NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO
HÀ NỘI - PL. 2547 - DL. 2003
Mấy điểm trọng yếu
người niệm Phật nên biết
Tác giả: Tâm Ngộ
Người dịch: Thích Nguyên Anh
Source: Quảng Đức.com
Này chư đạo hữu: Tôi thường nghe Hòa thượng Tinh Vân nói, Phật tử ở đây rất tín ngưỡng Phật giáo và nghe giảng Phật pháp rất nhiệt thành, khác hẳn với những Phật tử ở những nơi khác, vì cảm thấy rất hiếm có và vô cùng vui sướng! Cho nên lần này chúng tôi có chủ ý cùng các vị pháp sư đến đây tham quan cho biết.
Tối nay được Hòa thượng Tinh Vân giới thiệu diện kiến cùng quý vị, đồng thời nói một ít Phật pháp, tôi cảm thấy rất vinh hạnh!
Lý
luận Phật giáo rất tinh mật thâm
áo, pháp môn tu hành cũng rất
nhiều, nhưng vì quý vị thường
là niệm Phật, đồng thời ở
đây là hội niệm Phật, cho nên
hôm nay tôi không nói những lý luận
và pháp môn khác, chỉ nói chuyện
cùng quý vị với đề tài
“MẤY ÐIỂM TRỌNG YẾU MÀ
NGƯỜI NIỆM PHẬT NÊN BIẾT”, tôi
nghĩ quý vị nhất định sẽ muốn
biết vấn đề này.
I. SỰ THÙ THẮNG CỦA PHÁP MÔN NIỆM PHẬT
Phật giáo có rất
nhiều pháp môn tu hành, tham thiền, tu
quán, rồi trì chú v.v... nhưng trong
những pháp môn này, muốn tìm một
pháp môn thù thắng nhất và dễ
thực hành nhất thì chỉ có pháp
môn niệm Phật mà thôi.
Tại sao nói pháp môn niệm Phật
là pháp môn thù thắng nhất và
dễ thực hành nhất? Ðây, chúng ta
sẽ có hai lý do để chứng minh.
1.- Niệm Phật là con đường dễ
đi
Trong Phật giáo pháp môn tu hành tuy
rất nhiều, nhưng tổng quát lại chỉ
có hai con đường: con đường dễ
đi và con đường khó đi. Nói
là đường, chính là phương
pháp tu hành, bởi vì phương pháp
này có thể làm cho người ta giải
thoát khỏi phiền não trói buộc và
đau đớn bức bách mà đạt
đến cảnh giới an vui tự do, giống như
nhờ con đường mà mọi người
đi được từ chỗ này đến chỗ
kia vậy, cho nên gọi là con đường.
Gọi là con đường dễ đi và con
đường khó đi, chính là
phương pháp dễ hành và phương
pháp khó hành. Con đường khó
đi như tham thiền và tu quán đã
nói ở trên, con đường dễ đi
là niệm Phật. Bởi vì tham thiền và
tu quán là hoàn toàn dựa vào sức
mạnh của tự lực, mà sức mạnh
tự lực của chính mình thì còn
rất yếu, nếu muốn lấy sức mạnh
yếu kém của mình để giải
thoát những sự trói buộc của phiền
não và rất nhiều sự bức bách
đau đớn của thế gian thô trọng,
vậy thì khó lắm! Khó lắm! Cho nên
những pháp môn dựa vào sức tự
lực gọi là con đường khó đi.
Pháp môn niệm Phật là pháp môn
dựa vào tha lực, tha lực chính là
Phật lực, Phật lực thì bất khả
tư nghì, chúng ta nếu dựa vào Phật
lực để cầu giải thoát thì dễ
hơn. Ví như chúng ta muốn đến
một nơi rất xa, nếu đi bộ thì
cực mà lại lâu tới nơi; nếu đi
thuyền hoặc máy bay thì khỏe lại nhanh
đến. Cầu giải thoát bằng pháp
môn niệm Phật thì như đi thuyền hay máy
bay vậy, có thể thu được hiệu
quả gấp bội lần. Cho nên pháp môn
niệm Phật gọi là con đường dễ
đi.
Bây giờ, lấy sự thật dưới
đây để làm ví dụ chứng minh.
Ngày xưa có một người thợ
rèn họ Hoàng, mọi người quen gọi
ông ta là Hoàng thợ rèn. Vì cuộc
sống, Hoàng thợ rèn phải vất vả
từ sáng sớm đến tối mịt, vì
thế ông chán ngán thân người,
làm người khổ, chẳng có ý vị
gì.
Một hôm nọ, có một người xuất
gia đi ngang qua lò rèn ông ta, Hoàng
thấy như bắt gặp được vị cứu
tinh, vội vàng bỏ búa xuống chạy ra
mời vào.
- “Thưa sư phụ! Con vì ba bữa cơm
mà cực khổ quá, cả ngày đứng
bên lò lửa, thật là chịu hết
thấu! Xin sư phụ từ bi, dạy con một
phương pháp giải thoát khổ đau!”
Hoàng thợ rèn thỉnh cầu một cách
khẩn thiết.
Nhưng vị tăng nhân không dạy ông ta
phương pháp giải thoát khổ đau
nào, chỉ bảo ông ta niệm Phật. Ngài
nói:
- “Ông muốn tôi dạy cho phương
pháp giải thoát
khổ đau, dễ thôi, chỉ cần niệm
Phật là được. Chẳng phải
ông cả ngày đứng bên lò lửa
đập sắt sao? Thế này nhé, lúc
đạâp sắt, giơ búa lên ông
niệm một câu “A Di Ðà Phật”,
nện búa xuống lại
niệm một câu “A Di Ðà Phật”,
hôm nay trở đi ông cứ làm
không ngừng như vậy cho tôi, chắc chắn
nỗi thống khổ của ông sẽ
được giải thoát.”
Hoàng thợ rèn nghe xong vui mừng khôn
xiết, y giáo phụng hành ngay. Ông vừa
đập sắt vừa niệm Phật không
ngừng nghỉ, cả ngày đều như vậy.
Mọi người thấy thế đều bảo
ông ta ngu ngốc, đập sắt cả ngày
đã mệt lắm rồi, nay lại thêm
niệm Phật nữa, làm gì thế cho thêm
cực, bèn khuyên:
- “Ông đập sắt chẳng phải
là đã quá cực rồi
sao? Sao lại phải niệm Phật để cho cực
thêm? Thấy sức khỏe của ông,
tôi nghĩ hay là ông đừng niệm
Phật nữa.”
Hoàng thợ rèn cười nói:
“Các ông không biết thần diệu
của niệm Phật, các ông biết không,
lúc chưa biết niệm Phật, làm việc
tôi luôn cảm thấy quá nhọc nhằn, nhưng
sau khi niệm Phật, thì tôi không thấy
mệt nhọc nữa, ngược lại còn cảm
thấy sung sướng!”
Vậy thì vì lý do gì? Bởi vì Hoàng thợ rèn lúc chưa biết niệm Phật, khi đập sắt ông ta luôn nghĩ đến đập sắt, cho nên mới thấy mệt. Hôm nay biết niệm Phật rồi, tuy vẫn làm công việc cũ, nhưng tận cùng đáy lòng ông luôn nghĩ đến Phật, đặt hết niềm hy vọng trên cõi Tây phương, vì thế tinh thần vô cùng phấn khởi, cho nên quên hết nhọc nhằn.
Sau này Hoàng thợ rèn vãng sinh bên lò lửa! Khi lâm chung ông ta nói kệ rằng: “Bon bon beng beng, luyện lâu thành thép, bình yên đã tới, tôi về Tây phương.” Nói xong nhắm mắt thị tịch.
2.- Pháp môn niệm Phật phổ biến cho cả ba căn
Trong Phật pháp nói chúng sinh có ba loại căn cơ: Thượng căn, trung căn và hạ căn. Pháp môn tham thiền, tu quán dựa vào tự lực, chỉ thích hợp cho bậc thượng căn và trung căn, bậc hạ căn thì không cách gì tu trì được; chỉ có pháp môn niệm Phật mới là pháp môn phổ thông cho tất cả, thượng căn tu được, trung căn cũng tu được, hạ căn cũng được, tất cả đều tu được hết. Bậc thượng căn như Bồ tát Ðại Thế Chí mà cũng chứng Viên giác từ pháp môn niệm Phật; những bậc trung căn như rất nhiều đại đức niệm Phật xưa nay; hạng hạ căn là những người tầm thường, cho đến những kẻ đại ngu tối đều có thể niệm Phật vãng sinh, như Hoàng thợ rèn đã nói trên đây là một ví dụ. Do đó, nên nói pháp môn niệm Phật là pháp môn thù thắng nhất. Ðây là điểm thứ nhất mà người niệm Phật nên biết.
II. NHÂN DUYÊN CỦA PHẬT A DI ÐÀ VỚI THẾ GIỚI TA BÀ
Ðây là điểm thứ
hai mà người niệm Phật nên biết.
Bởi vì danh hiệu Phật mà chúng ta
niệm hiện nay là danh hiệu Phật A Di
Ðà, cho nên cần phải biết nhân
duyên tất yếu của Phật A Di Ðà
với thế giới Ta bà, nhân duyên này
có thể chứng minh bằng hai điểm sau:
1.- Ðức Phật A Di Ðà
vì sự đau khổ của chúng sinh mà
phát nguyện thành tựu thế giới
Cực lạc
Mục đích
mà chúng ta niệm Phật A Di Ðà là muốn vãng sinh thế giới Cực lạc,
mà thế giới Cực
lạc thành tựu là do đại nguyện
của Phật A Di Ðà. Phật A Di Ðà
vì sao phải phát nguyện thành tựu thế giới Cực lạc?
Vì Phật A Di Ðà lúc chưa
thành Phật, thấy chúng sinh trong cõi Ta
bà ngày đêm
bị bức bách đủ mọi sự thống
khổ, như đau
khổ vì bệnh tật, vất vả vì
phải làm ăn, cho đến những đau
khổ vì cuộc sống thiếu thốn; rồi đau khổ vì sự tranh
chấp, đau khổ vì nạn nước cuốn trôi, lửa thiêu
đốt... Vì thế, Ngài bèn phát
48 đại nguyện để
thành tựu thế giới Cực lạc, cho
những ai muốn lìa khổ đắc lạc,
chỉ cần nhất tâm niệm danh hiệu Ngài, phát nguyện vãng
sinh thế giới Cực lạc của Ngài,
Ngài sẽ lập tức tiếp dẫn họ
vãng sinh thế giới Cực lạc. Ðây
giống như ngài Tôn Trung Sơn, vì thấy sự thối
nát của chính phủ Mãn Thanh, dẫn
đến nước nhà bị các nước
chủ nghĩa đế quốc sự xâm lược
về kinh tế, chính trị, gây nên sự
thống khổ thiếu thốn cho nhân dân Trung
Quốc, bèn lập chí
cách mạng, phải lật đổ chính
phủ Mãn Thanh, chống lại sự xâm
lược của chủ nghĩa đế quốc,
xây dựng một đất nước chủ
nghĩa Tam Dân (dân tộc, dân quyền, dân
sinh) giàu mạnh yên vui, làm cho toàn
dân đạt được mục đích
bình đẳng địa vị quốc tế,
bình đẳng địa vị chính trị,
bình đẳng địa vị kinh tế, giải
quyết sự thống khổ trong cuộc sống cho
nhân dân, đồng thời làm cho nhân
dân được an vui trong cuộc sống.
Sao gọi là thế giới
Cực lạc? Ðiều này trong Kinh A Di Ðà,
Ðức Phật Thích Ca đã có nói
rõ, Phật nói tất cả chúng sinh sinh lên
nước ấy, chỉ hưởng thọ mọi
sự sung sướng, không có các khổ, cho
nên gọi là thế giới Cực lạc.
Thế giới Cực lạc này, Ðức Phật A
Di Ðà đã vì sự đau khổ của
chúng sinh mà phát nguyện thành tựu,
như vậy chỉ cần chúng ta chịu phát
nguyện vãng sinh, nhất tâm niệm Phật, thì
nhất định được vãng sinh. Cho nên
chư vị niệm Phật, chỉ cần tâm
thành nguyện thiết thì chắc chắc
được vãng sinh Cực lạc, chắc
chắc được thấy Phật A Di Ðà.
2.- Phật A Di Ðà luôn
nhớ chúng ta.
Trong kinh nói Phật A Di
Ðà luôn nhớ chúng sinh như mẹ
nhớ con. Nhưng vì chúng sinh không nhớ
Phật, nên Phật tuy thường nhớ chúng
ta, mong chúng ta cùng đến bên Ngài,
mà kết quả chúng ta vẫn mãi chịu
khổ nơi thế giới Ta bà. Giống như
người mẹ luôn nhớ đứa con lưu
lạc nơi tha hương, mong nó sớm trở
lại bên mình, nhưng vì con không nhớ
mẹ, không muốn về nhà, để
đến nỗi của cải nhà đầy
không ai hưởng, mà nó vẫn lưu
lạc chịu khổ nơi đất khách quê
người. Nếu đứa con một khi nhớ
mẹ, như khi mẹ nhớ con, thì không lâu
nó sẽ được ở bên mẹ thọ
hưởng niềm vui gia đình. Chúng sinh
nếu một khi nhớ Phật, giống lúc Phật
nhớ chúng sinh, thì cũng không lâu
được ở bên Phật, thọ hưởng
niềm vui Phật pháp. Kinh Lăng Nghiêm,
chương Ðại Thế Chí Bồ Tát
Viên Thông nói: “Nếu tâm chúng
sinh, nhớ Phật niệm Phật, hiện tại
tương lai, nhất định thấy Phật”.
Cho nên chúng ta nếu muốn thấy Phật,
cần phải thời thời nhớ Phật niệm
Phật.
Hơn nữa, nếu chúng ta chỉ để
Phật nhớ chúng ta, còn chúng ta lại
không nhớ Phật, vậy thì không những
không thể vãng sinh thế giới Cực
lạc, mà ngay cả Phật có hóa thân
đến trước mặt chúng ta, chúng ta
cũng không thể biết, rõ ràng
đã thấy Phật, mà cũng như không
thấy.
Ngày xưa, ở chùa Quốc Thanh núi
Thiên Thai, tỉnh Triết Giang, có thiền sư
hiệu Phong Can, ngài là hóa thân của
Phật A Di Ðà. Thỉnh thoảng ngài
thường cỡi cọp về chùa, mọi
người không ai biết ngài là
người thế nào. Một ngày nọ,
ngài rủ Hàn Sơn, Thập Ðắc đi
triều bái Ngũ Ðài Sơn, ngài
nói:
- “Ai cùng đi với ta, thì mới
là bạn ta; còn ai không đi cùng,
thì chẳng phải là bạn”
- “Hòa thượng triều bái Ngũ
Ðài Sơn làm gì?”. Hàn Sơn
hỏi.
- “Lễ Văn Thù!”. Phong Can đáp.
- “Hòa thượng không phải là
bạn tôi, tôi không đi với Hòa
thượng”. Hàn Sơn nói.
Thế là thiền sư Phong Can đi một
mình. Lúc ngài từ Thiên Thai đến
Hàng Châu, ngài gặp nhân sĩ họ
Lư, tên Khâu Dận, ông ta đợi làm
quan đã mấy năm, của cải trong nhà
đã tiêu pha gần hết, cuộc sống
đang đến hồi nguy cấp, thì được
tỉnh phủ phái đến Ðài Châu
làm Tri phủ, nhưng không may cho ông, đang
lúc chuẩn bị lên đường nhậm
chức thì ông bị bệnh đau đầu,
uống bao nhiêu thuốc thang cũng không hiệu
quả. Thiền sư Phong Can có chủ ý
muốn đến nhà ông ta thăm bệnh,
nhưng những người canh cửa quyết không
cho ngài vào, ngài nói với họ:
- “Tôi đến đây là có
chủ ý muốn cứu chủ các ông, sao
các ông không chịu cho tôi vào thăm
bệnh?”
Những người canh cửa nghe ngài nói
đến cứu mạng chủ mình, bèn
chạy vào báo cáo, Lư Khưu Dận
bèn ra lịnh thỉnh ngài vào, Phong Can
vừa thấy Lư Khưu Dận hỏi ngay:
- “Ông bị bệnh gì?”
- “Ðầu tôi đau như muốn
bể!”. Lư Khưu Dận đáp.
- “Ông cho người mang một ly nước
đến, tôi sẽ chữa cho ông.” Thiền
sư Phong Can nói với Lư Khưu Dận.
Sau khi nước được mang đến,
Thiền sư Phong Can bèn trì chú cho ông
ta. Trì chú xong, ngài đổ một ít
nước ra lòng bàn tay, thoa nhè nhẹ
trên trán Lư Khưu Dận ba lần, kể
cũng kỳ lạ, bệnh đau đầu của
Lư Khưu Dận lành như vậy đấy.
Thật là cảm tạ vô cùng!
- “Xin hỏi đại sư
pháp hiệu gì, ở chùa nào?”. Lư Khưu Dận kiền thành hỏi Thiền
sư Phong Can.
- “Tôi tên Phong Can, ở chùa Quốc
Thanh, núi Thiên Thai, huyện Ðài
Châu.”
- “Trong chùa có bao nhiêu người
đạo hạnh như đại sư?”. Lư
Khưu Dận lại hỏi.
- “Tôi chẳng có đạo hạnh
gì cả, trong chùa có hai vị là
hóa thân Bồ tát, như Hàn Sơn
hóa thân của Văn Thù, Thập Ðắc
hóa thân của Phổ Hiền. Họ đang
ở trong chùa Quốc Thanh”.
Lư Khưu Dận nghe xong rất vui, bèn mang rất nhiều lễ vật lễ
tạ Thiền sư Phong Can. Phong Can dứt khoát
không nhận, đứng dậy đi ngay.
Sau khi Lư Khưu Dận đến Ðài
Châu nhậm chức được ba ngày,
bèn đến chùa Quốc Thanh tiến
hương, ông hỏi vị thầy tri khách:
- “Hai vị đại sư Hàn Sơn,
Thập Ðắc ở đâu? Phiền pháp
sư dẫn chúng tôi đi bái kiến!”
Thầy tri khách nói: “Hai người
ấy là Hòa thượng điên, đại
quan có gì phải dặn dò?”
- “Tôi muốn lễ bái hai vị
đại sĩ!”. Lư Khưu Dận nói
một cách trang trọng.
- “Tôi sẽ cho người gọi họ
đến.” Thầy tri khách nói.
- “Không được! Không
được! Tôi phải đích thân đi
bái kiến”. Lư Khưu Dận nói.
Thầy tri khách không còn cách nào
khác, đành phải dẫn Lư Khưu Dận
đi. Lúc đến nhà trù (nhà
bếp), Hàn Sơn, Thập Ðắc đang ngồi
sưởi ấm bên lò lửa, hai người
vừa nói chuyện vừa cười, không ai
biết họ đang nói gì. Thầy tri khách
thấy họ bèn gọi lớn:
- “Hàn Sơn, Thập Ðắc đứng
dậy mau, đại quan ở đây có lời
muốn nói với hai ông!”
Hàn Sơn, Thập Ðắc nghe tiếng gọi
bèn đứng lên, Lư Khưu Dận vừa
thấy họ lập tức chạy đến
đảnh lễ. Hàn Sơn, Thập Ðắc
thấy tình hình không ổn bèn quay
đầu bỏ chạy. Lư Khưu Dận
đương nhiên không chịu để cơ hội
hiếm có này mất đi một cách
dễ dàng, bèn lập tức chạy đuổi
theo, đến động Hàn Sơn thì hai
vị đại sĩ chạy nhanh vào động,
Hàn Sơn ngoái đầu lại nói:
- “Giặc! Giặc! Giặc! Lão Phong Can lắm chuyện! Ông không đi mà lễ bái Di Ðà, đến đây bái tôi làm gì?”. Nói xong bèn biến nhanh vào động.
Lư Khưu Dận chạy vào động, nhưng không thấy tung tích hai vị đại sĩ đâu. Hàn Sơn, Thập Ðắc từ đó không xuất hiện nữa, và Thiền sư Phong Can cũng từ đó không trở về lại chùa Quốc Thanh nữa. Ðây chính là Thánh nhân ứng hóa giữa nhân gian, một lần bị tiết lộ là quý ngài ẩn thân luôn.
Thiền sư Phong Can là hóa
thân của Phật A Di Ðà, ngài lúc
nào cũng ở bên mọi người nhưng
không một ai biết, đây chẳng phải
ngày ngày gặp Phật mà coi như chẳng
thấy sao? Ðây chính là trong lòng
không nhớ Phật niệm Phật.
III. NGHĨA RỘNG CỦA
A DI ÐÀ
Ðây là điểm
thứ ba mà người niệm Phật nên
biết. Hiện tại mọi người đã
rất nhiệt thành niệm Phật A Di Ðà,
vậy thì đối với ý nghĩa của ba
chữ “A Di Ðà”, chúng ta cần
phải biết rõ. Nhưng nghĩa của ba chữ
này rất rộng, chúng ta vì không
có nhiều thời gian nên không thể
nói tường tận, bây giờ chỉ
khái lược đại khái ba điểm sau.
1.- Vô lượng quang
và Vô lượng thọ
A Di Ðà là tiếng
Ấn Ðộ, nghĩa chủ yếu của nó
là có vô lượng quang và vô
lượng thọ. Quang, là biểu thị cho
trí tuệ, Vô lượng quang, chính là biểu
thị sự quảng đại của trí tuệ
không thể nghĩ bàn, đây là nói
về phương diện không gian. Thọ, là
biểu thị sinh mệnh dài lâu, vô
lượng thọ là biểu thị sự
trường cửu của sinh mệnh không thể
nghĩ bàn, đây là nói về
phương diện thời gian. Bây giờ chúng
ta lấy lời Kinh A Di Ðà để chứng minh.
Trong Kinh A Di Ðà, Phật Thích Ca nói:
“Phật ấy vì cớ sao mà có tên
là A Di Ðà? Bởi vì ánh sáng
của Phật ấy chiếu thấu suốt khắp
mười phương, cho nên có tên là A
Di Ðà”. Ðây là lần thứ nhất
Ðức Phật Thích Ca tự hỏi tự trả
lời về nghĩa ba chữ A Di Ðà, tự
hỏi tự đáp lần thứ hai là:
“Phật ấy vì duyên cớ gì có
tên là A Di Ðà? Bởi vì tuổi
thọ của Phật ấy vô lượng vô
biên bất khả tư nghì, cho nên có
danh hiệu là A Di Ðà”. Do đó
chúng ta có thể biết: gọi là A Di
Ðà, chính là nói rõ Ðức
Phật này, trí tuệ của Ngài rộng
lớn không thể nghĩ bàn, thọ mạng
cũng bất khả tư nghì.
Ánh sáng chiếu
xuyên đêm tối, trí tuệ dứt sạch
ngu si, đêm tối sẽ làm cho chúng ta
không thấy được cảnh tượng
trước mắt, làm cho người ta va
tường chạm vách, rơi hố sụp hầm,
nguy hiểm cho sinh mạng; ngu si làm cho con người
không hiểu rõ chân lý vũ trụ
nhân sinh, làm cho người ta suy nghĩ sai lầm,
hành động ngu muội, tạo nên quả
báo đau khổ. Cho nên đêm tối và
ngu si, thì ai cũng chán và muốn phá
trừ. Ánh sáng sẽ làm cho người ta
thấy rõ ràng ảnh tượng trước
mắt, làm cho người ta đi đúng
đường, đạt được mục đích
muốn đạt; trí tuệ làm cho người
ta thấu rõ được chân lý nhân
sinh, làm cho người ta suy nghĩ đúng đắn,
hành động hợp lý, hoàn thành
nhân cách cao nhất, đạt được
cảnh giới tự do, an vui, giải thoát tự
tại. Cho nên ánh sáng và trí tuệ
là điều mà ai cũng muốn truy cầu. Trong
lòng mỗi người chúng ta đều có
đêm tối và ngu si, mục đích
đầu tiên của niệm Phật chính
là vì phá trừ đêm tối và ngu
si để thu được ánh sáng và
trí tuệ.
Thọ mạng lâu dài,
cũng là điều mà ai cũng mong muốn,
thế nhưng thọ mạng của con người
đều rất ngắn ngủi, tuổi thọ cao
nhất không quá trăm năm, đây là
điều đáng tiếc lớn nhất của
đời người! Nhưng nếu chúng ta
muốn bù đắp điều đáng tiếc
lớn này, chỉ có thành tâm niệm
Phật, bởi vì khi thành tâm niệm
Phật chúng ta được vãng sinh Cực
lạc, thọ mạng của chúng ta cũng vô
lượng vô biên bất khả tư nghì
như Ðức A Di Ðà vậy.
Nhưng điều mà
ở đây chúng ta càng phải biết
là: Ðức Phật mà chúng ta đang
niệm đây đương nhiên là ở
thế giới Tây Phương Cực lạc, nhưng
trong bản thân của mỗi người chúng ta
đây cũng đầy đủ đức
tướng A Di Ðà, A Di Ðà này là
gì? Chính là chân tâm của chúng
ta. Niệm Phật, là dùng danh hiệu của
Phật để thức tỉnh A Di Ðà Phật
của tự tâm chúng ta, A Di Ðà Phật
của tự tâm chúng ta một khi hiện
tiền, thì chúng ta tức khắc đồng
Phật A Di Ðà không khác: ánh sáng
chiếu thấu suốt khắp mười phương;
thọ mạng vô lượng vô biên không
thể nghĩ bàn. Phật pháp chú trọng tất
cả do tâm tạo, nói tâm chính là Phật,
tâm làm Phật là lý này vậy.
2.- Ðầy đủ vạn
đức.
Chúng ta
phải biết: Phàm là danh hiệu của chư Phật, đều y nơi đức mà
lập. Ðức có rất nhiều, nhưng
trong Phật giáo tổng quát có hai loại
là: Trí đức và phước đức.
Trí đức là do tu mà được,
phước đức nhờ lợi tha mà thành.
Vô lượng quang của A Di Ðà, tức
đầy đủ trí đức; vô
lượng thọ của A Di Ðà, tức hàm đủ
phước đức, cho nên một câu A Di
Ðà tức đầy đủ muôn đức.
Niệm A Di Ðà tức bằng với tu hành
vạn đức. Cho nên danh hiệu A Di Ðà
Phật này, các bậc đại đức xưa
nay đều khen ngợi là hồng danh vạn
đức.
3.- Niệm A Di Ðà
Phật tức đồng với niệm tất cả
Phật
A Di Ðà Phật cố
nhiên là đức hiệu của một vị
Phật, nhưng ý nghĩa của A Di Ðà
thì lại thông với tất cả Phật.
Bởi vì bản thể của tất cả Phật
đều là vô lượng quang, vô
lượng thọ, tất cả Phật đều
là từ trong nhân địa tu hành trang
nghiêm vạn đức bằng tự lợi lợi
tha, cho nên tất cả Phật đều có
thể gọi là A Di Ðà, và một A Di
Ðà Phật cũng có thể đại
diện cho tất cả Phật. Trong pháp quán
tướng đẹp sáng ngời của Phật A
Di Ðà, pháp quán thứ chín trong Kinh
Quán Vô Lượng Thọ nói: “Kiến
thị sự giả, tức kiến thập phương
chư Phật.” Lại nói:“Tác thị
quán giả, danh quán nhất thiết thân
Phật.” Kiến thị sự giả, chính
là thấy Phật A Di
Ðà. Tác thị quán giả, chính
là quán Phật A Di
Ðà. Ðây chính là nói: Thấy
Phật A Di Ðà, tức
là thấy mười phương chư
Phật, quán Phật A Di Ðà, tức là
quán tất cả Phật. Ðã thấy Phật
A Di Ðà, quán Phật A Di Ðà, tức
là thấy mười phương chư Phật,
quán mười phương chư Phật, vậy
thì niệm Phật A Di Ðà, đương nhiên
là cũng như niệm tất cả Phật. Cho
nên công đức niệm Phật A Di Ðà
là không thể nghĩ bàn vậy.
IV. BA MÓN TƯ LƯƠNG
CỦA TỊNH ÐỘ
Ðây
là điểm thứ tư mà người
niệm Phật nên
biết. Chúng ta niệm
Phật không phải là vì để
tiêu khiển thời gian,
cũng không phải là để cầu bình
an, hay là để cầu
phù hộ độ trì ăn nên làm ra,
nếu như vậy, thì
đã làm mất đi ý nghĩa chân
chính của niệm
Phật. Chúng ta niệm Phật là để
cầu tịnh hóa thân
tâm, vãng sinh Tịnh độ; Tịnh độ
là mục đích lý
tưởng của người niệm Phật chúng
ta. Nhưng Tịnh
độ mà trong Phật giáo nói có
rất nhiều, nhưng
hôm nay chỉ nói Tịnh độ mà mọi
người niệm
Phật A Di Ðà phát nguyện vãng sinh,
đó chính là
thế giới Tây phương Cực lạc
thành tựu nhờ
đại nguyện của Phật A Di Ðà. Thế
giới Cực lạc vì sao lại gọi
là Tịnh độ? Ðộ tức là
cõi, Tịnh độ
chính là thế giới thanh tịnh. Bởi
vì bất cứ người nào sinh lên
thế giới Cực lạc, thân tâm họ cũng đều thanh tịnh:
Thân, không có những hành vi sát, đạo, dâm,
vọng; Tâm, không có các ý
niệm tham, sân, si, mạn,
nghi... cả ngày đều hành Phật
pháp, nghĩ Phật pháp, lìa tất cả
những lỗi tạp nhiễm, đầy đủ
tất cả công đức thanh tịnh; không có sự nhiễu loạn
của phiền não, không có sự lo
sợ vì sống chết,
đây là tịnh hóa nhân sinh. Thứ hai,
nói về tịnh hóa
thế giới: trong thế giới Cực lạc,
không có sự gồ
ghề cao thấp của núi đồi, khe
vực; cũng không có
sông dài biển rộng, gió to sóng
dữ; một dãy bình
nguyên vô tận, cát vàng trải làm
đất, lầu các
bằng bảy thứ báu kim ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ... từng dãy
lan can, từng hàng cây báu; đáy ao toàn bằng vàng,
đầy nước tám công đức, la võng ánh
triệt lẫn nhau, ngày đêm sáu
thời, tiếng chim kêu, tiếng gió thổi
đều là những thời
thuyết pháp, thật là một cõi
nghiêm tịnh và mỹ
diệu không gì so sánh! Do tịnh hóa
nhân sinh và tịnh hóa thế giới,
cho nên gọi là Tịnh độ.
Thế giới Cực lạc
quả thật là thế giới lý tưởng
nhất, nếu như chúng ta được sinh
về thế giới Cực lạc, thì muốn
gì được nấy, không thiếu thứ
gì, thật là cực kỳ sung sướng!
Nhưng thế giới Cực lạc và thế
giới Ta bà đau khổ bức bách chúng
ta đây cách nhau quá xa, theo trong Kinh A Di
Ðà nói, từ thế giới chúng ta
đây đến thế giới Cực lạc,
phải trải qua mười vạn ức cõi
Phật (100.000 ức), cho nên chúng ta nếu
muốn cầu sinh thế giới Cực lạc, cần
phải trang bị một số tư lương phong
phú tương đương mới khả dĩ.
Không thì, đoạn đường dài
vô tận như vậy thật không dễ
dàng đạt đến. Vậy thì tư
lương phong phú này là gì? Thông
thường có ba loại sau:
1.- Tín tâm bền
chắc
Tin là mẹ của mọi
sự thành công, chúng ta bất luận
làm một công việc gì, cũng không
thể thiếu niềm tin,
nhất là tu học Phật pháp. Vì sao?
Vì Phật pháp là cảnh giới của
Phật, cảnh giới của Phật tâm
lượng của chúng ta không thể đo
lường đạt đến, chỉ có dùng
niềm tin để tiếp thọ, cho nên nói
biển lớn Phật pháp chỉ có niềm tin mới vào được.
Chúng ta học Phật pháp niệm Phật, thứ nhất phải có
đủ niềm tin, tin là nguồn của đạo, là mẹ của
công đức, không đủ niềm tin, thì
tất không thể thu
được lợi ích Phật pháp. Gần
đây có một số
người cuồng vọng, cho rằng mình có
đầy một bụng
trí tuệ, còn hơn cả Phật, nói Phật
chẳng khác gì
người thường tình, Bồ tát chẳng
qua cũng chỉ là phàm phu, nào là
cảnh giới mà trong Phật pháp cho rằng trí tuệ rơm rạ
của những kẻ thường tình không
thể trắc lượng là phi hữu, chẳng
có một chút tín tâm, thấy biết
tà vạy, những người tự cho rằng
mình có một túi đầy trí tuệ
thật ra là những kẻ mít đặc, ngu si
vô cùng, không còn một chút thiện
căn, hạt giống tội lỗi gieo khắp,
tương lai nhận lấy tội báo nghiêm
trọng là điều không thể tránh
khỏi! Tôi vạn phần mong mỏi các
đồng đạo phải xây dựng niềm tin
cho chắc chắn, đừng để những tà
thuyết ấy mê hoặc, như vậy mới
đạt được mục đích mà
quý vị mong cầu.
Nhưng niềm tin vững
chắc mà ở đây muốn nói là
phải tin những gì? Thứ nhất, tin lòng mình. Nhưng tâm này
hoàn toàn không phải chỉ cho cái tâm ý thức
vọng tưởng tạp loạn của chúng ta hiện nay, mà
là chỉ cho cái tâm chân như của thật thể khởi
theo sở y. Tâm này tồn tại ba đời, biến khắp
mười phương, không bị hạn chế bởi thời gian không
gian; núi sông đại địa, chư Phật chúng sinh,
đều là tâm này hiện, tâm này tạo tác. Trong Kinh
Phật đã nói mỗi chúng ta
đều có tâm này, đều có
thể nương nơi tâm này mà thành
Phật. Hiện tại chúng ta tuy chưa có
trí tuệ để thể hội nó, nhưng chúng ta phải tuyệt
đối tin tưởng chúng ta có tâm như vậy, y tâm này
mà tu hành nhất định
sẽ thành Phật! Ðây chính là tin
chính mình.
Thứ hai, tin lời dạy
của chư Phật. Pháp môn niệm Phật
chính Ðức Thích Ca nói ra, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất
thân là Thái tử, Ngài là
người nhất thiết trí thân chứng
thật tướng các pháp, chắc chắn
Phật không lừa dối chúng sinh, giáo
pháp mà Phật nói tuyệt đối
không sai! Chúng ta phải triệt để tin
giáo pháp của Phật, Phật nói có
thế giới Cực lạc, niệm Phật có
thể vãng sinh, thì chúng ta tuyệt
đối thực hành theo lời Phật dạy.
Ðồng thời tin thế giới Cực lạc
thành tựu là do đại nguyện của
Phật A Di Ðà, lại chư Phật sáu
phương xuất ra tướng lưỡi dài
rộng cùng tán thán, Phật A Di Ðà
tuyệt không có nguyện dối! Chư Phật
sáu phương há có hai lời sao? Phải
hạ quyết tâm niệm Phật cầu vãng sinh
như thế: Ðây là tin lời dạy của
chư Phật.
Thứ ba, tin nhân niệm
Phật. Ðây là tin niệm Phật chắc
chắn vãng sinh. Vào thời quá khứ xa
xưa có một bác tiều phu, một hôm
lúc đang kiếm củi trên núi, bỗng
nhiên thấy một mãnh hổ từ xa lao
tới, bác ta sợ quá, muốn chạy mà
không dám chạy, muốn trốn mà không
có chỗ trốn, đang lúc ngàn cân treo
sợi tóc này, bác bỗng ngoái
đầu lại thấy một gốc cây, bèn
vội vàng tót lên tận ngọn. Con hổ
cũng không vừa, thấy bác tiều ở
tít trên ngọn cây, nó bèn ra sức gặm gốc cây. Bác
tiều ở trên ngọn thấy gốc cây bị gặm sắp đổ,
thất kinh, tự nhiên buộc miệng thốt ra ba tiếng
“Nam mô Phật”. Kể cũng kỳ
lạ, mãnh hổ nghe tiếng Nam mô Phật
bỗng nhiên sợ thót giật chạy. Nhờ
thiện căn của câu “Nam mô Phật” vào thời
quá khứ, sau bác tiều phu được
Phật Thích Ca
độ xuất gia, chứng A la hán. Câu Nam mô Phật niệm một
cách vô tình mà còn có thể
làm nhân duyên đắc đạo, huống
hồ gì là cố ý niệm hay chuyên tâm? Cho nên chúng ta
phải triệt để
tin tưởng niệm Phật nhất định
được vãng sinh.
Thứ tư, tin quả
niệm Phật. Quả
niệm Phật là gì? Chư thượng
thiện nhân vãng sinh Tây phương Cực
lạc thế giới, là quả niệm Phật,
bởi vì họ đều nhờ nhân niệm
Phật mà được vãng sinh. Gọi là
tin quả niệm Phật, chính là tin sâu
chư thượng thiện nhân, đều nhờ
nhân niệm Phật mà được vãng
sinh. Hiện tại chúng ta niệm Phật,
tương lai nhất định sẽ đạt
được quả vãng sinh.
2.- Thệ nguyện khẩn
thiết
Nguyện, chính là
chí nguyện. Chúng ta tin pháp môn niệm
Phật, phát tâm niệm Phật, cần phải
phát thệ nguyện khẩn thiết để
cầu vãng sinh thế giới Cực lạc. Nếu
chỉ tín hoặc niệm, mà không phát
nguyện vãng sinh, thì cho dù tín một
cách chân thành, niệm siêng năng
cách mấy, khi lâm chung cũng không thể
được Phật tiếp dẫn vãng sinh,
đây không phải là Phật không
đến tiếp dẫn, mà là vì chính
quý vị không có tâm nguyện. Ví dụ như tôi rất mong
muốn những người trên đường
vào chùa Lôi Âm chúng tôi nghe
giảng pháp, nếu trong đó có
người muốn đi thì tôi vừa bảo
là họ hoan hỷ đi theo tôi ngay; còn
đối với những người không muốn
đi, bảo họ đi họ đã không
đi, thậm chí còn mắng lại là
đồ vô duyên nữa. Phật cũng thế,
quý vị muốn đi Phật mới tiếp
dẫn quý vị, quý vị không muốn
đi Phật không thể miễn cưỡng tiếp
dẫn quý vị đi. Cho nên những
người niệm Phật cầu sinh Tịnh độ
thì không thể không phát thệ nguyện
khẩn thiết, người xưa nói
“nguyện bất thiết bất sinh Tịnh
Ðộ”, lời nói này quả chân
thật không hư dối!
Có
người nói với tôi, tôi niệm
Phật cũng đã
từng phát nguyện,
nhưng nguyện được mấy ngày rồi quên mất, không
thể giữ lâu dài, lại càng không thể khẩn thiết,
thầy có cách gì giúp tôi
giữ tâm nguyện lâu dài và
được khẩn thiết chăng? Lúc ấy tôi nói với họ: Quý
Phật tử muốn giữ tâm nguyện lâu dài và
khẩn thiết, tất nhiên là có cách: thứ nhất, đối với
thế giới hiện thực cần phải có
tâm lý chán lìa triệt để; thứ
hai, đối với thế giới lý tưởng
cần phải có nguyện vọng vui cầu
tích cực. Nhưng phải như thế nào
mới có thể đối với thế giới
hiện thực sinh khởi tâm lý chán
lìa triệt để? Ðây phải
thường phải quan sát đời người
hiện thật vô thường, khổ, bất
tịnh; thế giới hiện thực là ác
trược, nguy hiểm, không có chỗ nào
đáng lưu luyến. Thường tư duy
quán tưởng như thế, thì đối
với tự nhiên giới sẽ sinh tâm lý
chán lìa. Lại phải thế nào mới
có thể đối với lý tưởng
giới khởi nguyện vọng vui cầu tích
cực? Ðây phải thường quán
tưởng thế giới Tây phương Cực
lạc, là “Pháp Tạng Bồ tát
(tên của Phật A Di Ðà) nhờ đại
nguyện lực mà thành tựu thiện căn
xuất thế”, là “Phật A Di Ðà nhờ lực khéo trụ
trì mà đáng bậc Pháp
vương”, đầy
đủ vô lượng trang nghiêm mỹ diệu;
Phật A Di Ðà và
thân tướng của các Bồ tát
thành tựu nhờ vô lượng công
đức, ánh sáng vô lượng, trang
nghiêm không gì
sánh bằng. Thường tác quán như
vậy thì đối
với thế giới Tịnh độ của lý
tưởng giới tự nhiên sẽ khởi
nguyện vọng tích cực vui cầu. Triệt
để chán lìa
thế giới hiện thực, tích cực vui cầu
thế giới lý
tưởng, thì tâm nguyện tự nhiên
sẽ khẩn thiết.
Có tâm nguyện khẩn thiết rồi, thì
ngày vãng sinh là chắc chắn!
3.- Thực tiễn thỏa
đáng
Chúng ta học Phật,
cầu vãng sinh Tịnh độ, trước hết
tất nhiên là phải có tín, thứ
đến là nguyện, và cuối cùng
càng cần thiết hơn là phải có
hạnh, hạnh chính là thực tiễn. Nếu
như không có hạnh,
tuy vẫn có tín có nguyện, nhưng
tín ấy nguyện ấy chỉ là hư
nguyện hư tín mà thôi, chẳng giúp
ích được gì. Cho nên tín
nguyện hạnh như đỉnh ba chân,
thiếu một không thể được. Chúng
ta muốn cầu sinh Tịnh độ, cần phải
lấy tín nguyện để dẫn đường
cho hạnh, lấy hạnh để thực hành
tín nguyện, như vậy, mới có thể
đạt được kết quả như dự
tính.
Nhưng, hạnh muốn
nói ở đây là hạnh gì? Chính
là niệm Phật. Nhưng niệm Phật có
rất nhiều cách niệm khác nhau, có
thật tướng niệm Phật, quán tưởng
niệm Phật, quán tượng niệm Phật,
rồi trì danh niệm Phật... và... nhưng
trong rất nhiều cách niệm này, chỉ
có trì danh niệm Phật là thỏa
đáng nhất! Bởi vì trì danh niệm
Phật đã dễ học lại dễ hành,
lại đạt được kết quả cao,
chỉ một câu A Di Ðà Phật niệm
rõ ràng, thông suốt là được.
Có người nghi hỏi:
Một câu A Di Ðà Phật chỉ có bốn
chữ, có thể lìa Ta bà sinh Tịnh
độ được sao? Cứu cánh mấu
chốt này ở chỗ nào?
Ðây thật là
một vấn đề, nhưng giải đáp
lại rất đơn giản.
Thứ nhất, chúng ta
sở dĩ cứ chịu khổ mãi ở trong
thế giới Ta bà này, là bởi trong
lòng chúng ta có quá nhiều phiền
não, phiền não như đêm tối; A Di
Ðà Phật là vạn đức hồng danh,
như ánh sáng. Ánh sáng chiếu vào
đêm tối, đêm tối tất bị
tiêu diệt; danh hiệu Phật đi vào
phiền não, phiền não tất sẽ không
còn.
Thứ hai, chúng ta sở
dĩ không thể giải thoát sinh tử là
do sự chiêu cảm của ác nghiệp, ác
nghiệp như độc của mũi tên, A Di
Ðà Phật là vạn đức hồng danh,
thí như trống trừ độc; trống trừ
độc vừa vang lên, độc tức khắc
tiêu trừ, vừa niệm một niệm A Di
Ðà Phật, ác nghiệp tiêu ngay lập
tức. Ðiều đang nói đây vẫn
còn là phương diện tiêu cực,
nếu nói phương diện tích cực,
niệm danh hiệu A Di Ðà Phật, còn có
thể tăng trưởng vô lượng công
đức. Niệm danh hiệu A Di Ðà Phật,
một mặt đã trừ được phiền
não, tiêu nghiệp chướng, thì Ta bà
đau khổ tất sẽ được lìa;
mặt khác lại có thể tăng trưởng
công đức, được Phật tiếp
dẫn, thì Cực lạc an vui chắc chắn
được sinh. Cho nên nói một câu danh
hiệu A Di Ðà, tức khắc được
lìa Ta bà sinh Tịnh Ðộ.
Nếu chư vị có
thể đem đạo lý vừa nói trên
đây, suy nghĩ cho sâu sắc, đồng
thời thiết thực thực hành được
đầy đủ ba món tư lương Tín
Nguyện Hạnh thì Tịnh độ Cực
lạc chắc chắn sẽ có chỗ cho quý
vị.
LƯỢC THUYẾT PHÁP MÔN
VÃNG SINH AN LẠC ÐỘ
Pháp môn niệm Phật vãng sinh Tịnh
Ðộ, không ra ngoài ba điểm trọng
yếu Tín, Nguyện, Hạnh.
Tín, có nghĩa là sau khi dứt hết
mọi nghi ngờ, hiểu rõ rốt ráo, chí
tâm quyết đạt đến mục đích.
Tín có ba: Tín tự tâm, tín Phật
độ, tín pháp môn.
1.- Tin bản
tâm của chính mình xưa nay không hề
sinh diệt, không có khởi đầu không
có kết thúc, liên tục mà hằng
hữu, tùy duyên mà chuyển biến. Sinh ra
rồi chết đi, tuy nhiên chết mà không
đoạn mất; chết đi rồi lại sinh ra, tuy
sinh ra nhưng chẳng phải thường; chiêu
quả mà có nhân, rồi nhân chín
mùi thành quả, chứ chẳng phải tình
cờ một đời, cho nên phải cầu
niềm vui chân thật vĩnh viễn. Vì
nghiệp mà thọ thân này, rồi thân
này lại đi tạo nghiệp, vì không
thể một đời liễu được sinh
tử, cho nên cần phải suy nghĩ cho thấu
đáo. Nổi lên chìm xuống trong biển
khổ sinh tử, mơ hồ trong sáu thú,
biết rồi trôi nổi về đâu! Mờ
mịt trong tam đồ, rồi bị chưng nấu,
bị giam cầm, mổ giết, đáng sợ
biết bao! Thân người khó được nay
đã được, Phật pháp khó nghe nay
được nghe, hãy nhanh lên: “Một
tấc thời gian một tấc vàng, tấc
vàng khó đổi tấc thời gian”.
“Con rùa mù gặp được bọng
cây, danh hiệu Phật hãy nhanh trì
niệm”. Cho nên nói: “Thân này
nếu không đời này độ, lại đợi
đời nào mới độ thân”.
2.- Tin bản
tâm của chính mình vốn là chân
tánh, tức Phật tánh, cho nên chính
mình vốn đầy đủ Phật tánh,
xưa nay vốn đủ trí tuệ đức
tướng Như lai. Nếu được thiện tri
thức dẫn đường, quy y Tam bảo Phật
Pháp Tăng, siêng năng tu tập tất sẽ
chứng đắc. Cho nên nói: “Khuyên anh
nỗ lực đầu sông vượt, chắc
chắn trên thuyền ngập ánh trăng.”
3.- Tin chính
mình từ vô thỉ kiếp đến nay,
đã từng làm trời, cũng đã
từng sinh làm người. Tất cả chư
Phật, chư Bồ tát, chư Hiền Thánh
Tăng trong ba đời mười phương thế
giới, đã từng phân thân hằng
hà sa số nhiều như cát bụi để
lợi ích quần sinh, chính mình cũng
đã từng nhiều đời gây phước
huệ, gieo trồng thiện căn, cho nên đời
nay mới được nghe Phật pháp, lại
được phát khởi tâm tín nguyện.
Tuy vì mê muội không tự giác biết,
nhưng phải tin rằng thường được
chư Phật hộ niệm, cho nên cần phải
phát tâm tinh tấn dõng mãnh, lập
chí kiên xác bền chắc. Chư Phật
chư Bồ tát đại từ đại bi,
đại hùng đại lực trong ba đời
mười phương, không có chỗ nào
là không cảm ứng, không có căn
cơ nào là không nhiếp phục, chính
mình quả có tín kính tu tập, chắc
chắn chư Phật Bồ tát sẽ cứu
độ tiếp dẫn. Hãy xem những người
vãng sinh Tịnh độ bất luận là nam
nữ tăng tục, cũng đều nhờ lực
thiện căn nhiều đời, lực tu tập
kính tín hiện kiếp, lực chư Phật
Bồ tát cứu độ tiếp dẫn, tất
cả đều được vãng sinh Tịnh
độ, thành đại Bồ tát; ta cũng
như thế, có nguyện tất thành tựu.
Cho nên nói: “Ai kia trượng phu ta đây
cũng thế, không nên tự khinh khi rồi
thoái khuất.”
1.- Tin Phật A
Di Ðà trước kia cũng là phàm phu
như ta, từ bỏ vương vị theo Phật
xuất gia, phát tâm đại Bồ đề,
bốn mươi tám đại hoằng thệ
nguyện, nhiều đời lập hạnh không
thoái chuyển. Nhờ lực hạnh nguyện
và lực thiện căn những chúng sinh
được giáo hóa thành thục mà
thành tựu cõi Tịnh độ trang nghiêm,
thành tựu Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác với những người cùng
nguyện hạnh đồng sinh trong ấy, thọ
mạng, quang minh vô lượng, cho nên gọi
là Cực lạc thế giới A Di Ðà
Phật.
2.- Tin từ
cõi Ta bà thế giới này, đi thẳng
về hướng Tây, qua một trăm ngàn
ức cõi Phật, quả thật có một
thế giới An lạc, là cõi Tịnh
độ Phật A Di Ðà giáo hóa, hai
đại Bồ tát Quán Âm, Thế Chí,
đến vô lượng vô số Bồ Tát
Thánh Hiền Tăng trong biển lớn thanh tịnh
thường cùng nhau nhiễu quanh Phật nghe Phật
thuyết pháp, hành theo pháp Phật, từ
Phật pháp nhân chứng Phật pháp quả,
vĩnh viễn lìa khỏi khổ nạn,
được đại giải thoát, thần
thông diệu dụng, hóa thân khắp
mười phương, tu Phật công đức, thu
nhiếp những ai hữu duyên đều về
Tịnh độ. Hết thảy đều hoa sen
hóa sinh, tùy theo tín tâm sâu cạn,
nguyện lực lớn nhỏ, hành công viên
thiên mà có sự khác nhau về phẩm
vị – ba phẩm thượng, ba phẩm trung, ba
phẩm hạ: ba phẩm hạ là những phàm
phu mang nghiệp vãng sinh; ba phẩm trung là
những Thánh chúng đoạn hoặc chứng
chân; ba phẩm thượng là những Bồ
tát hoằng trí đại bi. Phẩm hạ
hạ trở xuống, lại có cấp Nghi Thành
(nghi thành là ở trong cõi Tịnh độ
Phật A Di Ðà, hành giả dùng tâm nghi
hoặc tu thành tựu các công đức),
để rộng nhiếp những người tội
ác sâu nặng hoặc tín nguyện hèn yếu,
khiến cho sau khi được sinh lên nước An
lạc, hối ác tu thiện, dứt nghi sinh tín,
cũng được hoa nở thấy Phật. Tuy
có sự khác nhau về ba bậc chín
phẩm, nhưng một lần đã thừa
nguyện vãng sinh thì tất cả đều
được vĩnh viễn ra khỏi khổ sinh
tử, cuối cùng thành tựu quả Phật.
Một lần hoa nở thấy Phật đều
được y thực như ý, được
vô lượng thọ, thân tâm tự do, đi
khắp vô lượng cõi nước. Chim hót
cây reo đều là tiếng pháp nhiệm
mầu, Bồ tát Thánh chúng đều
là bạn lành. Hết sức an vui, chí
mỹ chí thiện, sạch sẽ trong ngần,
chân thường cùng tột cho nên gọi
là Phật vô lượng thọ, vô
lượng quang, cực an lạc Tịnh độ.
Tín pháp môn
1.- Tin pháp
môn niệm A Di Ðà Phật vãng sinh thế
giới Cực lạc, chính do kim khẩu Ðức
Thích Ca Mâu Ni, là vị giáo chủ
của ba ngàn đại thiên thế giới
nói ra, có Bồ tát Di Lặc, ngài Xá
Lợi Phất và hoàng hậu Vi Ðề Hi
lắng nghe; ngài A Nan phụng thừa kết tập
lưu truyền; tức nay là Vô Lượng
Thọ Kinh, Phật Thuyết A Di Ðà Kinh, Quán
Vô Lượng Thọ Phật Kinh vậy. Ngoài ra
những Kinh Luận quán niệm Phật A Di
Ðà vãng sinh cõi nước An lạc
còn nhiều lắm, nói không thể hết,
xin duyệt đọc trong Ðại tạng. Lúc
Phật nói Kinh Vô Lượng Thọ, Xá
Lợi Phất cùng các vị đại A La
Hán, Di Lặc cùng chư vị Bồ tát,
với vô lượng không cùng tận chư
thiên chư tiên, nhân và phi nhân...
đều phát nguyện vãng sinh. Lúc Phật
nói Kinh Quán Vô Lượng Thọ, hoàng
hậu Vi Ðề Hi y pháp tu trì, lập tức
vãng sinh nước An lạc. Lúc Phật nói
Kinh A Di Ðà, vô số quốc độ Phật
sáu phương Ðông, Tây, Nam, Bắc,
phương trên và phương dưới,
Phật A Súc cùng vô lượng chư
Phật đều khen ngợi Ðức Phật Bổn
Sư Thích Ca, ở trong thế giới năm
trược này khéo nói pháp môn
tối phương tiện thù thắng này.
Lịch đại Tổ sư Thánh hiền thiện
tín tán dương tu tập được
vãng sinh, là việc càng hy hữu, cho nên
phải tin pháp môn tối chân tối tôn
này.
2.- Tin pháp
môn niệm Phật vãng sinh thế giới An
lạc này, dưới từ chúng sinh cực
ác, trên đến Ðẳng giác Bồ
tát đều được tu chứng. Những
chúng sinh sinh vào phẩm hạ hạ và hoa
sen sắt, tức là những người đã
tạo tội ngũ nghịch (giết cha, giết mẹ,
giết A la hán, phá hòa hợp tăng,
ác tâm làm thân Phật chảy máu),
làm mười điều ác (sát sinh,
trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói hai
lưỡi, nói lời hoa
mỹ, nói lời độc ác, tham lam, sân
hận, si mê) đáng
bị đọa địa ngục, ngạ quỷ,
súc sinh, nhưng khi nghe
pháp môn này khởi tín, phát nguyện, tu hành được
vãng sinh vậy. Những chúng sinh sinh vào trung phẩm, tức
là những người siêng
năng trì ngũ giới, làm mười
điều thiện, hoặc có tu chút
ít thiền định, đáng lẽ sinh
vào đường làm người, làm
thần, làm trời dục giới, nhưng khi nghe pháp môn này
khởi tín, phát nguyện, tu hành
được vãng sinh. Xem trong Vãng Sinh Tịnh
Ðộ Thánh Hiền Lục, từ những bậc
đại Thánh Hiền, cho đến dâm nữ,
những kẻ làm nghề đồ tể, chim
chuột ếnh nhái đều có vãng sinh,
thì có thể biết. Những chúng sinh sinh
vào thượng trung phẩm, tức là những
Bồ tát từ Hoan hỷ địa cho đến
Viễn hành địa. Những chúng sinh sinh
vào thượng thượng phẩm, tức là
những Bồ tát từ Bất động
địa đến Ðẳng giác địa. Xem
trong Kinh Hoa Nghiêm Bồ tát Phổ Hiền cũng
phát nguyện vãng sinh, thì có thể
biết vậy. Cho nên, nên tin pháp môn
này quảng đại nhất tối thắng
nhất.
3.- Tin pháp
môn niệm Phật vãng sinh thế giới An
lạc này, lý tánh của nó tuy không
thể cùng tận, công đức của nó
tuy bất khả tư nghì, nhưng Phật A Di
Ðà lúc trong nhân địa tu hành,
đã từng phát đại nguyện nếu
có chúng sinh nào trong mười phương
thế giới xưng niệm danh hiệu Ngài,
Ngài sẽ tức khắc hộ trì tiếp
dẫn vãng sinh. Cho nên trong Kinh A Di Ðà,
Ðức Phật Thích Ca nói: Niệm danh hiệu
Phật, niệm đến nhất tâm bất
loạn, tức tự biết được vãng sinh
Tịnh độ. Cho nên hễ đã vãng
sinh Tịnh độ, thì tiến thẳng đến
thành Phật, vĩnh viễn không còn quanh co,
không còn thoái chuyển. Chỉ cần
niệm niệm nhớ nghĩ sáu chữ “Nam
mô A Di Ðà Phật” không chút lơi
lỏng, tức được đầy đủ
lý tánh vô cùng tận và công
đức bất khả tư nghì. Pháp môn
Tịnh độ là con đường dễ đi
nhất, chỉ cần mỗi sáng thức dậy
xưng niệm danh hiệu A Di Ðà Phật trọn
mười hơi thở, cũng chắc chắn
được vãng sinh vào ngôi bất
thoái, vĩnh viễn thoát khỏi luân
hồi, thẳng đến thành Phật. Cho nên
gọi pháp môn này là pháp môn
hoành siêu tam giới, một lần đã
siêu là thẳng đến quả Phật,
không như những người tu chứng từ những
pháp môn khác, ban đầu phải từ
trì giới hành thiện để ra khỏi ba
đường ác, kế đó phải tu
tập thiền định để thoát ra Dục
giới, lại tu Bát nhã để vượt ra
Sắc, Vô sắc giới, đến đây
vẫn còn chưa được vào quả
vị Bồ Tát Chánh Ðịnh Tụ, trong
khoảng thời gian từ sơ hành trì cho
đến ra khỏi Vô sắc giới, e rằng
còn sợ phải trồi lên hụp xuống! Sao
bằng được pháp môn này chỉ
từ quy y Tam bảo Phật Pháp Tăng thế
giới Ta bà mà quy y sang Phật Pháp Tăng
thế giới Cực lạc, tức được
đốn siêu tam giới? Cho nên nên tin
vào pháp môn này dễ dàng nhất,
diệu dụng nhất.
Tín tâm đã
lập rồi, nhưng nếu không phát nguyện
thì cũng như người mắc bệnh, tuy
được thuốc hay, biết rằng uống
vào sẽ lành bệnh, thân thể
cường tráng, thêm lớn tuổi thọ.
Giả sử nếu người bệnh không muốn
thân thể khỏe mạnh, mặc cho bệnh tật
hoành hành, hoặc dối bảo tôi chẳng
bệnh tật gì cả, cơ thể tôi
hoàn toàn mạnh khỏe, chẳng cần
thuốc này, rồi không uống, thì
không thể có một thân thể khỏe
mạnh, thọ mạng lâu dài. Nay đây
cũng thế, nếu không muốn lìa Ta bà,
không muốn vãng sinh Cực lạc, thì
vẫn không quan hệ gì với pháp môn
này. Cho nên lập Tín cần phải có
Nguyện trợ giúp. Ðại khái nguyện
có ba:
a/ Luôn nghĩ chán Ta bà dơ nhớp, ham
thích vãng sinh Tịnh độ an lạc.
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni giáo chủ
của cõi Ta bà uế trược này
thừa nguyện đại bi cứu khổ, dặn
dò khuyên bảo chúng ta nên chán
lìa thế giới nhơ uế này, ham thích
vãng sinh thế giới Cực lạc.
Chúng ta chỉ có thuận theo lời Phật
dạy, y giáo phụng hành, mới
được gọi là người quy y Phật
pháp, không cô phụ ân Phật vậy. 1/
Chán châu Diêm Phù Ðề này –
địa cầu mà chúng ta ở đây
tức ở trong châu này – nội, ngoại,
cộng tam y câu khổ, nên muốn thoát ly; ham
thích Cực lạc Tịnh độ – nội,
ngoại, cộng tam y câu lạc, nên muốn
vãng sinh. Thế nào gọi là nội,
ngoại, cộng tam y câu khổ? Nghĩa là trong
thì y vào tự thân mà có đói
khát, nóng lạnh, mệt nhọc, dâm dục,
các khổ sinh, già, bệnh, chết...; ngoài
thì y vào cảnh tự nhiên mà có
các khổ mưa gió, sấm chớp, gió
bão, chướng khí, khói bụi, cát
đá, gai góc, gồ ghề, sóng gió,
cọp, sói, rắn rít, muỗi mòng...;
cộng tam y câu khổ thì y vào người
và cảnh mà có các khổ kiềm chế,
mắng chửi, tranh đoạt, tổn hại, dâm
loạn, hung dữ, gian hiểm, lừa dối,
cưỡng chế, trộm cắp, bắt bớ, đao,
tên, gươm, giáo, thuốc độc, lao
ngục, cho đến thương yêu mà phải
xa lìa, ghét nhau lại phải sống chung, anh em
chém giết lẫn nhau, cầu sống không
được, muốn chết chẳng xong... cho nên
cõi này khó mà nhẫn chịu, thật
là biển khổ; con người trong cõi
này, lại là mối họa của biển
khổ. Ðã vãng sinh thế giới An lạc
thì vĩnh viễn thoát khỏi những khổ
ách này. Hóa thân như ý, nên
nội y chỉ có vui mà không có khổ;
thọ cảnh xưng tâm, nên ngoại y chỉ
có vui mà không có khổ; thiện hữu
câu hội, nên cộng y chỉ có vui mà
không có khổ. 2/ Chán thế giới Ta
bà này, địa ngục, ngạ quỷ,
súc sinh, quỷ thần chan chứa, tuy được
sinh lên cõi trời đi nữa, cõi trời
cao nhất tuổi thọ cũng không quá
chín triệu tuổi, cũng còn cái khổ
tướng suy, tranh đấu. Cho dù có sinh
lên đến cõi trời Phi tưởng phi phi
tưởng đi nữa, tuổi thọ cũng không
quá tám vạn đại kiếp. Vẫn còn
bị chấp tâm hạn chế, không thể
tự tại, khi quả báo hết, cũng bị
đọa lại trong tam đồ. Rồi lại bị
quay, nướng, cắt cổ, nhổ lông, hoặc
làm quỷ, hoặc làm thần, lúc làm
trời, lúc làm người, luân hồi
bất định, vào ra liên tục, nguy hiểm
vô cùng, đáng sợ biết bao! Không
chỉ làm người không ham, mà ngay
làm trời cũng chẳng đoái – nếu
có ý niệm muốn niệm Phật để
sinh thiên, nên biết đây là ma niệm,
phải diệt trừ ngay. Có ai khuyến niệm
Phật cầu đời sau làm người giàu
có, hoặc hưởng phước báo cõi
trời, nên biết đó là quỷ niệm,
chớ nên nghe theo – nên nguyện thoát
khỏi ba cõi, cầu sinh thế giới Cực
lạc. Cõi An lạc ấy, ngay cả cái tên
ba đường ác cũng không có, hễ
vãng sinh lên cõi ấy, thì là
thiện nhân, hiền nhân, chân Thánh,
đại Thánh, chỉ có tiến lên
thêm chứ không có thoái chuyển, chỉ
có được chứ không có mất,
cứu cánh thành Phật, cực kỳ an ổn,
vĩnh viễn không còn lo âu. Không chỉ
thượng phẩm đáng quý, mà hạ
phẩm cũng rất đáng mộ, nên quyết
nguyện vãng sinh. 3/ Chán cõi Ta bà nhơ
nhớp này, tối tăm cách trở. Cửu
Ðịa chư thiên cũng còn bị câu
ngại bởi tâm cảnh, không thể thông
đạt với nhau; xuống đến dục giới
Ngũ Thú Tạp Cư Ðịa, cũng lại chia
làm ba cõi, không thể thấy nghe nhau,
không thể qua lại với nhau. Một là,
cõi trời qua lại thấy nghe chỉ có
trời với tiên thần; hai là, cõi
người qua lại thấy nghe chỉ có
người với súc sinh; ba là, cõi quỷ
qua lại thấy nghe chỉ có quỷ với
địa ngục. Lại nữa ít biết túc
mệnh, chẳng rõ lòng người, không ai
chẳng tăm tối hôn mê, nên quyết nguyện vãng sinh;
thích thế giới Cực lạc hiển
hoát khai thông, mắt Thánh thấy suốt
lẫn nhau, tai Thánh nghe thông lẫn nhau, biết
rõ lòng người, túc mạng thanh tịnh,
thân cảnh không chướng ngại nhau,
pháp tánh viên dung, ánh sáng chiếu soi
khắp chỗ, nên quyết nguyện vãng sinh.
b/ Nguyện sớm vãng sinh nước An lạc,
đoạn tận mọi phiền não thành
Vô thượng Chánh giác
Ở thế giới Ta bà này, tuy phát
tâm thành Phật, nhưng vì ác duyên
đầy dẫy, thiện duyên quá ít,
nên tu hành rất khó, phần nhiều
đều bị thoái thất, mấy ai được
thành Phật. Vãng sinh thế giới Cực
lạc rồi, tức đầy đủ nhân
thành Phật, đầy đủ duyên lành,
hoàn toàn không có ác duyên, tu
hành rất dễ, nhất định không thoái
thất, hết thảy đều được
thành Phật. Vì thành Phật, nên
nguyện vãng sinh Tịnh độ, đó
mới chính là tâm đại trí của
Bồ tát. Nếu không nguyện, thì tuy
được vãng sinh đi nữa, cũng không
sinh vào ngôi thượng phẩm.
c/ Nguyện sớm vãng sinh Tịnh độ,
được học vô lượng pháp môn
và độ vô biên chúng sinh
Ở thế giới Ta bà này mà muốn
một đời thành tựu hạnh Phật Bồ
tát, đầy đủ trí tuệ công
đức của chư Phật Bồ tát, thông
đạt vô lượng pháp môn phương
tiện, khéo tùy thuận tất cả căn
tánh chúng sinh để hóa độ,
khó vô cùng tận! Nhưng nếu hễ
vãng sinh Tịnh độ, hoa khai kiến Phật,
chứng vô sinh nhẫn, tức thâm đạt ngay
thực tướng, thông khắp pháp tánh,
phân thân mười phương cõi
nước, rộng độ vô lượng
chúng sinh. Vì độ sinh, nên nguyện
vãng sinh Tịnh độ, đó mới
chính là tâm đại bi của Bồ
tát. Nếu không nguyện, thì tuy
được vãng sinh đi nữa, cũng không
sinh vào ngôi thượng phẩm.
Có tín chân nguyện thiết, nhưng
nếu không thực hành tu tập, thì cũng
như người bệnh tuy muốn uống linh
đơn diệu dược để trị bệnh,
hòng thân thể khỏe mạnh, kéo dài
mạng sống, nhưng lại không uống theo
đơn trị liệu, thì linh đơn diệu
dược này cũng chẳng ích gì,
không thể có hiệu quả; đây cũng
như vậy. Cho nên tín đã lập,
nguyện đã đủ, cần phải có
thêm hạnh trợ giúp. Ðại khái
hạnh cũng có ba:
Một là, hiếu dưỡng cha mẹ, kính
thờ sư trưởng, cứu giúp sinh linh. Hai
là, đầy đủ tướng quy Phật, quy
Phật pháp, quy Phật pháp tăng, trì
giới tu các phước lành. Ba là, có
tâm tự giác, giác tha, giác hạnh
viên mãn, tin nhân biết quả. Ba hạnh
này là hạnh thông thường của
người tin Phật, và Kinh Quán Vô
Lượng Thọ Phật cũng hạnh này lấy
làm hạnh trọng yếu trên bước
đường vãng sinh Cực lạc.
Chánh hạnh, tức
là niệm Phật A Di Ðà. Vì cầu
vãng sinh Cực lạc, chỉ chuyên nhất
niệm một danh hiệu A Di
Ðà Phật. Niệm Phật A Di Ðà, có:
Giác tánh niệm,
Quán tướng niệm, Trì danh niệm.
Theo như chư hiền triết cổ kim chứng
nghiệm bản thân nói, thì đơn
giản nhất, diệu dụng nhất là trì
danh niệm Phật. Pháp trì danh niệm Phật
lại có ba loại:
Một, niệm định công khóa mỗi
ngày
Lại cũng có hai: 1/ Là mỗi buổi
sáng thức dậy, sau khi tắm rửa xong,
đến trước tượng Phật hoặc kinh
Phật, thân trang nghiêm, mặt quay về
hướng Tây, xướng quy y Phật lạy
một lạy, quy y Pháp lạy một lạy, quy y
Tăng lạy một lạy, xướng Nam mô Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật lạy một lạy,
Nam mô A Di Ðà Phật lạy một lạy, Nam
mô Phổ Hiền Vương Bồ tát lạy
một lạy, xướng Nam mô Tây Phương
Cực Lạc Thế Giới Ðại Từ Ðại
Bi A Di Ðà Phật ba lần, lạy ba lạy;
rồi sau đó hoặc quỳ hoặc ngồi,
hoặc vẫn đứng tùy ý; hoặc niệm
ra tiếng, hoặc niệm thầm bốn chữ A Di
Ðà Phật tùy hơi thở dài ngắn,
niệm trọn mười hơi. Niệm xong, lại
xướng Nam mô Tây Phương Cực Lạc
Thế Giới Ðại Từ Ðại Bi A Di Ðà
Phật lạy một lạy, Nam mô Quán Thế
Âm Bồ tát lạy một lạy, Nam mô
Ðại Thế Chí Bồ tát lạy một
lạy, rồi tụng kệ phát nguyện rằng:
“Nguyện sinh Tây phương Tịnh độ
trung, chín phẩm hoa sen là cha mẹ, hoa nở thấy
Phật ngộ vô sinh, bất thối Bồ tát
là bạn lữ”. Nếu y như đây
ngày ngày hành trì không gián
đoạn, mạng chung chắc chắn vãng sinh
nước Phật. Nếu như những ai phải
làm việc ngoài đồng, không thể
đối trước tượng Phật lễ
bái, thì chắp tay quay mặt về hướng
Tây, chỉ niệm A Di Ðà Phật và
tụng kệ hồi hướng cũng đủ
phép vậy. 2/ Ðịnh công khóa mỗi
ngày mấy lần, niệm bao nhiêu giờ,
lần chuỗi niệm Phật. Mỗi ngày
định khóa niệm mấy trăm, mấy
ngàn, mấy vạn tùy ý, nhưng phải
tăng dần không để giảm sút. Mỗi
thời phải lễ bái xướng tụng như
trên, theo đó mỗi ngày hành trì
không gián đoạn, lâm chung quyết
định vãng sinh.
Hai, hằng thời tùy duyên niệm
Trong tất cả thời, tất cả chỗ,
tùy tất cả duyên, làm tất cả
việc, đi đứng nằm ngồi, nói nín
động tịnh, thấy nghe hiểu biết, sắc
thanh vị xúc, tâm suy nghĩ, ý quán
sát, tức nhiếp sáu căn bằng danh
hiệu Nam mô A Di Ðà Phật. Nếu thấy con
vật bị giết mà không thể cứu,
nên niệm Nam mô A Di Ðà Phật, độ
thần thức nó vãng sinh Tịnh độ.
Nếu gặp người bệnh mà không thể
giúp, nên niệm Nam mô A Di Ðà Phật,
quên đi đau đớn mà vãng sinh An
lạc, đồng thời nên thuyết cho họ nghe
về những niềm vui ở cõi Cực lạc
và nguyện lực của Phật, khuyên họ
chuyên niệm cầu sinh Tây phương. Nếu
gặp những kẻ nhàn hạ, nên niệm Nam
mô A Di Ðà Phật, mong họ tĩnh lặng
không móng khởi tạp loạn. Nếu gặp
người lao động vất vả, nên niệm
Nam mô A Di Ðà Phật, mong họ siêng
năng, mùa màng bội thu, khiến được
yên nghỉ. Nói tóm lại, chỉ là
một câu Nam mô A Di Ðà Phật tịnh
niệm tương tục mà thôi. Nhưng
hạnh này thật không dễ hành, tốt
nhất nên kiêm tu niệm định công
khóa mỗi ngày nữa, ngoài công
khóa đã định mỗi ngày, chính
là tu hằng thời tùy duyên niệm
này. Như vậy thật là trăm ngàn
ổn thỏa.
Ba, kỳ hạn thủ chứng niệm
Sau khi thôi nghỉ việc đời, bỏ hết
gia duyên, hoặc một mình, hoặc cùng
thiện hữu tri thức, hoặc ở chùa,
hoặc ở tịnh thất, hoặc kỳ hạn
một ngày một ngày cho đến bảy
ngày, bảy ngày cho đến bốn mươi
chín ngày, năm ba tháng cho đến một
năm, một vài năm cho đến trọn
đời lễ kính Phật pháp, sám
hối tội chướng, tụng Kinh Tịnh Ðộ
Vãng Sinh và các kinh luật Ðại thừa,
lòng lúc nào cũng phát nguyện cầu
sinh Cực lạc, ngày đêm sáu thời
đi đứng nằm ngồi, không rời câu A
Di Ðà Phật, kỳ hạn cho mình phải
niệm thành nhất tâm bất loạn, thân
chứng niệm Phật Tam muội, hiện tiền tức
được thấy rõ ràng Tịnh độ
Tây phương an lạc và chư đại
Bồ tát câu hội nhất xứ, vậy
thì tuy chưa xả báo thân ở cõi Ta
bà, nhưng đã chứng được quả
Cực lạc rồi vậy. Cho nên những
người tu theo hai cách trên, mỗi năm
nên tổ chức niệm Phật bảy lần
là tốt nhất.
C/ Trợ hạnh
Tùy hỷ tùy sức tu hành bố thí
tài, như là ấn tống kinh sách, xây
chùa tạo tượng, trai tăng, phóng sinh,
xây dựng cầu cống, uỷ lạo giúp
người nghèo khó, nuôi dưỡng trẻ
mồ côi người già cô độc...
Tùy hỷ tùy sức tu hành bố thí
pháp, như là hiếu dưỡng cha mẹ,
dạy người hiếu thảo với cha mẹ,
giúp đỡ nước nhà, dạy
người giúp đỡ nước nhà,
thọ tam quy, dạy người thọ tam quy, hành
trì năm giới, dạy người hành
trì năm giới, tự niệm Phật A Di
Ðà, dạy người niệm Phật A Di
Ðà, mình tụng kinh điển đại
thừa, dạy người tụng đọc Kinh
điển Ðại thừa, cho đến mở
pháp hội lớn, xây dựng đại
pháp tràng... Nói tóm lại, phàm
là những điều lành, không điều
gì là không tự nêu gương, và
nhất nhất đều hồi hướng vãng
sinh Tây phương Cực lạc, không cầu
phước báo trời người thì vạn
thiện đồng quy, đồng quy Tịnh độ.
Ngài Thái Hư nói: Là người tu pháp môn này, như bỏ hết chỉ nắm lấy một vật. Tín như con mắt, cần phải nhìn thấy cho rõ ràng, đích xác vật ấy, chính xác là vật đáng lấy, chính xác là vật ta có khả năng lấy, sau đó mới lấy nó. Hành như đôi chân, cho dù từ xa mắt đã thấy mà chân không bước thì không thể lấy, rồi chân bước mà không giương tay ra nắm lấy thì cũng không thể được. Như vậy phải vận hành đồng thời cả mắt, tay, chân mới lấy được vật. Cho nên không chỉ có Tín, mà phải có cả Hạnh Nguyện; có Nguyện, không thể không có Tín Hạnh; có Hạnh, cũng không thể thiếu Tín Nguyện; hoặc là có Tín Nguyện không thể không có Hạnh, có Nguyện Hạnh không thể thiếu Tín, có Tín Hạnh tất phải có Nguyện vậy. Phật thừa diệu giác, gọi là Tín, Nguyện, Hạnh. Xác thật được có được ở đó, chính là pháp môn niệm A Di Ðà Phật vãng sinh Tịnh độ. Nắm chắc điều này, chỉ có ở con người vậy.
--- o0o ---
Vi tính: Diệu Huệ. Trình bày: Anna
Cập nhật: 1-7-2004