NHÀ XUẤT
BẢN TÔN GIÁO 2004
PL.2546 - 2002
Lược truyện Ðức
Phật Thích Ca
Tác giả: Jonathan Landaw
Dịch giả: Thích
Chân Tính
Source: Quảng Đức.com
Trong
thời gian nghỉ hè năm học lớp 9, tôi
được may mắn đọc cuốn sách
nhỏ tựa đề “Lược sử Phật
Tổ” do thầy Chân Không biên soạn. Sau
khi xem xong, tôi thật sự bị thu hút bởi
tấm gương cao quý của Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni. Tôi tự nghĩ: Về gia
tộc, Phật sinh ra thuộc dòng vua chúa. Về
thân thể, Phật có 32 tướng tốt.
Về trí tuệ, Phật thông minh hơn
người. Về địa vị, Phật là
thái tử con vua. Về quả phước, Phật
hưởng thụ đầy đủ mọi sự
giàu sang sung sướng của cuộc đời
v.v... Thế mà Ngài đã từ bỏ
tất cả địa vị, quyền thế, vợ
đẹp, con ngoan, giàu sang, sung sướng
để một thân một mình vào rừng
sâu núi thẳm, tu hành khổ hạnh tìm
cầu chân lý, giải thoát chúng sinh
khỏi vòng luân hồi sinh tử. Thật là
cao quý biết bao. Nếu đem thân mình ra
xét, thì tôi chẳng có một thứ
gì xứng đáng để bỏ cả.
Vậy mình còn ham muốn làm chi những
thứ mà Ngài đã bỏ, để
rồi lãng phí cả một đời
người theo đuổi tìm cầu? Từ
đó tôi đã chuyển hướng
cuộc đời, quyết chí noi theo con
đường mà Ðức Phật đã
đi.
Nhờ
đọc được Lược sử của
Ðức Phật mà tôi đã giác
ngộ và xuất gia tu hành. Tôi nguyện sau
này nếu đủ nhân duyên sẽ phổ
biến rộng rãi cuộc đời ánh
đạo của Ðức Phật. Hy vọng qua tấm
gương cao quý của Ngài sẽ giác
ngộ nhiều người hướng về lý
tưởng giải thoát như tôi. Và
ước nguyện đó đã đến.
Một hôm, tôi đọc được cuốn
“The Story of Buddha” của Jonathan Landaw, thấy
lối viết đơn giản, ngắn gọn, dễ
phổ cập trong quần chúng bình dân,
nên tôi đã quyết tâm dịch ra
tiếng Việt hầu truyền bá khắp nơi
theo như sở nguyện trước đây. Sau khi
dịch xong, tôi có biên tập lại và
có thêm bớt đôi chút cho hoàn
chỉnh hơn.
Cầu
mong Phật lực gia hộ cho những ai sau khi
đọc xong cuốn sách này sẽ giác
ngộ được sự vô thường của
cuộc đời, hướng tâm về con
đường giải thoát an vui giống như
cuộc đời Ðức Phật Thích Ca Mâu
Ni.
Người dịch
Thích Chân Tính
Cách
đây nhiều năm, tại một vương
quốc nhỏ ở phía Bắc Ấn Ðộ,
có một sự kiện xảy ra làm thay
đổi toàn thể thế giới, Hoàng
hậu Ma Da (Maya), vợ của vua Tịnh Phạn
(Suddhodana), trong lúc ngủ đã có một
giấc mơ tuyệt diệu. Bà mơ thấy
một luồng ánh sáng trắng từ bầu
trời chiếu xuống thân thể mình, theo
luồng ánh sáng này là một con voi
chiến, thân hình trắng xóa với sáu
chiếc ngà. Luồng ánh sáng và con voi này
bay càng lúc càng gần và cuối cùng
nhập vào thân bà. Lúc ấy Hoàng
hậu Ma Da tỉnh dậy với một niềm hoan
hỷ tràn đầy, chưa từng có
trước đây.
Bà
vội vàng đến báo cho vua biết và
họ đem việc này hỏi những người
thông thái ở trong hoàng cung. Những vị
này cho biết: “Thưa Hoàng hậu!
Ðây là một giấc mơ tuyệt diệu
nhất. Giấc mơ này cho biết hoàng hậu
sẽ sinh một đứa bé trai, và thái
tử sau này sẽ trở thành một vĩ
nhân, không chỉ đem lại hạnh phúc cho
riêng hoàng tộc mà còn đem lại
hạnh phúc cho toàn thể nhân loại”.
Nghe
những lời tiên đoán tốt đẹp
này vua và hoàng hậu tràn ngập
niềm vui. Ðặc biệt nhà vua rất sung
sướng, vì từ lâu ông ao ước
có một người con trai để nối
ngôi, và ước mơ đó hôm nay
sắp thành sự thật.
Theo
phong tục Ấn Ðộ thời đó,
người đàn bà khi sinh phải về
nhà cha mẹ ruột của mình. Biết
ngày sinh sắp đến, hoàng hậu Ma Da
và một số người bạn, người
hầu rời khỏi hoàng cung, bắt đầu
chuyến hồi hương.
Trên
đường trở về, gần đến quê
hương không xa, hoàng hậu trở dạ.
Biết mình sắp sinh con nên bà bảo
mọi người dừng lại nghỉ ngơi. Họ
dừng chân tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini)
xinh đẹp, hoàng hậu vào trong khu
vườn tìm chỗ thích hợp nhất
để sinh con. Truyền thuyết kể rằng, ngay
cả động vật và thực vật
dường như cũng muốn giúp đỡ cho
hoàng hậu trong việc sinh nở. Có một nhánh
cây rũ xuống, hoàng hậu đưa tay
phải lên nắm lấy nó. Ngay lúc ấy,
hoàng hậu hạ sinh thái tử. Những
người hầu đã ẵm đứa trẻ
trong tay mình và rất ngạc nhiên về
vẻ xinh đẹp kháu khỉnh dễ thương
của đứa bé.
Lúc
ấy khắp địa cầu tràn ngập niềm
an lạc và hạnh phúc. Mọi người
quên hết lo âu, xóa mọi hận thù,
thương yêu lẫn nhau. Một số người
nhìn thấy cầu vồng xuất hiện trên
bầu trời và cùng với những
điềm lành kỳ diệu khác.
Những
nhà thông thái trên khắp vương
quốc chăm chú theo dõi những dấu
hiệu tốt lành này và vui mừng bàn
tán với nhau rằng: “Những điềm
lành xuất hiện khắp nơi như vầy
xưa nay thật hiếm có. Hôm nay là
ngày trăng tròn tháng tư, chắc chắn
đây là một ngày đặc
biệt”.
Tin
hoàng hậu Ma Da sinh thái tử đã nhanh
chóng lan truyền khắp vương quốc.
Hoàng hậu hân hoan ẵm thái tử trở
lại cung điện của vua.
Vua
Tịnh Phạn đón tiếp hoàng hậu
và đứa con trai mới sinh trong niềm vui
khó tả. Lễ hội được tổ
chức và khắp vương quốc trang hoàng
những cờ phướn, biểu ngữ đủ
màu sắc đẹp đẽ. Ðây là thời
điểm hạnh phúc và thanh bình nhất.
Khắp nơi không có biểu hiện buồn
khổ, do vậy vua và hoàng hậu đã
quyết định đặt tên cho thái tử
là “Tất Ðạt Ða” (Siddhartha), nghĩa
là: Người đem đến điều tốt
lành.
Lúc
bấy giờ những nhà tiên tri tiên
đoán cho đứa trẻ. Họ nói:
“Tâu bệ hạ, những dấu hiệu lúc
sinh của thái tử rất tốt. Khi lớn
lên thái tử sẽ có những đặc
điểm hơn cả Ngài hiện nay”. Nghe
lời tiên đoán này khiến vua rất
tự hào, ông nghĩ: “Nếu lời tiên
đoán này đúng thì con trai của ta,
thái tử Tất Ðạt Ða, sẽ cai trị
không những vương quốc nhỏ bé
này, mà có lẽ cả toàn thế
giới. Ôi! Thật là vinh dự cho ta và gia
đình ta quá”.
Những ngày đầu sau khi sinh
thái tử, rất nhiều người đến
cung điện thăm đứa bé. Một trong
những người viếng thăm này là
ông già tên A Tư Ðà. A Tư Ðà
là một nhà ẩn sĩ sống trong rừng
vắng và là một bậc danh sĩ tôn
quý lúc bấy giờ. Vua và hoàng hậu
rất ngạc nhiên khi thấy A Tư Ðà
rời khỏi khu rừng và xuất hiện trong cung
điện của họ. Vua nói: “Chúng
tôi rất vinh dự được ông đến
thăm chúng tôi, xin ông hãy cho chúng
tôi biết mục đích của ông và
chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ
những gì mà chúng tôi có thể
làm được”.
A Tư Ðà trả lời: “Xin
cám ơn lòng tử tế hiếu khách
của bệ hạ. Tôi từ xa đến
đây thăm bệ hạ là vì có
dấu hiệu kỳ diệu mà tôi mới
thấy gần đây. Những dấu hiệu
này cho biết cậu bé trai mới sinh của
Ngài, sau này sẽ đạt được
sự giác ngộ tinh thần vĩ đại
làm lợi ích cho tất cả mọi
người. Cái trí tuệ quý giá
ấy là điều mà suốt đời
tôi đang cố gắng để đạt
được. Cho nên tôi vội vã
đích thân đến thăm cậu
bé”.
Vua rất vui mừng và đi vào
chỗ thái tử đang nằm ngủ. Vua cẩn
thận ẵm con lên và đem ra cho A Tư
Ðà xem. Nhà tiên tri im lặng ngắm
nhìn cậu bé một lúc, rồi ông
trở ra buồn rầu ngước lên ngắm
nhìn bầu trời rồi bật khóc.
Thấy A Tư Ðà khóc, vua và
hoàng hậu rất lo sợ. Họ e rằng vị
tiên tri đã nhìn thấy một vài
điềm không tốt nào đó của con
mình chăng? Trước những giọt nước
mắt của A Tư Ðà, vua cảm thấy
rụng rời tay chân và thốt lên:
“Ồ, thưa ông, ông đã nhìn
thấy dấu hiệu gì mà ông phải
khóc? Không phải chính ông và
những nhà thông thái khác cũng nói
rằng con trai của tôi sau này sẽ trở
thành một vĩ nhân, đạt được
trí tuệ tối cao sao? Nhưng tại sao bây
giờ khi nhìn đứa bé ông lại
khóc? Ðiều đó nghĩa là thái tử
sẽ chết yểu phải không? Hay là sẽ
có những tai họa khủng khiếp xảy ra cho
nó? Nó là đứa con duy nhất của
tôi, tôi rất thương nó. Xin ông
hãy nói nhanh đi những gì mà ông
thấy, tôi rất hồi hộp và lo
sợ”.
Với một cái nhìn trìu
mến, A Tư Ðà bình tĩnh nói với
họ không nên lo sợ. “Không phải
tôi khóc vì đã nhìn thấy
những dấu hiệu xấu nơi thái tử.
Thật ra tôi thấy con trai của bệ hạ
có đầy đủ ba mươi hai tướng
tốt, tám mươi vẻ đẹp, chắc
chắn sau này lớn lên sẽ trở thành
bậc vĩ nhân.
- Nếu con trai của bệ hạ theo con
đường nối nghiệp cha, thì thái tử
sẽ trở thành một Chuyển luân thánh
vương vĩ đại nhất lịch sử.
Thái tử sẽ cai trị cả một khu vực
rộng lớn, đem lại an lạc và hạnh
phúc cho mọi người. Nhưng nếu thái
tử quyết định không làm vua, thì
tương lai của thái tử sẽ rạng rỡ
hơn nhiều. Thái tử sẽ trở thành
một bậc đại giác, một vị thầy
cao quý, hướng dẫn chúng sinh sống theo
đạo lý yêu thương và tỉnh thức.
Khi nhìn thấy những cảnh khổ của
cuộc đời, thái tử sẽ lìa bỏ
hoàng cung và đi tìm con đường
chấm dứt mọi khổ đau. Rồi thái
tử sẽ đem những chân lý ấy
để chỉ dạy cho bất cứ ai muốn
lắng nghe.
- Không, thưa bệ hạ và
hoàng hậu, tôi không khóc cho đứa
trẻ, mà chính là tôi đang khóc cho
tôi. Như Ngài cũng đã biết, tôi
đã trải qua toàn bộ cuộc đời
để tìm chân lý, mong tìm ra con
đường chấm dứt mọi khổ đau.
Và hôm nay tôi đã gặp được
thái tử, người mà sau này sẽ
chỉ dạy những điều mà tôi muốn
học. Nhưng đến lúc thái tử
đủ trình độ để dạy thì
có lẽ tôi đã chết rồi. Tôi
không may mắn học được những lời
thái tử dạy trên cuộc đời này.
Ðó là lý do tại sao tôi buồn.
Ðối với bệ hạ và hoàng hậu
không có gì đáng buồn cả.
Hãy sung sướng lên vì mình có
được một người con vinh quang như
thế”.
Nói xong A Tư Ðà ngắm
nhìn đứa bé lần cuối rồi từ
từ rời khỏi hoàng cung. Vua tiễn ông ra
về rồi trở lại chỗ đứa con trai
của mình. Vua rất sung sướng khi biết
không có gì nguy hiểm đến tính
mạng của thái tử. Ngài nghĩ: “A
Tư Ðà nói rằng Tất Ðạt Ða
sẽ trở thành một vị vua vĩ đại,
hoặc trở thành một vị thầy cao quý.
Nếu thái tử trở thành một vị vua
vĩ đại như điều thứ nhất thì
hay biết mấy. Thật là tự hào làm
sao khi có một người con trai lừng danh và
uy quyền. Rồi khi con ta tới tuổi già như A
Tư Ðà, lúc đó nó xuất gia
trở thành một vị thầy cao quý cũng
được”.
Vua Tịnh Phạn sung sướng
đứng ôm con trong lòng, để mặc cho
những dòng suy nghĩ, những giấc mơ
đẹp về đứa con sau này sẽ trở
thành vĩ nhân, cứ hiện về trong
đầu óc của ông.
Năm thái tử Tất Ðạt Ða 9
tuổi, cậu được vua cha cho đi dự
lễ cày ruộng đầu năm. Chính vua
Tịnh Phạn là người chủ tọa buổi
lễ này. Các vị đạo sĩ và tu
sĩ Bà La Môn được mời tới
dự. Buổi lễ được cử hành
nơi thửa ruộng tốt nhất không xa
hoàng thành. Không khí hôm nay thật
tưng bừng náo nhiệt. Các thầy Bà La
Môn đang tụng kinh rất nghiêm trang. Vua mặc
hoàng bào và các vị quan cũng mặc
triều phục đang đứng xoay mặt về
phía lễ đài. Tất Ðạt Ða cũng
đứng tham dự lễ, nhưng vì các
thầy xướng tụng quá lâu, cậu
cảm thấy nóng nực nên đi tìm
chỗ mát dưới tàn cây Diêm phù
bên đường ngồi nghỉ.
Sau khi các thầy Bà La Môn kết
thúc việc đọc kinh, vua Tịnh Phạn
bước xuống ruộng, nắm lấy cán
cày với sự phụ tá của hai vị quan
võ, vua đã cày luống cày đầu
tiên của mùa làm ruộng mới. Dân
chúng vỗ tay hoan hô vang rền. Các nông
dân bắt đầu xuống ruộng làm theo vua.
Họ cày những luống cày đầu
tiên trên thửa ruộng của họ.
Nghe tiếng reo hò, Tất Ðạt Ða
cũng chạy ra xem. Cậu nhìn thấy một con
trâu đang nặng nhọc kéo cày, theo sau
là một bác nông dân lực lưỡng,
tay trái cầm cán cày, tay phải cầm
cây roi quất mạnh vào lưng con trâu.
Trời nắng gắt, mồ hôi ông ta chảy ra
đẫm ướt cả thân mình. Nơi
lưỡi cày đi qua đất được
lật ngửa rẽ ra thành luống hai bên
trông thật ngay hàng thẳng lối. Hàng
ngàn con giun ở dưới đất chui lên,
có những con bị lưỡi cày cắt
làm đôi đang quằn quại trên
luống đất. Những con chim bay sà xuống
thấp đớp lấy những con giun đang vùng
vẫy hoảng sợ. Rồi cậu lại thấy
một con chim lớn sà xuống rượt bắt những
con chim nhỏ để ăn thịt.
Trời lúc này nắng gắt, thái
tử vừa mệt vì nắng, vừa chán
nản vì thấy cảnh thú vật ăn
thịt lẫn nhau, cậu bèn trở lại chỗ
cây Diêm phù. Những hình ảnh mà
Tất Ðạt Ða vừa thấy thật là
mới lạ, đã kích thích cậu
ngồi xếp bằng dưới gốc cây và
nhắm mắt lại để chiêm nghiệm
những gì đã thấy. Cậu ngồi ngay
thẳng với tư thế uy nghiêm và rất
đẹp. Hình ảnh người nông dân
cày ruộng cực khổ đổ mồ hôi
dưới ánh nắng nóng bức; hình
ảnh con trâu nặng nhọc kéo cày còn
bị những nhát roi quất lên mình
thành những vết thương dài; hình
ảnh những con giun bị luống cày cắt
đứt làm đôi đang vùng vẫy
đau đớn; hình ảnh những con chim
nhỏû sà xuống bắt những con giun;
hình ảnh con chim lớn rượt bắt những
con chim nhỏ để ăn thịt; những cảnh
tượng tàn sát lẫn nhau để mà
sống này cứ hiện lên trong đầu
của thái tử. Cuộc sống quả là
một cái vòng đau khổ, tất cả
chỉ vì miếng ăn mà phải cực
khổ, đấu tranh, tàn sát lẫn nhau
để sống. Thái tử cảm thấy xót
thương cho bác nông dân, con trâu, con giun,
con chim ... cậu ước mong sao tất cả
người và vật không còn khổ đau
nữa, không còn phải vì sự sống
mà ăn thịt lẫn nhau.
Một lát sau khi vua và bà Ma
Ha Ba Xà Ba Ðề tới gốc cây Diêm
phù để tìm con, thấy Tất Ðạt
Ða vẫn còn ngồi đó. Bà cảm
động đến khóc khi thấy Tất
Ðạt Ða ngồi đẹp như một pho
tượng nhỏ dưới gốc cây. Nhưng vua
thì lại lo ngại vì thái tử mới
có 9 tuổi mà đã biết ngồi
trầm tư như thế thì lời tiên
đoán của Ðạo sĩ A Tư Ðà
có thể trở thành sự thật.
Thái tử lớn lên trở
thành một cậu trai thông minh, xinh đẹp
và nhân từ. Vua đã sắp xếp cho
thái tử được học với những
vị thầy danh tiếng nhất vương quốc,
và thái tử đã tỏ ra là một
người thông minh phi thường. Sau vài
ngày đầu học tập, những vị thầy
đã trình lên vua rằng: “Muôn
tâu bệ hạ! Thái tử rất thông minh,
những bài học chúng tôi chỉ dạy qua
một lần là thái tử hiểu và
nhớ rất kỹ. Thật ra có những
điều mà thái tử thắc mắc
chúng tôi không thể giải đáp,
hoặc thái tử có những hiểu biết
mà chúng tôi chưa hiểu biết”.
Nghe được điều này,
niềm tự hào của vua về đứa con trai
của mình càng tăng thêm. Ông sung
sướng nghĩ: “Với sự thông minh
này, thái tử con ta chắc chắn sẽ
trở thành một vị vua thông minh và
đầy uy quyền”.
Thế nhưng thái tử có
một điều khác còn nổi bật hơn
cả sự thông minh của cậu. Ðó là
lòng tử tế, sự lịch thiệp và
tình yêu thiên nhiên. Ðối với
những đứa trẻ cùng trang lứa với
thái tử, chúng thích đùa giỡn,
nghịch phá hoặc chia phe đánh nhau trong những
lúc rảnh rỗi. Riêng thái tử thì
ngược lại thích ngồi yên lặng
một mình. Cậu thương yêu các
súc vật nhỏ sống ở trong vườn
của hoàng cung và trở thành người
bạn thân thiện của chúng. Những con
vật biết thái tử không làm
thương tổn chúng, cho nên chúng không
bao giờ sợ thái tử. Ngay cả những
động vật hoang dại, chúng sẽ bỏ
chạy khi thấy một người nào đó
đến gần, nhưng mỗi khi thái tử
vào trong vườn, chúng lại mừng rỡ
mon men đến gần và ăn các thức
ăn trên tay thái tử một cách tự
nhiên, vì mỗi lần thái tử vào
trong vườn đều đem theo thức ăn cho
chúng.
Một ngày nọ, thái tử đang
ngồi trong vườn, có một đàn
thiên nga trắng xóa bay ngang trên đầu.
Bất ngờ, một mũi tên bắn lên
không trung, trúng vào một con trong bầy.
Nó lảo đảo rồi rơi xuống
đất ngay trước chân của thái tử,
mũi tên vẫn còn ghim nơi cánh của
nó.
“Ôi! Tội nghiệp con thiên
nga quá”, thái tử nhủ thầm và
ôm con chim lên, “đừng có sợ nghe
cưng, ta sẽ chăm sóc cho con, từ từ
rồi ta sẽ lấy mũi tên ra cho”. Thế
rồi tay này thái tử nhẹ nhàng vuốt
ve con thiên nga để nó bớt sợ, tay kia
thái tử rút mũi tên ra một cách
thận trọng. Xong thái tử lấy thuốc
rửa chùi vết thương cho nó, vừa
làm thái tử vừa thì thầm an ủi
khiến cho nó không còn sợ hãi nữa.
Lau vết thương xong thái tử cởi áo
ngoài của mình ra, quấn quanh mình nó
cho ấm.
Một lúc sau, có cậu thiếu
niên chạy vào trong vườn. Ðó là
người em họ của thái tử tên là
Ðề Bà Ðạt Ða (Devadatta). Cậu ta mang theo
cung tên và rất vui mừng nói: “Tất
Ðạt Ða, Tất Ðạt Ða, em vừa mới
bắn được một con thiên nga. Anh thấy
đấy, em chỉ bắn có một phát
thôi là đã hạ được một con
chim rồi. Nó rơi xuống chung quanh đây, anh
kiếm giúp giùm em đi”.
Ngay lúc ấy, Ðề Bà
Ðạt Ða phát hiện một mũi tên
của mình dính máu nằm ở dưới
đất gần bên chân của Tất Ðạt
Ða. Nhìn kỹ, cậu ta thấy thái tử
đang cầm vật gì trong tay và rồi
nhận ra đó là con thiên nga mà cậu
đang tìm. Cậu la lên: “Anh lấy con
thiên nga của em đấy à? Ðưa lại
cho em đi. Em đã bắn hạ nó thì
nó là của em”. Ðề Bà Ðạt
Ða liền chụp lấy con chim, nhưng thái
tử ôm sát nó vào lòng mình,
khiến Ðề Bà Ðạt Ða tức giận
vô cùng.
Thái tử nói một cách
kiên quyết rằng: “Anh đã bắt
gặp con chim nằm quằn quại đầy máu
nơi mình. Anh không thể đưa nó cho
bất cứ ai khi nó đang bị thương”.
Ðề Bà Ðạt Ða la lên:
“Nhưng nó là của em. Chính em
đã bắn nó, anh phỗng tay trên của em
đâu có được. Hãy trả nó
lại đây”.
Hai cậu thiếu niên đứng
tranh cãi một hồi. Ðề Bà Ðạt
Ða càng lúc càng trở nên giận
dữ, nhưng thái tử vẫn một mực
không giao con thiên nga cho cậu ta. Sau cùng
thái tử nói: “Khi hai người tranh
cãi một vấn đề không xong thì
nên giải quyết bằng pháp luật.
Trước những người thông thái có
thẩm quyền, chúng ta cứ trình bày
những sự việc xảy ra, để cho những
vị này quyết định ai đúng. Tôi
nghĩ chúng ta nên giải quyết bằng
cách này là tốt nhất”.
Ðề Bà Ðạt Ða không
thích ý kiến này lắm, song chỉ
còn có cách này mới hy vọng lấy
lại được con thiên nga mà thôi,
nên cậu phải đồng ý. Rồi họ
đi vào cung điện, thưa lại với vua
và quần thần. Mọi người đều
bật cười với nhau khi nghe họ trình
bày sự việc. Các quan nói: “Chỉ
có mỗi một con chim mà làm mất
thời giờ của chúng tôi quá, thật
không đáng tí nào”. Nhưng vua
lại nói: “Tất Ðạt Ða và
Ðề Bà Ðạt Ða là những thái
tử của hoàng tộc, trẫm rất vui mừng
vì chúng đã biết nhờ chúng ta
giải quyết những việc bất bình bằng
xét xử. Trẫm nghĩ điều đó
rất quan trọng, bởi vì chúng là
những nhà lãnh đạo tương lai,
biết dùng cách giải quyết bằng
pháp lý. Chúng ta hãy xét xử xem
sao”.
Sau đó mỗi cậu trình bày
những sự việc đã xảy ra. Các quan
cố gắng lắng nghe để quyết định
ai đúng, thì con thiên nga sẽ thuộc
về người đó. Người thì cho
rằng Ðề Bà Ðạt Ða bắn con chim,
đương nhiên nó thuộc về cậu ta.
Người khác lại cho rằng Tất Ðạt
Ða bắt được con thiên nga thì nó
thuộc về thái tử. Các quan bàn
luận với nhau mà chưa giải quyết dứt
điểm.
Cuối cùng một ông lớn
tuổi nhất nói: “Giá trị của
sự sống quý hơn tất cả mọi thứ
trên thế gian này. Vì thế tôi nghĩ
rằng con thiên nga thuộc về ai đã cứu
sống nó, không thuộc về người
đã cướp mất đời sống của
nó. Vậy con thiên nga này là của
Tất Ðạt Ða”.
Mọi người vỗ tay hoan hô
ý kiến này. Thế là thái tử
Tất Ðạt Ða được mọi người
biểu quyết thắng cuộc.
Thái tử ngày càng
trưởng thành, lòng nhân ái của
cậu càng được mọi người
thương yêu quý mến. Song cha của cậu
thì lại lo rầu. Ông nghĩ: “Tất
Ðạt Ða quá nhân ái và nhiều
cảm xúc. Ta muốn con trai của ta trở
thành một vị vua vĩ đại, có sức
mạnh và đầy uy lực. Nhưng thái
tử lại thích trầm tư một mình
ở trong vườn hơn là học cách
thức cai trị một vương quốc. Ta lo lắng
con trai của ta chẳng bao lâu sẽ từ bỏ
hoàng cung, sống đời ẩn sĩ như
lời đạo sĩ A Tư Ðà
đã tiên đoán. Nếu thật sự
như vậy thì thái tử sẽ không bao giờ
trở thành vị vua vĩ đại”.
Vua rất lo lắng về việc thái
tử sẽ ra đi. Vua đem nỗi lo của mình
trình bày cho các quan nghe. Có một
người đề nghị: “Tâu bệ hạ,
thái tử hay ngồi lặng yên và mơ
mộng về những thế giới khác, bởi
vì cậu ta chưa tiếp xúc với hiện thực
của cuộc đời này. Xin bệ hạ
hãy kiếm cho thái tử một người
vợ, khi thái tử có vợ và có con
rồi sẽ không còn mơ mộng nữa
và sẽ quan tâm đến việc học
tập, cách thức cai trị vương
quốc”.
Vua cho rằng đây là một
đề nghị rất tuyệt vời. Vua liền cho
tổ chức một buổi nhạc hội lớn ở
trong cung điện. Tất cả những thiếu nữ
xinh đẹp từ các gia đình quý
tộc được mời đến tham dự.
Cuối buổi nhạc hội thái tử
được mời tặng quà cho từng cô
gái, trong lúc thái tử tặng quà
các quan theo dõi xem chàng thích cô
nào.
Những cô gái trẻ rất
lúng túng khi xuất hiện trước thái
tử. Thái tử trông đẹp trai và
nổi bật hẳn giữa đống quà
đắt tiền để trên bàn phía
trước mặt. Từng cô gái rụt rè
tiến đến chỗ thái tử, không
dám nhìn lên. Các cô lặng lẽ
nhận nhẫn, vòng xuyến xong vội vã
trở về chỗ cũ.
Cuối cùng có một cô
gái trẻ tên là Da Du Ðà La (Yasshodara),
con gái của ông vua nước lân cận,
không như những cô gái khác, cô
tiến đến chỗ thái tử một cách
tự nhiên. Ðây là lần đầu trong
đêm, thái tử nhìn chăm chú
vào cô gái này. Nàng rất xinh
đẹp và thái tử dường như
đã bị sắc đẹp của nàng thu
hút.
Họ đứng bất động,
bốn mắt nhìn nhau say đắm. Lúc ấy Da
Du Ðà La dịu dàng lên tiếng:
“Dạ thưa thái tử, quà của em
đâu?”. Thái tử như người trong
mơ vừa tỉnh, cậu nhìn xuống bàn
nhưng quà tặng đã hết. Thái tử
vội nói: “Ðây, hãy nhận món
quà này”. Thái tử tháo chiếc
nhẫn trong tay ra. “Ðây là món quà
anh tặng em”. Da Du Ðà La lịch sự
đón nhận chiếc nhẫn và từ từ
đi về chỗ cũ.
Các quan đã thấy rõ
mọi việc và vui mừng đến báo cho vua
biết. Họ sung sướng tường thuật:
“Tâu bệ hạ, chúng tôi đã
tìm được một cô gái xứng
đáng cho thái tử. Cô ta là công chúa
Da Du Ðà La, con gái của vua Thiện Giác
(Suprabuddha) ở nước láng giềng. Xin bệ
hạ hãy đi qua gặp ông vua này và
xin cưới con gái của ông cho thái
tử”.
Vua Tịnh Phạn đồng ý
và chuẩn bị lễ vật đi qua gặp cha
của Da Du Ðà La. Vị vua này tiếp
đón vua Tịnh Phạn rất thân mật
và nói: “Tôi biết con trai của
Ngài là một người rất tốt, song
tôi không thể gả con gái của mình
cho một người nào đó một cách
đơn giản. Nhiều thái tử khác
cũng xin cưới con gái tôi và họ
đều là những chàng trai tuyệt vời.
Họ rất điệu nghệ trong việc cưỡi
ngựa, bắn cung và chơi các môn thể
thao quý tộc khác. Thái tử sẽ phải
thi tài với những người cầu hôn
đó theo phong tục của chúng tôi”.
Sau đó một cuộc thi tài
được tổ chức và Da Du Ðà La xinh
đẹp là phần thưởng quý giá
nhất. Vua Tịnh Phạn rất lo âu, ông
nghĩ: “Con trai ta không quan tâm đến
các môn chơi của chiến sĩ, liệu
nó có thể chiến thắng cuộc thi tài
này không?”. Thái tử hiểu
được nỗi lo của cha nên thưa rằng:
“Xin vua cha đừng quá lo lắng. Con sẽ
làm hết khả năng của mình để
chiến thắng và Da Du Ðà La sẽ là
vợ của con”.
Cuộc thi đầu tiên là
bắn cung. Những chàng trai đặt những
tấm bia của họ ở khoảng cách xa mà
họ có thể bắn trúng chấm giữa
của bia. Khi tới lượt Ðề Bà
Ðạt Ða – em họ của Tất Ðạt
Ða – cậu ta không chỉ bắn trúng
điểm giữa của bia, mà còn xuyên qua
cả tấm bia. Mọi người hoan hô nồng
nhiệt. Riêng Da Du Ðà La lại che giấu
nỗi lo của mình. Cô nghĩ: “Làm sao
Tất Ðạt Ða yêu quý của ta có
thể bắn được như thế?”
Thái tử rất tự tin ở
khả năng của mình. Ðến lượt
chàng thi bắn, Tất Ðạt Ða đặt
tấm bia xa tít tầm mắt mọi người.
Rồi chàng lấy một mũi tên từ trong
bao ra nạp vào cung. Tuy nhiên do thái tử
quá mạnh tay nên khi kéo cây cung đã
gãy đôi.
Thái tử nói: “Làm
ơn tìm cho tôi một cây cung khác,
chắc hơn cây cung này”.
Một ông quan nói: “Thưa
thái tử, có một cây cung rất cổ
ở trong cung. Cây cung này của một chiến
sĩ mạnh nhất thời bấy giờ. Kể từ
khi ông ta chết đến nay chưa có ai
đủ sức kéo nổi dây cung này,
huống hồ bắn nó được”.
“Tôi sẽ bắn cây cung
ấy”, thái tử tuyên bố trước
sự ngạc nhiên của mọi người. Sau khi
họ đem cây cung đến, thái tử cầm
cây cung lên, thử uốn cong và kéo
dây một cách dễ dàng. Sau đó
thái tử tra tên vào cung, kéo hết
dây và nhắm mục đích. Choang! Phát
tên bắn ra kêu to đến nỗi những
người trong làng cách xa đó cũng nghe
được. Mũi tên xé gió đi rất
nhanh, khi nó trúng tấm bia – ngay trung tâm
điểm – chẳng những nó không
dừng lại đó mà còn xuyên qua
tiếp tục và bay xa tít tầm mắt của
mọi người.
Ðám đông hoan hô nồng
nhiệt “Thái tử chiến thắng! Thái
tử chiến thắng!”. Song bắn cung mới
chỉ là cuộc thi tài đầu tiên trong
ngày. Cuộc thi đấu kế tiếp là
kiếm thuật.
Mỗi người chọn một cây
kiếm và biểu lộ sức mạnh của
mình bằng cách hạ thân cây gần
đó với một nhát gươm của
mình. Người thứ nhất hạ một
thân cây dầy khoảng 15 cm. Người thứ
hai 22 cm. Người thứ ba 30 cm.
Ðến lượt thái tử,
chàng chọn một cây mà hai thân mọc
sát nhau. Thái tử vung gươm chém một
nhát thật nhanh, cắt ngang thân cây trong
chớp mắt, nhưng nó vẫn đứng sừng
sững đó. Lưỡi gươm của thái
tử quá bén đến nỗi vết cắt
không làm cho thân cây đổ ngã. Khi
mọi người nhìn thấy cây không
đổ, cả đám đông, nhất là
Da Du Ðà La than thở: “Thái tử
đã thất bại. Nhát gươm của
chàng đã không cắt đứt
được thân cây”.
Lúc ấy chợt một cơn
gió mạnh thổi đến làm thân cây
lay động và từ từ lật đổ.
Lời than của đám đông chuyển qua vui
mừng và họ lại reo lên: “Thái
tử chiến thắng”.
Cuộc thi cuối cùng là môn
cưỡi ngựa. Một con ngựa hoang hung dữ,
chưa có người nào cưỡi
được nó, đang được những
người đàn ông khỏe mạnh dắt ra.
Mỗi người cầu hôn gắng leo lên
cưỡi nó. Nhưng con ngựa cứ nhảy
chồm lên và đá hậu rất dữ.
Không một ai có thể leo lên lưng nó
được. Cuối cùng một chàng trai
cũng đã điều phục được
nó, ngồi trên lưng nó để cho
những người giữ ngựa dắt đi. Thế
nhưng chỉ một lát nó đã nhảy
bổ lên với sự giận dữ, hất
người ngồi trên lưng nó rơi xuống
đất. Nếu không được sự cứu
giúp kịp thời của những người
giữ ngựa lôi anh ta ra chỗ an toàn, thì
có lẽ ngựa đã giẫm anh chết
rồi.
Khán giả bắt đầu la
ó: “Hãy ngưng ngay cuộc thi đấu
này đi! Không nên để thái tử
đến gần con ngựa đó. Nó rất
nguy hiểm. Nó sẽ giết chết thái
tử”. Nhưng thái tử vẫn bình
tĩnh. Chàng nghĩ: “Tính hiền dịu có
năng lực hơn cả sức mạnh vũ phu”.
Thái tử từ từ tiến ra chỗ con ngựa.
Chàng vuốt ve những chòm lông trên
đầu nó, nói thì thầm vào lỗ
tai nó, nhẹ nhàng vuốt lên đầu
lên mình nó. Thái tử đã làm
dịu đi cơn giận dữ và sợ hãi
của nó.
Một lát sau con ngựa trở
nên hiền lành. Nó bắt đầu liếm
tay của Tất Ðạt Ða. Thái tử vẫn
thì thầm dịu ngọt với nó. Sau
đó chàng leo lên lưng nó một
cách dễ dàng. Thái tử cưỡi
ngựa diễu hành ngang qua mọi người, trong
những tiếng reo hò vui mừng của họ. Thái
tử đã đón nhận phần thưởng
quý giá, đó là công chúa Da Du
Ðà La xinh đẹp. Cuộc thi tài đã
kết thúc. Thái tử Tất Ðạt Ða
đã chiến thắng. Cuộc thi tài
đã chứng tỏ thái tử Tất
Ðạt Ða không chỉ có sức mạnh phi
thường, mà còn có cả lòng từ
bi vô hạn nữa.
“Ta muốn xây một cung điện
mùa Hè làm bằng cẩm thạch mát
rượi và bao quanh là những ao hồ,
những suối nước mát. Cái thứ hai
là cung điện mùa Ðông, ấm áp
và thoải mái. Cái thứ ba sẽ dùng
cho mùa mưa. Vị trí của các cung
điện này sẽ ở giữa một công
viên lớn, với cảnh đẹp nhìn từ
mọi mặt. Một bức tường cao lớn
xây bao quanh công viên để những thứ
phiền toái ở bên ngoài không thể
xâm nhập được. Mọi thứ đều
tốt đẹp toàn hảo để thái
tử Tất Ðạt Ða không bị cảnh
khổ cuộc đời xúi giục từ
bỏ”.
Vua cố gắng làm hết sức mình
để cho những ngôi nhà này thật
đẹp, thật hấp dẫn nhằm thu hút
thái tử. Vua mời những dàn nhạc
tài nghệ trong nước đến biểu
diễn suốt ngày đêm. Tất cả
người phục vụ đều là những
cô gái trẻ đẹp giỏi khiêu vũ.
Ðầu bếp phải nấu những món ăn
ngon và thay đổi liên tục. Không ai
được phép vào trong cung điện
làm xáo trộn tâm trí yên tĩnh
của thái tử, gợi cho thái tử ý
niệm từ bỏ cung điện.
Ðã nhiều năm qua thái
tử Tất Ðạt Ða sống trong cảnh thiên
đường này. Từ sáng tới tối
thái tử được tiêu khiển bằng
hàng ngàn thứ khác nhau. Chàng không
bao giờ nhìn thấy những thứ không
tốt đẹp, không hề nghe những âm thanh
không được êm dịu ngọt ngào.
Nếu có một người nữ hầu bị
bệnh, cô ta sẽ lập tức được
đưa đi chỗ khác cho đến khi nào
lành bệnh mới được trở lại.
Với biện pháp này thái tử sẽ
không bao giờ thấy cảnh người bệnh hay
bất cứ cái gì gây ảnh hưởng
không tốt đến suy nghĩ của thái
tử. Vua còn ra lệnh tất cả mọi
người không được nói những
chuyện buồn rầu chán nản với thái tử.
Ngay cả một cây hoa trong vườn bắt
đầu héo rũõ, người làm
vườn phải nhổ bỏ đem đi nơi
khác. Làm như vậy thái tử sẽ
không bao giờ thấy những bông hoa héo
tàn. Với những biện pháp này, vua
muốn thái tử không thấy biết gì
về những nỗi khổ và những điều
bất hạnh của cuộc sống hiện thực.
Thời gian êm đềm trôi qua
như một giấc mơ. Da Du Ðà La đã
sinh một bé trai là La Hầu La (Rahula) và
mọi việc dường như trôi qua một
cách tốt đẹp. Vua rất hài lòng
vì biện pháp của mình đã
làm cho thái tử quan tâm đến
đời sống hoàng gia hơn là việc
từ bỏ cung điện. Thế nhưng điều
đó không có nghĩa là thái tử
sung sướng nhất đời khi có
được đứa con trai và sẽ thỏa
mãn đời sống trong sự huy hoàng
nhàn hạ ấy. Một ngày nào đó
khi nhân duyên đầy đủ, thái tử
cũng sẽ khám phá ra chân lý của
cuộc đời.
Một buổi chiều sau khi dùng
cơm xong, thái tử Tất Ðạt Ða nằm
nghỉ trên giường, đầu tựa vào
lòng của Da Du Ðà La. Nhạc công đang
chơi những điệu nhạc nhẹ nhàng
êm dịu. Những nàng hầu đang thì
thầm và mỉm cười vui vẻ với nhau. Kể
từ khi chuyển vào cung điện như ý
này, chiều nào thái tử cũng
được thưởng thức những cuộc vui
như vầy. Nhưng đêm nay thái tử
cảm thấy bồn chồn khó ngủ. Thái
tử đề nghị với một nhạc công
ưa mến nhất: “Hãy ru ta ngủ bằng
một bài ca hay. Nhớ chọn một bài
mà các bạn chưa từng hát trước
đây”.
Người ca sĩ thanh lịch vâng
lời và bắt đầu hát những lời
ca nhẹ nhàng êm ái, phát ra từ tâm
hồn của mình và được nhạc
công đệm phụ họa theo một cách
hài hòa. Bài hát ca ngợi vẻ
đẹp của thế giới, những vùng
đất xa nơi mà cô ta đã đi qua khi
còn thơ ấu; ca ngợi thành phố thịnh
vượng nơi mà dân chúng đang sống
tràn đầy hạnh phúc an vui.
Bài ca đã làm say mê
thái tử. Ca sĩ vừa hát dứt lời,
thái tử liền hỏi: “Hãy nói
thật cho ta biết, có những nơi tuyệt
đẹp bên ngoài bức tường của khu
vườn này không? Người ta đã
sống như thế nào trong thành phố ấy?
Và những thứ mà thế giới bên ngoài
đó có đáng yêu hơn những
thứ ta đã thấy trong cung điện lộng
lẫy này không? Hãy nói cho ta biết
sự thật về tất cả những thứ ấy
đi”.
Cô gái trả lời: “Thưa
thái tử, chắc chắn cung điện mà
thái tử đang sống là tuyệt vời
nhất rồi. Thế nhưng cũng còn có
nhiều thứ khác đẹp hơn ở thế
giới bao la bên ngoài cung điện này.
Những thành phố và tỉnh lỵ với
những dãy phố xinh đẹp; những núi
đồi và thung lũng hùng vĩ nên
thơ; có những vùng đất xa xôi
nơi ấy người ta nói các thứ
ngôn ngữ khác nhau. Có nhiều thứ
mà tiện thiếp đã thấy và cũng
còn rất nhiều thứ mà tiện thiếp
chỉ mới nghe đến. Cung điện và khu
vườn của thái tử thật ra rất xinh
đẹp, song vẫn còn có rất nhiều
thứ đáng được thưởng ngoạn
ở bên ngoài của bức tường
thành này”.
Nghe xong thái tử rất mong muốn
được ngắm nhìn tận mắt những
cảnh quan đẹp và lạ ấy. Ðã
nhiều năm qua thái tử chỉ sống trong
những bức tường của khu vườn và
cung điện như ý, hoàn toàn không
để ý đến thế giới bên
ngoài. Bây giờ thái tử ao ước
được du ngoạn bên ngoài cung điện
và chàng đã gởi lời thỉnh cầu
đến vua cha cho phép chàng được
dạo quanh thành phố.
Vua đã đồng ý lời
thỉnh cầu của con trai. Ông nghĩ: “Bây
giờ con trai ta mong muốn được nhìn
thấy vương quốc của ta. Ðây là
thời điểm thích hợp, bởi lẽ nó
đã thỏa mãn trong cung điện như
ý rồi, bây giờ để cho nó được
nhìn thấy thực tế vương quốc mà
nó sẽ cai trị sau này”.
Vua không muốn con trai của mình
trông thấy những thứ phiền lòng khi
đi du ngoạn. Bởi vì những thứ ấy
có thể khiến cho thái tử khởi lên
ý nghĩ sẽ từ bỏ vương quốc
đi theo đời sống ẩn sĩ. Cho nên
trước ngày thái tử đi thăm
thành phố, vua đã chỉ thị cho các
quan quân đi thông báo cho dân chúng
biết rằng: “Ngày mai thái tử Tất
Ðạt Ða sẽ đi thăm thành phố Ca
Tỳ La Vệ (Kapilavastu). Mọi người hãy trang
hoàng nhà cửa và đường phố cho
sạch đẹp. Những người già yếu
bệnh tật phải ở trong nhà suốt ngày
mai. Mọi thứ trong thành phố phải tươi
tốt sạch đẹp”. Sau đó quân
đội đã đưa tất cả những
người ăn xin trên đường phố
đến nơi mà thái tử không đi ngang
qua.
Sáng hôm sau, Xa Nặc (Channa)
người chăn ngựa đã chuẩn bị con
ngựa Kiền Trắc (Kantaka) yêu quý của
thái tử và đưa thái tử ra khỏi
hoàng cung. Trong suốt thời thơ ấu đây
là lần đầu tiên thái tử
được ngắm nhìn quang cảnh thành Ca
Tỳ La Vệ. Và đây cũng là lần đầu
người dân của thành phố
được nhìn thấy thái tử của
họ. Mọi người rất sung sướng
đứng xếp thành hàng trên những con
đường mới trang hoàng để được
ngắm nhìn chàng trai trẻ đẹp đi ngang
qua. Họ nói với nhau: “Trông thái
tử tướng hảo quang minh và dễ
thương làm sao”. Người thì nói:
“Cặp mắt của thái tử đẹp
thật. Chúng ta rất diễm phúc
được thái tử sẽ là vua của
chúng ta trong tương lai”.
Thái tử cũng rất sung
sướng khi nhìn thấy mọi thứ. Thành
phố trang hoàng lộng lẫy và sạch
đẹp. Nơi nào cũng thấy người ta
vui cười, hoan hô và ca múa. Trên
đường nơi thái tử đi qua dân
chúng vui mừng rải hoa đầy lên
người thái tử yêu quý của họ.
Thái tử sung sướng nhớ lại:
“Bài ca thật là đúng. Ðây
quả là một thành phố phồn vinh, xinh
đẹp và tốt lành”.
Thế nhưng khi thái tử và người
chăn ngựa đang đi qua đám đông, họ
bỗng phát hiện một người già khom
lưng vẻ mặt buồn rầu trong đám
người vui vẻ. Lạ kỳ – bởi vì
thái tử chưa thấy những người
già như vầy – nên thái tử quay qua
hỏi: “Xa Nặc, người đó là ai
vậy? Tại sao ông ta lại cúi gập
người và không ca múa như mọi
người? Tại sao gương mặt của ông
không tươi láng như những người
khác, mà lại tái nhợt và nhăn
nheo? Tại sao ông ta khác người như
vậy?”
Xa Nặc chỉ người đàn
ông đang lẩn khuất ở trong đám
đông và trả lời với thái tử
rằng: “Thưa thái tử, đó chỉ
là một ông già”.
“Ông già!”, thái tử
hỏi lại. “Người này luôn luôn
“già” như vậy từ trước
đến nay hay nó chỉ mới xảy ra gần
đây?”
Xa Nặc trả lời: “Không,
thưa thái tử. Nhiều năm trước ông
già này cũng là một thanh niên khỏe
mạnh như những người khác mà
Ngài đã nhìn thấy tại đây
hôm nay. Nhưng dần dần sức khỏe của
ông ta giảm sút, thân thể khom dần,
màu sắc của gương mặt héo tàn,
răng rụng. Và bây giờ thân thể
ông ta tàn tạ như thế”.
Vừa ngạc nhiên vừa buồn
bã thái tử hỏi lại: “Người
đàn ông đáng thương ấy chỉ
có một mình ông ta đau khổ vì
tuổi già sức yếu? Hay những người
khác cũng phải bị như vậy?”.
“Thưa thái tử, tất cả
mọi người đều phải trải qua tuổi
già. Thái tử, tôi, vợ và con thái
tử cùng mọi người trong cung điện,
chúng ta đang trở nên già từng giây
từng phút. Một ngày nào đó
chúng ta sẽ giống ông già này”.
Những lời này làm cho
thái tử buồn rầu trầm ngâm giây
lâu. Thái tử giống như người bị
khủng hoảng bởi một tiếng sét
đột ngột. Một hồi lâu thái tử
lấy lại bình tĩnh và nói:
“Này Xa Nặc, những gì ta thấy hôm
nay ta không muốn thấy nữa. Trong giữa
những người trẻ tuổi vui sướng
này, cảnh tượng của người già
đã làm ta chán ngán. Hãy quay trở
lại cung điện. Tất cả những thú vui
của cuộc đi dạo này đã trôi
qua. Hãy trở về ngay, ta không muốn thấy
nữa”.
Xa Nặc vâng lệnh. Khi họ về
tới nhà, thái tử đi một mạch
vào cung điện không nói với ai lời
nào, vội vã lên lầu và vào phòng
riêng ngồi lặng yên một mình. Mọi
người nhận ra sự lạ kỳ này và
đã cố gắng làm cho thái tử vui
vẻ, nhưng không có kết quả. Tới
giờ ăn thái tử không thiết ăn
một món gì, dù cho người đầu
bếp đã sửa soạn một bữa ăn
thật ngon. Thái tử không quan tâm đến
âm nhạc hay khiêu vũ, chỉ ngồi trầm
ngâm một mình: “Tuổi già, tuổi
già, tuổi già ...”
Vua Tịnh Phạn nghe được
tâm trạng không hài lòng của con trai
mình và cho rằng có điều gì
chưa vừa ý. Vua nghĩ: “Ta sẽ sắp
xếp một cuộc đi dạo khác cho thái
tử, nhưng lần này cảnh quan của
thành phố phải tươi đẹp
hơn”.
Vì thế Xa Nặc chuẩn bị con
ngựa Kiền Trắc một lần nữa và
họ đã rời khỏi cung điện đi
vào thành phố Ca Tỳ La Vệ. Trên
những con đường được trang hoàng
xinh đẹp hơn trước, và người ta rất
sung sướng đón chào thái tử.
Nhưng lần này thái tử và người
giữ ngựa lại nhìn thấy một
người bệnh xuất hiện ở trong đám
đông đang vui cười ấy.
Thái tử chợt thốt lên:
“Nhìn kìa Xa Nặc. Người đàn
ông kia làm sao mà ho dữ dội, run cả
thân thể và rên rỉ thảm thương
như thế?”
– Thưa thái tử đó
là người bệnh.
– Tại sao ông ta bị bệnh?
– Người ta bị bệnh có
rất nhiều lý do, thưa thái tử. Có
lẽ ông ta ăn nhầm thức ăn xấu,
hoặc là để cho thân thể nhiễm
lạnh nên bị mất quân bình và
ông ta bị cảm sốt.
– Tất cả những người
vui vẻ trong đám đông đó cũng
có thể bị bệnh như người này
không?
– Thưa thái tử, có.
Bất cứ người nào dù khỏe
đến đâu cũng có ngày bị
bệnh. Bệnh tật không chừa một ai cả.
Cuộc đi du ngoạn lần thứ hai
này thái tử bị cú sốc nặng
hơn. Thái tử nói: “Ta không sao hiểu
nổi, làm thế nào mà người ta
lại vô tư và vui sướng khi bệnh
tật đang từng phút từng giây đe
dọa họ. Thôi hãy quay trở về đi Xa Nặc,
ta đã nhìn thấy sự thật về
cuộc đời qua cuộc đi dạo ngày
hôm nay rồi”.
Khi thái tử trở về cung
điện, thái tử cảm thấy buồn hơn
cuộc đi dạo lần trước. Không ai
làm cho thái tử vui cười được
và thái tử cũng không muốn nói
chuyện với ai. Khi vua cha biết được con trai
mình không được vui sau chuyến đi
thứ hai này, ông rất lo âu và bối
rối: “Ta đã làm hết sức mình
để cho con trai ta vui vẻ, song cuối cùng
trái tim của nó lại tràn đầy
buồn rầu. Ta phải hỏi các quan xem có
cách nào làm cho con trai của ta tươi vui
hơn không”.
Các quan đề nghị với vua
rằng, lần sau thái tử muốn đi dạo
thì không nên để thái tử đi
một mình. Tốt hơn nên cho các ca sĩ,
vũ công và những người quý
phái trong cung cùng đi với thái tử.
Họ sẽ có kế hoạch đưa thái
tử đi thăm một khu vườn đặc
biệt đã được chuẩn bị sẵn,
nơi đây thái tử sẽ được
giải trí bởi tất cả các thứ vui
chơi.
Khi thái tử Tất Ðạt Ða
xin đi dạo thành phố một lần nữa,
mọi thứ được chuẩn bị chu
đáo và hết sức thoải mái.
Thành phố được trang hoàng đẹp
hơn lần trước. Tất cả những cảnh
quan xấu được chuyển đi hết và
khu vườn đặc biệt được chuẩn
bị với tất cả thú vui trong ấy.
Tất Ðạt Ða và Xa Nặc
lại rời khỏi cung điện bằng ngựa.
Cùng đi có các quan hộ tống, những
nhạc công và người hầu, giống
như một buổi lễ diễu hành. Cũng
như những lần trước, dân chúng
đứng thành hàng trên đường
phố và họ say mê ngắm nhìn đoàn
diễu hành của hoàng gia.
Song lần đi dạo thứ ba này,
thái tử và Xa Nặc lại nhìn thấy
một cảnh tượng đau buồn. Ðó
là một tốp người u sầu đang
khiêng một chiếc quan tài người chết,
xuất hiện từ trong căn nhà và đang
chậm chạp đi ra đường.
– Xa Nặc, tại sao người
đàn ông kia lại nằm im trong chiếc
hộp? Ông ta ngủ hay
sao? Tại sao những người đi theo lại
khóc? Và họ khiêng ông ta đi
đâu?
–
Thưa Ngài, đó là người chết.
Họ đang đưa ông ta đến bờ
sông, nơi đó sẽ thiêu thân xác
ông ta.
Thái
tử ngạc nhiên hỏi: “Chết à?
Chết nghĩa là gì? Và nếu họ
thiêu đốt thể xác của ông ta,
ông ta có bị đau đớn không? Xa
Nặc hãy giải thích cho ta rõ vấn
đề này”.
Xa
Nặc đành phải giải thích cho thái
tử biết về những sự thật mà cha
của Ngài đã giấu kín từ nhiều
năm qua. “Cuộc đời của người
đàn ông đó cũng như thái
tử và tôi bây giờ. Ông ta sinh ra,
lớn lên, rồi trở thành một
người đàn ông. Ông ta đã
trải qua những sự vui buồn thăng trầm
của cuộc sống, nào là xây dựng gia
đình, làm việc để nuôi sống
bản thân và vợ con. Trải qua thời gian vài
chục năm, thân thể ông ta trở nên
già yếu, bệnh tật và nằm liệt
trên giường. Lúc ấy ông ta không
còn nhận thức được gì nữa, ngay
cả đến những người bạn thân
thiết nhất. Rồi ông ta ngày một yếu
dần và cuối cùng hơi thở lìa
khỏi xác. Mạng sống đến đây
chấm dứt, và ông ta đã chết.
Chỉ còn lại cái xác lạnh lẽo
không hồn, không còn cảm giác gì
nữa cả. Một thân xác mà suốt
đời ông ta chăm sóc nó nay trở
thành vô nghĩa, chỉ còn lại một
nắm tro tàn sau khi thiêu xong”.
–
Ai cũng phải trải qua sự chết như vậy
phải không Xa Nặc?
– Không, thưa
thái tử. Thật ra một số người
không có cơ hội sống đến già.
Một số người rất ít khi bị bệnh.
Song tất cả mọi người đều phải
chết một ngày nào đó, không
có ngoại lệ khác hơn.
Những
lời trình bày của Xa Nặc gây ấn
tượng sâu đậm trong tâm thái tử.
Chàng nói: “Có nghĩa là một
ngày nào đó, vợ ta, con ta, những
bạn bè của ta và cả bản thân ta
cũng sẽ phải chết? Và tất cả những
người hiện diện nơi đây với
áo quần đẹp đẽ và rất
hãnh diện như thế này cũng sẽ
chết ư? Ồ, thật là mù quáng thay,
cả thế giới vẫn cứ mải mê ca
múa, quay cuồng theo dục vọng trong khi cái
chết đang đến gần họ! Tại sao họ
lại cứ se sua lo chuyện chưng diện áo
quần cho tốt mà không biết một ngày
nào đó họ chỉ còn phủ lên
mình một tấm vải trắng thô sơ? Phải
chăng họ chỉ nhớ những thứ thiển
cận mà quên đi sự chết? Hay trái tim
của họ quá chai đá đến nỗi
ý nghĩ về sự chết không làm họ
lo sợ? Xa Nặc, hãy quay xe lại. Ta muốn
trở về cung điện”.
Xa Nặc
đánh xe ngựa trở về khu vườn xinh
đẹp. Nơi đó những ca sĩ và
vũ công đẹp nhất cung điện đang
chờ đợi cùng với các nhạc
công, các quan và một bàn tiệc
thịnh soạn được chuẩn bị bởi
các đầu bếp của hoàng gia. Họ
đón chào thái tử một cách
nồng nhiệt khi thái tử từ trên xe
ngựa bước xuống. Thế nhưng thái
tử không thiết gì cả. Tư tưởng
của chàng hoàn toàn bị thu hút
bởi những gì đã xảy ra mà
chàng chứng kiến khi nãy.
Mọi
người cố gắng hết sức để
làm vui lòng thái tử. Những vũ công
xinh đẹp vui đùa với thái tử, hy
vọng làm cho gương mặt đẹp trai
buồn rầu của chàng vui tươi trở
lại, nhưng thái tử không hề quan tâm
đến họ. Trong tâm trí của chàng
lúc này là hình ảnh già, bệnh,
chết đang chiếm ngự.
Một
trong những vị quan thấy thái tử không vui
bèn đến động viên chàng. Với
lối nói vui đùa của một người
bạn, ông nói: “Thật không phải
tí nào khi thái tử lại lơ là
với những vũ công đáng yêu này
và từ chối cuộc vui với họ. Bạn
ơi! Bạn còn trẻ đẹp và khỏe
mạnh, cứ vui hưởng sự sống đi.
Có việc gì đâu? Bộ những cô
gái này không đáng yêu đối
với bạn sao?”
Với
giọng nói cương nghị thái tử
trả lời: “Ngài đã hiểu lầm
tôi rồi. Chẳng phải tôi không thích
những người và những thứ đáng
yêu mà tôi thấy nơi đây. Nhưng
khi nghĩ đến sắc đẹp của họ
sẽ phai tàn, mọi vật sẽ thay đổi
nhanh chóng, khiến tôi không thể tìm
thấy niềm vui chân thật trong những thứ
ấy một tí nào cả.
Nếu
không có già, bệnh và chết, khi ấy
tôi mới có thể tìm thấy nguồn vui
lớn đối với mọi vật. Thế nhưng,
những thứ bất hạnh ấy đang chờ
đợi chúng ta trong tương lai. Làm sao
tôi có thể hài lòng với những
thứ vui chóng tàn như thế?
Ngài
ắt hẳn phải có một trái tim nồng
nhiệt hơn tôi nên mới hài lòng
một cách dễ dàng như vậy. Nhưng
đối với tôi mọi thứ mà tôi thấy
đang bốc cháy bởi khổ đau. Chừng
nào tôi chưa tìm ra con đường
thoát khỏi những nỗi khổ ấy, thì
những thú vui của thế gian này không
lôi cuốn được tôi”.
Vì
không thể nào làm cho tâm trạng của
thái tử vui tươi được, mọi
người chán nản trở về hoàng cung.
Khi các quan tâu lên đức vua về tình
trạng thái tử không được vui vì
bị những cảnh bên ngoài tác
động, nhà vua quá rầu buồn, đến
nỗi không thể ngủ được. Ngài
nghĩ: “Ôi! Con trai yêu quý của ta,
làm thế nào ta có thể giữ
được con ở lại vương quốc? Ta
phải làm gì để con hài lòng
mà ở lại đây?”. Những ý
nghĩ lo sợ đứa con trai yêu quý của
mình sẽ từ bỏ hoàng cung, khiến
nhà vua tuyệt vọng trằn trọc cả
đêm.
Thái
tử Tất Ðạt Ða ngày càng chìm
sâu vào những suy tư về cuộc
đời. Chàng dường như không còn
quan tâm đến một thứ gì. Chàng
cũng không thiết đến ăn uống, sức
khỏe bắt đầu kém đi và nước
da trở nên xanh xao. Vua và mọi người
rất lo ngại về những thay đổi không
tốt này sẽ ảnh hưởng đến
tính mạng của thái tử.
Một
hôm thái tử đến gặp vua và
thưa: “Thưa cha, gần đây tâm con
không được an, xin phép cha cho con
được đi dạo một lần nữa. Hy
vọng sự thay đổi cảnh quan lần này
sẽ làm con an vui hơn”.
Vua
đồng ý ngay lời thỉnh cầu của con
trai mình. Lần này ông sẽ làm mọi
thứ để thái tử được hài lòng
và vui tươi trở lại. Vua ngầm sai các
quan theo sát và để ý thái tử.
Thái
tử cùng với Xa Nặc và các quan
đồng ra cửa thành phía Bắc du ngoạn.
Trong lúc dạo cảnh, các quan đã cố
gắng kể những câu chuyện vui để cho
thái tử quên hết những ưu tư,
nhưng thái tử cũng chẳng quan tâm gì
đến những lời tán gẫu của họ.
Một lúc sau, thái tử nhìn thấy một
người râu tóc cạo sạch, choàng
trên mình chiếc áo vá nhiều mảnh,
tay ôm bình bát, mắt nhìn thẳng
mà đi, hình dạng rất đoan chính, oai
nghi đĩnh đạc khả kính. Thái tử
liền hỏi Xa Nặc:
–
Người đó là ai mà tướng
mạo và mặc áo khác người như
vậy?
Xa
Nặc đáp: Thưa thái tử, vị này
là người xuất gia tu hành, đã
thoát ly đời sống thế tục.
Nghe Xa
Nặc nói, thái tử lấy làm lạ,
xuống xe đến chào vị tu sĩ và
hỏi:
– Thưa ngài, vì
sao ngài lại xuất gia tu hành?
–
Thưa thái tử, tôi đã giác ngộ
được sự vô thường giả tạm
của cuộc sống, mạng người rất mong
manh sớm còn tối mất, một hơi thở ra
không trở lại đã ra người thiên
cổ. Tôi không muốn để cho những
thứ tiền tài, sắc đẹp, danh thơm,
ăn ngon, ngủ kỹ làm cho mình phải đau
khổ, sa đọa vào vòng tội lỗi.
Tôi muốn thoát ra khỏi những ràng
buộc của tình ái trầm luân, của
những dục vọng thấp hèn, của
đời sống gia đình ràng buộc,
để được tự do như cánh chim bay
liệng trên bầu trời bao la vô tận.
Vì muốn thoát khỏi nỗi khổ già,
bệnh, chết trong vòng luân hồi sinh tử
miên viễn. Vì muốn hy sinh thân mình để
tìm chân lý cứu độ chúng sinh
thoát khỏi vô minh đau khổ, nên tôi
phát nguyện xuất gia tìm đạo. Mục
đích duy nhất của tôi hiện nay là tìm
cho ra hạnh phúc hoàn hảo nhất và cao
thượng nhất. Cho nên xuất gia phải là
bậc đại nhân, đại trí, đại
hùng, đại lực, đại từ bi mới
có thể thực hiện được.
Thái
tử nghe xong rất vui mừng vì đã gặp
được người mở con đường
sáng cho mình đi. Những lời lẽ của
vị Sa môn nói rất đúng. Thái
tử nghĩ: “Cuối cùng ta cũng đã
tìm ra ý nghĩa thật của cuộc
đời. Ta cũng sẽ từ bỏ gia đình,
bắt đầu cuộc hành trình tìm
hạnh phúc chân thật để chấm dứt
tất cả khổ đau cho mình và cho
người”.
Với
ý chí kiên cường và trái tim tràn
đầy tình thương, thái tử bảo Xa
Nặc quay xe trở về hoàng cung.
Về
tới cung điện, thái tử liền đi ngay
vào phòng của vua. Chàng nắm chặt hai
bàn tay lại – theo phong tục tập quán khi
thỉnh cầu một việc quan trọng – và
thưa: “Thưa cha, con muốn trở nên
người lang thang vô gia cư để tìm ra
con đường chấm dứt khổ đau. Xin cha cho
phép con được rời khỏi cung điện
này”.
Từ
khi thái tử còn là đứa trẻ, vua
đã lo sợ một ngày nào đó
mình sẽ phải nghe những lời thỉnh
cầu đáng ghét này. Song, những lo
sợ ghê gớm ấy đã thành sự
thật. Vua nghẹn ngào rơi lệ trả lời:
“Con trai yêu quý của cha, hãy quên tư
tưởng này đi. Con hãy còn quá
trẻ, không đủ sức để sống
đơn độc như những đạo sĩ.
Ðợi đến khi tuổi già hãy đi
cũng không muộn. Lúc này con phải ở
lại Ca Tỳ La Vệ để cai trị vương
quốc thay cha”.
“Dạ thưa cha,
con sẽ ở lại nếu cha hứa với con bốn
điều sau đây: Làm sao cho con trẻ mãi
không già; làm sao cho con khỏe mãi
không bệnh; làm sao cho con sống mãi
không chết và làm sao cho con hết khổ
đau. Nếu như cha không hứa giúp
được con những điều này thì con
phải ra đi tìm câu giải đáp”.
Vua
bị lúng túng bởi những câu hỏi
quái lạ này và ngài bắt đầu
gay gắt với thái tử: “Hãy bỏ ngay
những ý nghĩ ngu xuẩn này đi, Tất
Ðạt Ða”.
Nhưng
thái tử vẫn kiên quyết: “Thưa cha,
nếu cha không thể cứu con thoát khỏi
những nỗi lo già, bệnh, chết và khổ
đau, thì xin cha cho con đi để con tìm
đường tự cứu lấy mình. Không
nên giữ con như một tù nhân ở
đây”.
Vua
không thèm nghe nữa. “Không để cho
thái tử rời khỏi nơi đây. Hãy
canh gác cung điện cẩn thận!”. Vua ra
lệnh cho các quan xong, buồn rầu bỏ ra
khỏi phòng.
Tất
Ðạt Ða rời khỏi phòng vua cha và
trở về cung điện của mình. Chàng
đi ngang qua những căn phòng trang hoàng
lộng lẫy, những hành lang tráng lệ,
những dòng suối lấp lánh rồi về
đến phòng của mình. Chàng đi
giữa những nhạc công tài ba và những
nàng hầu xinh đẹp đang biểu diễn,
nhưng những thú vui này không còn thu
hút thái tử. Lúc này chàng chỉ
có một ý nghĩ trong đầu là rời
khỏi cung điện đi tìm chân lý.
Ðêm
đó, sau bữa ăn tối, các nhạc
công, vũ nữ và lính canh đều
mệt mỏi say ngủ. Ngay cả Da Du Ðà La cùng
người con trai La Hầu La cũng say sưa trong
giấc nồng. Thái tử nhìn vợ con và
nghĩ: Ta muốn ôm đứa con trai vào
lòng một lần cuối trước khi rời
khỏi cung điện, nhưng e rằng sẽ
đánh thức Da Du Ðà La và sẽ rất
khó cho việc ra đi của ta. Thôi ta phải
rời khỏi nơi đây gấp và thật im
lặng trước khi mọi người thức
giấc.
Thái tử bước nhẹ
nhàng cẩn thận qua những người đang
nằm ngủ, đi đến cửa sổ và
trèo ra bên ngoài. Chàng đi tới chỗ
Xa Nặc, người giữ ngựa đang nằm
ngủ và khẽ đánh thức anh ta dậy:
“Hãy sửa soạn ngựa cho ta nhanh đi Xa Nặc.
Ta muốn đi ngay đêm nay”.
Xa Nặc rất ngạc nhiên không
biết thái tử đi đâu vào lúc
giữa đêm như thế này, nhưng không
dám hỏi. Xa Nặc liền sửa soạn con
ngựa Kiền Trắc và dắt nó đến
chỗ thái tử. Tất Ðạt Ða vuốt ve
con ngựa và thì thầm với nó: “Kiền
Trắc, người bạn thân yêu của ta,
chúng ta phải rất yên lặng. Ta không
muốn đánh thức những người canh
gác. Ðêm nay là một đêm rất
đặc biệt”.
Thái tử và Xa Nặc rời
khỏi cung điện. Họ lặng yên phóng
ngựa đi trong đêm tối. Ðến ranh
giới của thành phố, thái tử nhìn
lại và phát nguyện: “Nếu ta không
chinh phục được tất cả khổ đau, ta
sẽ không trở lại thành phố Ca Tỳ La
Vệ xinh đẹp này”.
Họ cưỡi ngựa suốt
đêm. Khi mặt trời vừa mọc, họ
đã tới cánh rừng yên tĩnh, nơi
có rất nhiều đạo sĩ ẩn tu. Thái
tử rất sung sướng và nghĩ: “Bây
giờ cuộc tìm đạo của ta bắt
đầu”. Rồi chàng quay qua Xa Nặc nói:
“Xa Nặc, ta rất cám ơn sự giúp
đỡ của bạn. Ta đã tới nơi
mà ta mong muốn. Bây giờ là lúc
bạn và con ngựa trở về cung điện
được rồi”.
Xa Nặc không thể tin là
thái tử sẽ không trở về cung
điện với mình. Anh ta đứng lưỡng
lự nơi đó, nước mắt bắt
đầu chảy ra hai khóe mắt. Thái tử
hiểu được nỗi buồn của Xa Nặc
và an ủi anh ta: “Xa Nặc yêu quý
của ta, đừng khóc nữa. Trước sau
gì chúng ta cũng phải chia tay nhau. Hãy
cầm những báu vật này mà ta đang
đeo, ta không cần đến chúng nữa.
Hãy trở lại hoàng cung và nói với
cha ta rằng, ta ra đi không phải vì buồn
giận. Cũng không phải là ta không yêu
thương gia đình. Thực ra vì ta
thương yêu họ rất nhiều nên ta
mới phải từ bỏ họ để ra đi
như vầy. Nếu ta khám phá ra được
con đường chấm dứt tất cả khổ
đau, ta sẽ trở lại giúp họ. Nếu ta
thất bại thì chẳng khác gì ta từ
biệt luôn. Sớm hay muộn gì cái chết
cũng sẽ đến với chúng ta bằng
mọi cách. Hãy để ta bắt đầu
cuộc hành trình tìm chân lý”.
Sau đó, chàng rút
gươm ra và cắt mớ tóc dài của
mình, một biểu hiện của hoàng gia, trao
cho Xa Nặc cùng với các đồ trang sức
quý báu, bảo đem về cho Da Du Ðà La.
Xa Nặc thấy không còn
cách nào chuyển đổi được
ý chí của thái tử, anh thắng ngựa
chầm chậm từ giã thái tử. Nhiều
lần anh và con ngựa ngoái nhìn lại
phía sau, bùi ngùi rơi lệ chia tay. Cuối
cùng, thì họ cũng đã về tới Ca
Tỳ La Vệ. Xa Nặc đã buồn rầu kể
lại với mọi người là thái tử
Tất Ðạt Ða đã từ bỏ cuộc
sống hoàng gia mãi mãi.
Khi Tất Ðạt Ða đứng một mình
trong cánh rừng bắt đầu cuộc tìm
đạo vĩ đại, chàng nghĩ: “Kể
từ hôm nay ta không còn là thái tử
nữa. Vì thế ta không thể trang phục
như người thế tục ...”. Sau đó,
chàng gặp một người thợ săn
nghèo và nói với ông ta rằng: “Thưa
ông, tôi không cần những đồ tơ
lụa quý giá này. Nếu tôi sống
trong rừng, tôi sẽ mặc những thứ vải
thô giống như ông. Vậy chúng ta hãy
trao đổi lẫn nhau”. Người thợ săn
rất ngạc nhiên và rất vui sướng
được trao đổi những y phục
đắt tiền như thế và nhanh chóng chấp
nhận lời đề nghị của Tất Ðạt
Ða.
Bây giờ chàng đã hoàn toàn
ăn mặc như người đạo sĩ bần
hàn thật sự. Tất Ðạt Ða bắt
đầu tìm thầy chỉ dạy cho chàng con
đường chấm dứt mọi khổ đau.
Chàng đi vào rừng sâu và thưa
hỏi tất cả các đạo sĩ mà
chàng gặp. Nơi chàng đi qua đều
được mọi người tiếp đón
kính trọng. Cho dù bây giờ chàng
mặc đồ rách rưới và chỉ ăn
chút ít thức ăn xin được, nhưng
tướng mạo của chàng trông vẫn
rất đẹp trai và nổi bật. Khi những
người ở trong rừng thấy chàng
đến, họ đều nói với nhau:
“Trông ông ta rất đặc biệt. Trên
gương mặt ông biểu hiện nghị lực
kiên cường. Nếu ông ta đi tìm
chân lý, chắc chắn sẽ đạt
được ý nguyện”.
Tất Ðạt Ða tìm học với một
vài vị thầy, nhưng chàng không hài
lòng với những gì họ chỉ dạy.
Chàng nghĩ: Những thứ họ dạy đều
có ích, nhưng không đưa đến an
lạc tuyệt đối. Sau cùng, chàng nghe
có một vài đạo sĩ rất thông
thái hiện đang sống ở vương quốc
Ma Kiệt Ðà (Magadha) nơi mà vua Tần
Bà Sa La (Bimbisara) cai trị. Vì thế chàng
quyết định đi đến đó để
tìm họ.
Một hôm, chàng đang đi bộ ngang qua
thành Vương Xá (Rajagriha), thủ đô
của Ma Kiệt Ðà, chàng đến gần
cổng của cung điện. Một trong những vị
quan của nhà vua nhìn thấy chàng và
vội về báo tin cho vua biết.
Ông ta nói một cách vui mừng:
“Tâu bệ hạ, hạ thần vừa nhìn
thấy một người đàn ông rất
tuyệt vời trong thành phố. Ông ta mặc
đồ rách rưới và xin thức ăn
từ nhà này đến nhà khác,
nhưng hạ thần tin chắc ông ta là một
người đặc biệt. Gương mặt ông
ta đầy nghị lực và dáng đi rất
oai nghiêm. Dường như có một thứ ánh
sáng kỳ diệu tỏa ra từ thân thể
ông ta”.
Vua nghe xong rất vui mừng và cho
mời Tất Ðạt Ða vào cung điện.
Họ nói chuyện với nhau một lúc và
vua rất khâm phục trí thông minh, tính
khiêm tốn và lòng tử tế của
chàng. Vua nói: “Tôi chưa gặp một
người nào mà tôi cảm thấy mến
mộ tin yêu như Ngài. Xin Ngài ở lại
Vương Xá và giúp tôi cai trị
vương quốc này”.
Tất Ðạt Ða trả lời
một cách lịch sự: “Tâu bệ hạ,
tôi đã có cơ hội để cai
trị một vương quốc rồi, nhưng tôi
đã từ bỏ. Tôi không quan tâm
đến sự giàu sang và quyền lực,
chỉ muốn tìm chân lý. Xin cám ơn ân
huệ của ngài, tôi đến đây
chỉ để tìm thầy học đạo”.
Khi ấy vua cúi chào người
đàn ông rách rưới và nói:
“Xin chúc may mắn trên con đường
tìm đạo của Ngài. Nếu sau này
Ngài tìm ra chân lý, xin hãy trở
lại chỉ dạy cho tôi. Nhưng nếu Ngài
thất bại tôi vẫn sẵn sàng đón
nhận Ngài về vương quốc của
tôi”.
Tất Ðạt Ða cám ơn
lòng tốt của vua và rời khỏi cung
điện tiếp tục con đường tầm
sư học đạo của mình.
Cuối cùng Tất Ðạt Ða
đã đến khu rừng nơi mà các
đạo sĩ thông thái đang sống.
Ðầu tiên Ngài học với Arada và
Udraka. Chỉ trong một thời gian ngắn, Ngài
quán triệt những gì mà họ đã
dạy, nhưng Ngài vẫn không hài lòng,
Ngài tự nhủ: “Những vị thầy
của ta là bậc cao quý, song những lời
mà họ dạy ta không đem lại sự
chấm dứt tất cả khổ đau. Ta phải tự
mình tiếp tục tìm kiếm”.
Ngài tiếp tục cuộc hành
trình của mình và đi đến con
sông Nairangang, gần đất thánh Gaya. Ngài
vượt qua con sông và vào khu rừng
của bờ bên kia. Tại đây, Ngài
gặp một nhóm năm người. Ðời
sống của họ hết sức đơn giản.
Họ ăn rất ít, sống ở ngoài
trời và ngồi im lặng nhiều giờ mỗi
ngày.
Tất Ðạt Ða hỏi họ:
“Tại sao các vị lại hành hạ
xác thân như thế?”
Họ trả lời: “Ða
phần người ta sống trên cuộc đời
này đều dung dưỡng xác thân, song
vẫn phải chịu nhiều khổ đau, chúng
tôi nghĩ rằng, nếu mình có thể
chịu đựng được sự đau khổ
của thân xác, thì sẽ tìm ra
được phương pháp làm chủ
tất cả khổ đau”.
Tất Ðạt Ða tự nghĩ:
“Ðã nhiều năm qua ta sống trong cung
điện hưởng mọi thứ sung sướng. Ta
được đối xử rất tử tế,
nhưng trong tâm vẫn không được an
lạc. Có lẽ những người này
nói đúng. Ta sẽ nhập môn với
họ để thực hành khổ hạnh xem
có thể đưa đến sự chấm dứt
khổ đau không”.
Từ đó, Ngài bắt
đầu thực hành khổ hạnh như những
vị này. Ngài ngồi từ giờ này
đến giờ khác cùng một chỗ, cho
dù hai chân và lưng đau đớn vô
cùng, Ngài cũng không động đậy.
Ngài chịu đựng cái nắng nóng
cháy của mùa Hè; rồi đến
những cơn gió lạnh buốt của mùa
Ðông. Ngài chỉ ăn một ít thức
ăn đủ để cầm hơi tu tập.
Ngài tự nghĩ: “Ta phải tiếp tục
khổ hạnh và quyết tâm khám phá con
đường thoát khỏi tất cả khổ
đau”.
Năm đạo sĩ rất kinh ngạc
về cách tu của Tất Ðạt Ða. Họ
nói với nhau: “Chúng ta chưa thấy
một người nào có sự quyết tâm
như ông này. Ông ta kiềm chế thân
mình không một chút lơ là. Nếu
một người nào đó thành công
trong sự thực hành phương pháp khổ
hạnh này thì người đó chính
là Tất Ðạt Ða. Chúng ta hãy ở
gần bên ông ta để khi ông ta khám
phá ra chân lý chúng ta sẽ
được học hỏi với ông”.
Tất Ðạt Ða hành xác
ngày càng khắc nghiệt hơn. Từ lúc
bắt đầu khổ hạnh, Ngài chỉ ngủ
vài giờ mỗi đêm, rồi cuối cùng
Ngài thức suốt không ngủ. Ngài cũng
không ăn một bữa ăn nào mà chỉ
dùng một vài thứ hạt hoặc trái
cây do gió bay vào vạt áo của
Ngài.
Thân hình Ngài ngày một
gầy ốm tiều tụy. Thân thể mất đi
sự tươi nhuận và bao phủ đầy
bụi bẩn. Lúc này Ngài trông giống
như một bộ xương người còn
sống. Nhưng Ngài vẫn kiên trì không
từ bỏ thực hành khổ hạnh.
Sáu năm trời trôi qua. Tất
Ðạt Ða rời khỏi cung điện và
từ bỏ những lạc thú lúc 29 tuổi.
Bây giờ Ngài đã 35 tuổi, trải qua 6
năm khổ hạnh, ăn, mặc, ngủ đều
thiếu kém. Một hôm Ngài nghĩ:
“Bây giờ ta đã đến gần mục
đích hơn sáu năm về trước
chưa? Hay là ta vẫn vô minh như trước?
Khi còn là thái tử ta đã sống
trong sự xa hoa và tận hưởng mọi lạc
thú của cuộc đời. Ta đã lãng
phí nhiều năm trong ngục tù dục lạc.
Khi ta từ bỏ hoàng cung bắt
đầu tầm đạo, ta đã sống trong
rừng, hang động và không có một
thứ gì khác ngoài những bữa ăn
đơn sơ và khổ hạnh thân thể.
Thế nhưng cho đến nay ta vẫn chưa tìm
ra con đường chấm dứt khổ đau. Bây
giờ ta mới hiểu ra rằng, thật sai lầm khi
hành hạ thân xác như thế này.
Nó cũng giống như sự sai lầm lãng
phí nhiều năm trong dục lạc nơi cung
điện trước đây. Muốn tìm ra
chân lý ta phải đi theo con đường trung
đạo, không nên hưởng thụ quá
và cũng không nên khổ hạnh ép
xác quá”.
Ngài nhớ lại nhiều năm
về trước. Sau khi nhìn thấy người
chết, Ngài đã thiền định ở
dưới cây Gioi. Ngài nghĩ: “Sau lúc
thiền định ấy, tâm trí ta rất thanh
tịnh. Ta có thể nhận định sự
vật một cách rõ ràng. Bây giờ ta
cố gắng tập trung ý chí như vậy
một lần nữa xem sao”.
Nhưng khi Ngài nhìn lại
thân thể của mình, Ngài nghĩ: “Ta
ngồi đây đã lâu mà không
ăn vì thế thân thể đã mệt
nhọc, dơ bẩn và ốm yếu. Ta ốm
quá đến nỗi nhìn thấy cả
xương xuyên qua làn da. Làm thế nào
ta có thể thiền định khi thân thể quá
đói và dơ bẩn?”.
Ngài cố gượng dậy và
đi đến bên bờ sông để tắm.
Tuy thế Ngài quá yếu đến nỗi
té xuống sông và có nguy cơ bị
chết đuối. Ngài cố gắng hết sức
mình bám lấy bờ đất lần mò
lên bờ. Lên được tới bờ,
Ngài ngồi nghỉ và thở một
lát.
Trong một ngôi làng nhỏ ở
bìa rừng có một gia đình chăn
nuôi và có người vợ tên là
Sujata. Cô mới sinh được đứa con
đầu lòng nên rất sung sướng. Cô
vắt sữa tốt nhất từ những con bò
của chồng mình và chuẩn bị cho một
bữa ăn ngon từ nguồn sữa này. Bấy
giờ cô đang đem thức ăn này vào
trong rừng để dâng cúng cho thần linh
mà cô tin tưởng đang ngự trị ở
đó. Cô thường cầu nguyện những
vị thần linh này và tỏ lòng biết
ơn các vị thần đã giúp cô sinh
được một người con trai mạnh khỏe.
Cô đi vào rừng và
gặp Tất Ðạt Ða đang ngồi ở
đó. Thân thể của Ngài ốm yếu,
nhưng gương mặt vẫn sáng sủa và
đẹp trai. Sujata nhìn Ngài và rất
ngạc nhiên, cô nghĩ: Từ trước tới
giờ ta chưa nhìn thấy ai giống như
người này. Có lẽ đây là vua
của các vị thần linh. Rồi cô đem
thức ăn đã chuẩn bị đặc
biệt đặt ở phía trước Ngài.
Tất Ðạt Ða từ từ mở mắt ra
và thấy tô sữa ở trước mặt
mình. Ngài mỉm cười tỏ lòng
biết ơn đối với Sujata và nhấc
tô sữa lên miệng uống. Ngài uống
tới đâu cảm thấy thân mình
tươi nhuận đến đó. Uống xong,
Ngài đặt tô xuống và cám ơn
nàng: “Có lẽ cô nghĩ tôi là
một vị thần linh, nhưng tôi chỉ là
một người đi tìm chân lý mà
thôi. Phẩm vật cúng dường của
cô đã giúp cho thân thể của
tôi khỏe mạnh trở lại. Bây giờ
tôi tin chắc rằng tôi sẽ tìm ra chân
lý. Cầu chúc cho cô gặt hái
được nhiều quả tốt về việc
cúng dường hôm nay. Xin cám ơn
cô”.
Năm người sống trong khu rừng với
Tất Ðạt Ða thấy Ngài nhận phẩm
vật cúng dường của Sujata, họ rất
thất vọng và nói với nhau: “Tất
Ðạt Ða đã từ bỏ sự tầm
đạo. Ông ta không đi theo con đường
của bậc Thánh nữa. Ông ta đã
tắm rửa và dùng thức ăn ngon trở
lại. Làm sao chúng ta có thể ở lại
đây với ông ta được nữa?
Chúng ta hãy rời khỏi khu rừng này
và đi đến Ba La Nại (Banares). Chúng ta
sẽ tiếp tục thực hành khổ hạnh trong
khu vườn Lộc Uyển gần đấy”.
Họ từ bỏ ra đi và nghĩ
rằng Tất Ðạt Ða đã không còn
chú ý đến việc khám phá chân
lý nữa. Thế nhưng sau khi dùng sữa,
thân thể khỏe mạnh trở lại, Tất
Ðạt Ða chuẩn bị thiền định và
quyết tìm ra chân lý mà Ngài
đã dầy công mấy năm qua. Ngài
đứng dậy, lội qua con sông và
hướng về phía trước.
Giây phút mà thế giới
mong đợi bây giờ đã đến.
Tất Ðạt Ða, người đã từ
bỏ vương quốc để tìm chân
lý, đang tiến tới một gốc cây.
Trên đường đi, Ngài đi ngang qua
một người đang mang mớ cỏ tươi
mới cắt và Ngài đã xin ông
một mớ. Ngài sẽ dùng mớ cỏ
này để ngồi thiền.
Khi Ngài đến gần cây
bồ đề thì bầu không khí lúc
này trở nên yên tĩnh hơn. Và cả
thế giới dường như đang nín thở
hồi hộp chờ đợi những điều
sắp xảy ra. Những cành cây lay động
như chào đón Ngài. Ngài từ từ
ngồi xuống dưới tàn cây.
Tất Ðạt Ða cẩn thận
xếp mớ cỏ thành tấm nệm nhỏ
và ngồi xuống, mặt quay về hướng
Ðông. Ngài xếp tréo chân theo tư
thế thiền định vững chắc và
đặt hai bàn tay trên lòng hai bàn
chân. Rồi Ngài cương quyết phát
nguyện: “Nếu ta không đạt
được đạo quả, cho dù phải
bỏ mạng tại đây, ta cũng sẽ không
rời khỏi nơi này”. Lúc ấy, chư
thiên trên hư không rất vui mừng khi nghe
lời nguyện lớn của Tất Ðạt Ða.
Ðó là ngày trăng tròn tháng tư
lúc mặt trời sắp lặn.
Thế nhưng truyền thuyết cho
rằng, không phải ai cũng hoan hỷ lúc nghe
Ngài phát nguyện lớn. Có một thế
lực gọi là Mara thì lại hoảng sợ
và giận dữ. Mara là tên gọi mà
người Ấn Ðộ cổ cho là sức
mạnh của tội lỗi, nó quấy phá
tâm trí của chúng ta. Mara là tính tham
lam, giận hờn, ngu si, ganh tỵ, nghi ngờ của
chúng ta và bao gồm cả những độc
tố khác đem đến cho người ta sự
bất hạnh và đau khổ.
Khi Mara thấy Tất Ðạt Ða ngồi ở
dưới cây bồ đề, nó giận
điên lên. Nó bèn gọi đám con
trai, con gái của nó đến và lớn
tiếng: “Hãy nhìn kìa, thái tử
Tất Ðạt Ða đang ngồi thiền
định. Nếu ông ta thành công và
khám phá ra con đường chấm dứt
mọi khổ đau, thì cái gì sẽ
xảy đến với chúng ta? Các con không
hiểu rằng lúc đó chúng ta sẽ
mất đi sức mạnh ư, chúng ta sẽ
không thể làm hại người ta nếu
ông ta dạy cho họ chân lý. Chúng ta
phải khuấy phá sự thiền định
của ông ta, hay là chúng ta chịu đầu
hàng thất bại”.
Và thế là Mara đem tất cả sức
mạnh tội lỗi của hắn cố gắng
tìm mọi cách để quấy phá Tất
Ðạt Ða. Chúng gây ra một trận bão
khủng khiếp và phóng những tia sấm
sét xuống quanh Ngài. Chúng tạo ra cơn
gió mạnh đến nỗi mọi thứ chung quanh
Ngài hư hại nặng nề. Thế nhưng
bên dưới những nhánh cây, mọi
thứ vẫn yên lặng, nó được che
chở bởi năng lực thiền định của Tất
Ðạt Ða.
Mara thấy rằng trận bão vừa qua
đã không đạt kết quả, hắn quay
sang lũ đệ tử và la lên: “Tấn
công!”. Toàn thể lũ yêu ma độc ác
quay lại tấn công Tất Ðạt Ða.
Chúng chạy đến chỗ Ngài la hét
dữ dội. Chúng bắn những mũi tên
độc căm thù đến Ngài. Song, khi
những mũi tên này bay tới chỗ Tất
Ðạt Ða, chúng lại biến thành
những cánh hoa sen và rơi xuống vô
hại cạnh bên chân Ngài. Không có
cách nào quấy phá được sự
yên tĩnh thiền định của Ngài.
Mara nghĩ: “Nếu những vũ khí này
và bóng ma sợ hãi không làm rối
loạn thiền định ông ta thì sắc
đẹp có thể quấy nhiễu được
tâm trí ông ta”. Lúc đó tất
cả lũ yêu ma biến thành những cô
gái đẹp nhất và rất quyến rũ.
Những cô gái hấp dẫn này khiêu
vũ phía trước Ngài, nhưng cũng
không ảnh hưởng gì đến sự
thiền định của Ngài. Chúng gợi
lại những cung điện như ý, cảnh
vợ con, thiên nhạc, thức ăn ngon mà
Ngài đã hưởng trước đây.
Nhưng không một thứ nào có thể
phá hoại sự tập trung thiền định
của người đi tìm chân lý.
Mara cảm thấy thất bại. Hắn cố
gắng xuất một chiêu cuối cùng. Sau khi
giải tán bộ hạ của mình, hắn
xuất hiện một mình trước Tất
Ðạt Ða. Hắn nói với Ngài bằng
một giọng chế giễu: “Ông là
thái tử Tất Ðạt Ða vĩ đại
à? Ông nghĩ ông là người tu
thiền vĩ đại ư? Rất nhiều vĩ
nhân đã thất bại khi đi tìm
chân lý, nhưng ông lại nghĩ rằng
mình sẽ thành công ư?
Thật là ngu xuẩn làm sao! Ông không
biết rằng cần phải có một sự
chuẩn bị cho việc tìm kiếm chân lý
sao? Ông đã làm được gì
để xứng đáng cho việc thành
công? Trước hết ông đã lãng
phí mất 29 năm nuông chiều bản thân.
Rồi lại lãng phí 6 năm đói
khát hành hạ xác thân. Bây giờ
ông ngồi đây, nghĩ rằng trí huệ
sẽ đến với ông. Thật ngu xuẩn
làm sao! Hãy từ bỏ việc thiền
định này đi, hoặc ít nhất ông
cũng chỉ cho tôi biết ai là nhân
chứng cho lời thề của ông sẽ
được thành công, trong khi tất cả
mọi người đều thất bại”.
Những lời khinh bỉ này không
đủ tác dụng làm phiền Tất
Ðạt Ða. Ngài im lặng nhấc tay phải
khỏi lòng bàn chân, đưa ra phía
trước và đụng xuống đất.
Vâng, chính mặt đất này là
nhân chứng của Tất Ðạt Ða. Ðã
vô số kiếp Ngài xuất hiện trên
mặt đất này với nhiều hình
dạng khác nhau. Ngài đã thực tập
lòng khoan dung và tính kiên nhẫn. Ngài
đã thực hành yêu thương và
tránh làm hại kẻ khác. Ngài
đã tập trung cho việc tìm chân lý.
Ngài đã làm tất cả những việc
này. Khi thì là người nam, khi thì
là người nữ, khi là người
giàu, khi là kẻ nghèo – đã
nhiều kiếp qua, Ngài làm những việc
này chỉ vì mục đích khám phá
ra con đường chấm dứt tất cả khổ
đau và chính trái đất này là
nhân chứng của Ngài.
Mara thật sự biết mình
thất bại và biến mất như một cơn
ác mộng. Tất Ðạt Ða hoàn toàn
thảnh thơi một mình. Những đám
mây đen tách ra và mặt trăng chiếu
sáng trên bầu trời. Không khí tỏa
mùi thơm dìu dịu và ánh sáng
lấp lánh trên đầu ngọn cỏ. Mọi
thứ đã sẵn sàng!
Tâm trí của Tất Ðạt Ða yên
lặng và êm dịu. Sự tập trung của
Ngài càng sâu thêm và tâm trí
càng sáng hơn. Nhờ trí tuệ bừng
sáng, Ngài đã nhìn thấy những
kiếp quá khứ. Ngài thấy rằng khi
một đời sống này chấm dứt thì
đời sống khác bắt đầu. Chết
chỉ là một sự chấm dứt của thể
xác, đời sống lại tiếp tục tìm
kiếm một thân xác mới và cứ
tiếp diễn mãi như vậy.
Ngài thấy rằng khi một người làm
điều tội lỗi trong một đời –
như làm hại người khác –
người đó sẽ chịu đựng những
đau khổ trong tương lai. Nhưng khi một
người làm những điều thiện với
tâm từ thì hạnh phúc và niềm vui
cũng theo liền với họ. Những hành
động mà người ta tạo ra không bị
mất, nó sẽ theo họ từ đời này
tới đời khác, tùy theo hành
động tốt hay xấu, mà họ có
được hạnh phúc hay phải chịu đau
khổ.
Khi Ngài khám phá ra tất cả đời
sống liên kết nhân quả mật thiết
với nhau như vậy, chân lý đã
xuất hiện trong tâm trí của Ngài.
Mặt trời, những hành tinh, tất cả
các ngôi sao và những thiên hà của
vũ trụ, tất cả xuất hiện trong thiền
định của Ngài. Ngài thấy rằng
mọi thứ, từ hạt bụi nhỏ nhất
đến ngôi sao lớn nhất đều liên
kết với nhau. Mọi vật thì luôn luôn
thay đổi: Thành, hoại và thành, cứ
tiếp tục như thế. Không một việc
gì xảy ra mà không có nguyên nhân.
Rồi Ngài thấy rõ tất cả những
khổ đau của cuộc đời. Ngài thấy
rằng – từ sinh vật nhỏ nhất đến
ông vua vĩ đại nhất – chạy theo
lạc thú chỉ kết thúc với những
bất hạnh. Và Ngài cũng khám phá ra
nguyên nhân của tất cả những bất
hạnh ấy. Ngài thấy rằng người ta
không thật sự hiểu rõ mọi sự
vật luôn luôn thay đổi. Do sự mù
quáng này mà họ đấu tranh,
cướp bóc và giết hại để
thỏa mãn những dục vọng của mình,
nhưng những ham muốn này không bao giờ
đem lại hạnh phúc lâu dài cho họ.
Họ cứ mãi quanh quẩn trong vòng
được mất, rồi lại tìm
kiếm.
Ngài thấy rằng người ta chiến
đấu chống lại những thứ mà họ
không thích. Cuộc đời của họ
tràn đầy những thù hận và
phiền não. Và mỗi lần họ làm
hại người khác, họ sẽ đau khổ
vì hành động đó không sớm
thì muộn. Họ trải qua đời này
tới đời khác tạo ra nhiều bất
hạnh hơn cho chính họ. Họ đang đi
tìm an lạc, nhưng ngược lại, lại
đi tìm đau khổ.
Cuối cùng, Ngài đã khám phá
ra con đường chấm dứt tất cả
những nỗi khổ này. Nếu một
người thấy được chân lý một
cách rõ ràng – như chính Ngài
đã thấy được chân lý
đêm nay – tất cả sự bám víu lạc
thú và khổ đau sẽ dừng lại, sẽ
không còn những tham lam và sân hận trong
tâm trí của họ nữa. Họ sẽ
không làm một việc gì có hại cho
kẻ khác. Như vậy họ sẽ không
còn cảm thấy bất hạnh nữa. Tất
cả những sân hận đã chấm dứt,
trái tim của họ sẽ tràn đầy
tình thương. Và với tình thương
này họ sẽ đem lại an lạc và
hạnh phúc cho muôn loài.
Khi Tất Ðạt Ða thấu suốt mọi
lẽ, bóng tối vô minh tan mất trong tâm
của Ngài. Thân hình tỏa ánh sáng
rực rỡ. Ngài không còn là một
người thường nữa. Ngài đã
giác ngộ chân lý. Bây giờ Ngài
là Phật. Ngài đã đạt
được mục đích giải thoát.
Với nụ cười an lạc, Ngài nhẹ
nhàng xả thiền. Lúc ấy trời
đã sáng, mặt trời vừa mới mọc
ở phương Ðông.
Toàn thể vũ trụ vui mừng về một
buổi sáng huy hoàng ấy. Những bông hoa
tươi thắm bừng nở khắp mọi nơi
và tỏa hương thơm ngào ngạt trong
không khí. Những con chim hót líu lo vui
mừng và sinh vật khắp nơi quên đi
tất cả sợ hãi. Những cầu vồng và
những đám mây mầu sắc tuyệt
đẹp xuất hiện trên nền trời và
mọi người rất ngạc nhiên khi nhìn
thấy cảnh quan kỳ diệu này.
Ðức Phật tràn đầy hạnh phúc.
Tâm của Ngài không còn vô minh và
đau khổ nữa, mà chỉ có một
niềm an lạc vô hạn. Trải qua những
ngày và những tuần Ngài ở bên
cạnh cây Bồ đề chứng nghiệm
những hạnh phúc mà Ngài đã
đạt được.
Rồi Ngài nghĩ: Thật là rất khó
khi ta đạt đến chỗ chấm dứt khổ
đau và trở thành người giác
ngộ. Ta phải nỗ lực tinh tấn cả một
thời gian dài. Trong khi mọi người đang
bị vô minh che lấp chân tính, không
biết ai sẽ là người có thể
hiểu được chân lý mà ta khám
phá? Và ta sẽ chỉ dạy họ bằng
cách nào? Có lẽ tốt hơn hết ta
cứ sống an lạc một mình trong những
cánh rừng và thưởng thức hạnh
phúc của một người đã giác
ngộ.
Lúc ấy, Ngài nghe âm thanh trong thâm
tâm của mình rằng: Xin đừng quên
chúng tôi. Chúng tôi đã đau
khổ quá lâu rồi. Chúng tôi đã
chờ đợi giờ phút quan trọng này
từ khi Ngài mới sinh và có thể lâu
hơn nữa. Chúng tôi hy vọng và cầu
nguyện Ngài sẽ từ bỏ đời sống
thái tử và khám phá con đường
chấm dứt mọi khổ đau.
Nhưng rồi một ý nghĩ khác lại
khởi lên trong tâm Ðức Phật: Ai sẽ
là người có thể theo được
lời dạy của ta truyền trao? Ai sẽ là
người đủ nghị lực và dũng
cảm? Ai sẽ là người đủ tinh tấn
và kiên nhẫn?
Rồi những âm thanh trong thâm tâm lại
phát ra: Sự thật thì tâm trí
chúng tôi đang bị đám mây vô
minh che phủ, thưa Ngài. Nhưng những
người bị vô minh như vầy cũng
không đến nỗi dầy đặc lắm.
Vì thế xin Ngài hãy chỉ dạy cho
chúng tôi chân lý mà Ngài đã
chứng ngộ.
Rồi Ðức Phật mỉm cười và
nói: Ồ, dĩ nhiên ta sẽ chỉ dạy.
Lý do duy nhất mà ta từ bỏ đời
sống thái tử là đi tìm chân
lý để giúp mọi người. Bây
giờ ta đã thấu rõ chân lý. Ta
sẽ làm hết sức mình để truyền
bá con đường chấm dứt khổ đau.
Song ngay cả một vị Phật cũng không
thể xóa bỏ khổ đau của người
khác nếu họ không cố gắng tự
cứu lấy mình. Mình phải tự cứu
mình trước khi nhờ đến bác sĩ
cứu chữa. Cũng vậy, họ phải muốn
lắng nghe những lời dạy về sự thật
trước khi người ta cứu giúp họ.
Bất cứ ai đến với ta bằng tâm
hồn rộng mở muốn tìm hiểu, ta sẵn
sàng chỉ dạy họ bằng mọi cách.
Rồi Ngài nghĩ: Ai trong số tất cả
những người trên thế gian này ta sẽ
chỉ dạy đầu tiên? Ai là người
sẵn sàng tiếp thu được? Ngài
nhớ đến Arada và Udraka, hai vị thầy
mà Ngài đã gặp cách đây 6
năm. Họ sẽ là người tốt nhất
để truyền pháp, nhưng hiện nay họ
đã chết.
Rồi Ngài nghĩ đến năm người
đã tu khổ hạnh với Ngài một thời
gian dài trong rừng. Ngài nghĩ: Họ sẵn
sàng hiểu được chân lý. Ta sẽ
đến dạy họ đầu tiên.
Ngài quan sát thấy rằng năm người
này đang ở vườn Nai gần Ba La Nại,
thành phố linh thiêng của Ấn Ðộ
cổ. Ðức Phật tuyên bố: Ta sẽ
đến đó và bắt đầu chuyển
pháp luân.
Con đường đến Ba La Nại
khá xa, Ðức Phật đi bộ thong thả
xuyên qua những ngôi làng và nông
trại. Ai trông thấy Ngài cũng đều
bị thu hút cả. Ngài có tướng
mạo cao lớn và đẹp đẽ, dáng
đi rất trang nghiêm và uyển chuyển.
Chỉ nhìn thấy Ngài thôi, người ta
cũng cảm thấy sự thanh tịnh và an lạc
trong tâm hồn của mình. Ngài nói
chuyện rất lịch sự và nhã nhặn
với mọi người khi tiếp xúc. Dù
họ là người giàu hay kẻ nghèo,
bình thường hay thông minh, quý tộc hay
hạ tiện, Ðức Phật đều đối
xử bình đẳng với một tình
thương bao la và trân trọng.
Ngài đã đến vườn
Nai. Từ xa năm đạo sĩ nhìn thấy
Ngài đi đến, họ bèn nói nhỏ
với nhau: “Ðó là Tất Ðạt Ða
vô tích sự. Chúng ta không nên tiếp
đón một người đã từ bỏ
lối tu khổ hạnh như thế. Hãy phớt
lờ đi nếu ông ta đến gần chúng
ta”. Thế nhưng khi Ðức Phật đi
đến, họ cảm thấy có một cái
gì rất đặc biệt toát ra từ
thân tướng oai nghiêm của Ngài. Họ
quên cả kế hoạch phớt lờ mà
trái lại còn tự động đứng
lên hết khi Ngài đến gần. Với
lòng thành kính vô hạn, họ vội
vã chuẩn bị chỗ ngồi, dâng khăn
lấy nước cho Ngài và nói: “Hoan
nghênh Tất Ðạt Ða đã đến
vườn Nai. Chúng tôi rất vinh dự khi
bạn tiếp tục tu học với chúng
tôi”.
Ðức Phật trả lời: “Tôi
rất cám ơn lòng tử tế tiếp
đón của các thầy. Song, xin quý
thầy hiểu cho, tôi hiện nay không còn
là Tất Ðạt Ða như trước và
cũng không nên gọi bằng danh xưng
đó nữa”.
Họ bèn hỏi lại: “Vậy
chúng tôi sẽ gọi Ngài bằng danh xưng
gì?”.
Ðức Phật trả lời:
“Toàn thể thế giới đang say ngủ trong
vô minh. Khi một người nào đó
khám phá ra chân lý, thì họ không
còn bị ngủ mê nữa. Nay tôi đã
thức tỉnh, đã khám phá ra chân
lý. Bất cứ ai tỉnh thức như vậy
đều được tôn xưng là
Phật”.
Lúc đó, năm đạo
sĩ với lòng kính trọng vô hạn
nói: “Thưa Ðức Phật, xin Ngài
chỉ dạy cho chúng tôi những gì
Ngài đã thực hành để chúng
tôi có thể được thức tỉnh
như Ngài”.
Ðể trả lời câu hỏi
của họ, Ðức Phật đã thuyết
bài pháp đầu tiên. Bài pháp
này gọi là “Chuyển pháp
luân” và “pháp” ấy chính
là chân lý mà Ngài đã khám
phá. Ngài nói: “Này các thầy,
các thầy phải biết có bốn sự
thật cao quý (Tứ diệu đế). Thứ
nhất là Khổ đế. Ðời sống
này đầy dẫy những khổ đau về
già, bệnh, chết và bất hạnh. Sau
những lạc thú mà người ta săn
đuổi chỉ còn lại những khổ đau
mà thôi. Ngay cả khi họ tìm kiếm
một vài sự hài lòng nào đó,
rồi họ cũng sẽ chán nản với
nó. Chẳng khi nào có sự thỏa mãn
và an lạc thật sự.
Thứ hai là Tập đế (nguyên
nhân gây ra đau khổ). Khi tâm trí
chúng ta đầy những tham lam và dục
vọng, sẽ dẫn đến tất cả những
khổ đau. Thí dụ, nếu một người giàu
có tham đắm gia sản của mình, thì
tính keo kiệt của anh ta sẽ đem đến
cho anh ta nhiều nỗi khổ.
Thứ ba là Diệt đế (sự
chấm dứt khổ đau). Khi chúng ta tẩy
trừ tất cả những tham lam và dục
vọng ra khỏi tâm trí của chúng ta
thì những khổ đau sẽ chấm dứt. Chúng
ta sẽ tận hưởng sự an lạc và
hạnh phúc mà không ngôn từ nào
có thể tả được.
Thứ tư là Ðạo đế.
Con đường dẫn đến chấm dứt
tất cả khổ đau. Nếu chúng ta tránh
làm hại sự sống của kẻ khác,
nếu chúng ta tập trung được ý
chí của mình và nếu chúng ta
đạt được trí tuệ, thì mỗi
người chúng ta đều có thể tận
hưởng hạnh phúc trọn vẹn, chấm
dứt được tất cả khổ đau.
Khi họ nghe Ðức Phật giảng
dạy về Pháp Tứ diệu đế này,
năm đạo sĩ cảm thấy hạnh phúc
như người tìm thấy kho báu vàng
bạc. Họ nói: “Thưa Ðức Phật,
Ngài quả thật đã tìm ra chân
lý. Xin Ngài hãy dạy chúng tôi con
đường đạt được trí tuệ
và hạnh phúc chân thật, chúng tôi
xin nguyện sẽ làm đệ tử của
Ngài”.
Lúc Ðức Phật thuyết
bài pháp đầu tiên này, rất
nhiều chư thiên đến nghe và bay
đến cuối địa cầu ca ngợi: “Ðức
Phật bắt đầu thuyết pháp độ
sinh. Cả thế giới đều đón
mừng”.
Ðức Phật thuyết pháp
rất nhiều cách. Ðối với người
bình thường hay những đứa trẻ,
Ngài giảng dạy bằng những câu chuyện
dễ hiểu. Ðối với những người
có kiến thức cao, Ngài giảng dạy
phân tích tỉ mỉ về các phương
pháp tu tập. Ðối với một số
người Ngài giảng dạy bằng cách im
lặng. Nhưng có lẽ lời dạy có
năng lực nhất của Ngài chính là
sự gương mẫu được thể hiện
qua bản thân bằng cuộc sống của
Ngài. Ngài luôn luôn hành động
với sự tử tế và lòng bao dung.
Ngài kiên nhẫn đối với mọi
người, ngay cả đối với những
người ngu dốt nhất.
Không bao lâu Ðức Phật
được mọi người kính trọng
và họ trở thành đệ tử của
Ngài. Nếu một người nào đó
có vấn đề gì, họ sẽ tìm
đến Ðức Phật để nhờ Ngài
giúp đỡ. Có một người đàn
bà tên là Gotami, con trai của bà vừa
mới chết, bà đi khắp mọi nơi
tìm người cứu sống con bà. Bạn
bè của bà thấy vậy động lòng
thương chỉ dẫn cho bà: “Gotami, chị
hãy đi đến gặp Ðức Phật. Có
lẽ Ngài sẽ giúp được chị
việc này”.
Bà tìm đến chỗ
Ðức Phật với đứa con ẵm trên tay.
Bà khóc than: “Kính thưa Ðức
Phật, xin Ngài làm ơn cứu sống
đứa con tôi”. Ðức Phật trả
lời một cách từ mẫn: “Tôi có
thể cứu sống được con bà, bà
Gotami ạ. Nhưng trước tiên bà phải
đem cho tôi một thứ này. Hiện tại
tôi cần hạt giống của cây Mù
tạc để làm thuốc. Tuy nhiên nó
phải được lấy từ một nhà
chưa từng có người chết”.
Gotami nghe xong liền cáo từ
Ðức Phật đi tìm hạt giống cây
Mù tạc. Bà đến một nhà nọ
và hỏi người chủ nhà ở
đó, cô ta trả lời: “Dĩ nhiên
bà có thể có được hạt
giống cây Mù tạc. Bà có thể
có bất cứ thứ gì bà muốn ... Song
bà nên biết rằng chồng tôi đã
chết năm ngoái”.
Gotami thốt lên: “Ô, thế
là không được! Ta phải đi tìm
nơi khác”. Và bà đi vội qua
nhà bên cạnh.
Thế nhưng, nơi nào bà đến
họ cũng trả lời tương tự. Ai cũng
muốn giúp bà ta cả, song gia đình
nào bà ta đến cũng có người
chết. Một người nói với bà:
“Tôi đã mất đứa con gái
cách đây 3 năm”. Người khác
thì nói: “Anh trai tôi mới chết
ngày hôm qua tại đây”.
Chiều ngày hôm đó bà trở
lại chỗ Ðức Phật. Ngài hỏi:
“Bà đã kiếm được hạt
giống cây Mù tạc chưa? Ðứa con trai
của bà đâu, sao không đem nó theo?”
Bà trả lời: “Kính
thưa Ðức Phật, hôm nay tôi đã
khám phá ra rằng không chỉ có một
mình tôi mất người con yêu quý,
mà nơi nào tôi đến, gia đình
họ cũng có người chết cả. Tôi
thật là ngu dại khi nghĩ đến việc
cứu sống con trai của mình. Tôi đã
chấp nhận cái chết của nó và
tôi đã hỏa thiêu nó trưa nay
rồi. Bây giờ tôi đến đây xin
được nghe những lời chỉ dạy của
Ngài. Tôi rất mong được lắng
nghe”.
Lúc đó, Ðức Phật
nói: “Gotami, hôm nay bà đã học
được rất nhiều. Chết sẽ phải
đến với tất cả mọi người dù
sớm hay muộn. Song nếu bà học và
hiểu được sự thật này bà
sẽ sống và chết trong an lạc”. Rồi
Ðức Phật giảng dạy thêm cho bà. Sau
khi nghe và thực hành lời Phật dạy,
bà đã tìm được sự an lạc
và hạnh phúc thật sự. Một thứ
hạnh phúc mà trước đây chưa khi
nào bà có được.
Một hôm, Ðức Phật đang
đi bộ ngang qua một ngôi làng. Có
một người đàn ông trẻ tuổi
thô lỗ nhìn thấy Ngài tỏ vẻ
giận dữ và sỉ nhục. Ông la lên:
“Ông biết cái gì mà dạy
người khác. Ông cũng ngu dốt như
mọi người chứ có gì khác
đâu. Chẳng qua ông chỉ khéo giả
dối lừa gạt người ta mà thôi”.
Ðức Phật vẫn thản nhiên
trước những lời nhục mạ của gã
đàn ông này. Ngài từ tốn hỏi
lại ông ta: “Nếu ông đem tặng
một món quà cho người khác,
người ta không nhận thì món quà
đó thuộc về ai?”.
Người đàn ông rất
ngạc nhiên khi phải trả lời một câu
hỏi kỳ lạ. Ông nói: “Tất nhiên
nó sẽ thuộc về tôi. Vì đó
là món quà của tôi”.
Ðức Phật mỉm cười
và nói: “Rất đúng đấy,
ông bạn ạ. Nó cũng giống như
việc giận dữ của ông khi nãy. Nếu
ông sân hận nhục mạ tôi, tôi
không nhận thì những lời nhục mạ
ấy thuộc về ông. Khi ấy, chính ông
là người bất hạnh chứ không phải
tôi. Tất cả những hành động xấu
mà ông gây ra sẽ trở lại làm
tổn hại lấy bản thân mình.
Nếu ông muốn chấm dứt
những bất hạnh nơi thân, ông phải
từ bỏ sự sân hận và trải rộng
tình thương đối với mọi
người. Khi ông thù ghét người
khác, chính bản thân ông trở thành
bất hạnh. Nhưng khi ông thương yêu mọi
người thì hạnh phúc sẽ đến
cả đôi bên”.
Người đàn ông trẻ
tuổi lắng nghe cặn kẽ những lời dạy
quý báu của Ðức Phật, ông nói:
“Bây giờ con đã hiểu. Xin Ngài
hãy dạy con cách thức thực hiện
tình thương. Con xin được trở
thành đệ tử của Ngài”.
Ðức Phật trả lời:
“Rất tốt. Ta sẽ chỉ dạy cho bất
cứ ai thật sự muốn nghe”.
Ðức Phật không thích
được tôn vinh bằng những lời khen
ngợi ấy. Ngài hỏi: “Ông đã
gặp tất cả những vị thầy vĩ
đại nhất xuất hiện nơi thế gian
này chưa?”.
– Bạch Ðức Thế Tôn,
chưa.
– Và ông có biết
tất cả những vị thầy đang sống
và sẽ sinh ra trong tương lai không?
– Bạch Ðức Thế Tôn,
không.
– Thật là dại khờ khi
nói rằng ta là vị thầy vĩ đại
nhất trong tất cả các vị thầy, trong khi
ông không biết điều đó chính
xác hay không.
Người đệ tử trả lời:
“Nhưng con chỉ muốn ca ngợi Ngài, bởi
vì những lời Ngài chỉ dạy rất
đúng và đem lại lợi ích an lạc
cho mọi người”.
– Nếu ông nhận thấy
những lời dạy của ta có ích,
điều tốt nhất là ông nên thực
hành chúng. Ðừng nên phí sức khen
ngợi ta. Lý do duy nhất mà ta xuất hiện
nơi cuộc đời này là hướng
dẫn mọi người con đường thoát
khổ. Nếu ông muốn ta hài lòng thì
hãy thực hành theo những lời dạy
của ta tốt hơn là ca ngợi ta.
Vào một lần khác, Ðức
Phật hỏi một người đệ tử:
“Nếu ông mua một số vàng quý
giá, có khi nào ông trả tiền liền
mà không chịu thử trước
không?”.
– “Thưa Ðức Thế
Tôn, dĩ nhiên là không. Có thể
nó là đồ giả và lúc đó
con sẽ mất tiêu số tiền đã mua
nó”.
Ðức Phật nói: “Rất
đúng. Việc đó cũng giống như
phương pháp mà ta đã chỉ dạy.
Ông sẽ không bao giờ chấp nhận những
gì mà ta nói về chân lý một
cách đơn giản, bởi vì nó là
lời dạy của ta. Tốt hơn hết, ông
nên thử thực hành những lời dạy
bằng chính bản thân mình xem chúng
là đúng hay sai. Nếu ông thấy là
đúng và có ích thì nên thực
hành theo. Không nên chỉ vì kính
trọng mà tin theo lời dạy của ta.
Cũng thế, đừng nên phê
phán những lời dạy của người
khác và nói họ là người
không tốt. Có rất nhiều vị thầy cao
cả khác ở trên thế gian này và
họ có phương pháp riêng của họ
để chỉ dạy mọi người. Ðừng
nên xúc phạm đến phẩm giá của
họ. Ðây không phải là nhiệm vụ
của ông. Nhiệm vụ của ông là
tìm cho ra hạnh phúc và giúp cho
người khác có được hạnh
phúc như mình”.
Rồi Ðức Phật chỉ dạy
thêm cho các đệ tử hãy cố gắng
làm trong sạch ý nghĩ của mình, có
lòng từ đối với kẻ khác và
kính trọng mọi người.
Một hôm, theo thường lệ
tại Ấn Ðộ, người ta giết súc
vật để làm vật hy sinh hay hiến cúng
đến những vị thần của họ. Họ cho
rằng dâng cúng như vậy để cho
các vị thần vui lòng, rồi những vị
thần ấy sẽ ban cho họ những thứ mà
họ cầu xin, như giàu có và mùa
màng tươi tốt.
Nơi nào Ðức Phật đi qua,
Ngài cũng nói với người ta rằng,
việc giết hại súc vật để tế
lễ như vậy là sai. Một số người
nghe Ngài nói bèn tức giận trả
lời: “Sách Thánh của chúng tôi
dạy phải giết súc vật để hiến
cúng các vị thần. Tại sao Ngài lại
dám nói ngược lại?”.
Ðức Phật ôn tồn
đáp: “Thật là không đúng khi
mình làm cho kẻ khác bất hạnh
để mình được hạnh phúc. Ai
cũng ham muốn được sống như các
ông. Vì thế, nếu các ông giết
súc vật để tế lễ, các ông
chỉ là người ích kỷ mà thôi.
Và tôi cũng đã lặp đi lặp
lại nhiều lần rằng người ích kỷ
khó có thể tìm thấy hạnh phúc
nơi cuộc đời này.
Cũng thế, bất cứ vị
thần nào đòi hỏi được hiến
máu súc vật trước rồi mới
đến giúp đỡ mọi người thì không
phải là những vị thần tốt. Những
vị thần như thế không xứng đáng
để được mọi người lễ
bái. Song, nếu các ông hành động
bằng tình thương và sự tử tế
đối với mọi người, xem súc vật
và loài người bình đẳng thì
chính những vị thần ấy sẽ lễ
bái các ông”.
Mọi người nghe được
những lời dạy đầy trí tuệ của
Ðức Phật và nhận thấy rất
đúng. Họ liền bỏ tục lệ giết
súc vật để tế lễ. Nhờ vậy
mà những con vật sắp sửa bị hy sinh
làm vật tế lễ được thoát
chết.
Ðức Phật không quên lời
hứa với vua Tần Bà Sa La là sẽ trở
lại thuyết pháp cho ông. Khi nhân duyên
đã đủ, Ngài hành đạo
đến Vương Xá. Bên ngoài thành
phố huy hoàng này có một ngọn
đồi gọi là Vulture, Ðức Phật và
các đệ tử của Ngài đã
đến và ở trong những hang động
tại đây.
Vua Tần Bà Sa La thường đi
đến mỏm Vulture để nghe Ðức Phật
thuyết pháp. Những người ở thành
phố cũng đến nghe pháp. Chẳng bao lâu,
số người xin quy y Phật ngày càng
đông. Một thời gian sau, vua và một
số người giàu khác đã dâng
cúng cho Ðức Phật và những đệ
tử của Ngài những khu vườn, để
mọi người có thể đến đó
lắng nghe Ðức Phật thuyết pháp một
cách thoải mái.
Người em họ của Phật
là Ðề Bà Ðạt Ða trở nên ghen
tị với Phật. Ông ta nghĩ: “Phật
được rất nhiều người theo làm
đệ tử và mọi người đều
biểu lộ lòng kính trọng đến
Ngài. Ta với Phật cũng cao quý như nhau,
nhưng họ lại phớt lờ với ta. Ta phải
tìm cách phá Ngài”.
Ông ta nghĩ cần phải nhờ
sự giúp đỡ của người khác
để giết Phật mới được. Vì
thế, ông đã tìm đến con trai
của vua Tần Bà Sa La: “Bộ thái tử
không muốn làm vua à? Thái tử
không thấy cha của thái tử có tất
cả của cải và quyền lực đấy
sao? Nếu thái tử giúp tôi giết
Ðức Phật thì tôi sẽ giúp thái
tử giết vua cha. Lúc đó, thái tử
sẽ trở thành một ông vua trong hoàng cung
này, tha hồ mà hưởng sung
sướng”.
Thái tử đã nghe theo những
lời xúi giục độc ác của Ðề
Bà Ðạt Ða. Hai người đã tìm
mọi cách để ám sát đức
Phật. Một hôm, Ðức Phật đang ngồi
thiền gần mỏm Vulture, họ lăn một tảng
đá lớn từ trên đồi xuống
chỗ Ngài. Nhưng may thay, tảng đá lăn
xuống bị vỡ làm đôi văng ra hai
bên, nhờ vậy Ðức Phật không bị
tổn hại.
Một lần khác, Ðức Phật
đang đi ngang qua thành phố với các
đệ tử của Ngài. Hai người biết
Phật sẽ đi qua và đã chuẩn bị
kế hoạch. Họ mua một con voi và cho nó
uống rượu thật say. Khi nó đã
uống say rồi, họ dùng cây đánh
nó cho đến lúc nó giận điên
lên. Họ thả nó ra ngay khi Ðức Phật
đi ngang qua, hy vọng con voi say sẽ giẫm chết
Ðức Phật.
Khi các đệ tử thấy con voi
điên tấn công, họ sợ quá bỏ
chạy tứ tung, chỉ còn có A Nan (Ananda),
người hầu cận Ðức Phật, ở
lại bên cạnh thầy, ông sợ quá
nắm y Ðức Phật.
Ðức Phật nhìn thấy con voi
đang chạy đến, thay vì hoảng sợ,
Ngài lại rải lòng từ đến con
vật đáng thương. Dù con voi đang say
và điên cuồng, nó cũng cảm nhận
được sức mạnh tình thương
của Ðức Phật. Nó ngưng hung hăng
tấn công và đi đến chỗ Ðức
Phật một cách hiền từ, cúi đầu
xuống chân của Ðức Phật.
Ðức Phật vuốt nhẹ lên
đầu con voi và quay qua nói với A Nan:
“Phương pháp hay nhất để phá tan
hận thù là tình thương. Hận
thù không thể tiêu diệt được
hận thù. Ðây là một bài học
rất quan trọng cần phải nhớ”.
Vua Tịnh Phạn rất vui mừng khi
nghe tin con trai của mình sắp trở về. Vua
được biết Ðức Phật có rất
nhiều đệ tử và lấy làm tự
hào: “Con trai của ta đã trở thành
bậc thầy hướng đạo cao quý của
tất cả. Phật đã đem lại vinh dự
lớn cho dòng họ ta”.
Vua nôn nóng muốn biết tin
Ðức Phật, bèn sai một người hầu
cưỡi ngựa đi dò la trước, xem con trai
của ông sau nhiều năm xa cách nay như
thế nào. Sáng hôm sau, người hầu
đã tìm đến nơi Ðức Phật
và các đệ tử của Ngài đang
ở. Lúc ấy, Ðức Phật và các
đệ tử mỗi người ôm một
bình bát. Họ đi từ nhà này
đến nhà khác trong làng để xin
thức ăn. Sau đó, họ trở về nơi
ở và cùng nhau dùng bữa ăn đơn
giản trong sự im lặng.
Người hầu trở về Ca Tỳ
La Vệ và tường thuật lại tất cả
những gì mình thấy cho vua nghe. Nghe xong, vua
rất giận. Ông la lên: “Ôi, con trai
của ta, một hoàng tử cao quý lại
trở thành một kẻ ăn xin. Thật là
nhục nhã làm sao! Ta phải chặn đứng
việc này ngay tức khắc”.
Vua liền cưỡi ngựa ra khỏi
hoàng cung và đi thẳng đến nơi con
trai mình đang ở. Khi vua nhìn thấy Tất
Ðạt Ða, bây giờ là một vị
Phật rạng rỡ với rất nhiều đệ
tử vây quanh, ông rất cảm động. Sau
khi hỏi thăm sức khỏe, vua liền hỏi
Phật: “Cha nghe nói con đi xin thức ăn
vào mỗi buổi sáng, điều đó có
đúng không?”.
Ðức Phật trả lời:
“Dạ thưa cha, đúng. Ðó là
tục lệ của chúng con”.
Vua nghe nói càng trở nên
tức giận hơn trước. Ông quát:
“Tục lệ của chúng ta à! Con sinh ra trong
dòng họ vua chúa, có bao giờ phải
đi xin một thứ gì để sống
đâu. Tục lệ của chúng ta là ăn
bằng chén vàng, chén bạc chứ không
phải ăn bằng bát gỗ, bát sành. Con
hãy nói cho cha biết tục lệ của
chúng ta là gì?”.
Ðức Phật lễ phép trả
lời: “Dạ thưa cha, cha thuộc dòng
dõi vua chúa. Ðây là sự thật.
Thế nhưng, hiện nay con thuộc dòng dõi
đạo sư, dòng dõi của những vị
Phật trong quá khứ. Những bậc thầy
này luôn luôn tự hạ thấp mình.
Họ nhận thức ăn của mọi người.
Cho nên con nói tục lệ xin ăn của
chúng con có nghĩa là tục lệ của
các Ðức Phật”.
Rồi Ðức Phật nắm tay cha
thân mật, vừa đi vừa tâm sự với
cha. Phật giảng cho vua nghe về những chân
lý cao quý và con đường dẫn
đến chấm dứt tất cả khổ đau. Sau
khi nghe Phật nói pháp, vua rất hoan hỷ
và khen ngợi: “Quả thật con đã
tiến xa hơn trước nhiều. Khi con còn
bé, đạo sĩ A Tư Ðà đã
tiên đoán rằng sau này con sẽ trở
thành một vị thầy cao quý. Cha đã
phải cúi đầu trước con, ồ quên,
Ðức Phật. Bây giờ Phật hãy nhận
cha là đệ tử”.
Chẳng bao lâu, Da Du Ðà La,
vợ của Ngài, La Hầu La, con trai của
Ngài, cùng họ hàng và những
người trong hoàng cung cũng xin làm đệ
tử của Ngài. Họ nói với Ðức
Phật: “Chúng tôi rất bất hạnh khi
Ngài từ bỏ chúng tôi đi tìm
đạo mấy năm qua. Nhưng bây giờ
Ngài đã trở về, mang đến cho
chúng tôi rất nhiều hạnh phúc và
an lạc của tâm hồn bằng những lời
dạy cao quý về chân lý. Sự ra đi
của Ngài thật xứng đáng và vinh
quang cho ngày trở lại, đó chính
là sự giác ngộ, là một vị
Phật”.
Từ năm 35 tuổi, Ðức Phật
đã thuyết pháp cho mọi người nghe.
Gần 45 năm, Ngài đã đi khắp
nước Ấn Ðộ hoằng pháp, đem
lại niềm an lạc hạnh phúc cho rất
nhiều người. Khi Ngài giảng dạy cho
người nào đó về lòng từ bi,
Ngài kể cho họ những mẩu chuyện dễ
gây ấn tượng cho họ. Ðây là
một trong những mẩu chuyện mà Ngài
đã kể:
Thuở xưa, có một ông vua
rất kiêu hãnh. Ông muốn xây một cung
điện thật lớn cho mình. Một hôm,
ông gọi các quan lại và nói:
“Hãy đi vào những khu rừng và
tìm cho ta một cây cao lớn nhất. Cây
đó, ta sẽ dùng vào việc xây
dựng cung điện của ta”.
Các quan vâng lệnh, đi sâu
vào trong rừng và đã tìm thấy
một cây theo như ý của vua. Nó to
lớn và đứng sừng sững giữa
những đám cây. Ðêm đó, họ
trở về và tường thuật lại cho vua
nghe: “Tâu bệ hạ, chúng tôi đã
tìm ra được một thân cây cao lớn
theo như ý ngài muốn. Ngày mai, chúng
tôi sẽ trở lại khu rừng đó và
đốn hạ nó”.
Vua nghe xong, lấy làm hài
lòng và đi ngủ. Ðêm hôm
đó, vua mơ thấy một giấc mơ lạ.
Vua mơ thấy một vị thần sống trong thân
cây cao lớn đó. Vị thần ấy xuất
hiện trước vua và nói: “Tâu bệ
hạ, xin ngài đừng chặt đứt nơi
ở của tôi. Nếu ngài hạ thân
cây, thì mỗi vết cắt sẽ làm
tôi đau đớn và tôi sẽ chết
mất”.
Nhưng vua trả lời: “Ông
là cây tốt nhất trong số tất cả
các cây. Tôi cần phải dùng nó
để xây cất cung điện của
tôi”.
Vị thần cố thuyết phục,
nhưng vua thì rất ngoan cố và nhất
định sẽ chặt thân cây ấy. Cuối
cùng, vị thần cây nói với vua rằng:
“Thôi được, ngài cứ việc
chặt nó. Thế nhưng ngài hãy chặt
như sau: Xin ngài đừng chặt sát gốc
như người ta vẫn thường làm.
Ngài hãy sai người leo lên ngọn của
cây và cắt từng khúc một. Cắt cho
đến khi nào hết thân cây thì
thôi”.
Vua rất lấy làm ngạc nhiên
và nói: “Nếu tôi sai người
làm như lời ông nói và cắt
thân cây nhiều lần như vậy, nó
sẽ làm cho ông đau đớn nhiều hơn
là cắt chỉ một lần ở dưới
gốc cây”.
Vị thần đáp: “Vâng,
bệ hạ nói rất đúng. Song nếu
ngài làm theo lời đề nghị của
tôi thì sẽ tốt hơn cho các sinh vật
khác trong rừng. Ngài biết đấy, cây
của tôi thì rất cao lớn. Nếu nó
đổ xuống sẽ chiếm một khoảng
rộng, những cây nhỏ hơn sẽ bị
đè bẹp và sẽ giết chết những
súc vật nhỏ. Những con chim và thú
sẽ mất chỗ ở của chúng và nhiều
cây nhỏ sẽ bị tàn phá. Nhưng
nếu ngài cắt từng đoạn một, nó
sẽ không làm tổn hại nhiều loài
vật khác”.
Ngay lúc ấy, vua giật mình
tỉnh giấc. Vua nghĩ: “Vị thần này
sẵn sàng chịu đau đớn cắt làm
nhiều khúc để cho những súc vật
bé nhỏ trong rừng không bị khổ đau.
Ôi, thật là dũng cảm và tử tế
làm sao! Và thật là ích kỷ làm
sao, khi ta lại muốn hạ thân cây ấy
để thỏa mãn dục vọng và sự
kiêu hãnh của ta! Thay vì cắt hạ
nó, bây giờ ta sẽ tôn vinh nó. Giấc
mơ này đã dạy ta phải biết
thương yêu và tử tế đối với
mọi người”.
Ngày hôm sau, vua đi vào trong rừng
và trang hoàng cho cây ấy. Từ đó
về sau, vua trở thành một vị vua nhân
từ được nhân dân hết sức
thương yêu.
Một trong những đệ tử
của Phật hỏi: “Bạch Ðức Thế
Tôn, tại sao Ngài lại cứu giúp
Ðề Bà Ðạt Ða? Chính ông ta
đã nhiều lần mưu hại Ngài. Ông
ta thật tâm muốn giết Ngài mà”.
Ðức Phật trả lời:
“Không có lý do gì để thân
thiện với người này và thù
địch với kẻ khác. Tất cả mọi
người đều bình đẳng như nhau,
vì ai cũng đều muốn hưởng hạnh
phúc an lạc và không ai thích bệnh
tật khổ đau. Do đó chúng ta phải
đối xử với mọi người bằng
tình thương không phân biệt”.
Rồi Ðức Phật đi đến
bên giường của Ðề Bà Ðạt
Ða và nói: “Nếu thật sự ta yêu
thương Ðề Bà Ðạt Ða, người
đã luôn cố gắng hãm hại ta, như
là thương yêu La Hầu La, con trai độc
nhất của ta, thì cho Ðề Bà Ðạt
Ða được mau lành bệnh”. Ngay lúc
ấy, Ðề Bà Ðạt Ða cảm thấy
sức khỏe bình phục trở lại.
Ðức Phật quay qua các
đệ tử và nói: “Hãy nhớ
rằng, tình thương của một vị
Phật luôn bình đẳng đối với
tất cả chúng sinh”.
Khi Ðức Phật 80 tuổi, Ngài
tự nghĩ: “Ta đã làm tất cả những
gì ta có thể làm để giúp cho
mọi người. Ta đã hướng dẫn
họ làm thế nào để sống với
tình thương và tránh làm hại
sự sống của kẻ khác. Bây giờ,
đã đến lúc ta sẽ từ bỏ
thân xác này một cách an lạc”.
Lúc đó, Ðức Phật
gọi A Nan: “Ðã đến lúc chúng ta
trở về Ca Tỳ La Vệ một lần cuối. Ta
muốn viên tịch tại thành phố nơi ta
đã trưởng thành”.
A Nan nghe xong hết sức đau buồn, ông
thưa: “Bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài
đừng lìa bỏ chúng con. Ðã nhiều
năm qua, Ngài là thầy dẫn đường
của chúng con. Chúng con biết sẽ làm
gì đây khi thầy vắng bóng?”.
Nói xong, ông sụt sùi khóc.
Phật an ủi: “Ðừng khóc
nữa, A Nan thân yêu của ta. Ta luôn luôn
dạy rằng, chết là điều tất
nhiên của sự sống, không có gì
phải lo sợ cả, con phải hiểu rõ
điều đó. Khi ta viên tịch rồi,
hãy lấy những lời dạy của ta làm
thầy dẫn đường. Nếu con khắc ghi
những lời dạy này trong trái tim của con,
con sẽ không cần đến ta nữa. Bây
giờ chúng ta hãy lên đường trở
về Ca Tỳ La Vệ”.
Ðức Phật và các
đệ tử lên đường đi về
hướng Bắc. Họ đi ngang qua những ngôi
làng ở Câu Thi Na (Kushinagar) cách Ca Tỳ La
Vệ không xa. Ðức Phật nói với
các đệ tử dừng lại nơi đây
và nghỉ ngơi. Người nói với A Nan
rằng: “Ðây là nơi ta sẽ viên
tịch”.
Mặc dù đây là những
ngày cuối cùng của đời sống,
Ðức Phật vẫn không ngừng cứu
độ chúng sinh. Một ông Phạm chí
tên Tu Bạt Ðà La (Subhaddha) đã 120
tuổi xin được gặp Phật và Ngài
đã đồng ý. Phật đã lắng
nghe những thắc mắc của ông về việc
tu hành và Ngài đã ban cho ông
những lời chỉ dẫn rất chân tình. Sau
khi nghe xong, mọi nghi ngờ của ông đều tan
biến, và ông đã tìm được
nguồn an lạc hạnh phúc ngay khi Ðức
Phật nói pháp xong.
Sau đó, Ðức Phật đi
vào khu vườn và nằm giữa hai thân
cây Sa la đang nở hoa trắng xóa. Những
đệ tử tụ tập vây quanh Ngài.
Một số người đang sụt sùi khóc,
nhưng những người đã hoàn toàn
an lạc giải thoát thì im lặng.
Ðức Phật ban bố những
lời dạy cuối cùng: “Hãy ghi nhớ
những gì ta đã dạy các con. Tham
ái là nguyên nhân của tất cả
bất hạnh. Mọi vật sớm hay muộn cũng
sẽ biến đổi, đừng nên bám
víu vào bất cứ cái gì. Tốt
hơn hết nên dốc lòng thanh lọc tâm
trí. Hãy tinh tấn lên để đạt
tới giải thoát”.
Lúc này, Ðức Phật xoay
mình về bên phải, đầu đặt
lên bàn tay phải. Ngài nhắm mắt lại
và an nhiên viên tịch. Hoa Sa la rụng
xuống như mưa.
Sau đó, các đệ tử
đặt nhục thân Phật vào trong quan
tài bằng gỗ. Họ chuẩn bị đem
thiêu Ngài theo phong tục Ấn Ðộ, nhưng
họ không sao mồi lửa cho cháy
được. Lúc ấy, vị đệ tử
lớn của Phật là Ca Diếp (Maha Kassapa) về
tới. Khi nghe tin Ðức Phật sẽ nhập Niết
bàn, Ca Diếp vội vã đến Câu Thi Na,
nhưng khi ngài về đến nơi thì
Ðức Phật đã tịch rồi. Ca Diếp
đến bên kim quan và chắp tay thành
kính đảnh lễ nhục thân của
Phật. Ca Diếp lạy xong thì lửa bắt
đầu đốt cháy. Lửa tàn, xác
thịt đều ra tro, chỉ còn lại những
viên xá lợi óng ánh đủ màu
sắc.
Vua các nước ở phía Bắc Ấn
Ðộ nghe tin Phật nhập Niết bàn, sau khi
hỏa thiêu có nhiều xá lợi nên
họ muốn thỉnh về thờ. Họ nghĩ:
“Ta sẽ xây một cái tháp để
tôn thờ xá lợi của Phật trong
vương quốc của ta. Ðây là niềm
vinh hạnh rất lớn cho đất nước
của ta”.
Thế rồi, ông vua nào cũng
muốn lấy xá lợi của Phật nên
đã xảy ra sự tranh cãi. Ai cũng muốn
giành thắng lợi về phía mình cả.
Cuối cùng, có một người đứng ra
phân giải: “Ðức Phật đã
trải qua toàn bộ cuộc đời của
Ngài để dạy cho chúng ta biết yêu
thương người khác. Bây giờ Ngài
đã viên tịch, các vị lại đi
ngược lời Phật đã dạy. Thật
là không đúng tí nào. Tốt hơn
hết, chúng ta nên phân chia xá lợi cho
đồng đều. Rồi sau đó, các
vị sẽ đem về vương quốc của
mình, xây tháp thờ xá lợi của
Ðức Phật”.
Các vị vua nghe nói có lý
và họ không còn tranh cãi hơn thua
nữa. Họ hoan hỷ cùng nhau phân chia xá
lợi Phật và đem về vương quốc
của mình. Nơi đó, họ xây những
bảo tháp để kỷ niệm một vị
thầy cao quý đã sống một đời
tràn đầy tình thương và trí
tuệ.
Ðức Phật đã nhập
diệt cách đây hơn 2500 năm trong một
ngôi làng nhỏ tại Ấn Ðộ. Thế
nhưng, những lời dạy về tình
thương và trí tuệ của Ngài vẫn
không bao giờ mất. Những đệ tử
của Ngài đã tiếp nối Ngài
truyền bá cho những người khác. Cứ
thế, các đệ tử nối tiếp truyền
bá từ đời này đến đời
khác. Nhờ vậy, ngày nay chúng ta mới
được biết đến giáo lý cao
quý của Ðức Phật.
Mọi người trong mọi quốc
gia, bất cứ ai tin tưởng đều có
thể học tập những lời dạy tràn
đầy tình thương và trí tuệ
của Phật. Nếu chúng ta thực hành
đúng những lời Phật dạy, chúng ta
sẽ khắc phục được những ích
kỷ, hận thù và tham dục. Chúng ta sẽ
chế ngự những lo sợ và đạt
được an lạc giải thoát, cũng như
Ðức Phật đã đạt được
dưới gốc cây Bồ đề vậy. Ði
theo con đường mà Ðức Phật
đã chỉ dạy, chúng ta có thể
trở thành một vị Phật, một
người hoàn toàn tỉnh thức. Chúng ta
có thể đem lại hạnh phúc cho những
người khác cũng như Ðức Phật
đã từng làm vậy.
Cầu mong tất cả chúng sinh
đều được an lạc hạnh phúc trong
ánh từ quang của Ðức Phật.
Chớ làm
các điều ác
Hãy làm
các việc lành
Giữ tâm
ý trong sạch
Ðó là
lời Phật dạy.
THÍCH CHÂN TÍNH
Dịch xong ngày 14-6 Mậu
Dần
Phụ chú
Ðại hội Phật giáo
Thế giới họp tại Tokyo (Nhật Bản) năm
1952 đã thống nhất:
1/ Ðức Phật Thích Ca
đản sinh năm 624 trước CN - nhập Niết
bàn năm 544 trước CN.
2/ Phật lịch (PL) được
tính từ năm Ðức Phật nhập Niết
bàn: 544 trước CN.
Ðến năm 1960, Ðại hội
Phật giáo Thế giới họp tại Phnom Penh
(Campuchia) thống nhất ngày đản sinh của
Ðức Phật là ngày trăng tròn,
tháng Vesakh, là ngày rằm tháng Tư
âm lịch.
Theo Phật giáo Bắc tông: Thái tử
Tất Ðạt Ða xuất gia đêm mùng 8-2,
Thành đạo ngày 8-12, Ðức Phật
nhập Niết bàn ngày 15-2 âm lịch.
Thái tử xuất gia năm 19 tuổi, 5 năm
tìm thầy học đạo, 6 năm khổ hạnh
rừng già, 49 ngày tự tu thiền định,
thành đạo năm 30 tuổi – 49 năm hóa độ.
Theo Phật giáo Nam tông: Lấy ngày rằm tháng Tư
để kỷ niệm ba Ðại lễ: Ðản sinh
- Thành đạo - nhập Niết bàn. Thái
tử xuất gia năm 29 tuổi, thành đạo
năm 35 tuổi – 45 năm hóa độ.
Thuyết pháp giảng kinh,
viết sách giáo lý nhà Phật hoặc
in kinh sách đem phát cho mọi người xem,
để họ sớm giác ngộ. Ðược
như thế công đức vô lượng,
đó gọi là pháp thí.
Nếu không
đủ điều kiện làm những việc ấy, thì thỉnh một số kinh
sách chịu khó đem đến từng
nhà cho mượn đọc, rồi sau đó
lại lần lượt cho
nhà khác mượn nữa, hoặc đọc cho
kẻ khác nghe, nhất là cho người
không biết chữ nghe, cũng được
công đức vô biên, đó cũng
gọi là Pháp thí.
Chính Ðức Phật
đã dạy: “Trong các sự bố thí
chỉ có Pháp thí
là công đức lớn nhất, không có
công đức nào sánh bằng”.
Tưởng về lợi cũng
như về danh, chúng ta đừng lo nghĩ vội,
mà điều tối cần là làm sao cho
rạng rỡ chánh đạo trước cái
đã. Ðó là mục đích chính
và thiêng liêng cao cả của chúng ta.
Nền móng đạo pháp cần nhờ sự
chung lưng góp sức của chúng ta. Vậy
mỗi người nên xây đắp vào
đó một ít vôi, một ít nước,
hoặc một tảng đá hay một viên gạch v.v... ngõ hầu cái
nền móng ấy được thêm bền
vững và kiên cố
đời đời.
Chúng ta không nên quan
niệm ở công đức vô
lượng vô biên, mà điều cần
thiết là nên nghĩ nhiều đến những người lầm
đường lạc lối, sống trong vòng
đầy tội lỗi không có lối
thoát, hãy mau cứu
vớt họ, cảnh
tỉnh họ để cùng quay về chân
lý. Nếu
được như thế chính ta đã
làm lợi ích cho Phật pháp vậy.
Với hoài bão cuộc
đời, chúng ta hãy “Tất Cả Vì Phật
Pháp”. Hy vọng mấy lời tâm huyết
này được nhiều vị
hảo tâm in kinh sách cho muôn dân xem.
Ðược
như vậy công đức không gì sánh
bằng! Tha thiết mong mỏi như thế!
Tặng
cho thân nhân một số
tiền nhỏ, lòng mình không vui.. Nhưng
mình không đủ sức tặng nhiều
hơn. Chỉ có một cách là tặng
các loại sách tu hành để xây
dựng cho đời sống thanh cao, thì dù
một quyển sách giá chỉ có vài
ngàn, nhưng vẫn còn quý hơn bạc
vạn.
Quý vị nào muốn phát
tâm ấn tống kinh sách xin liên hệ: CHÙA
HOẰNG PHÁP, Xã Tân Hiệp, huyện Hóc
Môn, TP. Hồ Chí Minh. ÐT: 7130002-7133827. Email:
hoangphap@hcm.vnn.vn
--- o0o ---
Vi tính: Diệu Huệ,
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-06-2004