|
Luận giải về giấc mộng:
Từ Áo nghĩa thư đến Duy thức học
Đồng Thành
Phật
giáo đề cao vai trò của lý trí trong việc thẩm định niềm tin và
xác chứng giá trị của thực tại trên nền tảng của giáo lý Duyên
Khởi. Theo đó, toàn bộ các hiện tượng trong cuộc sống của con
người như: nhân cách, tâm hồn, tri thức, ngôn ngữ, sự tỉnh thức,
giấc mộng hay giấc ngủ bình yên đều là những hoạt hiện của những
cơ chế tâm sinh lý luôn vận hành liên tục và đó là một quá trình
lan tỏa do tác động của những khuynh hướng bẩm sinh.
Mục
đích tối hậu của nền triết học Áo Nghĩa Thư (Upanishad) và Phệ
Đàn Đa (Vedanta) là tìm về một cội nguồn siêu việt không những
có ảnh hưởng đến tư duy con người mà còn tác động đến sự vận
hành của thế giới hiện tại. Dầu kinh điển Vệ Đà cho rằng con
người không thể tư duy, nhận thức, hay mô tả bản chất của cội
nguồn ấy, nền văn học Vệ Đà cùng các tư tưởng gia thuộc truyền
thống này, xưa cũng như nay, đã cố gắng suy tư, diễn tả trạng
thái ấy bằng nhiều cách khác nhau. Theo khuyng hướng đó, người
ta đã đề xuất những lý thuyết và phương pháp thực nghiệm khá đa
dạng. Thông thường, quá trình của phương thức ấy là thông qua
những kinh nghiệm thường nhật của cá nhân, con người bắt đầu suy
diễn về một nguyên tắc phổ quát, không đối đãi, siêu thế, vĩnh
cửu, bất biến, không thể thấy, nghe, tư duy…hay diễn đạt được.
Tất cả những đặc tính tích cực trên của nguyên lý phổ quát cho
thấy khả năng tư duy của con người rất hạn cuộc và những nỗ lực
suy tư về các lĩnh vực khác nhau của con người trên các phương
diện nhận thức, siêu hình, bản thể, ngôn ngữ hay đạo đức học đều
mang tính tương đối, giới hạn. Đây là lý do vì sao hệ thống tư
tưởng Áo Nghĩa Thư cũng như các giai đoạn sau đó có khuynh hướng
huyền bí mà ở đó lối tư duy, diễn dịch và hành vi của con người
đều chìm vào thế giới u huyền, trầm lặng. Trên bình diện triết
học, khuynh hướng này được xem như là một hình thái chủ nghĩa
duy tâm tuyệt đối mà phương thức chính là đưa ra một tư tưởng
căn bản, rồi cố công suy nghiệm về nó và cuối cùng dùng phương
tiện luận lý và phê bình mang tính kinh điển để thiết lập một
thực tại siêu việt, như thật. Tư tưởng căn bản đó không gì khác
hơn là bản ngã (Atman) trong tâm thức con người.
Đối với các nhà Advaita Vedanta (Phái Bất Nhị, hình thành vào TK
VII TL, giáo nghĩa y cứ vào Áo Nghĩa Thư)[1, tiêu chuẩn chính
yếu của thực tại tối hậu là tính vĩnh cửu bất biến của nó. Đó là
một hiện hữu thanh tịnh, độc lập, là tâm thức thuần tịnh, là
niềm vui tối thượng, là chân lý muôn đời, là tri thức siêu thế
và là sự bao la vô ngại. Bất cứ kinh nghiệm hay phán đoán nào mà
về sau bị loại bỏ và đối lập với giai đoạn ban đầu đều là những
kinh nghiệm hay phán đoán sai lầm, không thể dẫn đến thực tại
tối hậu. Chẳng hạn như khi nhìn một sợi dây thừng dưới ánh sáng
mờ ảo, người ta thường lầm tưởng đó là con rắn. Nhưng khi có đủ
ánh sáng, ý niệm về con rắn liền biến mất và tất nhiên ý niệm đó
hòan toàn sai lầm và vô giá trị. Sự nhận thức lầm lẫn trên là hệ
quả của bốn nguyên nhân sau: tính chủ quan của nhận thức; thiếu
điều kiện ngoại tại; tâm thức bị tác động bởi ý niệm sai lầm; và
khả năng phán đoán thiếu chính xác. Theo các nhà Advaita không
những con rắn trong ý niệm không thực mà ngay cả sợi dây thừng
cũng không thực, vì rằng nếu tách dây thừng ấy ra ta sẽ có nhiều
sợi dây nhỏ. Bản thân những sợi dây nhỏ đó cũng không thực vì
khi tách chúng ra ta sẽ được nhiều sợi tơ, và như thế, danh và
tướng của những sợi dây kia hòan toàn mang tính tương đối và hữu
hạn. Quá trình triệt tiêu trên là một trong những đặc tính vốn
có của các pháp trong vũ trụ và ngay cả trong giấc mộng.
Các nhà Advaita cho rằng bản ngã của con người thường tồn tại
trong bốn trạng thái sau: (1) trong lúc thức (jàgrat); (2) trong
giấc mộng (svapna); (3) trong giấc ngủ bình yên (susupti); (4)
trong tâm thức thanh tịnh( turìya).[2
Trong khi thức, các giác quan bên trong và ngoài cùng hoạt động
với sự tác ý của thức.
Trong giấc mộng, chỉ có các giác quan bên trong hoạt hiện và tạo
tác, thức có tác ý, nhưng bản chất của đối tượng bị tác ý trong
trạng thái này khác với trong khi thức. Dù các căn bên ngoài
không hoạt động, nhưng thức hay bản ngã lại hoạt hiện một cách
tự do và chính nó đã tạo ra một thế giới mới, một phần nhờ những
ấn tượng được lưu lại trong lúc thức, phần khác tự bản thân nó
tạo ra những đối tượng riêng thông qua sự giao thoa giữa nó và
thế giới xung quanh. Song những tạo tác này sẽ biến mất khi con
người thức dậy. Những sự kiện, hình ảnh, âm thanh trong giấc
mộng được xem là không thực vì rằng trên thực tế chúng có giá
trị hạn hữu hơn những sự kiện, hình ảnh, âm thanh trong khi thức.
Trong trạng thái của giấc ngủ bình yên, bản ngã không dấy khởi
ước muốn nào cả. Đây là trạng thái hợp nhất, nghĩa là những tác
ý và đối đãi của thức trong hai trạng thái trước được hòa quyện
vào nhau và tạo nên một hợp thể của tri thức và niềm vui. Sở dĩ
bản ngã không khởi lên tạo tác nào trong trạng thái này là vì vô
minh (advidya) đã kìm chế những dao động cùng những chức năng
chia chẻ giữa chủ thể và đối tượng của bản ngã bằng cách tạm
thời che phủ nó. Cũng ví như trong đêm thâu, vạn vật bị bao trùm
bởi một màu đen sẫm và không ai có thể phân biệt, nhận ra các sự
vật trong màn đêm ấy. Đây cũng là trạng thái mà bản ngã có khả
năng tự chiếu soi.
Một nghi vấn được đặt ra tại đây là làm sao tri thức và niềm vui
có thể xuất hiện trong trạng thái này, nơi mà vô minh đang che
phủ mọi thứ, ngay cả bản ngã? Samkara[3, tổ sư thứ hai của phái
Advaita, giải thích rằng trong trạng thái này, bản ngã là chủ
thể, nó có khả năng nhận thức được quá khứ, hiện tại và tương
lai, và vì thế, đó là trạng thái của trí tuệ hay hiểu biết (pràjna).
Chính lối lý giải này của Samkara đã vô tình đã tạo ra những
tương phản và bất cập trên phương diện nhận thức, bản thể và
khái niệm vì rằng để đạt được trạng thái ngủ say, bản ngã phải
đình chỉ khả năng tác ý, sáng tạo đối với thế giới xung quanh,
với các chức năng bên trong lẫn ngoài, và do đó nó sẽ quên đi
quá khứ và không khởi lên khát vọng về tương lai được.
Truyền thống Áo Nghĩa thư cũng cho rằng giấc ngủ an lành có được
là do sự mệt mỏi của thể xác chứ đó không phải là trạng thái tự
nhiên của tâm. Cũng như một con chim, sau một ngày dài mệt mỏi
vì bay lượn trên những cánh đồng xa thẳm, đêm đến lại trở về tổ
ấm để nghỉ ngơi. Ở đây, con chim được ví như tâm thức hay bản
ngã. Tuy nhiên các triết gia Vệ Đà hầu như đã không hoặc không
thể giải thích được sự biến mất của thức trong trạng thái kiệt
sức, hôn mê cũng như sự liên hệ giữa thức có tác ý trong khi
thức và mơ với thức không tác ý trong giấc ngủ an lành.
Trong trạng thái tâm thức thanh tịnh, khả năng an tịnh, hài hòa,
tự chiếu soi của bản ngã được thể hiện trọn vẹn. Đây được xem là
cảnh giới giải thóat tối hậu của hành giả, dù vị ấy đang sống
giữa thế giới phàm tục.
Như thế, theo hệ thống Áo Nghĩa Thư, giấc mộng là một trạng thái
tồn tại của bản ngã mà ở đó nó có khả năng tự do tạo ra những
đối tượng nhận thức, nhưng hầu như những đối tượng này đều là
huyễn ảo.
Trong khi truyền thống Áo Nghĩa Thư đề cao vai trò của bản ngã
và xem đó là nền tảng của mọi hiện tướng thế gian thì giáo lý
Phật giáo lại phủ nhận sự hiện hữu của cái gọi là bản ngã bất
biến, là cội nguồn của mọi hành vi tâm lý và nhận thức của con
người. Khác với Phật giáo, các nhà duy tâm thường viện dẫn những
sự kiện trong ký ức, nhận thức, ý thức, hay trong kinh nghiệm
khổ vui…và cho rằng chúng chỉ được giải thích trọn vẹn khi y cứ
vào một chủ thể bất biến như bản ngã, đức Phật và các đệ tử của
Người đã phân tích một cách thấu đáo để khẳng định tính giả ảo
của khái niệm về bản ngã đó. Thứ nhất, Ngài chỉ ra rằng những
niềm tin về một thực thể như thế chẳng qua là sản phẩm của những
trào lưu tôn giáo, văn hóa, nhận thức mà cơ sở y cứ là những bộ
kinh cổ xưa được huyền ký và truyền thừa qua nhiều thế hệ. Thứ
hai, người ta thường tin rằng những bộ Thánh kinh như thế được
hình thành chỉ sau khi những người ghi chép chúng đã thể nghiệm
được chân lý từ bản ngã của mình. Bên cạnh đó tín đồ Vệ Đà tin
rằng những bộ kinh như thế hàm chứa những xác chứng chân thật và
những tri thức có giá trị vĩnh cửu mà nhờ đó những thực thể bất
biến như bản ngã (atman) và phạm thể (brahma) được hiển hiện.
Đối với Phật giáo, những niềm tin hay những kinh nghiệm được
tuyên bố như thế không những hòan toàn mang tính phỏng đoán mà
chúng còn rất nguy hiểm vì đó là mầm mống của những căn bệnh
tinh thần trầm kha, những khổ đau vô tận đối với loài người một
khi họ không nhận chân được đâu là chân lý đích thực.
Phật giáo đề cao vai trò của lý trí trong việc thẩm định niềm
tin và xác chứng giá trị của thực tại trên nền tảng của giáo lý
Duyên Khởi. Theo đó, toàn bộ các hiện tượng trong cuộc sống của
con người như: nhân cách, tâm hồn, tri thức, ngôn ngữ, sự tỉnh
thức, giấc mộng hay giấc ngủ bình yên đều là những hoạt hiện của
những cơ chế tâm sinh lý luôn vận hành liên tục và đó là một quá
trình lan tỏa do tác động của những khuynh hướng bẩm sinh.
Trong văn học Phật giáo, chúng ta không thấy có nơi nào cho rằng
giấc ngủ bình yên là một trạng thái của bản ngã. Phật giáo cho
rằng giấc ngủ là một hoạt động trong cơ chế tâm sinh lý của con
người và mọi khía cạnh siêu hình của con người và thế giới đều
tùy thuộc vào cảm thọ và những tác dụng của nó khi các căn tiếp
xúc với trần cảnh. Trong quá trình tiếp xúc giữa hai phạm trù đó,
ngã và ngã sở sanh khởi, và rồi các yếu tố phụ thuộc khác như
niềm tin mù mờ về bản thể siêu hình, những tư duy mông lung,
những ước muốn hoang tưởng… bắt đầu nảy sinh:
“Chư Hiền, do nhơn con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên.
Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ.
Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy
tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn,
một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các sắc pháp
do con mắt nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại”[4
Mọi nỗ lực của Phật giáo là giúp con người nhận ra vị thế của
mình với chánh kiến để không rơi vào những hý luận vọng tưởng
như đoạn kinh trên đã dạy.
Hệ thống tư tưởng Trung Quán đã phân tích cặn kẽ rằng vạn pháp
đều sanh khởi, tồn tại, biến dị và hoại diệt trên nền tảng của
nguyên lý duyên khởi. Một nhận thức của con người được hình
thành là do sự kết hợp giữa ba yếu tố: căn, trần và thức. Quá
trình hình thành này không đòi hỏi đến sự tồn tại và tác động
của bản ngã. Bản ngã thực ra chỉ là một qui ước được đặt ra nhằm
phục vụ cho mục đích lý luận. Có những triết gia vì muốn bàn đến
thực tại siêu hình nên đặt ra những qui ước như thế để dễ bề
tranh luận. Phật giáo không đồng thuận với những lối tư duy như
thế vì chúng phần lớn mang tính suy diễn, võ đoán, vô căn cứ.
Trong chương thứ III của Trung Luận, Ngài Long Thọ đã khẳng định
như sau:
“Mắt không có khả năng thấy chính nó và hình dáng nó, mà nếu
không có khả năng tự thấy thì làm sao có thể thấy được vật khác.”5
Theo ý nghĩa của bài kệ trên và cũng theo Minh Cú Luận - bản sớ
giải Trung Luận của ngài Nguyệt Xứng, khả năng thấy của bản ngã
là một ý niệm mơ hồ, xa vời với nhãn căn trong hiện tại của hành
giả. Ngài Long Thọ6 cho rằng để thiết lập một vị thế độc lập cho
một thực thế bất biến như bản ngã thì điều kiện tiên quyết là
bản ngã đó phải được chứng minh là tồn tại mà không cần đến các
hoạt động như thấy, nghe, cảm thọ…nhưng đây là điều không thể
thực hiện được. Theo luận sư Thế Thân, ý niệm về bản ngã phát
sinh từ tâm ô nhiễm dưới tác động và dẫn dắt của bốn yếu tố ngã
si, ngã mạn, ngã ái và ngã kiến (Biện Trung Biên Luận). Cũng như
các luận sư Trung Quán, Ngài cho rằng chính những ý niệm chiếm
hữu của tâm đã tạo ra khái niệm bản ngã. Các ý niệm ấy hoạt hiện
mà không cần sự tác động của các pháp bên ngoài, đôi khi đối
tượng của chúng là những chủng tử còn lưu lại trong tiềm thức.
Nhưng những ý niệm như thế vốn không thực thì làm sao có một bản
ngã có thực được.
Từ những khảo sát ngắn gọn trên về quan điểm của Phật giáo đối
với khái niệm bản ngã chúng ta cùng tìm hiểu ý nghĩa của ẩn dụ
giấc mộng cũng như quan điểm về giấc mộng trong Đạo Phật.
Ngài Phật Âm, trong tác phẩm Manorathapurani7 (Luận giải Kinh
Tăng Chi), giải thích rằng khi một người nằm mộng, tâm người ấy
không có chánh niệm, chưa được thuần hóa, chưa được nhiếp phục,
còn nhiều vọng động. Con người thường hồi tưởng lại giấc mộng
khi chúng là những điềm mộng lành hay dữ, còn những giấc mộng
xuất hiện một cách tự nhiên, không thuộc hai phạm trù trên thì
sẽ không còn lưu lại trong ký ức. Trong Luật tạng Nam Truyền8,
đức Phật dạy Tôn giả A Nan rằng khi một người ngủ mà tâm không
chánh niệm, còn dao động, còn ô nhiễm thì giấc mộng dữ sẽ xuất
hiện trong giấc ngủ của người ấy. Hầu hết các bản văn Pali khi
đề cập đến giấc mộng (Di Lan Đà Vấn Đạo, Manorathapurani, Kinh
Bổn Sanh) đều nhìn nhận rằng có bốn nguyên nhân dẫn đến giấc
mộng: (1) thân bị mệt mỏi do sự cáu gắt; (2) do tác động của
những kinh nghiệm đã xảy ra trước; (3) do một giác quan siêu
thức; (4) do linh tính báo trước.
Na Tiên Tỳ Kheo trong Kinh Di Lan Đà Vấn Đạo (bản Pali)9 đã giải
thích khá chi tiết về giấc mộng. Theo Ngài, tâm thức của con
người sẽ lắng dịu và không hiện khởi trong hai trường hợp: trong
giấc ngủ sâu và khi bị hôn mê. Có sáu loại người thường hay nằm
mộng: (1) người hay cáu gắt; (2) người lạnh lùng; (3) người hay
lo lắng; (4) người bị ảnh hưởng thần thánh; (5) người hay có
thói quen nằm mộng; và (6) người hay gặp điềm báo. Đối với những
ai mà tâm được an tịnh, trong sáng, tự tại và hoan hỷ thì giấc
mộng với những điềm báo như thế sẽ không xảy ra với họ. Khác với
lối giải thích của Na Tiên Tỳ kheo, ngài Phật Âm cho rằng giấc
mộng có thể xảy ra đối với bất cứ ai dù đó là kẻ trí hay người
mê.
Luận Đại Tỳ Bà Sa 10 đưa ra một cách lý giải khác về nguyên nhân
giấc mộng. Theo quyển 37 của bộ luận này, giấc mộng xảy ra vì
một trong năm nguyên nhân sau: (1) do tha nhân dẫn dắt, như là:
chư thiên, tiên nhân, quỉ thần, nhà chú thuật…;(2) Do sự việc đã
từng trải, nghĩa là trước đây đã từng thấy, nghe, hiểu biết hoặc
từng làm những việc như thế và bây giờ chúng lại hiện ra trong
giấc mộng; (3) Do việc sắp xảy ra, nghĩa là sắp có các việc lành
hay dữ xảy ra và dấu hiệu của những sự việc ấy xuất hiện trong
giấc mộng; (4) Do phân biệt, nghĩa là vì hay suy tư, khao khát,
tìm cầu, lo âu về những điều gì đó, người ấy liền mộng thấy
chúng;(5) Do bệnh tật, nghĩa là do tứ đại bất an, ngũ uẩn không
điều hòa và người ấy mộng thấy bản chất của uẩn nào bị thóai hóa.
Cũng theo bộ luận này hành uẩn đóng vai trò quan trọng đối với
giấc mộng. Trong ba cõi dục giới, sắc giới và vô sắc giới, giấc
mộng chỉ xảy đến với những chúng sanh trong cõi dục mà thôi.
Kinh Phụ Tử Hiệp Tập, quyển XVII 11, có nói rằng ngoài tác động
của sáu giác quan trước khi ngủ, có ba nguyên nhân chính ảnh
hưởng đến giấc mộng thông thường của con người, đó là: tham, sân
và si.
Một điểm khác đáng chú ý trong Đại Tỳ Bà Sa là bộ luận này đã
nhìn nhận rằng: giấc mộng vẫn xảy đến đối với những vị đã chứng
từ quả Dự-lưu đến A-la-hán, Độc-giác, duy chỉ có Thế Tôn là
không còn mộng. Vì rằng giấc mộng giống như điên đảo. Đức Phật
đã đoạn trừ tất cả tập khí điên đảo nên không có mộng (Thánh giả
trung, tùng Dự Lưu quả cập chí A La Hán Độc Giác diệc giai hữu
mộng. Duy trừ Thế Tôn. Sở dĩ giả hà? Mộng tợ điên đảo, Phật ư
nhất thiết điên đảo tập khí giai dĩ đoạn tận, cố vô hữu mộng)12.
Trong quyển thứ XV của Kinh Đại Bảo Tích13, đức Phật cũng đã
giải thích cho Kim Cang Thôi Bồ tát về một trăm lẻ tám giấc mộng
của các vị Bồ tát.
Nhìn chung, ngoài việc đề cập đến nguyên nhân của giấc mộng, các
văn bản tiền Đại thừa còn nói đến một đặc trưng chung của giấc
mộng là điềm báo, chẳng hạn như giấc mộng của hòang hậu Ma Da (Duyên
Khởi Luận, Bộ Đại Sự), của tôn giả Usabha (Trưởng Lão Tăng Kệ),
của Bồ tát Sĩ Đạt Đa trước khi thành đạo (Kinh Tăng Chi III),
hay mười sáu giấc mộng của Quốc vương nước Kosala (Kinh Bổn Sanh)…Trong
kinh tạng Nikaya, Đức Phật thường khuyên các đệ tử của Ngài nên
xa lánh những hình thức tế lễ, bói toán, đoán mộng của các Bà La
Môn, xem giấc mộng như huyễn hóa và phải tinh tấn hành thiền để
hướng đến sự xả ly và giải thóat tối hậu.
Trước khi tìm hiểu giấc mộng trong truyền thống Đại thừa, chúng
ta cùng điểm qua những cách giải thích của các nhà tâm lý và
phân tâm học hiện đại về giấc mộng.
Các nhà tâm lý học hiện đại định nghĩa rằng giấc mộng là những
kinh nghiệm, hình ảnh, tư tưởng và cảm thọ ảo giác trong khi ngủ.
Sigmund Freud đã để tâm nghiên cứu về bản chất của tâm thức
trong giấc mộng và cuối cùng ông đi đến kết luận rằng: giấc mộng
biểu thị cho sự lùi dần đối với hình thái chức năng tâm thần ban
đầu14. Giống như Freud, N. Kleitman cũng cho rằng giấc mộng là
biểu hiện của tư duy cấp thấp. Vào khoảng năm 1930, nhà tâm lý
học Hans Berger 15đã phát minh ra máy ghi điện não đầu tiên làm
công cụ hữu hiệu cho công cuộc nghiên cứu về giấc ngủ và giấc
mộng. Với công cụ này, các nhà tâm lý đã tiến hành nhiều cuộc
thí nghiệm và sau cùng họ đưa ra kết luận rằng giấc ngủ là một
hiện tượng hoạt động rất nhịp nhàng và nhịp điệu của nó thay đổi
tùy theo sự biến đổi của ý thức, thần kinh và cơ thể. Trong khi
ngủ, giấc mộng có thể xảy ra bất cứ lúc nào và nó trở nên mạnh
mẽ và rõ ràng hơn vào cuối đêm hay lúc trời sáng. Giấc mộng là
phần chuyển tiếp của giấc ngủ và nó là một hiện tượng rất bình
thường đối với mọi người. Điều này rất khế hợp với quan điểm của
luận sư Phật Âm khi Ngài cho rằng giấc mộng thường trở nên mạnh
mẽ hơn vào canh cuối trong đêm hay lúc bình minh và nó xảy ra
với bất cứ người nào.
Tiến sĩ Goodenough và các đồng nghiệp của ông tại trung tâm Y
khoa, Đại học Quốc Gia New York đã tiến hành nghiên cứu giấc ngủ
của hai nhóm người: một bên là những người thường nằm mộng, một
bên là những người chưa bao giờ nằm mộng. Sau một thời gian dài
tìm hiểu, ông đã khám phá ra rằng những người “chưa bao giờ nằm
mộng” kia thực ra đã không nhớ lại rõ những gì xảy ra trong giấc
ngủ vì những giấc mộng của họ đã không để lại ấn tượng sâu đậm
nào trong ký ức của họ. Kết luận này cũng hợp với lối giải
thích của ngài Phật Âm: những giấc mộng xuất hiện một cách tự
nhiên, không thuộc hai phạm trù thiện hay ác sẽ không còn lưu
lại trong ký ức của người nằm mộng. Hầu hết các nhà phân tâm và
tâm lý học như Freud, Jung, Winnicott… đều khuyên con người nên
sống thảnh thơi, điều độ và hoan hỉ để giấc mộng hay giấc ngủ
được, tự tại và an lành hơn.
Khi bàn đến vạn hữu trong thế gian, các kinh điển Đại thừa (kinh
Bát Nhã, Pháp Hoa, Kim Cang, Thập Địa…) thường dùng ẩn dụ chú
thuật (marici), huyễn hóa (mara) hay chiêm bao (svapna) để chỉ
tính giả ảo, vô thường của các pháp. Cuối phẩm thứ VII của Trung
Luận, Bồ tát Long Thọ, sau khi giải thích về ba đặc tính sanh
khởi, tồn tại và hoại diệt của các pháp hữu vi đã đi đến kết
luận như sau:
“Sanh, trụ, diệt đã bất thành cho nên không có pháp hữu vi, mà
pháp hữu vi đã không thì lý do gì lại có pháp vô vi?
Giống như huyễn hóa, như chiêm bao, như thành Càn Thát Bà. Tướng
sanh, trụ, diệt đã được đề cập cũng như thế.”16
Có thể nói ẩn dụ và ý nghĩa về giấc mộng được đề cập khá chi
tiết trong văn học của Du Già hay Duy Thức Tông và những kiến
giải của các luận sư này về những vấn đề trên đôi khi khác biệt
với truyền thống Trung Quán.
Trong Nhiếp Đại thừa Luận17, ngài Vô Trước nói rằng ẩn dụ về
giấc mộng được dùng để giải thích tính đa dạng trong kinh nghiệm
nhận thức của con người. Những nhận thức do sáu căn tiếp xúc với
sáu trần đều huyễn hóa, không thật. Điều này cũng được giải
thích trong quyển thứ VIII của Thành Duy Thức Luận18 như sau:
tuy từ vô thỉ đến nay, Tâm và Tâm sở pháp đã có thể duyên tướng
phần, kiến phần của chính mình, nhưng vì ngã chấp và pháp chấp
thường hoạt hiện với chúng, cho nên các hư vọng phân biệt phát
sinh giống như các huyễn sự, rán nắng, cảnh mộng, bóng trong
gương, trăng dưới nước…do biến hóa mà thành, chẳng phải thật có.
Những ý niệm phân biệt như thế được hình thành trên nền tảng của
bản ngã, mà bản ngã thực ra chỉ là một vọng tưởng của con người,
nên chúng cũng không thực có.
Theo tâm lý chung, con người thường khởi lên những ý niệm vui
thích hay ghét bỏ khi tiếp xúc với các thuận cảnh hay nghịch
duyên bên ngoài, nhưng các nhà Duy Thức cho rằng các pháp bên
ngoài là không thực mà đã không thực thì làm sao có những cảm
thọ khác nhau như thế. Lý giải điều này, trong khi chú giải Kinh
Lăng Già19, ngài Thế Thân giải thích rằng cũng như trong giấc
mộng, chúng ta hay khởi lên những ý niệm thích hay không thích
dù các đối tượng nhận thức ấy là không thực. Cũng thế, trong lúc
thức, chúng ta dấy lên những nhận thức khác nhau dù không có một
pháp nào là thật cả. Do vậy, có thể hiểu rằng giấc mộng không
chỉ xảy ra trong lúc ngủ mà ngay cả khi thức.
Cuộc sống hiện tại quả là một giấc chiêm bao đối với ai còn
nhiều vọng tưởng, vô minh và chấp thủ. Nietzsche, một triết gia
nổi tiếng của Đức, cũng cho rằng giấc mộng không chỉ xảy ra khi
ngủ: “Ôi! những con người già nua này biết rằng nên nằm mộng như
thế nào, vì không cần tìm đến giấc mộng trong khi ngủ”20 Đối với
ông, mộng là một hình thái của tư duy, là sự sáng tạo những hình
ảnh và biểu tượng ngưng đọng liên quan đến những cảm thọ, niềm
vui hay những mâu thuẫn chưa trọn vẹn trong khi người ta đang
thức, và những hình ảnh như thế có thể xảy ra trong lúc thức.
Khác với cách lý giải của trường phái Duy Thức, Trung Luận diễn
dịch rằng không những các pháp trần là không thực mà ngay cả các
hoạt động thân và tâm của con người cũng như các pháp Bất Tương
Ưng Hành cũng đều như mộng. Luận sư Long Thọ và các môn đồ của
Ngài đều cho rằng nhân và pháp, chủ thể hay đối tượng trong thế
giới phàm tục đều là giả ảo. Ẩn dụ giấc mộng được dùng để giải
thích tính không thật của những nhân tố trên và trong ý nghĩa đó
các ẩn dụ khác đều cũng hàm ý như vậy.
Trên một phương diện khác, khi giải thích về giấc mộng, các nhà
Duy Thức cho rằng các pháp bên ngoài đều do thức tạo ra. Thức
này không khác gì thức trong mộng. Những đối tượng của thức,
những cảm thọ khổ vui trong mộng là không thực và sẽ lập tức
biến mất khi ta thức dậy, nhưng thức trong giấc mộng là thực có.
Cũng thế các pháp ngoại tại tuy không thực, nhưng thức đã tạo ra
và chấp thủ chúng lại thực sự tồn tại.
Quan điểm về sự tồn tại thực sự của thức trong khi nằm mộng của
các nhà Duy Thức thường bị các nhà Trung Quán bác bỏ. Trong
chương thứ năm của Trung Quán Tâm Luận, ngài Thanh Biện21, một
luận sư nổi tiếng của phái Trung Quán, không tán đồng quan điểm
rằng thức trong giấc mộng đã tạo ra đối tượng riêng. Theo Ngài,
khi một người nằm mộng, tuy nhục nhãn không hoạt động, nhưng anh
ta nắm bắt được đối tượng bằng trí nhãn (jnànacaksus) của mình,
trong trường hợp này thức trong mộng được hình thành từ các đối
tượng bên ngoài. Ngài Nguyệt Xứng22 khi viết Nhập Trung Luận
cũng cho rằng trong thực tế, không có một thức nào tồn tại trong
giấc mộng. Nếu cho rằng thức trong mộng là thực vì khi thức dậy
người ta nhớ đến những ấn tượng trong mộng thì những đối tượng
trong mộng cũng phải thực có vì khi thức dậy ta còn nhớ đến
chúng. Những lối phê bình như thế của các luận sư không nhằm mục
đích đả phá lẫn nhau mà là hỗ trợ nhau trong lối suy diễn và lập
luận của mình, vì rằng tuy cách diễn dịch khác nhau nhưng chung
qui cả hai truyền thống trên đều hướng về một đích chung trên
nền tảng những nguyên lý căn bản của Phật giáo.
Bản Duy Thức Nhị Thập Tụng 23được mở đầu với bốn vấn nạn được
đặt ra cho các nhà Duy Thức là: (1) Tại sao quá trình nhận thức
đối tượng chỉ xảy ra tại một nơi; (2) một thời điểm mà không
phải bất cứ lúc nào và ở đâu? (3) Nhận thức sai lầm về một đối
tượng không thực, như là mặt trăng đôi, chỉ xảy ra đối với người
bị bệnh mắt. Ngược lại nhận thức về một vật bình thường lại xảy
ra đối với mọi người đang có mặt. Vậy khi chưa xác định về giá
trị hiện thực của các đối tượng bên ngoài, ta sẽ giải thích hiện
tượng này ra sao? (4) Những gì trải qua trong giấc mộng đều
không thực, như khi nằm mộng thấy bị rắn cắn, những lúc thức dậy
chất độc của rắn không còn tác dụng nữa. Song đối tượng của các
giác quan trong khi thức thì có tác dụng thực sự, như khi chạm
vào lửa ta sẽ cảm thấy nóng, vậy đâu là sự khác nhau giữa hai
loại đối tượng trong mộng và khi thức. Để trả lời cho các vấn
nạn (1), (2), và (4) ngài Thế Thân đã mượn ví dụ giấc mộng và
giải thích rằng trong khi nằm mộng chúng ta chỉ có thể nhận thức
được đối tượng như một ngôi làng, một khu rừng trong một thời
điểm và một nơi cố định mà thôi. Ý thức trong khi thức cũng chỉ
có khả năng như vậy. Còn như đối tượng trong khi thức có tác
dụng thực sự là vì chúng là những ấn tượng được tích tập từ vô
thỉ.
Theo Luận sư Thế Thân, những hình ảnh trong mộng tuy không thực
nhưng chúng lại là những biểu tượng rất ý nghĩa cho trạng thái
thức vì nhờ chúng, con người có thể thức tỉnh được tính vô
thường, ảo hóa của các pháp, dù đó là pháp trong giấc mộng hay
khi thức. Nhưng tại sao có nhiều người sau khi thức dậy, biết
các pháp trong mộng là không thực, nhưng họ vẫn chấp chặt rằng
các pháp trong khi mình đang thức là thực có? Khi trả lời cho
nghi vấn này, ngài Thế Thân nhấn mạnh rằng chỉ sau khi thức, con
người mới biết rằng mình đã nằm mộng. Tương tự như thế, chỉ khi
nào thực sự giác ngộ thì chúng ta mới nhận ra, mới nhớ lại rằng
những gì mình đã thấy, đã nghe, đã cảm thọ trước đây, trong khi
thức đâu có khác chi ảo ảnh trong mộng. Trong tác phẩm Nghiên
Cứu Kinh Lăng Già, D.T. Suzuki cũng đã viết: “Khi chúng ta không
thật sự hiểu vạn pháp như đang là, chúng ta đã tạo nên sự tách
biệt giữa chủ thể và đối tượng, và như thế đã tạo ra một thế
giới đối đãi “Nếu không còn vọng phân biệt, hành giả sẽ thật sự
thấy được đức Phật”. Khi còn trong mộng, chúng ta không nhận ra
rằng mình đang nằm mộng, mình là nô lệ của vọng phân biệt. Chỉ
khi nào thức dậy, chúng ta mới biết mình đã lạc vào đâu. Sự suy
diễn về giấc mộng như thế là một luận cứ vững chắc để phủ nhận
tính hiện thực của thế giới bên ngoài, nhưng nó lại chẳng có tác
dụng gì cả với những ai đang còn trong mộng.”24
Qua
những khảo sát sơ lược về các quan điểm cũng như những lý giải
thuộc các hệ tư tưởng khác nhau về giấc mộng, chúng ta có thể
nhận ra rằng giấc mộng vốn là một hiện tượng tự nhiên trong cơ
chế tâm sinh lý của con người. Theo nguyên lý nhân quả nghiệp
báo, khi một người tạo những nghiệp bất thiện thì những cơn ác
mộng hãi hùng thường xảy ra trong giấc ngủ của người ấy. Ngược
lại những ai sống trong chánh niệm thuần thiện với trái tim từ
ái bao dung thì những giấc mộng đẹp, những giấc ngủ an lành sẽ
đến với họ. Khi một người điều phục, chế ngự và thuần hóa được
tâm mình bằng chánh kiến, chánh mạng, chánh nghiệp…thì người ấy,
trong khi ngủ hay thức, đều luôn sống trong niềm an lạc cao
thượng Đó là thứ tài sản vô tận mà người ấy có thể chia sẻ cho
mọi người, tài sản ấy không cần phải nắm giữ mà chẳng bao giờ
mất, càng xả bỏ thì càng được nhiều, càng cho đi thì càng tăng
thêm. Càng quán chiếu về tính ảo hóa, mong manh của giấc mộng,
người con Phật càng trân quí hơn những giây phút hiện tại, càng
tha thiết và tinh tấn hơn với lý tưởng trong sáng mà mình đang
tôn thờ và thực nghiệm.
Tài liệu tham khảo:
1 H.S. Prasad, “Dreamless Sleep and Soul: a controversy between
Vedànta and Buddhism”, Asian Philosophy, Vol 10, No 1, 2000, tr
62
2 W.M. Indich, Consciousness in Advaita Vedànta, Delhi:Motilal
Banarsidass, 2000, tr67
3 Xem H.S. Prasad, tr 64
4 Kinh Mật Hòan 18, Trung Bộ I, VNCPHVN, 1992, tr 254
5 Kalupahana, Mulamadhyamakakarika of Nagarjuna,
Delhi:M.Banarsidass, 1996, tr 133
6 Xem H.S. Prasad, tr71
7 Edwina Pio, Buddhist Psychology: A Modern Perspective, New
Delhi: Abhinav, 1988, tr 51-52
8 Sđd, 52
9 F. M. Muller, The Sacred Books of the East Vol 36, Delhi: M.
Banarsidass, 1988, tr157-161
10 A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận, Quyển 37, T27n1545, tr
193c-194a
11 Phụ Tử Hiệp Tập Kinh, Quyển 17, T11n320, tr 967a-967b
12 A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận, Quyển 37, T27n1545, tr 194a
13 Đại Bảo Tích Kinh, Quyển 15, 16, T11n310, tr 81b- 90b
14 Xem Edwina Pio, tr 53
15 Sđd, tr 52-53
16 Xem Kalupahana, tr 178-179
17 M. Hattori, “The Dream Simile in Vijnanavada Treatises”,
Indological and Buddhist Studies, Delhi: Indian Book Centre,
1982, tr 237
18 Thành Duy Thức Luận, Quyển 8, T31n1585, tr 46b-c
19 Xem Hattori, tr 237
20 J.B.Rubin, “ A Well-lived Life: Psychoanalytic and Buddhist
Contributions”, Psychoanalysis and Buddhism, Boston: Wisdom,
2003, tr 405
21 Xem Hattori, tr 239
22 Sđd, tr 239
23 Kalupahana, The Principles of Buddhist Psychology, Delhi: Sri
SatGuru, 1992, tr 173-176; Xem Hattori, tr 238
24 D.T.Suzuki, Studies in the Lankavatara Sutra, Delhi: M.
Banarsidass, 1999, tr 267-268
Source:
phatviet.net
|