ kinh, vốn
đã có nhiều tác giả đã
luận giải, mà chỉ chú trọng vào
lược sử thời đại của hai nhân
vật chính của bộ kinh đã sống,
đó là vua Mi-lan-đà và Tỳ-kheo Na
Tiên.
Vương quốc
Vào thời bấy giờ, lối giao thương
chủ yếu dựa vào đường bộ,
và vùng ấy lại nằm trên tuyến
chiến lược từ châu Âu ở phía
Tây qua châu Á ở phía Đông, từ
Trung Á ở phía Bắc xuống lục
địa Ấn ở phía Nam, cho nên dân tình
vùng này không bao giờ được yên
ổn lâu dài vì các thế lực
muốn xâm lăng nó để làm bàn
đạp tiến xa hơn.
Ngày nay, các tư liệu về giai
đoạn lịch sử này đã
được công bố rất dồi dào,
và bài này đã chọn lọc, so
sánh và tổng hợp từ rất nhiều
nguồn khác nhau như sử liệu cổ của
các nước trong vùng Pakistan, Afghanistan và
Trung Đông do các tác giả hiện
đại biên soạn, từ những cổ vật
do các nhà khảo cổ người Pháp
đào xới được, từ rải rác
trong thánh điển Pali và Đại thừa,
các ảnh tượng đức Phật tồn
tại đến nay v.v… Ở đây cũng xin
được lưu ý độc giả đến
nguồn sử liệu quí giá về các
vị vua gốc Hy Lạp ở vùng Tiểu Á
đã được hai nhà sử học danh
tiếng Hy Lạp cổ là Strabo và Plutarch ghi
lại.
Strabo (sinh năm 63 hay 64 BC, mất khoảng năm 24 AD),
một sử gia, triết gia và địa lý gia
Hy Lạp. Tác phẩm nổi danh của ông
là Geographia, gồm 17 cuốn viết vào
khoảng năm 7 hay 18 AD về nhân vật, địa
danh, trên thế giới Hy La vào thời ông.
Plutarch, tên đầy đủ là Mestrius
Plutarch, một nhà sử học và tiểu sử
danh nhân học, cũng là người Hy Lạp
sau Strabo (khoảng 45-125 AD). Ông sinh vào thời
của hoàng đế La Mã Claudius. Ông tham quan
rộng rãi vùng Địa Trung Hải, và
về sau giảng dạy tại
Tác phẩm nổi danh của ông là
“Cuộc đời của những danh nhân Hy
Lạp và La Mã (Lives of the Noble Greeks and Roman)”.
Nhưng bộ sách còn được chú
trọng khác là “Những cuộc đời
tương đồng” (Parallel Lives), so sánh 23
cặp danh nhân Hy-La; và “Cuộc đời
của Alexander” (Life of Alexander). Nói chung những
tác phẩm của ông đã ảnh
hưởng rất nhiều đến nền văn
học và kịch nghệ Tây phương, ngay
cả Shakespeare cũng thường tham chiếu.
Trước đó, vua Darius I (521-486 BC) của
Đến thời vua Alexander, những cuộc khảo
sát cũng đã được ghi lại
bởi Strobe, Ptolemy, Pliny, Arrian và nhiều người
khác. Họ cho biết năm phụ lưu của
sông Indus là Hydaspes (Jehlum), Akesines (Chenab), Hydroatis
(Ravi), Hyphasis (SaADuj) và Hesidros (Beas); làm biên
giới cho bốn vương quốc trước khi
Alexander xâm lăng.
Núi Tu-di (còn gọi là Meru hay Meros): Trong
văn chương và các tôn giáo gốc
Ấn đều xem nó như là một ngọn
núi thần thoại và là trụ chống
của quả đất, và theo Ấn giáo
thì đó cũng là trú xứ của
vị thần Shiva hay Vishnu.
Nhưng đạo quân xâm lăng của vua
Alexander sau khi tiến vào vùng Gandhara, họ tin
là đã khám phá ra ngọn núi Meros
và thành Nysa trên ấy, nằm khoảng
giữa hai thành Kapisa và Peucelaotis. Cũng theo
thần thoại Hy Lạp thì đó là
nơi sinh của thần Dionysus (đồng hóa
với thần Shiva).
Philostratus (khoảng năm 175-245) đã thuật
lại trong cuốn “Life of Apollonius of Tyana”
chuyện chàng Apollonius viếng thăm Gandara và
sau nhiều nỗi thăng trầm trèo đèo
vượt suối đã lên đến
đỉnh ngọn Meros, nơi có đền thờ
thần Dionysus với tượng đá trắng mang
dáng vẻ người thanh niên Ấn. (Philostratus,
Live of Apollonius of Tyana 2.8; dịch bởi F.C. Conybeare)
Sự hưng
thịnh của triều đại Maurya ở Ấn:
Khoảng thế kỷ IV BC, kinh đô Pataliputta
(thành Hoa Thị - nay là thành phố Patna)
của nước Magadha (Ma-kiệt-đà) trở
thành trung tâm quyền lực của Ấn. Ngay trong
kinh Đại Bát-niết-bàn, hệ Pali
(Maha-parinibbana sutta), nói về những năm sau
cùng của đức Phật tại thế,
Ngài đã ước đoán sự phồn
thịnh của thành Pataliputta về mọi mặt.
Phật dạy: “… Này Ananda, chỗ nào
các vị Ariyans an trú, chỗ nào các
nhà thương mại qua lại, chỗ ấy
sẽ thiết lập một thành thị bậc
nhất tên gọi là Pàtaliputta, một trung
tâm thương mại. Nhưng này Ananda, Pàtaliputta
sẽ bị ba hiểm nạn về lửa, về
nước hay chia rẽ bất hòa.” (Trong
Trường Bộ kinh - Digha Nikaya: Tập 1; kinh số 16;
tụng phẩm 1; đoạn 28 - bản dịch của
HT. Thích Minh Châu). Bấy giờ, có vua
Mahàpadma Nanda thay thế triều đại Haryanka cai
trị một vùng rộng lớn từ sông
Brahmaputra ở phía Đông đến
Năm 327 BC, đại đế trẻ tuổi
của Hy Lạp Alexander đã bành trướng
đất đai, đem quân đánh bại
quân Persia và thâu tóm luôn vùng
Tiểu Á. Hai năm kế, ông ổn định
vùng Hindu Kush và Bactria (Baluchistan - Bắc
A-phú-hãn), thiết lập lên nhiều
thành phố như Samarkand, Leninabad (thuộc Nga
ngày nay) và Chankar (phía Bắc Kabul), tái
dựng cố đô Kapisa và đổi tên
là Alasandra gần Caucasus (để khỏi bị
nhầm với Alexandria ở Ai Cập) v.v...
Thừa thắng, ông định vượt
sông Indus năm 325 BC để tiến chiếm Ấn
thì bị chận lại ở sông Jhelum (hay
Hydaspes), vùng Taxila (Takkasala) bởi một tiểu
vương Paurava biết dùng voi trận, và
rồi sự chống trả mãnh liệt của
tướng Chandragupta Maurya; Alexander đành rút
về Babylon và chết ở đấy vì
bệnh sốt rét. Ngay sau khi Alexander mất vào
ngày 10 tháng 6 năm 323 BC, các tướng
tùy tùng (diadochi hay diadochoi) liền chia cắt
đế quốc thành những vương quốc
để tự mình cai trị. Seleukos I Nicator kế
vị Alexander vào năm 323 BC, đóng đô
ở Babylon, lập nên triều đại Seleukos, cai
trị một đất nước rộng lớn bao
gồm các nước ngày nay là Syria, Lebanon,
Jordan, Mesopotamia, Persia, và Bactria. Phần đất
ở Ai Cập thì hậu duệ của tướng
Ptolemy Soter thay nhau trị vì; và ở Hy Lạp
thì do Antigonus Monopthalmos nắm giữ. Những năm
chiến tranh dành quyền lực kế tiếp
của các dòng họ này đã làm
dân tình vùng Tiểu Á và Tây
Bắc Ấn bị khổ nạn triền miên.
Trong khi đó ở Ấn vào năm 321 BC,
Chandragupta lật đổ Nanda và lập ra triều
đại Maurya.
Năm 304 BC, Seleukos I lại cố xâm lăng Ấn
lần nữa, nhưng cũng bị đẩy lui bởi
Chandragupta Maurya. Sử cho rằng, Chandragupta đã
sử dụng đến 100.000 lính và 9.000 voi
trận. Sau cùng, Seleukos I đành lập hòa
ước nhượng vùng
Chandragupta trị vì được 23 năm,
người con trai kế vị là Bindusara ở
ngôi được 25 năm và mất năm 273
BC. Vua Bindusara cũng có một sứ thần Hy-Bactria
tại triều tên là Deimachus (Strabo 1–70),
và luôn giao hảo tốt đẹp với vua
Antiochus I Soter thuộc dòng Seleukos.
Sau khi vua Bindusara băng hà, trong vòng 4 năm,
có sự tranh dành ngôi giữa thái tử
Tissa đang làm phó vương ở Ujjeni
phía Nam và một hoàng tử khác tên
là Asoka làm phó vương ở Taxila. Sau
rốt, thái tử bị giết trong trận và
Asoka lên ngôi hoàng đế năm 269 BC, cai
trị một lãnh thổ rộng lớn từ Bengal
đến Afghanistan, oai hùng nhất trong lịch
sử Ấn. Chỉ sau cuộc xâm lăng đẫm
máu nước Kalinga (bang Orissa ngày nay), tức 8
năm sau khi lên ngôi, vua Asoka mới hối hận
và thành tâm qui y Phật giáo, đã
dốc lòng khuyếch trương đạo Phật
ra khắp nơi. Ông cũng đã gởi
nhiều đoàn truyền giáo ra hải ngoại,
trong số đó có đại sư Dharmaraksita
(về sau là sư phụ của Tỳ-kheo Nagasena)
hoạt động rất tích cực ở vùng
Tiểu Á (Mahavamsa, XII).
Asoka có một mối quan hệ đặc biệt
với vùng Tây Bắc Ấn, bởi ông
đã từng làm phó vương ở
đấy và đóng dinh tại Taxila (tiếng
Sanskrit là Takshasila, gần
Ngày nay, người ta biết đến rất
nhiều pháp dụ khắc bằng đá do
ông xây dựng lên khắp đế quốc.
Trong số đó những bia ký ở thung lũng
Kabul được ghi bằng tiếng Hy Lạp và
Aramaic, và nội dung còn cho biết là ông
đã cho truyền bá Chánh pháp
đến các nước Ai Cập, Syria, Macedonia,
Greece, Cyprus, Bactria, Kashmir, Gandhara, Hima-layas, Sindh (Gujarat),
v.v…
Sau khi Asoka mất vào năm 227 BC, đế
quốc Maurya bắt đầu tan rã cùng với
cái lý tưởng tâm nguyện của
ông là dharmarajya (thuận trị theo Chánh
Pháp), mặc dù các con của ông
ráng giữ ngôi vị thêm khoảng nửa
thế kỷ nữa. Năm 185 BC, vị vua cuối
của dòng Maurya là Brihadratha, bị tướng
Pusyamitra Sunga truất phế và lập ra triều
đại Sunga (185-78 BC). Vua Pusyamitra Sunga liền thi
hành chính sách ủng hộ Ấn giáo
và tàn hại Phật giáo.
Vì thế, kể từ năm 180 BC, các vua
xứ
Sự hưng thịnh của vương quốc
Vào năm 281 BC, vua Seleukos I bị ám hại,
và sau khi ông chết thì đế quốc
Seleucid cũng bị chia thành 2 xứ:
Vua Antiochos I cử Diodotos làm thái thú ở
xứ
Khi thấy Syria và Parthia mãi lo tiêu diệt
lẫn nhau, Diodotos tự xưng làm vua vào năm
255 BC, đóng đô ở Bactra - nay là Balkh,
tên cũ là Taxila - rồi chiếm luôn xứ
Sogdiana ở phía Bắc. Tuy vậy, vua Antiochus III
của Syria lại xua quân tái lập nền
thống trị lên Bactria.
Mãi đến khi Antiochus III bị quân La
Mã đánh bại thì ở Bactria, Euthydemos
vốn là một đại thần của Diodotos,
lên ngôi năm 227 BC và đẩy lui được
những đợt tấn công của vua Antiochos III.
Năm 205 BC, Euthydemos I đã chống cự
được cuộc vây hãm thành
Về sau, Euthydemos I còn bành trướng
đất đai đến vùng Tiểu Á. Strabo
đã viết “Họ bành trướng
vương quốc xa đến vùng Seres và
Phryni” (Strabo XI.II.I). (Chú thích thêm: có
lẽ Phryni ở đây phải được
viết là
Vua Demetrios I (khoảng năm 200-180 BC), người chinh
phục Ấn. (chân dung trên đồng tiền
cổ). Sau khi Euthydemos I mất năm 200 BC, con là
Demetrios I kế vị và năm 180 BC kéo quân
xâm lăng đất Ấn, sáp nhập thung
lũng
Năm 169 BC, trong khi vua Demetrios II đang hành
quân ở miền Đông Ấn thì
tướng Eucratides I cướp ngôi ở kinh
đô
Vua Menander
lên kế vị, dời đô về Sagala
(Xá-kiệt) và ngưng cuộc vây hãm
Pataliputra. Khi rút quân về lại Sakala, ông
mang theo về cái lý tưởng thuận trị
theo Chánh pháp của Asoka. Nhờ vậy, Phật
pháp lại được tiếp tục truyền
bá mạnh đến cố đô Taxila, rồi
vùng Trung Á và còn xa hơn nữa.
Ông trị vì được 35 năm, nhưng sau
khi ông mất thì vương quốc rộng
lớn của ông bắt đầu bị chia xẻ
thành nhiều tiểu quốc.
Sagala (bây
giờ là Sialkot ở Punjab), kinh đô mới
của nước Bactria, nơi có cuộc
đàm đạo giữa vua Menander và Tỳ-kheo
Nagasena tại chùa Sankheyya, là một vùng
rất phì nhiêu, nằm giữa hai con sông
Chenab và Ravi gần biên giới của Kashmir, mà
trong bộ kinh (Miln. trang 83 – câu 5, chương 7)
đề cập đến là cách
Tổng cộng có cả thảy hơn 30 vị
vua Hy-Ấn trong vùng đã cai trị trong
vòng 2 hay 3 thế kỷ từ năm 323 đến 10
BC. Các triều đại huy hoàng của
Hy-Ấn bị suy tàn kể từ năm 130 BC và
sau rốt bị người Kushan chiếm đoạt. Vua
cuối cùng là Strato II, tại vị từ
năm 40-10 BC.
Những vị vua của vương quốc
* Vương quốc Hy-Bactria:
- Sophytes hay Seleukos (305-294 BC)
- Diodotos I (khoảng 250-230 BC)
-
Diodotos II
-
Euthydemos I; lật
đổ Diodotos (khoảng 230-200 BC)
* Vương quốc Hy-Ấn:
- Demetrios I
(khoảng 200-180 BC) Con của Euthydemos I. Người
đã chinh phục được Ấn.
- Euthydemos II
(190-171 BC) Con của Demetrios I.
- Pantaleon
(190-180 BC) Con của Demetrios I.
- Demetrios II
(175-170 BC).
- Apollodotos I
(khoảng 174-165 BC) Em của Demetrios II, sau bị phản
loạn Eucratides I giết.
- Antimachos I
(171-160 BC):
- Agathokles
(171-160 BC) Con của Demetrios I đồng trị với
Antimachos I.
- Menandros
(khoảng 173-130 BC) Kế vị Apollodotos I.
- Eucratides I
(171-145 BC).
-
EucratidesII(145-140 BC).
- Epander (135 -
130 BC).
- Strato I (125
- 110 BC).
- Zoilos I (130 - 120 BC).
- Lysias (120 - 110 BC).
- Antialcidas
(115 - 95 BC).
- Heliokles II
(110-100 BC): Vị vua sau cùng của vương quốc
- Philoxenus
(khoảng 100-95BC).
- Demetrios III
& Aniketos (khoảng 100 BC).
- Diomedes (95 -
90 BC).
- Amyntas (95 -
90 BC).
- Theophilos
(khoảng 90BC)
- Peukoloas
(khoảng 90BC).
- Nicias
(khoảng 90-85 BC).
- Menander II
& Dikaios (90 - 85 BC).
- Archebios (90
- 80 BC).
- Hermaeus
(khoảng 90-70 BC).- Apollodotus II (80-65BC).
- Hippostratos
(65 - 55 BC).
- Dionysios (65
- 55 BC).
- Artemidoros
(60-40 BC).
- Zoilos II (55
- 35 BC).
- Apollophanes
(35- 25 BC).
- Strato II (40
- 10 BC).
- Hermaeus (10-1
BC) (Có vẻ không thực trị mà chỉ
được truy phong sau khi mất).
Vua Menander hay
Menandros:
Vua Menander (có chỗ khác viết là
Menandros, Minedra hay Menadra; tiếng Pali là Milinda) trị
vì khoảng từ 160 - 135 BC, là vị vua vĩ
đại trong những vua Hy-Ấn, đã cai trị
một vùng rộng lớn ở Tây Bắc
Ấn, được gọi là vương quốc
Bactria thuộc bán lục địa Ấn, chạy
dài hướng Tây Đông từ thung lũng
Kabul đến sông Ravi, hướng Bắc Nam từ
thung lũng Swat (Pakistan ngày nay) đến Arachosia
(thuộc Afghanistan ngày nay) và vịnh Arab.
Menander sinh năm 183 BC ở Alasandra (mà ngày nay
được biết là Alexandria của vùng
Caucasus hay Alexandria trên sông Oxus), vốn là kinh
đô Kapisa của vùng Gandhara cổ đã
bị Alexander đổi tên vào năm 329 BC,
cách 150 km phía Bắc Kabul ngày nay; và theo
bộ kinh Milinda-Panhà thì cách Sagala 200 yojanas,
và lớn lên ở thung lũng Kabul. Có
học giả cho ông là cháu của vua Demetrios
II; khi lớn lên trở thành một bộ
tướng anh dũng của
Menander đã được thần dân
ngưỡng mộ vì tư cách đạo
đức, có tài điều binh khiển
tướng, cách trị quốc công minh, lối
đối xử bình đẳng với các
truyền thống Hy, Phật giáo, Ấn giáo
và Bái Hỏa giáo (Zoroastrianism), làm cho
nước mạnh dân giàu. Ông còn
được mọi người kính trọng xem
như là một vị vua công chính, Dharmaraja.
Khi về già ông lại thường hay chú
trọng đến việc thảo luận về
triết học và thần học. Ông hay tranh
biện với những tư tưởng gia của
nhiều đạo phái khác nhau và
thường làm cho họ sửng sốt về
những hiểu biểt rất thâm sâu của
ông. Trong một cuộc gặp mặt như thế
với Tỳ-kheo Nagasena, vua Menander đã bái
phục và xin quy y theo Phật giáo. Ông
đã cho xây một tăng viện lớn cho
Nagasena tại kinh đô Sagala gọi là Milindavihara.
Sau đó, ông đã nhiệt tâm hổ
trợ Phật giáo.
Phật giáo dưới triều Menander có
một địa vị rất quan trọng. Một
đoạn trong bộ Mahavamsa của Sri-Lanka đã
ghi: “Nhân có lễ đặt đá cho
việc xây Đại tháp tại
(Sanskrit: Mahadharmara-ksita) đã đến từ
Alasandra.” (Mahavamsa - XXIX)
Sử gia La Mã Trogus Pompeius đã đề
cập đến các vua Apollodotus và Menander trong bộ
sử dày cộm của ông. Hai nhà sử
học danh tiếng Hy Lạp là Strabo và Plutarch
cũng viết khá nhiều về công trạng
của vua Menander, đã cho thấy ông không
những nổi danh ở vùng Tiểu Á và
Tây Bắc Ấn mà còn được
đề cao ở thế giới Hy-La về sau. Strabo (XI.
516) cho rằng Menander đã chinh phục nhiều
bộ lạc hơn cả Alexander, khi ông vượt
dãy Hypanis về phía Đông để
đến Isamus. Ông ta còn chiếm xứ Patalene
ở đầu lưu vực sông
Bộ sưu tập cổ vật của Mir Zakah
gồm 521 đồng tiền dưới triều Menander
đã được công bố gần
đây, chứng tỏ triều đại lâu dài
của ông và sự buôn bán thịnh
vượng trong nước. Nhiều đồng tiền
đào xới được trong vùng từ
Theo văn học truyền thống của Phật
giáo thì ông đã nhường ngôi
cho con để lui về ở ẩn trong tăng viện,
nhưng Plutarch đã ghi là ông chết
trên chiến trường trong cuộc viễn chinh
tái chiếm
Tỳ-kheo Na
Tiên (Nagasena): Nagasena, theo tiếng Sanskrit có nghĩa
là “đoàn quân rồng”. Tư
liệu hiện lưu truyền về tiểu sử
của Ngài đã ít lại rất mơ
hồ, lắm khi còn mâu thuẫn nhau nữa.
Có khá nhiều lý do để giải
thích việc này: 1) Có thể vì
truyền thống Phật giáo không coi trọng
bản ngã và danh vọng nên đã
không lưu lại nhiều chi tiết. 2) Đối
với các nhân vật tôn giáo nổi danh
ở vào thời đại của Nagasena, chuyện
thật nhiều khi được thần bí hóa
bởi tín đồ để thành huyền
thoại. 3) Cũng vào thời đại ấy,
sử liệu chỉ được chú trọng vào
các nhà vua, và đã được
lưu truyền nhờ vào những dấu tích
xây dựng lâu dài của họ. 4) Các
dữ kiện nếu có về Nagasena có thể
đã bị tiêu hủy bởi những biến động
chính trị và tôn giáo đối
kháng trong vùng, v.v…
Theo bộ kinh Milinda-panha thì ngài sanh tại
làng Casangala (Kajangala), dưới chân
Hy-mã-lạp-sơn, ở vùng Tây Bắc
Ấn Ðộ, trong một gia đình
Bà-la-môn mà thân phụ tên là
Soñuttara, các sư phụ gồm đại sư
Rohana và Assagutta của Tăng viện Vattaniya,
Dharmarakshita của Tăng viện Asoka Ārāma ở
kinh đô Pātaliputta. Chính đại sư
Dharmarakshita đã từng được đại
đế Asoka phái đi truyền đạo ở
Aparanta phía Tây nước Ấn. Một vị
thầy khác là đại sư Āyupāla
của Tăng viện Sankheyya, gần Sāgala. Khi vua
Menander đến vấn kinh, Ngài đang trụ
trì Tăng viện Sankheyya có đến 80
ngàn Tỳ-kheo lưu trú.
George Woodcock sau khi tìm hiểu hệ thống
truyền thừa của Phật giáo trong vùng
đã cho rằng Nagasena có thể là vị
sư gốc Hy Lạp ở
Cuộc xâm
lấn của dân Scythian và Kushan:
Vào năm 221 BC, Tần Thủy Hoàng thống
nhất Trung Quốc, và đã đuổi
được rợ Hung Nô ra xa bờ cõi.
Rợ Hung
Nô (Xiongnu: Huns), vì thế di dân sang phía
Tây đánh đuổi những bộ tộc
Yuezhi (Nguyệt Chi hay Nhục Chi) sinh sống ở lưu
vực Tarim (Xinjiang và Kansu ngày nay) đến
vùng sông Ili vào khoảng năm 175 BC.
Đến lược họ lại đẩy các
bộ lạc Sakas (mà tiếng Hy Lạp gọi
là Scythians), có nguồn gốc Mông Cổ, di
dân về phía Nam và Tây vào các xứ
Parthia khoảng năm 138-124 BC, rồi năm 130 BC vào
Bactria. Các bộ lạc Yuezhi tiếp tục xâm
lấn vào
Các giống dân mới chịu đồng
hóa với văn hóa Hy Lạp. Ban đầu
dân Scythians sống hòa bình với các
triều đại Ấn-Hy, nhưng đến khoảng
cuối của thế kỷ I BC thì họ xâm
chiếm toàn vùng dưới triều vua Azes II
và chấm dứt các tiểu vương quốc
Ấn-Hy, lập nên vương quốc Indo-Scythian
từ năm 90 BC đến năm 12 BC. Sau khi vua
Indo-Scythian cuối là Aze II mất, vương quốc
Indo-Scythian bị giống Kushans, vốn là một
bộ phận của rợ Yuezhi, chiếm lập nên
đế quốc Kushan (nên sử Tàu hay gọi
lẫn lộn là xứ Khuất Chi hay Nhục Chi) kéo
dài vài thế kỷ, chỉ bị tạm
dứt khoảng một thế kỷ khi bị dân
Parthians xâm lăng từ năm 20 AD đến năm
75 AD, rồi phục hồi trở lại.
Đế quốc Kushan tồn tại từ thế
kỷ thứ I đến thế kỷ III AD, trải
dài từ
Nhưng đến thế kỷ thứ III AD thì
đế quốc Kushan bắt đầu tan rã. Sau khi
vua Vasudeva I chết thì đế quốc Kushan bị
phân làm hai xứ Đông và Tây.
Đến năm 224-240 AD Các triều đại Kushan
bị Shapur I cầm đầu dân Sassanides lật
đổ, rồi lên làm vua. Shapur I cũng
đã đánh bại quân La Mã và
bành trướng rất mạnh trong vùng.
Các triều đại Sassanides cai trị vùng
này từ năm 224 đến năm 651 AD.
Dưới thời Sassanides, Bái Hỏa giáo
lại trở thành quốc giáo, nhưng cũng
rất nương tay với những tôn giáo
khác, nên Phật giáo vẫn có cơ
hội phát triển mạnh. Chính vào
thời kỳ này hai bức tượng Phật
đồ sộ lớn nhất toàn cầu
đứng cao 177 bộ đã được tạc
vào núi đá ở Bamiyan, Afghanistan, mà
gần đây đã bị bọn cuồng
tín Hồi giáo Taliban phá hủy.
Bái Hỏa giáo (mà Tây phương hay
gọi theo Hy ngữ là Zoroastrianism) là tôn
giáo độc thần thờ Ahura Mazda, và trong
nghi lễ xem lửa như là nguồn sáng
tạo tinh khiết, là ánh sáng thánh
thiện đối chọi với dục vọng đen
tối độc ác, do nhà tiên tri Zoroaster
tạo dựng (thực ra tên gốc Iran là
Zarathushtra Spitama), và một thời nó đã
là quốc giáo của đế quốc Persia.
Nhiều học giả cho là Zoroaster sống trong
khoảng năm 628 - 551 BC, và được thiên
khải rồi nổi danh ở
Một điều thú vị khác là
vài chục năm trước đây, Kim Dung,
một nhà viết tiểu thuyết võ hiệp
trứ danh của Đài Loan, trong cuốn “Ỷ
thiên Đồ long ký”, đã đề
cập đến sáu thanh Thánh hỏa lệnh
của Bái Hỏa giáo Ba Tư, và
Trương Vô Kỵ trở thành giáo chủ
Minh giáo tức Bái Hỏa giáo Trung Quốc.
Thực ra Minh giáo (Manichaeism), có giáo
thuyết gần giống Bái Hỏa giáo xuất
hiện nhiều thế kỷ sau, do Mani (khoảng năm
216-76 BC) ở Babylonia sáng lập, nhưng lại
bị giết bởi giới tăng lữ đạo
Zoroastrianism vì ra mặt đối kháng. Lúc
còn thanh niên, ông đã từng đến
Taxila học đạo và chịu ảnh hưởng
Phật giáo. Trong vài trăm năm Minh giáo
đã đối đầu với Ki-tô giáo
trong vùng Trung Đông.
Đến thế kỷ thứ V thì đế
quốc Sassanides bị tan rã bởi sự xâm
lăng khác của rợ Hung nô mới và sau
đó là sự lớn mạnh của đế
quốc Gupta ở Ấn theo Ấn giáo, rồi đến
lượt các thế lực Hồi giáo. Theo
đó, Phật giáo cũng bị tàn lụi
dần.
Hoàng
Đế Kanishka I:
Là một ông vua qui y theo Phật giáo,
và nhiệt tâm chẳng kém các vị
hoàng đế khác như Asoka, Menander I, và
Harshavardhana (606-47 AD).
Hoàng đế Kanishka I (100-164 AD) kế vị vua
Vima Kadphises, đóng đô ở Purushapura (
Cũng giống như Asoka, hoàng đế Kanishka I
xây dựng rất nhiều đền đài,
ví dụ như đại tháp Peshawar thờ
xá lợi Phật được cất bằng
gỗ cao 400 bộ, khu Sirsukh ở Taxila, thành ở
Kashmir v.v… nay vẫn còn dấu tích. Vua Kanishka
đã tổ chức kết tập kinh điển
ở Jālandhar Kashmīrthat,
Cũng trong thời kỳ huy hoàng này, có
sự xuất hiện của những đại luận
gia Phật giáo như Nagarjuna, Asvaghosha and Vasumitra.
Charaka, được xem như cha đẻ của
nền y học của Ấn khởi sự là
ngự y trong triều Kanishka.
Phật giáo Hy Lạp (Graeco-Buddhism) hay sự giao
hòa giữa Phật giáo và văn hóa Hy
Lạp: Có thể nói các vương quốc
Sự giao hòa mọi mặt, nhất là văn
hóa giữa Hy và Phật giáo đang hưng
thịnh trong vùng kéo dài nhiều thế
kỷ đã lưu lại một sắc thái
đặc thù cho nền văn hóa mới ở
vùng này, sử hay gọi là Phật giáo
Hy Lạp, kéo dài gần 8 thế kỷ (từ
thế kỷ IV BC đến thế kỷ V AD), mà
ảnh hưởng vẫn còn kéo dài cho
đến ngày nay. Đơn cử một vài
thành tựu:
1. Kiến trúc Hy
Lạp. Nhiều thành phố lớn trong vùng
như Taxila, Ai-Khanoum, Uddi-yana, Sindh v.v… mang thêm
những đặc điểm của nền văn minh Hy
Lạp qua các cấu trúc như rạp hát,
đấu trường và hàng cột đá
ở những dinh thự v.v...
2. Kiến thức về
khoa học, thiên văn, y học và triết
học của Hy Lạp hòa nhập với văn
hóa bản xứ và đạo Phật, đã
tạo nên một nền văn hóa mới và
phát triển rực rỡ vài thế kỷ
từ vùng Gandhara, mãi đến sau khi các
vương quốc Hy-Ấn biến mất đã
lâu. Taxila đã trở thành một trung
tâm học vấn quốc tế nổi danh.
3. Kỷ thuật tiến
bộ trong việc đúc tiền bằng kim loại:
Các nhà vua của vương quốc Bactria
khoảng đầu thế kỷ 2 BC, như Euthydemos II,
Agathokles và Pantaleon đã cho đúc những
đồng tiền gồm đồng và bạc,
rồi đặc biệt kẽm mạ kền (nickel)
được xem như là lần đầu của
nhân loại. Người ta cho là nickel đã
được du nhập từ Trung Quốc hoặc
từ những thiên thể (meteorites) rơi xuống
đất. Kỹ thuật sản xuất đồng
nickel này bỗng biến mất cho mãi đến
thế kỷ 19 AD mới được tái dụng.
Điều đáng nói là tỷ lệ
hợp kim này, 25% nickel 75% đồng, ngày nay
lại được dùng trong đồng xu của
Mỹ. Hình tượng đức Phật đã
được khắc lên trên những
đồng tiền này lần đầu.
4. Nghệ thuật
điêu khắc tả chân thật tân kỳ:
Các đồng tiền vàng và bạc mang
chân dung của các vị vua Hy-Ấn được
điêu khắc rất sống động còn
tỉ mỉ hơn xa những tác phẩm đồng
thời của những vương quốc phương
Tây.
5. Riêng đối
với Phật giáo thì trước thời
kỳ này, vâng theo lời dạy của
đức Phật trong kinh Digha Nikaya (Trường Bộ
kinh), không muốn đồ đệ lưu luyến
qua ảnh tượng thế gian vốn sinh diệt
của Ngài nên hậu thế thường
tượng trưng đức Phật bằng hình
ảnh của một ngai vàng bỏ trống, cây
Bồ-đề hoặc bánh xe pháp chứ
không tạo theo hình dáng con người,
bởi cho như thế là phạm thượng.
Đến khi Phật giáo được thấm
nhuần ở Bactria thì tượng đức
Phật lịch sử mới được tạc
bằng đá hay trên đồng tiền lần
đầu theo truyền thống Hy Lạp với thế
đứng và áo choàng dài phủ hai vai
để tôn thờ, chẳng hạn như tượng
đức Phật đứng ở Gandhara vào thế
kỷ I, II AD.
Và những hình tượng đức
Phật chịu ảnh hưởng Hy Lạp vào giai
đoạn ấy đã diễn tả
được nét mặt thanh tịnh và tâm
cảnh giác ngộ giải thoát của Ngài,
một đấng giác ngộ rất gần gũi
với người thường, nên có sức thu
hút tín đồ mãnh liệt hơn, và
được phổ biến rộng rãi hơn.
Vài hình tượng Bồ-tát Phật
giáo có thể đã chịu ảnh
hưởng Hy Lạp; ví dụ thần Heracles (hay
Hercules) với áo da sư tử đã
được làm mẫu cho thần Thủ kim
cương (Vajrapani), một vị hộ pháp; mà
về sau ở Trung Quốc và Nhật đã
biến thành các hộ thần đứng
trấn ở các cổng chùa.
Phật giáo Hy Lạp và sự hưng
thịnh của phái Đại thừa: Không
ít thì nhiều, chính sự chung sống
khắng khít lâu dài giữa hai nền văn
hóa Phật giáo và Hy Lạp trong vùng
đã ảnh hưởng lên hệ thống
triết học của nhau. Phật giáo lên
trên nền triết học của Hy Lạp; và Hy
Lạp lên trên sự manh nha của học
phái Đại thừa, trước cả giai
đoạn ảnh hưởng của Trung Á hoặc
Đông Bắc Á.
Theo nhiều học giả, những bản kinh
Đại thừa chủ yếu đã
được sáng tập khoảng năm 100 BC, khi
có sự khác biệt trong sự luận giải
lời dạy của đức Phật giữa phái
thủ cựu (Thượng tọa bộ) và
phái canh tân (Đại thừa), và nhất là
sự tranh luận về ứng thân (humanity) hay
pháp thân (superhumanity) của đức Phật
và về A-tì-đạt-ma tạng (metaphysical
essentialism) (McEvilly, “The shape of ancient thought”).
Phái Đại thừa bao dung và chấp nhận
những ý niệm tiến bộ hơn ngoài
những kinh bộ truyền thống Nikaya, vượt xa
hơn ý niệm về giác ngộ giải
thoát cá nhân của Thượng tọa
bộ, để thờ phượng đức Phật
gần như nhân thần linh thiêng (man-god status),
tương tự như quan niệm thần linh hóa
nhà vua (god-king) của Hy Lạp, và sự xuất
hiện một loạt các chư Thánh
Bồ-tát muốn cứu độ chúng sinh
(pantheon of deities - bodhisattva).
Theo Katsumi Tanabe, giáo sư tại Chuo University,
Nhật, trong cuốn “Alexander the Great.East-West cultural
contact from Greece to Japan” thì ảnh hưởng Hy
Lạp trong Phật giáo còn được
truyền sang Nhật Bản và lưu nhiều dấu
tích, ví dụ thần gió Fujin là gợi
ý từ thần Boreas, hay thần mẹ Hariti hoặc
Kishibojin từ thần Tyche.
Đến triều Kanishka I thì phái Đại
thừa càng được khởi sắc thêm.
Tiếng Pali được dùng trong văn học thay
thế tiếng Sankrit và đặc điểm
nổi bậc nhất là sự trưởng
thành tột đỉnh của nghệ thuật
Gandhara. Nghệ nhân vùng này đã
khéo léo trộn lẫn hai truyền thống
Ấn và Hy Lạp trong các tác phẩm
một cách hài hòa. Rõ rệt nhất
là các tượng Phật và chư
Bồ-tát mà hiện nay vẫn còn tồn
tại. Foltz trong cuốn “Religions on the
Nhiều tượng Phật tạc theo nghệ thuật
Gandhara còn mang vẻ thần mặt trời Apollo.
BenADey trong cuốn “Old World Encounters” cho rằng
có thể triết lý khắc kỷ (stoicism)
của Hy Lạp đã có chút ảnh
hưởng đến sự nhìn nhận khả
năng bình đẳng giác ngộ của mỗi
cá nhân (ai cũng có Phật tính).
Đáng tiếc là sự tương sinh này
đã chấm dứt vào khoảng thế kỷ
V AD, khi vùng Bắc Ấn bị rợ Hung xâm
lấn, và kế tiếp là sự phục
hồi của Ấn giáo và sau cùng là
sự bành trướng của Hồi giáo
làm cho ảnh hưởng Hy vào Phật giáo
đã phai tàn nhường chỗ cho ảnh
hưởng của Trung Hoa về sau.
Ảnh
hưởng đến các tôn giáo khác
ở phương Tây:
Xa hơn nữa, sự giao thoa Phật giáo - Hy
Lạp cũng đã gây ảnh hưởng
đến sự hình thành của nhiều
tôn giáo khác trong vùng Địa Trung
Hải, đặc biệt là Ki-tô giáo.
BenADey, trong sách dẫn thượng đã
khẳng định rằng khái niệm luân
lý của Phật giáo vào thời đại
của Menander, dựa vào lý tưởng thuận
trị theo Chánh Pháp của Asoka được
truyền qua phương Tây đã ảnh
hưởng đến giáo lý của Ki-tô
xuất hiện khoảng 2 thế kỷ sau, như ý
niệm về hiếu sinh, bình đẳng,
thương xót kẻ yếu đuối, tránh
bạo lực, biết dung hòa và tha thứ
v.v…
Những thành phố Hy Lạp quan trọng ở
vùng Trung Đông như Antioch và đặc
biệt là Alexandria, về sau đã trở
thành những trung tâm phát triển Ki-tô
giáo và đóng vai trò không nhỏ
trong sự kết tập giáo lý của Ki-tô
giáo.
Ảnh hưởng của Phật giáo còn
được thấy phảng phất trong vài
phần khác của thánh kinh Ki-tô, ví
dụ sự thiên ứng về sự ra đời
của Phật và Jesus, sự báo trước
của các nhà tiên tri Asita và Simeon về
đứa bé sơ sinh sẽ là đấng
cứu thế; Phật bước trên hoa sen, Jesus
đi trên nước; việc chữa lành cho
người bệnh, việc nhịn đói nhiều
tuần trước khi thành đạo; sự cám
dỗ của Mara và Satan; ý niệm về Tam
bảo và Ba ngôi, đời sống độc
thân trong tu viện, v.v… (Sedlar 281).
Trong cuốn
“Intertextuality, Buddhism, and the Infancy Gospels,” Zacharias P.
Thundy khẳng định không phải là do sự
trùng hợp mà cho rằng văn hóa và
văn học Phật giáo và Ấn đã
cung cấp nhiều yếu tố trong văn chương
thánh kinh Ki-tô (Thundy 18). Thời kỳ ấy,
tín đồ Phật giáo đã từng sinh
sống ở
Trong Cựu Ước kinh, phần Thánh Vịnh,
bộ “Các sách giáo huấn”,
đặc biệt là quyển thứ 4
“Ecclesiastes” (Truyền Đạo, có
người dịch là Giảng Viên), vốn
được biên soạn ở thế kỷ III BC,
nhưng lại ngụ ý là do vua Salomon của
Do-Thái. Tác giả vô danh suy ngẫm về
ý nghĩa cuộc sống và cho rằng tất
cả đều là phù vân, sau khi đã
quan sát về vòng sinh tử, luân hồi
của đời sống. Ngay trong câu mở
đầu của cuốn sách Qohelet (Thầy
giảng) phán: “Hư không, tất cả
đều là hư không” (emptiness,everything is
emptiness). Ý này còn được nhắc
đi nhắc lại nhiều lần trong cuốn kinh.
Ông vốn có đủ quyền lực và
khả năng để thử nghiệm đời
sống một cách tận cùng về trí
thức, rồi các thú vui vật chất,
tình tiền, nhưng rồi cũng thất vọng
và đau khổ vì cái giới hạn
của cuộc sống. Rốt lại ông cho rằng
chỉ có cuộc sống tâm linh thánh
thiện mới là nguồn an lạc lâu dài.
Năm 1894, nhà thần học E. J. Dillon vốn
thấy nó rõ ràng là đã chịu
ảnh hưởng của Phật giáo, nên
muốn loại cuốn này ra khỏi thánh kinh
Ki-tô (Dillon 153-76).
Cũng trong giai đoạn này, triết gia Pyrrhon
đã tháp tùng đại đế Alexander
vào vùng Tây Bắc Ấn và khi trở
về Hy Lạp đã lập nên trường
phái Cynic, sau khi chịu ảnh hưởng của
Kỳ Na giáo và Phật giáo. Hiển
nhiên sự bành trướng của trường
phái này trong thế giới Hy Lạp đã
có ít nhiều ảnh hưởng đến
cuốn Ecclesiastes.
Bộ kinh
Milinda Vấn Đạo:
Người ta tin rằng bộ kinh Milindapanha
đã được khẩu tập không lâu
sau khi vua Menander băng hà. Thời gian ấy các
người kế vị là hoàng hậu Agathocleia
rồi vua Strato I Soter ở ngôi khoảng 40 năm
nữa trước khi xứ Bactria bị chia ra nhiều
tiểu vương quốc. Nội dung kể lại
những câu hỏi và đáp giữa vua
Milinda và Tỳ-kheo Nàgasena. Sau đó bộ kinh
này đã được kết tập ở
vùng Bắc Ấn khoảng giữa thế kỷ I.
V. Trenckner cho rằng nguyên bản được
viết bằng chữ Sanskrit, vì khi ông dịch
bản Pali vào những năm 1860 nhận xét
thấy bộ kinh được bắt đầu
bằng dòng “Tam yathà nusuyatà”
(được truyền lại như sau), chứ
không theo lối kinh gốc Pali thông thường
được khởi đầu bằng “Evam me
sutam” (tôi nghe như vầy). Điều ngạc
nhiên nữa là câu mở đầu này
cũng đã được dịch ra trong bản
chữ Hán, như thế rõ ràng hai bản
dịch đều bắt nguồn từ nguyên bản
chữ Sanskrit. Các dịch giả Sylvain Levy và
Specht cũng khẳng định là các bản
dịch ra Hán văn của bộ Milinda-panha có
nguồn gốc không từ bản Pali, mà có
thể từ bản kinh cổ hơn.
Nhiều học giả như W. W. Tarn, George Woodcock,
và Rabindra Nath Basu đã gợi ý rằng
có một bản (có thể là gốc)
viết bằng Hy ngữ của Milinda-panha với tựa
đề là “the Letter of Pseudo–Aristeas”
đã xuất hiện ở Alexandria trong vòng 50 năm
sau khi vua Menander từ trần. Điều này
đã hỗ trợ cho thuyết bảo rằng
bộ kinh đã được khẩu tập
dưới thời Menander (Basu 3; Woodcock 113).
Đến nay người ta vẫn không rõ ai
là tác giả bộ kinh này, nhưng xem ra
phải là người đã từng sống
ở vùng Tây Bắc Ấn xa xôi hay vùng
Punjab, bởi vì Ngài đã không hề
nhắc nhở đến những thành phố
nổi danh thời bấy giờ ở nội địa
Ấn phía Nam sông Hằng. Có học giả,
như Tỳ-kheo Pesala sau khi nghiên cứu bộ kinh
Milinda-panha, rất ngạc nhiên với sự hiểu
biết thâm thúy về Phật giáo của vua
Menander đã cho rằng có thể tác giả
ẩn danh vốn là một đại sư, khi
thuật lại cuộc gặp mặt của hai nhân
vật lịch sử trong kinh đã điểm
xuyết thêm vào sự liễu ngộ Phật
pháp của mình để kéo dài câu
chuyện và làm đẹp ý nhà vua,
đồng thời làm sáng rõ giáo
pháp của đạo Phật và bác bỏ
những ngộ nhận từ các giáo phái
khác chống Phật giáo.
Bộ kinh thường được truyền
tụng ở Tây phương đến nay là
bản Pali, và đây cũng là bộ kinh
khởi thủy thuộc hệ
Theo bản Hán dịch hiện lưu hành
thì cho rằng soạn giả là Bồ-tát
Long Thọ (Nagarjuna), vị đại luận sư
của phái Ðại thừa, xuất hiện
khoảng đầu của thiên niên kỷ AD.
Có ba bản dịch ra Hán văn lần
lượt xuất hiện vào các thế kỷ
III, IV, và V. Bản hiện lưu hành là
bản thứ nhì, dịch trong khoảng từ năm
317 đến năm 420, nhan đề là “Na
Tiên Tỳ-kheo kinh”, có lẽ từ bản
Pràkrit.
Vào thế kỷ thứ V, đại luận
sư Phật Âm (Buddhaghosa) cũng thường
trích dẫn kinh nầy để dùng làm
luận cứ chứng minh cho các tác phẩm
của Ngài. Ngài Thế Thân (Vasubandhu) cũng
nhắc đến kinh Milindaphanhà trong khi soạn
bộ luận trứ danh là bộ
A-tỳ-đạt-ma Câu-xá-luận (Abhi-dharmakosa).
Trong bộ Mahavamsa của Tích Lan, vốn do
Mahànàma viết vào đầu thế kỷ
thứ VI AD, nhắc đến tiểu sử của
Moggaliputta Tissa, đã sống khoảng một trăm
năm trước Nagasena, nhưng lại giống với
câu chuyện về Nagasena được đề
cập đến hai lần trong bộ kinh (Miln. pp 3-71).
Như thế rõ ràng là Mahànàma
đã mượn ý từ bộ kinh Milinda-panha,
vì lúc bấy giờ bộ Milinda-panha đã
là thánh điển được Buddhaghosa
(Phật Âm) sao lục. Trong cuốn Milinda Tika, luận
về bộ Milinda Panha, cho biết là đoạn
mở đầu và đoạn kết của bộ
kinh là do Buddhaghosa viết.
Trong phần
giới thiệu của bộ kinh, có đoạn
nói rằng vua Menander đã từng đàm
đạo với Purana Kassapa, Makkhali Gosala và những
vị đạo sư khổ hạnh khác thì
được xem như là hư cấu, bởi
chư vị này sống đồng thời với
đức Phật Thích-ca. Câu chuyện có
lẽ mượn từ cuốn Sàmana Phala Sutta
của bộ Digha Nikàya.
Ngày nay, bộ kinh này, cũng như tam
tạng kinh điển Phật giáo, đều
đã được dịch ra rất nhiều
ngôn ngữ khác. Ở châu Âu, bộ kinh
Milinda Panha đã được nhiều học
giả dịch ra và nghiên cứu lần
đầu vào thế kỷ XIX; đơn cử: 1) V.
Trenckner, Milinda-panho (
Phần đối thoại phản ảnh giáo
pháp Kinh bộ Nikaya như bàn về vô
ngã, luân hồi, tái sanh của danh sắc,
trạng thái của La-hán, bản thể của
Niết-bàn, sự xuất thế của Phật,
tính cách vô thượng của Phật v.v...
Trong cuộc đối thoại này, có một
điều làm cho vua Menander hài lòng nhất
là câu giải đáp của ngài
Nàgasena về sự lợi ích của đời
sống tu hành mà từ trước nhà vua
chưa được nghe, đó là
“người xuất gia chắc chắn đạt
được thánh thiện, và đạt
được mau chóng hơn kẻ tại gia”.
Đặc
điểm của Bộ Kinh:
Đặc điểm của nó là
được xem như một cuộc giao thoa
Âu-Á đầu tiên, một cuộc học
đạo giữa một người Tây phương
(vua Menander) với văn hóa Hy lạp muốn học
hỏi giáo pháp uyên áo của đạo
Phật ở Đông phương qua sự giải
đáp của một vị Tăng (Tỳ-kheo
Nàgasena) ở thung lũng sông Indus. Qua đó,
Phật pháp đã được trình
bày một cách đầy thuyết phục
và dễ nhớ.
Vốn dòng dõi Hy Lạp, vua Menander đã
hỏi khá nhiều câu hỏi mà người
Tây phương thường thắc mắc về
những đề tài rất cấp thiết,
đại loại như “Nếu không có linh
hồn thì cái gì sẽ tái sanh?”
hoặc “Nếu không có cái ta thì ai
đang chuyện trò với Ngài?”, cho nên
bộ kinh Milindapanha rất gần gũi với
người Tây phương muốn tìm hiểu
về Phật giáo. Thực ra lối đàm
thoại này đã từng được
đức Phật sử dụng trong kinh Tăng Chi Bộ
(Anguttara Nikàya); Bài giảng cho người
Kàlàmà (Phẩm 5-7; đoạn 65).
Mọi câu hỏi được đặt ra từ
một kẻ ngạo mạn đầy uy quyền với
óc đa nghi, sắc bén đều đã
được giải đáp hòa nhã,
thỏa đáng kèm với nhiều tỉ dụ
cụ thể và giản dị bởi một vị
thánh tăng. Cũng vì thế mà vua Menander
liễu ngộ Phật pháp và qui y rồi ủng
hộ Phật giáo mạnh mẽ dưới triều
ông.
Văn phong trong bộ Milinda-panha hao hao lối
đối thoại của Socrates (470-399 BC), Plato (428-347 BC;
học trò của Socrates và thầy của
Aristotle). T.W. Rhys Davids, một nhà ngữ học Pali
đã cho đó là một kiệt tác
văn chương cổ của Phật giáo và
cũng của nền văn học Ấn.
Bộ kinh cũng cho thấy ẩn chứa những
điểm tế nhị ảo diệu manh nha của
tư tưởng Đại thừa. Có lẽ
chính vì đặc điểm này mà
ngài Long Thọ (xuất hiện hơn 2 thế kỷ
sau) cũng trước soạn lại bộ kinh Na
Tiên để mở màn cho giáo lý Trung
quán xuất hiện. Xét ở khía cạnh
này, có thể xem tư tưởng Nàgasena
là tư tưởng chuyển tiếp giữa
Tiểu thừa và Ðại thừa. Vì thế
địa vị của bộ kinh trong tam tạng kinh
điển không kém phần quan trọng.
Vài điểm khác biệt giữa hai bản
dịch Pali và Hán văn:Đại khái
chúng ta có thể nêu vài điểm
khác biệt như sau:
1.Bản
Hán văn lấy tên Tỳ-kheo làm tựa
đề là Nàgasena-bhikshusutra (Na Tiên
Tỳ-kheo kinh) chia làm 3 phần. Bản Pali lại
tên vua làm đề là Milinda-Panha (Milinda
Vấn Kinh), phân làm 7 quyển.
2. Nội dung
của một phần quyển I, trọn quyển II,
và quyển III của hai bản giống hệt nhau.
Nhiều học giả cho rằng bốn quyển còn
lại, từ quyển IV đến quyển VII, là do
phái Thượng tọa bộ
3. Bản Pali
có dư trội 12 câu hỏi. Đây là
do sự sắp xếp khác nhau của những
lần biên tập về sau, nên có sự
khác biệt. Bản Pali: có 6 quyển, 22
chương gồm 262 câu hỏi, mà nay chỉ
còn 237 câu hỏi. Bản Hán văn có 250
câu hỏi.
4. Giữa hai
bản, chuyện tiền thân của Nàgasena
và Milinda không giống nhau.
5. Trong bản
Hán văn không thấy đề cập đến
Abhidhamma (A-tì-đạt-ma: Thắng Pháp), vốn
thường được nhắc đến trong
bản Pali.
6. Trong phần
sắp xếp Bodhipakkhiya Dhammas (Bồ-đề phần),
người dịch ra Hán văn xem ra không quen
với bản Pali.
7. Bản Pali
nói rằng súc vật có suy tính nhưng
thiếu khôn ngoan, bản Hán văn thì
bảo súc sinh có khôn ngoan nhưng cái
tâm thì khác nhau.
Lời Kết:
Nhân tìm hiểu lịch sử của giai
đoạn quanh thời kỳ xuất hiện bộ kinh
Milindapañha, chúng ta thấy đã có
nhiều chứng cớ để kết luận rằng:
cuộc đàm đạo giữa vua Menander (hay Milinda,
Di-lan-đà) và Tỳ-kheo Nàgasena (hay Na
Tiên) là một sự kiện lịch sử,
đã từng xảy ra ở Tăng viện Sankheyya,
thuộc kinh đô Sagala của nước Bactria
vào khoảng giữa thế kỷ thứ II BC.
Sử liệu cũng cho thấy vùng Tây
Bắc Ấn sau khi bị người Hy Lạp xâm
chiếm đã có một thời thấm
nhuần Phật giáo được truyền từ
lưu vực sông Hằng. Có thể bảo
đấy là thành quả sớm nhất của
các cuộc truyền pháp của Phật giáo
sang phương Tây, còn trước cả
phương Đông. Sự giao hòa giữa hai
nền văn hóa và triết học của
Phật giáo và Hy Lạp trong vùng đã
tạo nên một sắc thái đặc thù
của đất thánh Gandhara, nơi phát xuất
và đóng góp ý niệm Đại
thừa vào Phật giáo về sau.