Luân Hồi và Niết Bàn

Minh Đức


Cái bài  "Bốn lối tái sanh của Phật Giáo" là một bài rất hay. Nhưng đây là giáo lý phổ quát mà tất cả mọi người thường gặp trong từ ngữ  bình dân và căn bản lich sử, cái mà ai cũng có nghe qua khi tiếp xúc với phật giáo về mặt lich sử cấp sơ cơ. Từ cái kiến thức sơ lược và thiếu xót này mà lần ra nhiều sự thật rất hay trong thực tế cuộc sống và trong nguồn giáo lý để lại qua kinh sách. Nếu giải thích từ điểm thì phải tốn nhiều thì giờ và làm mất kiên nhẩn cho người bị đọc cái lý giải quá dài dòng. Vì vậy tôi chỉ xin nói lại nhận định của mình về một vài nét chính để chia sẻ cảm nhận của tôi và đón chờ những câu hỏi và đóng góp kinh nghiệm và nhận định khác, phát sinh từ bài viết này vậy.

  Nếu` không có Khổ thì không có đạo Phật, vì đạo Phật là Đạo Giải Thoát. Giải thoát cái gì ? Chính là giải thoát cái Khổ ! Vậy đạo Phật đã có mặt 2600 năm rồi tại sao nhân loại vẫn KHỔ ? Bởi cái này quá rõ, vì chúng sanh còn tái sanh trong bốn loài là Noãn, Thai ,Thấp , Hóa. Từ bốn cách sanh thân mà tái sanh. Được tái sanh trong bốn cách như vậy thì gọi là LUÂN-HỒI. Giải thoát khỏi sự khổ não thì gọi là chứng NIẾT-BÀN. Niết Bàn chính là giải thóat cứu cánh. Còn các giải thoát khác chỉ là luân hồi từ nhà giam này sang nhà giam khác. Có nghĩa là từ thân này sang thân khác của dòng luân hồi tái sanh. Có cái thân thì phải có cái khổ.  Có 8 cái khổ không rời thân là : Sanh, Lão, Bệnh, Tử, "Thương nhau mà chia lìa, Ghét nhau mà gặp gở,"Cầu mong mà không được toại lòng. Ngũ Ấm xí thạnh khổ......Đây là cái KHỔ mà trong tứ thánh đế là bốn sự thật , Khổ được đưa lên hàng đầu, tạm bỏ qua không nói nhiều về tám cái khổ này, vì ai cũng biết đó là tám cái khổ căn bản trong vô vàn cái khổ không thể kể xiết được.

Chính do tám khổ không rời thân mà Phật thị hiện thân đản sanh để giáo hóa chúng sanh. Do thân có 8 cái khổ mà Phật thị hiện xuất gia khi dạo chơi bốn cửa thành. Do đoạn tận các khổ nên Phật thị hiện thành đạo dứoi gốc cây Bồ Đề. Thành đạo là thị hiện Hữu-dư Niết Bàn, và nhập Vô Dư Niết Bàn khi thị hiện cái thân nằm buông bỏ bên hai cây Ta-La. Niết bàn là thị hiện giải thoát ngay nơi thân của chúng sanh. Chúng sanh thì có thân và khổ với thân. Phật thì giải thóat khỏi khổ vì Phật có Niết bàn giải thoát. Giải thoát là khộng có KHỔ` vì có Niết Bàn. Khổ là chúng sanh. Niết Bàn là Phật. Khi giác ngộ chứng được Niết Bàn thì Phật còn báo thân đang thị hiện nên gọi Hữu dư Niết Bàn. Đến khi thị hiện cái chết dưới cây giữa rừng thì gọi là Vô dư Niết Bàn vì không còn dư báo nữa. Các vị đệ tử khi chứng quả vị A-La-Hán thì cũng vào Niết Bàn. KHi chứng đạo mà còn sống trong thân phận một chúng sanh thì gọi là  Hữu dư Niết bàn vì còn cái thân phải theo quy luật của thân chúng sanh.

Thành ra cũng là Niết Bàn mà có hai cái tên để phân biệt  là còn thân hay đã bỏ thân chúng sanh. Một người đã giác ngộ Niết Bàn thì  không  còn  tái sanh trong thân chúng sanh nào nửa để thọ quả báo.  Vì vậy khi đã vào  Niết Bàn thì không còn ai trông thấy đựoc  nữa vì không còn mang thân chúng sanh với nghiệp báo khổ đau nửa .  Giải thoát khỏi KHỔ thì có  Niết Bàn.  Vì Niết Bàn không phải là nơi chốn để đí đến. Không phải là ý tưởng hay ý niệm về cái trạng thái nào cả. 

 Mà nói cho đúng thì  Niết Bàn chính là sự sống chân thật của chúng sanh không còn đau khổ và mê hoặc nữa.  Bởi vì chữ Niết  Bàn được dịch nghĩa là  Vô Sanh và Bất Diệt.  Quả vị Vô Sanh chính là quả A-La-Hán. Đức Phật chết thì gọi là nhập Niết Bàn , vì Niết Bàn là Bất diệt.  Vô sanh và bất diệt chính là cái nghĩa của chử Niết Bàn.  

Còn Luân Hồi là Sanh tử rồi tử sanh. Cái gì có sanh thì có tử, cái gì tử thì phải luân hồi vì tử là hóa sanh vào thế giới để sanh thân khác tương tục,vì vậy gọi là luân hồi. Không có chúng sanh nào mà không luân hồi. Cái luân hồi này của chúng sanh gọi là nghiệp lực. Nghiệp lực này là năng lượng của lòng khát ái. Lòng khát ái thì gọi là dục tưởng. Dục tưởng thì Vô Minh. Hoặc là biết sai lầm hay không biết gì thì gọi là vô minh. Cái năng lượng vô minh này gọi là nghiệp lực đưa con người đi về tương lai với những cái duyên tương tác và tương nhập từ căn thân và thế giới mà chúng sanh đang hiện hữu. Sự hiện hữu của một chúng sanh thì có y-báo và chánh báo. Y-báo là thế giới, còn chánh báo là căn thân đang là chúng sanh. Thì dụ như tôi là con người thì cái thân người của tôi là chánh báo, còn cái thế giới mà tôi phải sống trong đó như con cá phải sống trong nước thì gọi là y-báo. Nếu không có y-báo thì chánh báo không tồn tại. Nếu không có trái đất, măt trời và cộng đồng chung quanh thì tôi cũng không có tồn tại. Tôi tồn tại vì thế giới tồn tại. Đó chính là y-báo và chánh báo là một không phải hai. Sự hòa hợp giữa căn thân và thế giới chính là đức lý của tăng thân. Người giác ngộ được đức lý này thì thấy tăng thân của mình bàng bạc ở khắp mọi nơi. Không có nơi nào mà không có sự hiện hữu của chân lý hòa hợp của  tăng bảo. Bởi vì yếu tố hòa hợp nhất thể này mà thế giới tồn tại không bao giờ tiêu diệt được. Sự hòa hợp này cũng chính là vô sanh, bời vì không có cái nguyên nhân nào làm cái đầu tiên sanh ra các pháp hiện hữu.Không có cái nguyên nhân đầu tiên để sanh ra căn thân và thế giới nên gọi là vô sanh, cái vô sanh thì cũng chính là cái` bất-diệt. Vô sanh và bất diệt là biệt danh của Niết bàn. Sanh trụ hoại diệt là biệt danh của chúng sanh. Chúng sanh là pháp duyên sanh. Chúng sanh từ Niết Bàn mà thị hiện. Bởi vì vô sanh là thật thể của chúng sanh. Thật tướng của chúng sanh là Niết Bàn vì vô sanh và bất diệt. Nhưng chúng sanh thì có sanh diệt. Bởi vì cái sanh diệt có ra đó là do giả tướng của chúng sanh mà hiện ra thân khổ tướng. Chấp mắc với thân tướng thì có khổ tướng hiện ra. Gọi là khổ tướng vì tám cái`khổ không thể lìa thân. Cái thân khổ tướng tương tục sanh diệt thì gọi là luân hồi sanh tử.  Lìa được khổ thì chứng Niết-bàn. Do dục tưởng mà có khát ái làm động lực để sanh thân. Vì vậy cứ thân này diệt thì thân khác sanh ra theo dòng nghiệp của chúng sanh mà thọ quả báo .

Do quả báo có chung với nhau mà có cộng nghiệp và biệt nghiệp. Nếu cùng nhau nương về lẽ đạo của giác ngộ như Phật đã thuyết minh trong 45 năm hơằng pháp thì có cùng cộng nghiệp với nhau gọi là tăng thân thế gian . Bởi vì nương theo thời gian và không gian mà hiện hữu nên gọi là thế gian tướng. Sự hòa họp tại thế gian thì gọi là tăng thân của trần gian. Từ bỏ trần gian này để đi tìm xuất thế gian là đi tìm lông rùa sừng thỏ. Trong mỗi một chúng sanh thì đều có tăng thân trong đó . Vì không có tăng thân thì không có thân chúng sanh, nếu các duyên không hòa hợp thì không có thân chúng sanh. Ngũ uẩn hòa hợp chính là tăng thân của một con người. Những con người hòa hợp với nhau thì gọi là một tăng thân. Những con người sống với nhau như pháp của Phật dạy thì biểu hiện cho ngôi Tăng Bảo của Thế gian. Dù chư Phật có ra đời thuyết pháp hay không thuyết pháp thì Pháp là chân lý thì vẫn là chân lý. Cái chân lý duyên sanh là pháp bảo. Vì từ nơi Pháp bảo mà có tăng bảo. Nhưng nếu không có Phật bảo thì tăng bảo và pháp bảo không có biểu hiện được, vì cái mê mờ vì dục tưởng của chúng sanh ngăn che giác tánh. Phật Thích Ca thị hiện bốn tướng : Đản sanh, Xuất gia, Thành Đạo và Nhập Niết Bàn là tùy thuận thế gian tướng để giáo hóa hoằng pháp cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến` Phật. Thị hiên tướng thế gian mà không phá tướng thế gian nên cũng giống như mọi sanh thể có sanh có già có bệnh và có chết. Bởi vì các` tướng đều không phải là tướng mà chỉ tạm gọi là tướng thế gian vậy thôi. Các tướng đều luân hồi sanh tử nên gọi là chúng sanh tướng. Còn thật tướng là vô sanh bất diệt, nên có danh từ Niết bàn và luân hồi là giả danh tạm gọi theo trình độ giác ngộ của sanh thể. Thật ra Niết Bàn và Luân Hồi cũng không có thực thể như một vật có thể nắm bắt đựơc. Bởi vậy đối với Phật  thì Niết Bàn và sanh tử đều như chiêm bao của ngày hôm qua , của chúng sanh còn mê chơi trong tam giới. Còn chúng sanh đang sống với dục tưởng thì luân hồi là nổi khổ đọa đày với đủ vị  ngọt khổ của trần gian. Vì vậy Phật ra đời giáo hóa đã 26 thế kỷ mà chúng sanh vẫn còn mê khổ , vì còn dục tưởng nên mãi luân hồi khổ đau.

Đây là tạm nói về Niết bàn và Luân hồi. Hiểu được ba ngôi báu của đạo Phật thì mới hiểu đựơc thế nào là Luân Hồi và Niết Bàn. Vì đây là cái thực trạng của chúng sanh. Phật giáo phải căn cứ trên sự thật và công lý của vũ trụ mà trường tồn chứ không phải căn cứ trên các thứ lý tưởng do khát vọng và khổ đau của nhân lọại  sản xuất ra như giấc mơ hay ý chí muốn tồn tại. Cái gì không thật thì không thể giải thoát được khổ đau mà  thân phận con người phải mang lấy khi thân xác được sanh ra cùng thế giới cưu mang nhau mà cùng tồn tại. Thế giới là gì ? Cái` thân xác này là gì ? Đây là câu hỏi muôn đời không bao giờ kết thúc được bằng một kết luận chính xác mang tính toàn cảnh cho thế giới và thân xác. Bởi vì sự lý giải không thể đơn phương xác lập đựơc một kết luận chấm dứt mọi thắc mắc cho vấn đề. Mà sự hiểu được phải có mặt cả hai mặt là Lý và Sự. Tri và Hành là một hợp thể như trong bàn tay có con mắt. Vì vậy sự sống có cái hiểu và hành động hợp nhất với nhau chứ không phải chia hai ra. Vì vậy Phật giáo thì phải có tu chứng tức là sống đúng như tuệ giác chứ không phải là lý giải để mà trình bày kiến thức. Vì thực chất của kiến thức chỉ là cái bánh vẻ trên giấy hay phương pháp nấu ăn chứ không phải là thức ăn. Đây là lý do tại sao chúng ta thấy nhiều người nói rất giỏi, nhưng thực tế sống thì vấp ngã và yếu đuối rất ngạc nhiên, rất khó hiểu.

***

Cái bài này (có đính kèm câu hỏi ở đây có chủ đề 4 cách tái sanh) có nói đến 31 cõi theo nam tông Phật giáo, và cho biết chỉ có 3 cõi mà cõi người này có thể thấy được là súc sanh và con người, có người có` thể thấy thêm cõi thứ ba là MA GIỚI. Ma giới là cõi âm khuất mặt mà mắt thường không thấy hoăc khó thấy. Bây giờ ở VN có xuất hiện các nhà Ngoại cảm chuyên đi tìm và tiếp xúc với cõi  Ma giới. Vậy cái  ma giới có lẽ là cái mà các nhà ngoại cảm này đang tiếp xúc. Tôi không có ý kiến gì về vấn đề này  của tác giả đưa ra , vì không thấy cần thiết. Nhưng trong thân phận con người thì có ba giới là Dục Giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Kinh Pháp Hoa có nói : Chúng sanh như trẻ con ham chơi năm món dục trong căn nhà lửa là Tam Giới. Tam giới ở đây là Dục, Sắc và Vô sắc giới. Như vậy tam giới nói đây, có liên quan như thế nào với con người? Tam giới nơi ngừơi chính là cái dục hay là cái muốn có tiếp xúc nơi đối tượng gọi là cảnh, với cái muốn của năm giác quan và ý thức khi tiếp xúc với  đối tượng là pháp- tướng của  năm  giác quan  và ý-thức  Dục giới là phạm vi  của môt con người thuộc về cảm thọ và tri giác khởi lên theo thế giới nó tương quan, nó thuộc về tình cảm của con người. Sắc giới là vật chất tức là thân hiện hữu của con người và thế giới mà nó hiên hữu. Và Vô sắc giới là phần  hiện diên của  những  tư tưởng và khái niệm của tinh thần . Vô sắc chính là phần không có hình tướng bằng vật chất mà chỉ là những khái niệm và tư tưởng vô hình không có hình dạng gì như vật chất nên có cái giới gọi là vô sắc giới.

Cả ba cái cảnh giới này có mặt để làm thành một con người, Con người này là một sanh - thể có nhiều duyên hợp lại nên còn gọi là chúng sanh.  Bởi  ba yếu tố này làm nơi nương gá sinh tồn trong đó nên được gọi là nhà lửa. Cái nhà để ở mà đang cháy nên gọi là nhà lửa. Phật ví tam giới là nhà lửa mà các trẻ con vì vô minh nên ham chơi với năm món dục , không biết gì là nhà, không biết gì là lửa. Giới thiệu cho chúng sanh ba cổ xe để bỏ cái vui ngủ dục mà chạy ra để nhận xe của cha cho. Ba cái xe này theo hoàn cảnh thời xưa nên được ví là ba xe nhỏ, vừa và lớn (cái xe lớn nhất thời đó là xe trâu trắng). Ba xe thì  tượng trưng cho giáo lý tiểu thừa , trung thừa và đại thừa. Xe tượng trưng cho sự luân chuyển và chuyên chở cho chúng sanh đi trên đường đạo. Ba giáo lý này có thuyết minh trên Kinh luật Phật giáo. Được gọi là giáo lý tam thừa.

Như vậy tam giới là cái yếu tố hòa hợp của 3 phần làm thành một con người là tình cảm tượng trưng cho dục giới. Thân thể tượng trưng cho sắc giới. Và tư tưởng tượng trưng cho vô sắc giới. Nó quả thật là căn nhà cho một sanh thể ở trong đó. Nhưng nó đang cháy. Tại sao cháy ? Bởi vì nó là vô thường nên đang cháy. Nó cháy vùn vụt vì nó là sanh diệt theo thời gian. Nó chính là ngọn lửa vô thường của thời gian. Vì vậy Phật gọi nó là nhà lửa không phải chổ yên vui. Nơi ba cổ xe dụ cho trẻ ra chơi để bỏ nhà lửa thì chỉ là phưong tiện để cho trẻ thấy thích cái nào thì theo sở thích mà chạy ra để nhận. Cả ba cổ xe này đều là pháp lìa dục tưởng để giác ngộ và thực chứng pháp vô sanh. Nếu cởi trên ba cổ xe này thì đều chứng được pháp vô sanh. Do vậy đã ở nơi ngả tư đường trống trải không còn Khổ nửa. Do bị lửa của tam giới đốt mà khổ, vì vậy lìa khổ thì được vui Niết Bàn. Do đó Phật nói Niết Bàn của Ba xe cũng chỉ là phương tiện đối trị với bệnh ham chơi ngũ dục. Khi bệnh hết rồi thì xe không cần nửa như người lành bệnh thì không cần uống thuốc nửa. Bởi vậy đã lên bờ thì không dùng thuyền nửa nên có câu kinh trong kinh Kim Cang là " Chánh pháp còn phải bỏ huống là phi pháp`."

Chúng ta thấy rằng Đức Phật lịch sử đã vì sanh già bệnh chết mà xin vua cha cho xuất gia. Bỏ ngôi vua để đi tìm đạo thoát khổ cho tất cả chúng sanh. Nhưng khi đã đắc đạo rồi mà không có chấm dứt cái tướng sanh diệt của thế gian. Thân Ngài cũng bệnh, cũng già và cũng chết giữa hai cây ta la trong rừng. Như vậy chúng` ta thấy cái thân này là chiếc thuyền phải bỏ lại khi hành giả đã lên bờ giải thoát. Cái thân này chỉ là cái áo bỏ lại, còn người bận áo đã giải thoát không còn trở lại cái thân sanh diệt này nửa. Như vậy thì ai tu nấy chứng chứ không ai làm thế cho ai được. Đức Phật là người chỉ đường và đã lên đường. Con đường ở ngay nơi chúng sanh, ngay nơi tam giới của chúng sanh đang ở. Nếu không có nhà lửa thì cũng không có ba xe. Ngay nơi nhà lửa mà bứoc lên ba xe để chuyển bánh xe Pháp. Nếu không hiểu gì là nhà, không hiểu gì là lửa thì cũng không thấy ba xe mà Phật đã thuyết minh. Nếu không thấy KHỔ thì cũng không có lý do gì mà tìm đường giải thoát. Nếu không hiểu thực tướng của KHỔ thì cũng không thấy Niết Bàn. Bởi vì Niết Bàn có mặt là do khổ có mặt. Đây là giáo lý bất nhị , "Không hai" của Phật giáo. Chúng sanh đó vốn không phải là chúng sanh mà gọi là chúng sanh vậy thôi..... Phụng sự chúng sanh tức là cúng dừong chư Phật. Phiền não tức là bồ đề. Bỏ căn nhà lửa thì từ đâu mà bước lên ba xe để dạo chơi bốn của thành sanh lão bệnh tử.

Đó là giáo lý mà không từ sự thực khổ đau của nhân loại thì không bao giờ có đạo Phật xuất hiện. Vì đạo là tịnh độ có vô lượng ánh sáng và vô lượng thọ mạng. Chúng sanh buông thân này thì sanh thân khác theo luật nhân quả luân hồi. Thọ mang vô lượng nhưng không có ánh sáng nên không thấy vì sống trong đêm dài vô minh. Hảy tự thắp đuốc lên mà đi ! Câu này là sấm sét với người trí nhưng là tàn nhẫn với người yếu đuối. Bởi yếu đuối thì làm sao có khả năng vượt qua yếu đuối. Do vậy cho nên ở bên thế giới của Phật A- Di Đà phải có ngài Đại Lực Đại Thế Chí dùng oai thần hộ niệm cho người non yếu đem cả nghiệp yếu đuối mà vựot qua bờ vãng sanh. Còn ở cõi Ta Bà ngũ trược thì có Địa Tạng Bồ Tát luôn luôn ở địa ngục để vớt người rơi rụng vào Địa ngục.Nếu địa ngục không rỗng không thì Bồ tát vẫn còn ở đó để độ sanh. Hai thế giới này  với hai vị bồ tát ma ha tát này không bao giờ chịu thành Phật mà cứ làm bồ tát để độ sanh. Đây cũng chính là giáo lý bất nhị của đức Phật đã dạy. Do đó dù trong cảnh giới khổ đau nào thì người tín đồ của Phật giáo vẫn không quên tâm linh của mình chính là Phật quốc. Nếu bỏ chúng sanh mà tìm Phật thì đi tìm lông rùa sừng thỏ. Nếu thấy chúng sanh là đoạn diệt thì tự mình chặt mất căn lành làm loài nhất xiển đề duy vật chỉ biết sống với dục vọng thấp hèn trong đời này rồi chờ chết. Đây là cái giáo lý của người có tuệ giác để thấy , hiểu và tin với sức sống có năng lượng chứ không phải nhắm mắt mà hụt hơi với niềm tin lơ mơ hồ đồ như người mê tín.

***

Để thấy có chúng sanh trong quá khứ thì người thấy được phải có túc mạng minh. Nhưng không cần túc mạng mình thì mình cũng tin đựơc là có quá khứ, vì có hiện tại phải có quá khứ, và hiện tại thì phải có tương lai. Vì vậy không phải đợi đến có thần thông mới biết quá khứ mà ngay hiện tại chúng` ta cũng biết là quá khứ đã qua rồi thì có biết hay không thì nó cũng đã đi qua. Chúng ta phải ngay cái hiện tại mà thiết thưc nhận diện sự sống thì mới có thể hiểu cái đích thật của chân diện mục của chúng sanh. Đây chính là Thiền. Mà thiền chính là sống trọn vẹn với hiện tại. Tương lai là cái phải đến, nhưng chưa đến, vì vậy tương lai cũng chỉ là hiện tại mà thôi. Cái gì của hôm nay thì có tiếp nối trong ngày mai. Vậy cái nhân hôm nay là cái quả của ngày mai. Nếu ngày nay không biết ngày nay thì tương lai là cái mịt mù không nên biết đến làm gì. Bởi vì không biết ngày nay thì tương lai chỉ giả tưởng. Vì vậy người theo trí năng của mình mà sống thì phải biết và sống hết mình cho hiện tại. Vì vậy giáo pháp của Phật dạy thì có tính chất hiện tại lạc trú .Trong khi mình thực hành một pháp môn nào của Phật giáo thì đều phải có an lạc làm trú xứ của thân tâm. Đức Phật từ bỏ con đường khổ hạnh và dục lạc để sống theo trung đạo an lạc. Thành ra cái pháp môn nào đựoc hành trì và chế tác ra mà không có an lạc trong hiện tại thì không phải là Phật pháp mà đã rơi vào ngoại đạo. Các vị thiền sư khi ngồi Thiền thì "Phùng Phật sát Phật, phùng tổ sát tổ." Đây là khẩu quyết để giữ gìn an lạc cho thân tâm. Bởi vì gặp phật thì giết Phật, gặp tổ thì giết tổ thì mình mới không bị hệ phược quấy nhiểu bởi những hình ảnh của khái niệm và ý tưởng về Phật và tổ. Những cái khái niêm và ý tưởng về Phật về tổ chỉ là cái vọng tưởng và vọng niệm của mình chứ không phải là thực thể của Phật và tổ. Do đó phải cho qua đi như giết đi người trong mộng để cho thân tâm sống tron vẹn với hiện tai lạc trú vì xả ly các dục tưởng và lý tưởng của tam giới mộng mỵ. Còn người theo pháp môn trì danh niệm Phật thì chỉ giử danh hiệu của Phật mà niệm để làm cho tâm thức an định với niêm phật. Cái danh hiêu Phật mà mình niệm có tính chất như phèn bỏ vào nước làm cho nước trong lắng các bụi bẫn. Niệm Phật thì các vọng tưởng cũng lắng xuống tự nhiên mà không cần đè nén dụng công vì cái niệm duyên theo danh hiệu Phật mà mình tin và tưởng sẽ tạo ra năng lượng làm lóng trong các ý niệm, đem lại an lạc cho thân tâm người niệmPhật. Mình phải làm cho thân tâm an lạc thì mới có định lực để có tuệ giác soi sáng cho mình trên sự sống. Nói tóm lại, pháp môn hành trì nào mà không làm cho thân tâm an lạc thì không phải là Phật Pháp. Người đi theo Phật mà không có niềm vui thì không phải là ngừoi đi đúng đường của Phật. Hỷ-Lạc -Tịnh-Định là các nấc thang mà người quy y tam bảo đi trên con đường trở về nhà của Như-Lai. Nếu không có Hỷ,Lạc,Tịnh và Định thì mình biết rằng mình đang đi lạc vào ngoại đạo. Dù trong hoàn cảnh của khổ nạn nào thì người con Phật cũng phải biết con đường vui của mình nên luôn có thể nở nụ cừoi để tự tin vào con đường an lạc của Phật  Pháp.

Nhân đọc bài của đạo hửu mà tôi không quen biết, tôi cảm thấy hay  vì là người có hiểu giáo lý qua nghiên cứu, nên tóm gọn lại để nêu câu hỏi. Do cảm động với bài viết này nên tôi chia sẻ nhân định của mình, vì tóm gọn trong một bài ngắn nên có nhiều yếu kém trong trình bày nhận định của mình . Mong rằng sẽ thaỏ luận thêm những chổ thiếu sót. Xin tạm dừng.
 

Bài Tháng Chín. 2010


Biên tập: Cư sĩ Liên Hoa (Nhật Minh)
Sửa văn bản tiếng Việt và trình bày : Diệu Tịnh | Sửa văn bản tiếng Anh: Diệu Ngọc
Phụ trách mạng : Chánh Niệm | Email: Padma9mt@hotmail.com


You are visitor number since January 24, 2005