Cái
bài "Bốn lối tái sanh của Phật Giáo" là một bài rất hay.
Nhưng đây là giáo lý phổ quát mà tất cả mọi người thường gặp
trong từ ngữ bình dân và căn bản lich sử, cái mà ai cũng có
nghe qua khi tiếp xúc với phật giáo về mặt lich sử cấp sơ cơ.
Từ cái kiến thức sơ lược và thiếu xót này mà lần ra nhiều sự
thật rất hay trong thực tế cuộc sống và trong nguồn giáo lý
để lại qua kinh sách. Nếu giải thích từ điểm thì phải tốn
nhiều thì giờ và làm mất kiên nhẩn cho người bị đọc cái lý
giải quá dài dòng. Vì vậy tôi chỉ xin nói lại nhận định của
mình về một vài nét chính để chia sẻ cảm nhận của tôi và đón
chờ những câu hỏi và đóng góp kinh nghiệm và nhận định khác,
phát sinh từ bài viết này vậy.
Nếu`
không có Khổ thì không có đạo Phật, vì đạo Phật là Đạo Giải
Thoát. Giải thoát cái gì ? Chính là giải thoát cái Khổ ! Vậy
đạo Phật đã có mặt 2600 năm rồi tại sao nhân loại vẫn KHỔ ?
Bởi cái này quá rõ, vì chúng sanh còn tái sanh trong bốn
loài là Noãn, Thai ,Thấp , Hóa. Từ bốn cách sanh thân mà tái
sanh. Được tái sanh trong bốn cách như vậy thì gọi là
LUÂN-HỒI. Giải thoát khỏi sự khổ não thì gọi là chứng
NIẾT-BÀN. Niết Bàn chính là giải thóat cứu cánh. Còn các
giải thoát khác chỉ là luân hồi từ nhà giam này sang nhà
giam khác. Có nghĩa là từ thân này sang thân khác của dòng
luân hồi tái sanh. Có cái thân thì phải có cái khổ. Có 8
cái khổ không rời thân là : Sanh, Lão, Bệnh, Tử, "Thương
nhau mà chia lìa, Ghét nhau mà gặp gở,"Cầu mong mà không
được toại lòng. Ngũ Ấm xí thạnh khổ......Đây là cái KHỔ mà
trong tứ thánh đế là bốn sự thật , Khổ được đưa lên hàng đầu,
tạm bỏ qua không nói nhiều về tám cái khổ này, vì ai cũng
biết đó là tám cái khổ căn bản trong vô vàn cái khổ không
thể kể xiết được.
Chính do
tám khổ không rời thân mà Phật thị hiện thân đản sanh để
giáo hóa chúng sanh. Do thân có 8 cái khổ mà Phật thị hiện
xuất gia khi dạo chơi bốn cửa thành. Do đoạn tận các khổ nên
Phật thị hiện thành đạo dứoi gốc cây Bồ Đề. Thành đạo là thị
hiện Hữu-dư Niết Bàn, và nhập Vô Dư Niết Bàn khi thị hiện
cái thân nằm buông bỏ bên hai cây Ta-La. Niết bàn là thị
hiện giải thoát ngay nơi thân của chúng sanh. Chúng sanh thì
có thân và khổ với thân. Phật thì giải thóat khỏi khổ vì
Phật có Niết bàn giải thoát. Giải thoát là khộng có KHỔ` vì
có Niết Bàn. Khổ là chúng sanh. Niết Bàn là Phật. Khi giác
ngộ chứng được Niết Bàn thì Phật còn báo thân đang thị hiện
nên gọi Hữu dư Niết Bàn. Đến khi thị hiện cái chết dưới cây
giữa rừng thì gọi là Vô dư Niết Bàn vì không còn dư báo nữa.
Các vị đệ tử khi chứng quả vị A-La-Hán thì cũng vào Niết Bàn.
KHi chứng đạo mà còn sống trong thân phận một chúng sanh thì
gọi là Hữu dư Niết bàn vì còn cái thân phải theo quy luật
của thân chúng sanh.
Thành ra
cũng là Niết Bàn mà có hai cái tên để phân biệt là còn thân
hay đã bỏ thân chúng sanh. Một người đã giác ngộ Niết Bàn
thì không còn tái sanh trong thân chúng sanh nào nửa để
thọ quả báo. Vì vậy khi đã vào Niết Bàn thì không còn ai
trông thấy đựoc nữa vì không còn mang thân chúng sanh với
nghiệp báo khổ đau nửa . Giải thoát khỏi KHỔ thì có Niết
Bàn. Vì Niết Bàn không phải là nơi chốn để đí đến. Không
phải là ý tưởng hay ý niệm về cái trạng thái nào cả.
Mà
nói cho đúng thì Niết Bàn chính là sự sống chân thật của
chúng sanh không còn đau khổ và mê hoặc nữa. Bởi vì chữ
Niết Bàn được dịch nghĩa là Vô Sanh và Bất Diệt. Quả vị
Vô Sanh chính là quả A-La-Hán. Đức Phật chết thì gọi là nhập
Niết Bàn , vì Niết Bàn là Bất diệt. Vô sanh và bất diệt
chính là cái nghĩa của chử Niết Bàn.
Còn Luân
Hồi là Sanh tử rồi tử sanh. Cái gì có sanh thì có tử, cái gì
tử thì phải luân hồi vì tử là hóa sanh vào thế giới để sanh
thân khác tương tục,vì vậy gọi là luân hồi. Không có chúng
sanh nào mà không luân hồi. Cái luân hồi này của chúng sanh
gọi là nghiệp lực. Nghiệp lực này là năng lượng của lòng
khát ái. Lòng khát ái thì gọi là dục tưởng. Dục tưởng thì Vô
Minh. Hoặc là biết sai lầm hay không biết gì thì gọi là vô
minh. Cái năng lượng vô minh này gọi là nghiệp lực đưa con
người đi về tương lai với những cái duyên tương tác và tương
nhập từ căn thân và thế giới mà chúng sanh đang hiện hữu. Sự
hiện hữu của một chúng sanh thì có y-báo và chánh báo. Y-báo
là thế giới, còn chánh báo là căn thân đang là chúng sanh.
Thì dụ như tôi là con người thì cái thân người của tôi là
chánh báo, còn cái thế giới mà tôi phải sống trong đó như
con cá phải sống trong nước thì gọi là y-báo. Nếu không có
y-báo thì chánh báo không tồn tại. Nếu không có trái đất,
măt trời và cộng đồng chung quanh thì tôi cũng không có tồn
tại. Tôi tồn tại vì thế giới tồn tại. Đó chính là y-báo và
chánh báo là một không phải hai. Sự hòa hợp giữa căn thân và
thế giới chính là đức lý của tăng thân. Người giác ngộ được
đức lý này thì thấy tăng thân của mình bàng bạc ở khắp mọi
nơi. Không có nơi nào mà không có sự hiện hữu của chân lý
hòa hợp của tăng bảo. Bởi vì yếu tố hòa hợp nhất thể này mà
thế giới tồn tại không bao giờ tiêu diệt được. Sự hòa hợp
này cũng chính là vô sanh, bời vì không có cái nguyên nhân
nào làm cái đầu tiên sanh ra các pháp hiện hữu.Không có cái
nguyên nhân đầu tiên để sanh ra căn thân và thế giới nên gọi
là vô sanh, cái vô sanh thì cũng chính là cái` bất-diệt. Vô
sanh và bất diệt là biệt danh của Niết bàn. Sanh trụ hoại
diệt là biệt danh của chúng sanh. Chúng sanh là pháp duyên
sanh. Chúng sanh từ Niết Bàn mà thị hiện. Bởi vì vô sanh là
thật thể của chúng sanh. Thật tướng của chúng sanh là Niết
Bàn vì vô sanh và bất diệt. Nhưng chúng sanh thì có sanh
diệt. Bởi vì cái sanh diệt có ra đó là do giả tướng của
chúng sanh mà hiện ra thân khổ tướng. Chấp mắc với thân
tướng thì có khổ tướng hiện ra. Gọi là khổ tướng vì tám
cái`khổ không thể lìa thân. Cái thân khổ tướng tương tục
sanh diệt thì gọi là luân hồi sanh tử. Lìa được khổ thì
chứng Niết-bàn. Do dục tưởng mà có khát ái làm động lực để
sanh thân. Vì vậy cứ thân này diệt thì thân khác sanh ra
theo dòng nghiệp của chúng sanh mà thọ quả báo .
Do quả báo
có chung với nhau mà có cộng nghiệp và biệt nghiệp. Nếu cùng
nhau nương về lẽ đạo của giác ngộ như Phật đã thuyết minh
trong 45 năm hơằng pháp thì có cùng cộng nghiệp với nhau gọi
là tăng thân thế gian . Bởi vì nương theo thời gian và không
gian mà hiện hữu nên gọi là thế gian tướng. Sự hòa họp tại
thế gian thì gọi là tăng thân của trần gian. Từ bỏ trần gian
này để đi tìm xuất thế gian là đi tìm lông rùa sừng thỏ.
Trong mỗi một chúng sanh thì đều có tăng thân trong đó . Vì
không có tăng thân thì không có thân chúng sanh, nếu các
duyên không hòa hợp thì không có thân chúng sanh. Ngũ uẩn
hòa hợp chính là tăng thân của một con người. Những con
người hòa hợp với nhau thì gọi là một tăng thân. Những con
người sống với nhau như pháp của Phật dạy thì biểu hiện cho
ngôi Tăng Bảo của Thế gian. Dù chư Phật có ra đời thuyết
pháp hay không thuyết pháp thì Pháp là chân lý thì vẫn là
chân lý. Cái chân lý duyên sanh là pháp bảo. Vì từ nơi Pháp
bảo mà có tăng bảo. Nhưng nếu không có Phật bảo thì tăng bảo
và pháp bảo không có biểu hiện được, vì cái mê mờ vì dục
tưởng của chúng sanh ngăn che giác tánh. Phật Thích Ca thị
hiện bốn tướng : Đản sanh, Xuất gia, Thành Đạo và Nhập Niết
Bàn là tùy thuận thế gian tướng để giáo hóa hoằng pháp cho
chúng sanh ngộ nhập tri kiến` Phật. Thị hiên tướng thế gian
mà không phá tướng thế gian nên cũng giống như mọi sanh thể
có sanh có già có bệnh và có chết. Bởi vì các` tướng đều
không phải là tướng mà chỉ tạm gọi là tướng thế gian vậy
thôi. Các tướng đều luân hồi sanh tử nên gọi là chúng sanh
tướng. Còn thật tướng là vô sanh bất diệt, nên có danh từ
Niết bàn và luân hồi là giả danh tạm gọi theo trình độ giác
ngộ của sanh thể. Thật ra Niết Bàn và Luân Hồi cũng không có
thực thể như một vật có thể nắm bắt đựơc. Bởi vậy đối với
Phật thì Niết Bàn và sanh tử đều như chiêm bao của ngày hôm
qua , của chúng sanh còn mê chơi trong tam giới. Còn chúng
sanh đang sống với dục tưởng thì luân hồi là nổi khổ đọa đày
với đủ vị ngọt khổ của trần gian. Vì vậy Phật ra đời giáo
hóa đã 26 thế kỷ mà chúng sanh vẫn còn mê khổ , vì còn dục
tưởng nên mãi luân hồi khổ đau.
Đây là tạm
nói về Niết bàn và Luân hồi. Hiểu được ba ngôi báu của đạo
Phật thì mới hiểu đựơc thế nào là Luân Hồi và Niết Bàn. Vì
đây là cái thực trạng của chúng sanh. Phật giáo phải căn cứ
trên sự thật và công lý của vũ trụ mà trường tồn chứ không
phải căn cứ trên các thứ lý tưởng do khát vọng và khổ đau
của nhân lọại sản xuất ra như giấc mơ hay ý chí muốn tồn
tại. Cái gì không thật thì không thể giải thoát được khổ đau
mà thân phận con người phải mang lấy khi thân xác được sanh
ra cùng thế giới cưu mang nhau mà cùng tồn tại. Thế giới là
gì ? Cái` thân xác này là gì ? Đây là câu hỏi muôn đời không
bao giờ kết thúc được bằng một kết luận chính xác mang tính
toàn cảnh cho thế giới và thân xác. Bởi vì sự lý giải không
thể đơn phương xác lập đựơc một kết luận chấm dứt mọi thắc
mắc cho vấn đề. Mà sự hiểu được phải có mặt cả hai mặt là Lý
và Sự. Tri và Hành là một hợp thể như trong bàn tay có con
mắt. Vì vậy sự sống có cái hiểu và hành động hợp nhất với
nhau chứ không phải chia hai ra. Vì vậy Phật giáo thì phải
có tu chứng tức là sống đúng như tuệ giác chứ không phải là
lý giải để mà trình bày kiến thức. Vì thực chất của kiến
thức chỉ là cái bánh vẻ trên giấy hay phương pháp nấu ăn chứ
không phải là thức ăn. Đây là lý do tại sao chúng ta thấy
nhiều người nói rất giỏi, nhưng thực tế sống thì vấp ngã và
yếu đuối rất ngạc nhiên, rất khó hiểu.
***
Cái bài
này (có đính kèm câu hỏi ở đây có chủ đề 4 cách tái sanh) có
nói đến 31 cõi theo nam tông Phật giáo, và cho biết chỉ có 3
cõi mà cõi người này có thể thấy được là súc sanh và con
người, có người có` thể thấy thêm cõi thứ ba là MA GIỚI. Ma
giới là cõi âm khuất mặt mà mắt thường không thấy hoăc khó
thấy. Bây giờ ở VN có xuất hiện các nhà Ngoại cảm chuyên đi
tìm và tiếp xúc với cõi Ma giới. Vậy cái ma giới có lẽ là
cái mà các nhà ngoại cảm này đang tiếp xúc. Tôi không có ý
kiến gì về vấn đề này của tác giả đưa ra , vì không thấy
cần thiết. Nhưng trong thân phận con người thì có ba giới là
Dục Giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Kinh Pháp Hoa có nói :
Chúng sanh như trẻ con ham chơi năm món dục trong căn nhà
lửa là Tam Giới. Tam giới ở đây là Dục, Sắc và Vô sắc giới.
Như vậy tam giới nói đây, có liên quan như thế nào với con
người? Tam giới nơi ngừơi chính là cái dục hay là cái muốn
có tiếp xúc nơi đối tượng gọi là cảnh, với cái muốn của năm
giác quan và ý thức khi tiếp xúc với đối tượng là pháp-
tướng của năm giác quan và ý-thức Dục giới là phạm vi
của môt con người thuộc về cảm thọ và tri giác khởi lên theo
thế giới nó tương quan, nó thuộc về tình cảm của con người.
Sắc giới là vật chất tức là thân hiện hữu của con người và
thế giới mà nó hiên hữu. Và Vô sắc giới là phần hiện diên
của những tư tưởng và khái niệm của tinh thần . Vô sắc
chính là phần không có hình tướng bằng vật chất mà chỉ là
những khái niệm và tư tưởng vô hình không có hình dạng gì
như vật chất nên có cái giới gọi là vô sắc giới.
Cả ba cái
cảnh giới này có mặt để làm thành một con người, Con người
này là một sanh - thể có nhiều duyên hợp lại nên còn gọi là
chúng sanh. Bởi ba yếu tố này làm nơi nương gá sinh tồn
trong đó nên được gọi là nhà lửa. Cái nhà để ở mà đang cháy
nên gọi là nhà lửa. Phật ví tam giới là nhà lửa mà các trẻ
con vì vô minh nên ham chơi với năm món dục , không biết gì
là nhà, không biết gì là lửa. Giới thiệu cho chúng sanh ba
cổ xe để bỏ cái vui ngủ dục mà chạy ra để nhận xe của cha
cho. Ba cái xe này theo hoàn cảnh thời xưa nên được ví là ba
xe nhỏ, vừa và lớn (cái xe lớn nhất thời đó là xe trâu trắng).
Ba xe thì tượng trưng cho giáo lý tiểu thừa , trung thừa và
đại thừa. Xe tượng trưng cho sự luân chuyển và chuyên chở
cho chúng sanh đi trên đường đạo. Ba giáo lý này có thuyết
minh trên Kinh luật Phật giáo. Được gọi là giáo lý tam thừa.
Như vậy
tam giới là cái yếu tố hòa hợp của 3 phần làm thành một con
người là tình cảm tượng trưng cho dục giới. Thân thể tượng
trưng cho sắc giới. Và tư tưởng tượng trưng cho vô sắc giới.
Nó quả thật là căn nhà cho một sanh thể ở trong đó. Nhưng nó
đang cháy. Tại sao cháy ? Bởi vì nó là vô thường nên đang
cháy. Nó cháy vùn vụt vì nó là sanh diệt theo thời gian. Nó
chính là ngọn lửa vô thường của thời gian. Vì vậy Phật gọi
nó là nhà lửa không phải chổ yên vui. Nơi ba cổ xe dụ cho
trẻ ra chơi để bỏ nhà lửa thì chỉ là phưong tiện để cho trẻ
thấy thích cái nào thì theo sở thích mà chạy ra để nhận. Cả
ba cổ xe này đều là pháp lìa dục tưởng để giác ngộ và thực
chứng pháp vô sanh. Nếu cởi trên ba cổ xe này thì đều chứng
được pháp vô sanh. Do vậy đã ở nơi ngả tư đường trống trải
không còn Khổ nửa. Do bị lửa của tam giới đốt mà khổ, vì vậy
lìa khổ thì được vui Niết Bàn. Do đó Phật nói Niết Bàn của
Ba xe cũng chỉ là phương tiện đối trị với bệnh ham chơi ngũ
dục. Khi bệnh hết rồi thì xe không cần nửa như người lành
bệnh thì không cần uống thuốc nửa. Bởi vậy đã lên bờ thì
không dùng thuyền nửa nên có câu kinh trong kinh Kim Cang là
" Chánh pháp còn phải bỏ huống là phi pháp`."
Chúng ta
thấy rằng Đức Phật lịch sử đã vì sanh già bệnh chết mà xin
vua cha cho xuất gia. Bỏ ngôi vua để đi tìm đạo thoát khổ
cho tất cả chúng sanh. Nhưng khi đã đắc đạo rồi mà không có
chấm dứt cái tướng sanh diệt của thế gian. Thân Ngài cũng
bệnh, cũng già và cũng chết giữa hai cây ta la trong rừng.
Như vậy chúng` ta thấy cái thân này là chiếc thuyền phải bỏ
lại khi hành giả đã lên bờ giải thoát. Cái thân này chỉ là
cái áo bỏ lại, còn người bận áo đã giải thoát không còn trở
lại cái thân sanh diệt này nửa. Như vậy thì ai tu nấy chứng
chứ không ai làm thế cho ai được. Đức Phật là người chỉ
đường và đã lên đường. Con đường ở ngay nơi chúng sanh, ngay
nơi tam giới của chúng sanh đang ở. Nếu không có nhà lửa thì
cũng không có ba xe. Ngay nơi nhà lửa mà bứoc lên ba xe để
chuyển bánh xe Pháp. Nếu không hiểu gì là nhà, không hiểu gì
là lửa thì cũng không thấy ba xe mà Phật đã thuyết minh. Nếu
không thấy KHỔ thì cũng không có lý do gì mà tìm đường giải
thoát. Nếu không hiểu thực tướng của KHỔ thì cũng không thấy
Niết Bàn. Bởi vì Niết Bàn có mặt là do khổ có mặt. Đây là
giáo lý bất nhị , "Không hai" của Phật giáo. Chúng sanh đó
vốn không phải là chúng sanh mà gọi là chúng sanh vậy thôi.....
Phụng sự chúng sanh tức là cúng dừong chư Phật. Phiền não
tức là bồ đề. Bỏ căn nhà lửa thì từ đâu mà bước lên ba xe để
dạo chơi bốn của thành sanh lão bệnh tử.
Đó là giáo
lý mà không từ sự thực khổ đau của nhân loại thì không bao
giờ có đạo Phật xuất hiện. Vì đạo là tịnh độ có vô lượng ánh
sáng và vô lượng thọ mạng. Chúng sanh buông thân này thì
sanh thân khác theo luật nhân quả luân hồi. Thọ mang vô
lượng nhưng không có ánh sáng nên không thấy vì sống trong
đêm dài vô minh. Hảy tự thắp đuốc lên mà đi ! Câu này là sấm
sét với người trí nhưng là tàn nhẫn với người yếu đuối. Bởi
yếu đuối thì làm sao có khả năng vượt qua yếu đuối. Do vậy
cho nên ở bên thế giới của Phật A- Di Đà phải có ngài Đại
Lực Đại Thế Chí dùng oai thần hộ niệm cho người non yếu đem
cả nghiệp yếu đuối mà vựot qua bờ vãng sanh. Còn ở cõi Ta Bà
ngũ trược thì có Địa Tạng Bồ Tát luôn luôn ở địa ngục để vớt
người rơi rụng vào Địa ngục.Nếu địa ngục không rỗng không
thì Bồ tát vẫn còn ở đó để độ sanh. Hai thế giới này với
hai vị bồ tát ma ha tát này không bao giờ chịu thành Phật mà
cứ làm bồ tát để độ sanh. Đây cũng chính là giáo lý bất nhị
của đức Phật đã dạy. Do đó dù trong cảnh giới khổ đau nào
thì người tín đồ của Phật giáo vẫn không quên tâm linh của
mình chính là Phật quốc. Nếu bỏ chúng sanh mà tìm Phật thì
đi tìm lông rùa sừng thỏ. Nếu thấy chúng sanh là đoạn diệt
thì tự mình chặt mất căn lành làm loài nhất xiển đề duy vật
chỉ biết sống với dục vọng thấp hèn trong đời này rồi chờ
chết. Đây là cái giáo lý của người có tuệ giác để thấy ,
hiểu và tin với sức sống có năng lượng chứ không phải nhắm
mắt mà hụt hơi với niềm tin lơ mơ hồ đồ như người mê tín.
***
Để thấy có
chúng sanh trong quá khứ thì người thấy được phải có túc
mạng minh. Nhưng không cần túc mạng mình thì mình cũng tin
đựơc là có quá khứ, vì có hiện tại phải có quá khứ, và hiện
tại thì phải có tương lai. Vì vậy không phải đợi đến có thần
thông mới biết quá khứ mà ngay hiện tại chúng` ta cũng biết
là quá khứ đã qua rồi thì có biết hay không thì nó cũng đã
đi qua. Chúng ta phải ngay cái hiện tại mà thiết thưc nhận
diện sự sống thì mới có thể hiểu cái đích thật của chân diện
mục của chúng sanh. Đây chính là Thiền. Mà thiền chính là
sống trọn vẹn với hiện tại. Tương lai là cái phải đến, nhưng
chưa đến, vì vậy tương lai cũng chỉ là hiện tại mà thôi. Cái
gì của hôm nay thì có tiếp nối trong ngày mai. Vậy cái nhân
hôm nay là cái quả của ngày mai. Nếu ngày nay không biết
ngày nay thì tương lai là cái mịt mù không nên biết đến làm
gì. Bởi vì không biết ngày nay thì tương lai chỉ giả tưởng.
Vì vậy người theo trí năng của mình mà sống thì phải biết và
sống hết mình cho hiện tại. Vì vậy giáo pháp của Phật dạy
thì có tính chất hiện tại lạc trú .Trong khi mình thực hành
một pháp môn nào của Phật giáo thì đều phải có an lạc làm
trú xứ của thân tâm. Đức Phật từ bỏ con đường khổ hạnh và
dục lạc để sống theo trung đạo an lạc. Thành ra cái pháp môn
nào đựoc hành trì và chế tác ra mà không có an lạc trong
hiện tại thì không phải là Phật pháp mà đã rơi vào ngoại đạo.
Các vị thiền sư khi ngồi Thiền thì "Phùng Phật sát Phật,
phùng tổ sát tổ." Đây là khẩu quyết để giữ gìn an lạc cho
thân tâm. Bởi vì gặp phật thì giết Phật, gặp tổ thì giết tổ
thì mình mới không bị hệ phược quấy nhiểu bởi những hình ảnh
của khái niệm và ý tưởng về Phật và tổ. Những cái khái niêm
và ý tưởng về Phật về tổ chỉ là cái vọng tưởng và vọng niệm
của mình chứ không phải là thực thể của Phật và tổ. Do đó
phải cho qua đi như giết đi người trong mộng để cho thân tâm
sống tron vẹn với hiện tai lạc trú vì xả ly các dục tưởng và
lý tưởng của tam giới mộng mỵ. Còn người theo pháp môn trì
danh niệm Phật thì chỉ giử danh hiệu của Phật mà niệm để làm
cho tâm thức an định với niêm phật. Cái danh hiêu Phật mà
mình niệm có tính chất như phèn bỏ vào nước làm cho nước
trong lắng các bụi bẫn. Niệm Phật thì các vọng tưởng cũng
lắng xuống tự nhiên mà không cần đè nén dụng công vì cái
niệm duyên theo danh hiệu Phật mà mình tin và tưởng sẽ tạo
ra năng lượng làm lóng trong các ý niệm, đem lại an lạc cho
thân tâm người niệmPhật. Mình phải làm cho thân tâm an lạc
thì mới có định lực để có tuệ giác soi sáng cho mình trên sự
sống. Nói tóm lại, pháp môn hành trì nào mà không làm cho
thân tâm an lạc thì không phải là Phật Pháp. Người đi theo
Phật mà không có niềm vui thì không phải là ngừoi đi đúng
đường của Phật. Hỷ-Lạc -Tịnh-Định là các nấc thang mà người
quy y tam bảo đi trên con đường trở về nhà của Như-Lai. Nếu
không có Hỷ,Lạc,Tịnh và Định thì mình biết rằng mình đang đi
lạc vào ngoại đạo. Dù trong hoàn cảnh của khổ nạn nào thì
người con Phật cũng phải biết con đường vui của mình nên
luôn có thể nở nụ cừoi để tự tin vào con đường an lạc của
Phật Pháp.
Nhân đọc
bài của đạo hửu mà tôi không quen biết, tôi cảm thấy hay vì
là người có hiểu giáo lý qua nghiên cứu, nên tóm gọn lại để
nêu câu hỏi. Do cảm động với bài viết này nên tôi chia sẻ
nhân định của mình, vì tóm gọn trong một bài ngắn nên có
nhiều yếu kém trong trình bày nhận định của mình . Mong rằng
sẽ thaỏ luận thêm những chổ thiếu sót. Xin tạm dừng.