
Matsuo Bashō
Vietsciences- Lê Thiện
Dũng 23/01/2006
Bashō là bút hiệu của
Matsuo Munefusa (1644-1694), một nhà thơ Nhật bổn,
được xem là người viết haiku Nhật
bản thanh lịch nhất trong lúc khởi đầu
loại thơ này. Sinh ra trong gia đ́nh hiệp sĩ
đạo nổi tiếng trong giới quư tộc, Bashō
từ bỏ thế giới đó và trở thành kẻ du
mục, học thiền, sử và thơ cổ Trung hoa,
sống hạnh phúc nhờ sự bảo trợ khiêm
nhường và những tặng phẩm của nhiều
học tṛ của ông. Từ 1667, ông sống tại Edo (bây
giờ là Tokyo), nơi ông bắt đầu sáng tác
thơ (Vietsciences)
Sau năm 1600 không bao lâu, những hỗn loạn do nội
chiến kéo dài qua hàng nhiều thế kỷ đă đi
đến kết thúc; Tokugawa Ieyasu thiết lập Shogunate,
một chính phủ quân phiệt không chấp nhận có
đối thủ và, trước Hoàng Đế, chỉ là
thuộc hạ trên danh nghĩa. Năm 1638, dưới
nền shogun đệ tam, một nước Nhật hoàn
toàn b́nh định đă chính thức tách rời khỏi
thế giới, và năm 1644, Matsuo Bashō ra đời.
Có thể ở một tuổi đời nào đó,
Bashō đă là thi sĩ; nhưng ông chỉ thực sự
khám phá tự thân trong khả năng thuận lợi dị
thường cho sức phát triển và nhăn thức thiên tài
của ông. Với mọi người, cuộc sống
một lần nữa trở nên an ổn hơn, tầng
lớp bourgeoisie (tư sản) giàu có và nhàn rỗi đang
sinh thành; và samurai - những người thuộc tầng
lớp chiến binh - không thể hướng năng
lực của ḿnh vào thuật chiến tranh lâu hơn
nữa, có khuyng hướng chuyển dịch chúng vào các
nghệ thuật của hoà b́nh, trong đó thi ca trở thành
phổ biến nhất.

Có vẻ như Bashō đă khởi sự sáng tác vào
năm lên chín. Nhưng bài thơ được ghi chép
đầu tiên của ông - thật ra, cũng khó có thể
xem đây là thơ cho dù theo bất kỳ tiêu chuẩn nào -
lại chỉ có lúc ông ở vào khoảng ba mươi
tuổi. Bài thơ viết cho năm Dậu, là một
thứ jeu d'esprit (lời dí dỏm), mừng năm mới
rơi vào giữa hai năm Tuất và Thân theo như cách
sắp xếp địa chi của lịch Nhật
Bản :
Bầy bạn
Của
chó và khỉ
Năm
Dậu
Nỗ lực này, trong thể thức của nó, hầu
như là cũng biết : truyện kể về Momotaro,
một cậu bé đă diệt trừ nhiều ma qủy
nhờ sự hỗ trợ của đám tùy tùng gồm
một con chó, một con gà lôi và một con khỉ.
Năm 1666, Lord Sengin
đột ngột từ trần. Không đầy hai tháng
sau; Bashō vào tu viện ở Koyasan, ông " xuất gia
đi tu ". Nơi đây, không nghi ngờ ǵ ông đă suy sụp
hoàn toàn v́ cái chết của người chủ thân yêu, và
ấn tượng do cái chết để lại sẽ
ảnh hưởng lên toàn bột cuộc đời ông.
Hơn hai mươi năm sau, ông trở lại Iga
giữa mùa xuân, đứng dưới những cội anh
đào, nơi Sengin và ông từng học hành và nô đùa
suốt một thời gian dài đến thế, với
trái tim ngập tràn cảm xúc để làm một bài thơ
b́nh thường, tất cả những ǵ ông có thể nói
là :
Hoa đào hoa đào
Trong tâm tưởng gieo rắc
Biết bao điều
Tuy nhiên, cho dù Bashō đă khước từ " thế
sự " th́ điều này cũng không có nghĩa ông
tự hăm ḿnh trong tu viện : sau đó người ta
được biết ông đă có mặt ở Kyoto,
đang nghiên cứu hài cú dưới sự hướng
dẫn của Kigin và bắt đầu nổi tiếng.
Khi Kigin đi Edo (
Vào thời kỳ này, Bashō chưa đạt tới
đỉnh điểm tài năng của ông, nhưng có
một giai thoại đă minh họa quan điểm của
ông về thi ca. Một hôm, lúc Kikaku và ông băng qua cánh
đồng, trông thấy những con chuồn chuồn
đang lao vụt, chàng trẻ tuổi đă làm một bài
thơ mười-bảy-âm-tiết :
Hỡi chuồn chuồn đỏ
Đôi cánh rứt
Ồ những trái ớt
"Không !" Bashō nói. " Đó không phải là hài cú.
Nếu muốn làm một bài hài cú về đề tài này,
con phải nói :
Những trái ớt son
Đôi cánh chắp
Tung toé lũ chuồn chuồn
Dần dần, trường phái Bashō tăng
trưởng về số lượng thơ và tiếng
tăm, và ít năm sau, thêm vào hài cú, Bashō đă góp
phần ḿnh trong nhiều thiên sách về renga (thơ liên
hoàn). Vào năm 1679, ông viết bài thơ đầu tiên theo
phong cách mới vẫn làm liên tưởng đến tên
tuổi ông và được nhiều nhà thơ hài cú đi
sau xem là mẫu mực :
Trên tiều tụy cành
Bóng qụa
Rũ chiều thu
Có ít nhất hai trọng điểm kỹ thuật làm cho
bài thơ trở thành mẫu mực. Một, cả tâm
cảnh hay niềm cảm xúc được biểu
hiện bởi miêu tả dung dị - một tŕnh bày
đơn sơ về sự vật đă hoàn thành bức
tranh. Hai, hai phần đă cấu thành cái toàn thể
được đối chiếu với nhau, không bằng
các biện pháp tu từ so sánh hoặc ẩn dụ, mà
như hai hiện tượng đơn lập. Có thể
gọi đây là "nguyên lư đối chiếu nội
tại" trong đó những biệt dị th́ cũng
hệ trọng như những tương đồng.
Ở đây, không đơn thuần là "trên cái héo
hắt tàn tạ của cảnh vật chiều thu, hoàng
hôn rũ xuống tựa hồ ủ rũ một bóng
quạ", đó là sự tương phản giữa h́nh
hài đen đủi nhỏ nhoi của con quạ với
cái âm u của mộ cảnh, và bất kỳ những ǵ
người đọc có thể t́m thấy trong đó.
Qủa là dễ hiểu được làm thế nào
việc xử dụng kỹ thuật này đă khiến cho
hài cú trở nên sâu thẳm, biến nó thành điểm
khởi cho tư lự và tưởng tượng.
Bản thân Bashō cũng không luôn luôn đi theo mẫu
mực này, nhưng trong hài cú về sau của ông - cả
những bài không hoàn toàn khách quan đến thế - ít ra th́
phép "đối chiếu nội tại" vẫn
được nội hàm. Trừ phi ẩn ư này
được nhận thấy, phần nhiều hiệu
quả của thơ đều thất lạc. Một
minh họa cho nhận định này là hài cú " Hoa Đào
" đă dẫn ở trên, với h́nh tượng anh
đào (biểu tượng của cái đẹp mong manh)
được xử dụng vừa như một phông
cảnh, vừa có mục đích đối chiếu
với những ǵ mà ,"trong tâm tưởng", hoa
đă "gieo rắc".
Vào thời kỳ viết bài thơ "Con Qụa, Bashō
đang t́m kiếm một cách có ư thức cái đẹp thi
ca phải được t́m thấy trong những ǵ tự
nó không đặc biệt đẹp. Ông c̣n đang khai thác
kỹ thuật viết đồng thời phát triển
sức thấu thị của thơ. Hai năm sau, vào
năm 1681, một biến cố nào đó đă đột
ngột xảy đến với ông. Ông tuyên bố
rằng cuộc đời ông, thuần phác là vậy,
vẫn có tính chất "quá thời lưu", và ông
khởi sự nghiên cứu nghiêm mật về Thiền -
một tông phái Phật giáo chuyên chú vào sự chiêm nghiệm.
Sau biến cố đó, trong mười năm cuối
đời, chừng như tất cả thơ hay nhất
của ông được viết ra.
Khoảng đầu năm 1686, Bashō viết một hài
cú có lẽ được biết đến nhiều
nhất trong Nhật văn và cũng được chính
ông xem như đă đánh dấu bước ngoặt
hệ trọng trong đời thơ của ông. Bài thơ
tự nó có vẻ dễ gây ngộ nhận là mộc
mạc :
Ao hoang
Ếch nhảy vào
Tiếng nước
Nhiều nhà phê b́nh có thẩm quyền đă khám phá trong hài
cú này một ảo nghĩa bí truyền; những
người khác lại xem nó như quá u huyền để
có thể cảm thức được ǵ. Tuy nhiên, do
sự kiện hai ḍng cuối lại được sáng tác
trước, một nguồn sáng nào đó đă soi vào tác
phẩm. Trường hợp này chừng như đă
được chứng thực. Bashō đang ngồi
với bằng hữu và môn đệ trong khu vườn
của ngôi nhà nhỏ của ông ở
hài cú này, về h́nh thức, có lẽ hoàn toàn giống bài
thơ "Con Quạ", nhưng chắc chắn sự
"đối chiếu nội tại" giữa ao hoang
và tiếng động bất chợt th́ ẩn áo vi
diệu hơn nhiều so với giữa con qụa và
chiều thu. Và tâm cảnh do bài thơ biểu hiệu
chắc hẳn phản ảnh một nhân sinh quan đă sai
biệt.
Chỉ là tương đối khi một ít thơ
Bashō hiển nhiên có tính chất tôn giáo dù cho nhiều hài
cú lại có vẻ là ghi chép về những kinh nghiệm
gần như huyền nhiệm của ông. Trong Hành Tŕnh
Sarashina chẳng hạn, Bashō chép rằng trong khi đi
qua rặng Kiso, ông và Etsujin - môn đệ của ông -
chợt nhận ra họ đang trèo ngược lên một
ngọn đèo dựng đứng hiểm ác. Bên trái, hun hút
một hẻm núi, và dưới ḷng vực cách chỗ
họ đứng hàng ngàn bộ, một con lũ đang
tuôn túa cuộn trào. Hai người bước từng
bước khiếp hăi, cho tới khi đến một
chiếc cấu treo ràng rịt loài dây leo thường xuân
bắt lắt léo ngang hẻm núi mà họ phải
vượt qua. Bashō không cho biết chi tiết về
cảm giác của ông, ông chỉ viết thêm một hài cú :
Lắt lẻo cầu treo giăng bắc
Sợi tồn sinh
Quấn quít lũ thường xuân
Cũng có những hài cú mặc nhiên có tính chất tôn giáo
đối với bất kỳ một Phật tử
Nhật Bản nào :
Đêm chăng bẫy loài mực phủ
Trăng hè bóng dơi
Mộng phù sinh
Bẫy bắt mực phủ (bạch tuộc) là những
hũ đất nung đặt giăng ngang chỗ
nước cạn. Trong đêm, loài vật này bơi
giật lùi vào trong bẫy như thể đó là kẽ đá
và, khi trời sáng, không thoát ra được nữa. Trong
nguyên ngữ, với đề từ "xuống
thuyền", hiệu quả của wo là biến mặt
trăng thành chủ thể, ám thị con trăng vẫn
thâu đêm soi dơi xuống trập trùng đại
dương, xuống chiêm bao bào ảnh. Ở đây dù
người đọc không đi sâu vào những biếu
tượng Phật giáo như con thuyền và mặt
trăng, ư đạo vẫn hiển lộ. Tuy nhiên,
đáng chú ư là khi nào dùng từ "mộng",
dường như Bashō cũng liên tưởng
đến kiếp người. Và có lẽ lại càng
đáng chú ư hơn là, đối với Bashō,
"ảo ảnh" thế giới dường như
không có dụng nghĩa, thế giới chỉ trú ngụ
trong cái phi thực nào, nhưng đúng hơn, tương
tự đối với St. Thomas Aquinas, nó c̣n thực
hữu hơn như có vẻ thế.
Phần lớn hài cú c̣n lại của Bashō là những
miêu tả đơn sơ về cảnh vật, sự
việc có thực với chi tiết vừa đủ cho
phép người đọc tự đặt ḿnh vào vị
trí của tác giả, chia xẻ cảm xúc với ông.
Tiếc thay, có những khác biệt nào đó trong hài cú -
mặc dù hoàn toàn minh bạch đối với đề
tài Bashō viết - lại vô nghĩa với hấu
hết người nước ngoài, nên chi ở đây phải
được lược bỏ. Dù sao, chúng tôi cũng
không cưỡng lại nổi việc dẫn ra đây
một hài cú đặc biệt đáng ưa chuộng :
Mưa tháng Năm khuất lấp
Vịnh Seta
Tràng Kiều u hiển bóng qua
"Tràng Kiều" ở Seta là một trong tám kỳ quan
của hồ Omi lừng danh được hầu hết
người Nhật và, qua ảnh chụp của Hiroshighe,
ít nhất cũng có một số người nước
ngoài biết đến . Cầu xây trên những trụ
đỡ, bắc qua phần cuối phía Bắc của
hồ Omi, ở đó hồ thắt lại thành một
vịnh nhỏ, nước tràn qua một ḍng sông con. Khi
viết bài thơ này, có lẽ Bashō đă đứng
trên cùng "quan điểm" với Hiroshighe ( và như
chúng tôi cũng có được may mắn đó ), thấy
cây cầu bắc từ bờ sông vượt qua cả
một vùng nước rộng. Tuy nhiên, cây cầu th́ dài
đến nỗi, trong cơn mưa lớn, dù
được nh́n từ vị trí nào th́ cũng chỉ thấy
nổi mỗi một đầu cầu mà thôi; và tất
nhiên, bên kia cầu, bảy kỳ quan khác đă là vô ảnh.
Có thể hài cú này đă khởi hứng cho một giai
thoại chừng như hoàn toàn ngụy tác : một
lần, người ta hư lộng yêu cầu Bashō sáng tác
một hài cú về tất cả tám kỳ quan. Điểm
then chốt của tṛ đùa là trong một tanka (ba muơi
mốt âm tiết) rất nổi tiếng, với hàng
loạt lối chơi chữ, tám kỳ quan đă thực
sự được đề cập bằng tên gọi.
Tuyệt đối không thể phô diễn nội dung này
trong mười bảy âm tiết, nhưng giai thoại cho
biết Bashō đă thoát bẫy bằng cách trả
lời :
Đền Mii
Bội âm chuông
Bảy kỳ quan lịm sương
"Tiếng chuông đền Mii" được nghe ra
đă nện trầm một thiện âm siêu việt, là
một trong những ǵ gọi là "kỳ quan".
Thêm vào Sarashiko Kikô, Bashō viết nhiều tản văn
khác. Nổi tiếng nhất là Oku No Hosomichi (Nẻo về
Oku) góp nhặt những ghi chép về cuộc hành tŕnh sáu
tháng khởi đi từ Edo vào mùa xuân 1689, qua các vùng Bắc
Nhật, rồi kết thúc tại ngôi đền thiêng Thái
Dương Thần Nữ ở Ise. Tác phẩm rất
ngắn với khoảng năm mươi hài cú. Tuy
vậy, không thể nghi ngời ǵ, đây là một trong
những tác phẩm lớn của văn học Nhật
Bản, và có lẽ nó được chú giải nhiều
hơn bất kỳ một tác phẩm nào cùng tầm
cỡ trên thế giới.
Tản văn Bashō, tương tự hài cú của ông,
hết sức cô đọng; ngôn ngữ ám thị theo phong
cách Bashō không hề vướng mắc trong thời
đại của ông, nhưng ngày nay lại như hoá ra
mơ hồ. Ngay nhan đề của tác phẩm cũng
đă là một đề tài tranh luận : một phần,
v́ michii (đường, đạo) có thể hoặc là
số ít, hoặc là số nhiều; phần khác, do từ
oku là một tinh ngữ gắn liền với các tỉnh
Bắc Nhật, có ư nghĩa nền tảng tựa hồ
"nội tâm". Điểm quan trọng tương
tự cũng nêu ra trong một hài cú khác, ở đó khúc ca
về "oku th́ tương phản với nghệ
thuật công phu phức tạp của các đô thị
(füryù) Bashō thuật lại mẩu đối thoại
sau khi ông vào miền "oku" :
"Chủ nhân của lữ quán hỏi
trước : "Khi đi qua cổng Shirakawa, ông có sáng tác
bài thơ nào không ?"
Nỗi nhọc nhằn của hành tŕnh dài ngày đă làm cho
tinh thần và thể xác tôi mệt mỏi, hơn nữa,
tôi bị cuốn hút v́ phong cảnh, bị thổi bạt
đi bởi niềm cảm khái về thời quá văng do
cảnh vật gợi dậy, nên lúc đó tôi không có
được tâm thái thích hợp để làm thơ. Tuy
nhiên, nghĩ rằng thật là đáng tiếc nếu
như cứ im lặng đi qua, tôi đă làm hài cú sau :
Khúc ca mùa gieo cấy
Trên thắm biệt xứ miền
Nghệ thuật khởi nguyên
"Tôi đưa cho người chủ quán khách hài cú
ấy như là một câu trả lời, và chúng tôi đă
thêm một bài thứ hai, rồi một bài thứ ba, và
thế là bài thơ hoá thành renga (thơ liên hoàn).
Về bài thơ này, nhiều trang b́nh luận đă viết
ra, nhiều cách giải thích cũng đă tŕnh bày. Một,
trực chỉ oku từ một Edo rất mực hoa
lệ, Bashō có ấn tượng về một lẽ
thật là, trên phương diện tài chánh, chỉ có
việc trồng lúa mới làm cho đời sống xa hoa
trở thành khả hữu. Hai, ông chỉ ra mối
tương quan thiết yếu giữa cái đẹp
tự nhiên và tính chất giản dị tự nhiên. Ba,
Bashō chỉ muốn khen tặng người chủ quán
khách. Bài thơ muốn nói những điều riêng biệt
với nhiều người khác nhau, và người
đọc có thể tự chọn lấy (...)
Ở một đoạn khác, Bashō thuật lại ông
đă lên Takadata, ṭa-lâu-đài-trên-ngất-ngọn, nơi
người anh hùng dân tộc Nhật Bản Yoshisune và
những kẻ tùy tùng trung nghĩa cuối cùng đă bị
sát hại. Từ trên cao, ông có thể nh́n thấy
đồng bằng Haraizumi với những đồng
cỏ ngan ngắt một mầu lục diệp, nơi các
thị tộc Fujiwara xưa kia từng sống một
thời huy hoàng. Bashō cho biết ông đă lên tận lâu
đài, tư lự về những vàng son đă quá và, khi
chợt nhận ra tất cả chỉ c̣n là một vùng
cỏ dại xanh ŕ, ông đă ngồi xuống thở than
như thế nào :
Natsu - gusa ya
tsuwamono - domo ga
yume no ato
Hầu như không thể nào làm sống dậy bài thơ
qua bản dịch, v́ không t́m ra nổi từ ngữ thích
đáng . Natsu - gusa có nghĩa là tất cả những loài
cỏ dại mùa hè, phát triển rất nhanh ; tsuwamono theo
nghĩa chữ là "tráng sĩ", một danh hiệu
dành cho kẻ chinh chiến thời trung đại vẫn
c̣n khá cổ đối với cả thời đại
Bashō; -domo , một tiếp ngữ số nhiều; yume
"mộng", với hai nghĩa phụ : "huy hoàng,
rực rỡ", "nhân sinh nhược đại
mộng"; và ato, một từ có nghĩa nền tảng
là "sau", nội hàm các khái niệm : thành tích, dấu
vết, hậu qũa, những ǵ bỏ lại đàng
sau...
Dấu xưa xanh cỏ tháng hè
Tráng sĩ tráng sĩ hề
Mộng lữ
Trong nguyên ngữ, bài thơ dẫn truyền một cảm
xúc tiếc thương dữ dội, ít nhất một
phần do triền âm cuồn cuộn tsuwamono - domo , và sau
đó, tiếng răng rắc rạn găy của ato .
Mặc cho tính cách hoà nhă và Thiền, Bashō vẫn là
người thuộc ḍng dơi samurai, và ông chỉ đang
sống trong một thời kỳ mà samurai không c̣n làm nên
nổi bao nhiêu kỳ tích vẻ vang nữa.
Trên phương diện nào đó, sau hài cú "Cỏ Hè
" là một bài thơ đối nghịch bổ sung cho
nó; bài thơ có vẻ hy vọng tràn đến tương
lai thay v́ u hoài trở về dĩ văng :
Chập chùng
Mưa tháng Sáu
Sừng sững lầu Dương Quang
Lầu Dương Quang là một trong những Kim Các Tự
của Chùsonji, một trong những chứng tích sau cùng c̣n
lại từ thời đại vàng son của các nam
tước Bắc Fujiwara - những ông hoàng một ḿnh
một cơi trong thế kỷ thứ XII . Oka - no - Hosomichi ,
sau khi miêu tả cảnh tượng tàn phá của gió và
thời tiết, Bashō thuật lại rằng
trước khi ông đến đó không bao lâu, lầu
Dương Quang đă được xây bọc trong
một kiến trúc kiểu mới để bảo
tồn nó thành một đài kỷ niệm " cho ngàn
năm sau ". Có lẽ ước vọng này đă
trở thành hiện thực, v́ cho đến ngày nay,
cũng như vào thế kỷ IX, lầu Dương Quang
vẫn sừng sững (...)
Vào năm 1694, Bashō tạ thế. Và đúng như
ước nguyện, ông đă qua đời trên nửa
đường của một chuyến vân du đẹp
nhất, giữa bằng hữu và môn đệ.
Suốt trận đau cuối cùng, ông không ngớt đàm
luận về Đạo, Triết lư và Thi ca (thật ra,
đối với Bashō, cả ba hầu như chỉ
là một). Và khi biết rơ Bashō đang hấp hối,
bằng hữu của ông yêu cầu ông cho họ một bài
" tử thi " ( từ thế chi ca, jisei no uta )
với nội dung tổng quát về triết lư của ông,
Bashō từ chối với lư do thơ trong mười
năm cuối đời của ông, khởi đầu
từ hài cú "ao hoang" , tất cả đă
được sáng tác như thể đó là một bài
thơ cốt tử. Nhưng sáng ngày hôm sau, ông gọi
một người đến một bên, trối rằng
trong đêm hôm trước ông đă nằm mộng, và khi
tỉnh thức, một hài cú chợt đến với ông.
Không nghi ngời ǵ, đó là lời từ trần hoàn
thiện mà chưa một thi sĩ nào đă có thể
gửi lại nhân gian :
Nửa đường ngả bệnh
Mộng c̣n ngao du
Đồng không mông quạnh
Lê
Thiện Dũng