MẬT TẠNG
VIỆT
NGŨ ĐẠI
HƯ KHÔNG TẠNG BỒ TÁT
TỐC TẬT
ĐẠI THẦN NGHIỆM BÍ MẬT THỨC KINH
SỐ 1194
Quyển Ba Mật
Tạng
Kim Cang Trí
thích nghĩa
Y theo kinh Du
Dà đã nói
Đời
sau bạch phước các Tỳ kheo
Tu lâu
các pháp Phật bí mật
Không đươc
hiện tiền các phước trí
Cùng
với không quang không địa vị
Vì
muốn hoá độ các chúng sanh
Nói ra
pháp rất bí mật nầy
Ba đời
chư Phật pháp thần nghiệm
Mau
chóng đắc được pháp cứu
cánh
Thích
tôn dạy bảo các Tỳ kheo
Tuỳ
lực bố thí tiền tài báu
Vì
quả Bồ đề gọi chọn lựa
Truyền
thọ nhớ niệm gắng tu hành
Nếu
như bố thí không cung kính
Thọ đạo
tu hành không cảm ứng
Muốn cho
pháp nầy được đại nghiệm
Cần phải tạo lập bí
mật bàn (mâm).
Cây
bạch đàn, cây bá, cây quế sống
trăm năm thành linh mộc, dùng tạo
thiên bàn vuông vức hai tấc năm phân,
hoặc ba tấc, địa bàn bốn mặt
sáu tấc, hoặc bảy tấc, thiên sắc
dùng màu xanh, trong viện địa màu
vàng, trung viện màu xanh, ngoài viện
màu đỏ, phương dưới bốn mặt
hư không màu xanh, dưới màu vàng.
Thiên hậu (chiều dài) một tấc ba
phân, địa hậu một tấc tám phân.
Mặt hướng Đông, Thiên bàn hoạ
Phước Trí Hư Không Tạng Bồ tát
ngồi trên hoa sen báu màu trắng, đội
mão báu ngũ Phật, dùng các thứ anh
lạc nghiêm sức nơi thân, tay phải thí
vô uý, tay trái cầm hoa sen báu, trên
hoa có chày yết ma màu vàng. Hướng
Đông vẽ chữ Hồng. Hướng
NGŨ ĐẠI
HƯ KHÔNG TẠNG BỒ TÁT
THÀNH TỰU
TẤT ĐỊA
Phẩm thứ Hai
Căn
Bản Tối Thượng Tam Đà La Ni:
-
Đông
Phương Bồ Tát Chú:
-Úm
phạ nhựt ra hồng.
-Úm phạ nhựt ra đát
lạc.
Tây
Phương Bồ Tát Chú:
-Úm
phạ nhựt ra hật
rị.
Bắc
Phương Bồ Tát Chú:
-Úm phạ
nhựt ra ác.
Trung
Ương Bồ Tát Chú:
-Úm
phạ nhựt ra vảm.
Ấn
khế như kinh Du dà nói. Người tu
hành trước phải tương ưng lập đạo
tràng, tuỳ chổ mà lập, cần chọn
nơi thanh tịnh vắng lặng, xa lìa chổ
ồn ào, dơ uế, bất tịnh, đồng nam
đòng nữ, bất tín di, bần cùng,
áo quần dơ dáy đựng chạm. Muốn
cầu thành tựu, cần phải y pháp dâng
các món cúng dường, an trí nơi
Bổn tôn bàn, hướng về trước
tuỳ nguyện ngày đêm ba thời tụng căn
bản chú một trăm vạn biến, tức được
đại trí huệ, được đại an
lạc đệ nhất trong đời.
Nếu
muốn tất cả đều được đại
tự tại, tuỳ lực dâng các đồ
cúng dường hộ ma, tất cả sở cầu
đều được thành tựu. Các
vật hộ ma phải tương ưng như đã
nói trong các phẩm Tất Địa ( Phần
này do sư khẩu truyền chọn lựa đệ
tử, nếu không thì không nên trao cho).
Nếu người
muốn được đại trí huệ,
dùng Nam Phương Bồ Tát thêm Tỳ Sa
Môn, mà cầu tức được. Nếu
muốn được quốc vương thương
nhớ, dùng Tây Phương Bồ Tát
thêm Tỳ Sa Môn mà cầu tức được.
Nếu muốn được Vương hậu, thể
nữ cho đến các người nữ cao quí
thương yêu, dùng tây Phương Bồ
Tát thêm Tỳ Sa Môn mà cầu tức được.
Nếu muốn được quan lớn thương
yêu, dùng Tây Phương Bồ Tát
thêm Tỳ Sa Môn mà cầu. Nếu muốn
thành đại phước trưởng giả,
dùng Nam Phương Bồ Tát thêm Tỳ Sa
Môn mà cầu. Nếu muôn được đại
quan qui y tôn trọng, dùng Đông Phương
Bồ Tát Thêm Đế Thích mà cầu.
Nếu muốn thắng được mọi
người trong thiên hạ, được tự
tại, dùng Bắc Phương Bồ Tát
thêm Phạm Thiên mà cầu. Nếu muốn
thành tựu mọi việc thế gian, xuất
thế gian, dùng Trung Ương Bồ Tát thêm
Đông Phương Thiên mà cầu. Nếu
muốn được đại linh nghiệm cho
người khác, dùng Nam Phương Bồ
Tát thêm Tây Bắc Thiên mà cầu.
Nếu muốn được đại linh nghiệm,
lợi lạc tất cả chúng sanh, dùng Đông
Pjương Bồ Tát thêm Tây Nam Thiên
mà cầu. Nếu muốn được quan chức,
dùng Đông Phương Bồ Tát thêm
Tỳ Sa Môn Thiên mà cầu. Nếu muốn được
tất cả mọi người thương mến ,
dùng Tây Phương Bồ Tát thêm Tỳ
Sa môn mà cầu. Nếu muốn thắng các
chỗ luận nghị , dùng Nam Phương Bồ
Tát thêm Phạm Thiên mà cầu. Nếu
muốn hàng phục kẻ ác, dùng Bắc
Phương Bồ Tát thêm Tây nam Thiên
mà cầu. Nếu muốn trừ bệnh nóng
dùng Trung Ương Bồ Tát thêm Tây
Bắc Thiên mà cầu. Nếu muốn trừ
bệnh lao, bệnh thủng, bệnh liệt dung Bắc
Phương Bồ Tát thêm Tây Nam Thiên
mà cầu. Nếu muốn trừ các
chướng nạn quan vị, dùng Đông
Phương Bồ Tát thêm Tây Bắc Thiên
mà cầu. Nếu muốn làm chủ các
pháp sư, dùng Nam Phương Bồ Tát
thêm Đông Nam Phương Thiên mà
cầu. Nếu được chư Phật, Bồ
Tát hộ niệm, dùng Trung Ưng Bồ Tát
thêm Đông Nam Phương Thiên mà
cầu. Nếu muốn được phú nhơn
thương yêu, dùng Nam Phương Bồ
Tát thêm Tỳ Sa Môn mà cầu. Nếu
muốn cột trói thiên hồ địa hồ
(yêu chồn), dùng Đông Phương Bồ
Tát thêm Tây Nam Thiên mà cầu. Nếu
muốn trừ diệt quỉ thần dựa vào,
dùng Bắc Phương Bồ Tát thêm
Diêm ma Thiên mà cầu. Nếu muốn diệt
trừ định nghiệp, dùng Đông
Phương Bồ Tát thêm Diêm Ma Thiên
mà cầu. Nếu muốn diệt trừ con nít đoản
mạng, được sống lâu, dùng Đông
Phương Bồ Tát thêm Diêm Ma Thiên
mà cầu. Nếu muốn phụ nữ mau sanh,
dùng Bắc Phương Bồ Tát thêm
Diêm Ma Thiên mà cầu. Nếu muốn cấm
các ác quỉ ác độc không đến
không đến, dùng Đông Phương
Bồ Tát thêm Diêm ma Thiên mà cầu.
Nếu muốn phản các ác nhơn trú
trớ, dùng Bắc Phương Bồ Tát thêm
Tây Nam Thiên mà cầu. Nếu muốn ngưng
các nạn lửa, dùng Trung Ương Bồ
Tát thêm Tây Bắc Phưong Thiên mà
cầu. Nếu muốn trừ hạn hán,dùng
Trung Ương Bồ Tát thêm Đế Thích
Thiên mà cầu. Nếu muốn trừ các tai
nạn tật bệnh lưu hành, dùng Bắc
Phương Bồ Tát thêm Diêm Ma Thiên mà
cầu. Nếu muốn được Cưc Lạc
thượng phẩm thượng sanh, dùng Tây
Phương Bồ Tát thêm Diêm Ma Thiên
mà cầu. Nếu muốn cứu độ bảy đời
phụ mẫu, lục thân quyến thuộc và
tất cả chúng sanh đọa nơi địa
ngục được vãng sanh Cực Lạc,
dùng Tây Phương Bồ Tát thêm
Phạm Thiên mà cầu. Nếu muốn vợ
chông thương yêu, dùng Tây Phương
Bồ Tát thêm Tỳ Sa Môn mà cầu (ghi
tên tuổi nam nữ hoà hợp thiên địa
đối nhau). Nếu muốn vợ chồng xa lìa
các ác, dùng Bắc Phương Bồ
tát thêm Tây Nam Thiên mà cầu. Nếu
muốn phụ nữ xa lìa thương yêu
trở lại, dùng Bắc Phương Bồ Tát
thêm Tỳ Sa Môn mà cầu. Nếu bị
trộm cướp tài vật muốn được
lại, dùng Bắc Phương Bồ Tát
thêm Diêm Ma Thiên mà cầu. Nếu muốn
kêu gọi kẻ ở và trâu ngựa bỏ đi,
dùng Nam Phương Bồ Tát thêm Phạm
Thiên mà cầu
(trên đây là bốn mươi bí
thuật).
Gia
trì bỏ mật tác pháp như trong cầu văn
trì nghi quỉ đã nói. Kiện pháp
nước Thiên Trúc Bồ đề truyền.
Không cần nhiều thứ, nhiều người
làm rất nghiệm ghi lại, gia trì cúng
vật dùng Mã Đầu Minh Vương ấn
chơn ngôn:
- Úm a
mật lật đổ nạp bà phạ hồng
phấn tra sa phạ ha.
Đại
luân đàn ấn: Hai tay nắm thành
quyền, địa phong câu nhau, để nơi
ngực, tụng chú ba biến. Lại gia trì đàn,
dùng ấn để nơi miệng.
- Um a
phạ nhựt ra chước yết ra nhạ hồng
vãm hô.
Niệm
Châu gia trì chơn ngôn:
- Úm
tỳ lô giá na mạ lệ ta phạ ha.
Lại
tụng Thí chuyển niệm châu:
-
Úm phạ nhựt ra ngục hê da nhạ bát
sam ma duệ hồng.
Kiết
tường Thiên tiểu chú:
- Úm ma
ha chi lợi duệ sa bà ha.
Thiên
Vương Phạm tự chú:
- Úm
tỳ trí tu đa ca tất dã ta bà ha.
Tứ
Thiên Vương thang chú:
- Úm
tự bà la sa diễm đà la dạ sa bà ha.
Sứ
giả chú:
- Úm đậu
lưu đậu lưu địa lợi địa
lợi độ lộ độ lộ ca tha da sa bà
ha.
Đại tam ma gia ấn
chơn ngôn: Hai tay kết Kim Cang quyền, dựa
lưng nhau, thẳng hai phong đầu dính nhau,
dùng ấn đưa từ tim lên đảnh ba
lần, tán ấn nơi đảnh.
- Năng
mồ tam mãn đà một đà nẫm đạt
ma đà da tát phạ bà phạ câu
hàm.
Quảng Đại
Bất Không Ma Ni Phổ cúng dường ấn:
Hai tay Kim
Cang hợp chưởng, đầu hai ngón trỏ
vịn như hình bảo, thẳng hai ngón
cái tức thành, tụng Bất Không Ma ni
cúng dường chơn ngôn.
- Úm a
mộ dà bố nhạ ma ni bạt nạp ma phạ
nhựt lệ đát tha nghiệt đa vĩ lộ
chỉ đế tam mãn đa bát ra tát ra
hồng.
Cầm độc
cổ (chày một chia), tay trái nắm thành
quyền để nơi hông trái, tụng Kim Cang
chùy chơn ngôn ba biến, dùng chày xoay
phải trái mỗi bên ba lần, đưa
lên ba lần, gia trì năm chỗ để
nơi vú phải, tay trái cầm linh tụng
chơn ngôn ba biến, năm lần đưa lên
môi, tay trái hai lần đưa ngang môi hai
lần lại dùng chày xoay phải trái ba
lần, gia trì năm chỗ đem chùy linh để
lại chỗ cũ
Chùy
chơn ngôn:
- Úm
phạ nhựt ra bá nể hồng.
Linh chơn
ngôn
-
Úm phạ nhựt ra kim tra đổ sử dả
hô.
Phụng
hiến ứ già ấn minh. Hư không tạng
bốn phương kết. Kim Cang võng. Sái địa
chơn ngôn.
***
NGŨ ĐẠI
HƯ KHÔNG TẠN NGHI QUỈ
Thích Quảng
Trí dịch ra Việt – Mùa Đông
Bính Tý 1996