Luận Khởi Tín
HT. Thích Trí Quang dịch giải
-
Source: Quảng Đức.com
--o0o---
Mục Lục
|
Ghi Sau Khi Duyệt Khởi Tín Bảng
Viết Tắt Mục Lục I. Lời Nói Đầu - (1) - (2) - (3) - (4) - (5) - (6) - (7) - (8) II. Khởi Tín Luận Dịch Giải A1. Mở Đầu B1. Kính Tam Bảo B2. Bạch Ư Nguyện A2. Thuyết Tŕnh B1. Phân Định 5 Phần B2. Thuyết Tŕnh 5 Phần Ấy A3. Hồi Hướng III. Khởi Tín Luận ChínhVăn A1. Mở Đầu A2. Thuyết Tŕnh 1. Phần Lư Do 2. Phần Chủ Thuyết 3. Phần Giải Thích 4. Phần Cách Tu 5. Phần Khuyên Tu A3. Hồi Hướng IV. Khởi Tín Luận - Bản Dịch
Của Trưởng Giả Tâm Minh Lê Đ́nh Thám Thuyết Tŕnh 5 Phần Ấy C1. Phần Lư Do D1. Nói Lư Do D2. Giải Thắc Mắc C2. Phần Chủ Thuyết C3. Phần Giải Thích D1. Phân Định 3 Tiết Mục D2. Giải Thích 3 Tiết Mục Đ1. Chỉ Thị Nghĩa Lư Chính Xác
Về Tâm Đ2. Sửa Chữa Nhận Thức Sai
Lầm Về Tâm E1. Sửa Chữa Những Ngộ
Nhận Liên Quan Nhân Ngă E2. Sửa Chữa Những Ngộ
Nhận Liên Quan Pháp Ngă E3. Sửa Chữa Triệt Để
Mọi Sự Ngộ Nhận Đ3. Phân Tích Sắc Thái Phát Huy Về Tâm
E1. Nói Tổng Quát Về Sự Phát Tâm E2. Nói Sự Phát Tâm Bằng Sự Tin G1. Nói Tư Cách Và Lư Do Và Phát Tâm Bằng
Sự Tin H1. Nói Tư Cách Và Lư Do Phát Tâm Của
Người Được Đứng Vào Chánh
Định Tụ H2. Nói Tư Cách Và Lư Do Phát Tâm Của
Người Chưa Đứng Vào Chánh Định Tụ
G2. Nói 3 Tâm Được Phát (Và 4
Phương Tiện Được Tu) G3. Nói Thành Quả Của Sự Phát Tâm
Ấy E3. Nói Sự Phát Tâm Bằng Sự
Biết Và Sự Làm E4. Nói Sự Phát Tâm Bằng Sự
Chứng G1. Nói Sự Phát Tâm Bằng Sự
Chứng (Và Hoạt Dụng Của Sự Phát Tâm Ấy) G2. Nói Sự Hoàn Tất Của Sự Phát
Tâm Bằng Sự Chứng (Tức Là Sự Phát Huy Tâm Hoàn
Toàn) C4. Phần Cách Tu D1. Nói Tư Cách Người Tu Sự Tin D2. Nói Tổng Quát Về Sự Tin, Và
Sự Tu Của Sự Tin Ấy, Mà Người Ấy Phải
Tu D3. Đặc Biệt Nói Về Sự Tu Đ1. Nói Về Thí Đ2. Nói Về Giới Đ3. Nói Về Nhẫn Đ4. Nói Về Tiến Đ5. Nói Về Chỉ Quán E1. Nói Lược Về Chỉ Quán E2. Nói Rộng Về Chỉ Quán G1. Nói Rộng Về Chỉ H1. Nói Chánh Định Chân Như H2. Nói Ma Sự Của Chánh Định Chân
Như H3. Nói Sự Khác Nhau Giữa Tà
Định Và Chánh Định H4. Nói Hiệu Quả Của Chánh
Định Chân Như G2. Nói Rộng Về Quán H1. Nói Lư Do Của Sự Quán H2. Nói 4 Sự Quán I1. Quán Pháp Tướng I2. Quán Đại Bi I3. Quán Đại Nguyện I4. Quán Tinh Tiến E3. Song Tu Chỉ Quán E4. Chỉ Quán Đối Trị D4. Chỉ Cách Đề Pḥng Thoái
Chuyển C5. Phần Khuyên Tu Chỉ Thị Nghĩa Lư Chính Xác Về
Tâm E1. Nói Tâm Có 2 Mặt E2. Nói Mặt Chân Như Của Tâm
Để Biểu Thị Thể Vĩ Đại Của
Tâm G1. Nói Về Chân Như G2. Nói Về 2 Mặt Của Chân Như E3. Nói Mặt Sinh Diệt Của Tâm
Để Biểu Thị Thể Tướng Dụng
Vĩ Đại Của Tâm G1. Nói Sinh Diệt Và Sinh Diệt Liên
Tục Để Biểu Thị Thể Tướng Dụng Vĩ
Đại Của Tâm Trong Cả 2 Lĩnh Vực Mê Và
Ngộ H1. Nói Sinh Diệt I1. Nói Nội Dung Sinh Diệt K1. Nói Tổng Quát KK1. Nói Về Tuệ Giác Và Thỉ Giác
Của Tuệ Giác KK2. Nói Về Thể Và Dụng Của
Tuệ Giác Sau Khi Hoàn Thiện Thỉ Giác KK3. Nói Rơ Thêm Về Sự Trong Sáng Của
Tuệ Giác Trước Và Sau Khi Hoàn Thiện Thỉ Giác K3. Nói Về Bất Giác K4. Đối Quán Tuệ Giác Với
Bất Giác I2. Nói Yếu Tố Sinh Diệt K1. Nói Yếu Tố Làm Cho Ô Nhiễm
(Bất Giác) I3. Nói Sắc Thái Sinh Diệt H2. Nói Sinh Diệt Liên Tục I1. Nói Tổng Quát I2. Nói Nhiễm Pháp Liên Tục Như
Thế Nào I3. Nói Tịnh Pháp Liên Tục Như
Thế Nào I4. Nói Pháp Nào Bất Diệt H1. Nói Thể Vĩ Đại Và
Tướng Vĩ Đại Của Chân Như H2. Nói Dụng Vĩ Đại Của
Chân Như E4. Chỉ Cách Từ Sinh Diệt Hội
Nhập Chân Như |
Ghi Sau Khi Duyệt Khởi Tín
Trước hết xin nói Khởi tín có 1 chữ rất quan
trọng, tôi đă cố gắng dịch mà vẫn thấy
không ổn. Đó là chữ vọng niệm hay niệm.
Chữ này nguyên tôi đă đổi ra khái niệm, nhưng
rồi sợ bị hiểu lầm, tôi phải đổi
lại dùng chữ của ngài Huyền tráng. Vọng
niệm cũng gọi là vọng tưởng, và ngài
Huyền tráng đă diểch là phân biệt. Phân biệt th́
Du dà nói, mà Vạn 34/331b trích dẫn, có 8 thứ và sinh 3
sự. Theo đó có thể nói phân biệt bao gồm tất
cả quan niệm, khái niệm, ư niệm. Ngài Huyền tráng
nói phân biệt c̣n là vô kư dị thục tuệ (cái biết
bẩm sinh hay bản năng) và chính là tầm tư (tư
duy, tư tưởng). Dầu dùng chữ phân biệt thay
cho chữ vọng niệm, nhưng tôi đă ghi chú nên
hiểu là khái niệm. Ghi chú như vậy, v́ đại
sư Thái hư và học giả Lương Khải Siêu nói
pháp là khái niệm. Chữ khái niệm này dùng để
dịch chữ vọng niệm th́ xác hơn, nhưng
như đă nói, tôi e ngại hiểu lầm nên đă dùng
chữ phân biệt của ngài Huyền tráng.
Nay xin ghi phần chính
Khởi tín cốt nói về Chân như. Nói thật khéo,
không kinh sách nào bằng. Nhưng muốn hiểu Chân như
th́ trước hết hăy nói về Tâm.
Phật học đại từ điển của
Đinh Phúc Bảo, trang 699-701, tổng quát mọi học lư
về Tâm nói có 6 thứ. Nay tôi đổi vị trí 6
thứ ấy mà tóm tắt ư chính như sau. Thứ 1,
nhục đoàn tâm, là quả tim khối thịt. Thứ 6,
tinh yếu tâm, là tinh hoa cốt lơi. Thứ 5, kiên thật
tâm, là chân như các pháp. Thứ 2, tập khởi tâm, là
thức thứ 8. Thứ 3, tư lượng tâm, là
thức thứ 7. Thứ 4, duyên lự tâm, là thức
thứ 6. Thứ 1, thứ 6 và thứ 5, Phạn tự là
hrdaya. Thứ 2, thứ 3 và thứ 4, Phạn tự thứ
tự là citta, mana và vijnapti.
Thông thường nói Tâm chỉ nói qua duyên lự tâm
(tư duy, tư tưởng). Sâu hơn chút nữa cũng
chỉ nói thấu tư lượng tâm (tự ư thức
tự ngă). Nhưng trong Phật học, kiên thật tâm
mới quan trọng. Nó là chân như (tự tánh thanh tịnh
tâm), bản thể của tất cả thứ tâm kia
(của tất cả các pháp). Chính v́ vậy mà Mật
tổng quán ngay quả tim là hoa sen, Thiền tông thấy
đương xứ tiện thị, ǵ cũng Tâm cả.
Chân như này là cái Khởi tín nói đến. Khởi tín
cho ta thấy bản thể của ta là Chân như. Chân
như ấy cực kỳ siêu việt mà lại cực
kỳ linh hoạt. Chúng ta có thể nói con người chúng
sinh phong phú bao nhiêu th́ cũng tạm đủ để
biết con người chứng ngộ phong phú bấy
nhiêu. Khối nước là khối băng chứ không chi
khác.
Trong nguyên lư tu tập, sự huân tập rất quan
trọng. Duy thức học không cho Chân như là sở huân.
Khởi tín trái lại, nói Chân như là căn bản
của sự huân tập. Luận này đem lại 2
đức tin căn bản sau đây. Một, tự tín
bản thể là Chân như. Chân như có thể năng
huân, có thể sở huân. Do vậy mà chán ưa của ư
thức rồi ra sẽ biết chán sinh tử ưa
giải thoát, mà ư chí của ư rồi ra sẽ là tinh tiến
dũng mănh ... Hai, tin biểu hiệu Chân như là Phật,
ở đâu và lúc nào cũng có bên ta, thậm chí có khi làm tôi
tớ, làm kẻ thù để ích lợi cho ta. Khởi tín
nói rằng, trong Chân như (nơi ta và nơi Phật) ta
được sống dẫu như một kẻ đui
mù mà vẫn hưởng được ánh nắng mặt
trời. Khởi tín khuyến cáo ta tu ngay vào Chân như : tu
định Chân như, suy nghiệm Chân như là siêu
việt và hoạt dụng. Lại nói nếu niệm
Phật Di đà mà suy ngẫm Chân như của Ngài th́ là
định Chân như đó.
Khởi tín đưa ta lên tột đỉnh của
sự tự tín, xác quyết rằng chúa tể của ta
chính là ta đây.
Hai mươi
lăm tháng 4, 2537.
Trí Quang
Bảng Viết Tắt
Chính: Đại tạng kinh, bản Đại chính tân
tu.
Vạn: Tục tạng kinh, bản chữ Vạn.
Lương dịch: Khởi tín luận, của ngài Chân đế
dịch vào đời Lương (Chính 32/575-583).
Đường dịch: Khởi tín luận, của ngài
Thật xoa nan đà dịch vào đời Đường
(Chính 32/583-591).
Chính văn: Chính văn của Lương dịch.
Vài điều cần ghi
(1) Khởi tín luận tôi đă dịch giải và in
năm 2493 (1949). Bản này tuy c̣n tạm dùng
được, nhưng việc làm gần 40 năm rồi
th́ không thể không làm lại.
Chính văn dịch giải lần này vẫn là
Lương dịch. Tài liệu đối chiếu là
Đường dịch. Tài liệu tham khảo th́ có
những bản chú thích đáng trọng, kể cả 1
bản chú thích Đường dịch, bản dịch
giải của trưởng giả Tâm minh (1) và bản
dịch giải cũ của tôi.
Tuy đối chiếu và tham khảo, nhưng tôi
phải quán xuyến chính văn mà tự quyết trạch
nhiều hơn.
(2) Khởi tín luận có giá trị đến nỗi
Tùng bản, học giả Nhật, nói Schopenhauer cho Áo
nghĩa thư là sản phẩm của trí tuệ tối
cao, nhưng đem Khởi tín luận so sánh với Áo
nghĩa thư th́ luận ấy hơn chứ không kém
(Lương Khải Siêu dẫn, Phật học nghiên
cứu, phụ lục 1). Lương Khải Siêu đă
cảm kích đến rơi nước mắt khi thấy
một số học giả Nhật cho Khởi tín luận
là của Tàu (coi xuất xứ mới dẫn).
Giá trị của Khởi tín luận cũng đă
khiến cho ngoại đạo Thiên chúa giáo dám mạo
nhận là sách nói về Thượng đế, và dịch
ra Anh văn một cách lếu láo theo sự mạo nhận
ấy (2) .
(3) Hiện không có tài liệu nào để thấy
luận cứ của một số học giả Nhật
là ǵ khi nói Khởi tín luận không phải của Ấn mà
là của Tàu. Th́ giờ của tôi cũng không đủ
để làm ǵ cho vấn đề. Ở đây chỉ
ghi tạm, theo văn bản thấy được,
về luận này.
Trước hết, có 1 sự kiện rất quan
trọng, đó là luận Chỉ quán đối với
luận Khởi tín. Tác giả luận Chỉ quán là tôn
giả Tuệ tư, có niên đại 515-577; luận
Khởi tín có niên đại 553. Luận Chỉ quán rất
tôn sùng và dẫn dụng Khởi tín, sau đó là Nhiếp
luận (563). Vậy luận Chỉ quán được
viết không hơn 14 năm sau 2 luận văn này. Điều
đó chứng tỏ Khởi tín đă có, và có thật, vào
trung diệp thế kỷ 6. Những kẻ biện
ngụy vể Khởi tín, trong đó có Lương Khải
Siêu, rất có thể đă không đọc đến
luận Chỉ quán. Riêng Lương Khải Siêu đă có cái
lỗi to lớn tương tự, khi biện ngụy
về kinh Tứ thập nhị chương mà không
thấy đọc đến bản văn kinh này của
chính Đại tạng.
Luận này, lời tựa Lương dịch nói tác
giả là Mă minh đại sĩ, ngài Chân đế dịch
năm 553 (Chính 32/575). Nhưng Chính 49/99 nói năm 550(?) ngài
Chân đế dịch luận này, cùng năm sớ giải
thành 2 cuốn. Lời tựa Đường dịch
cũng nói tác giả là Mă minh đại sĩ, ngài Thật
xoa nan đà dịch lại năm 699 (Chính 32/583) (3) .
Cần ghi thêm rằng đại sư Tuệ khải,
người cọng tác và viết tựa Lương
dịch, đă chú thích một cách đơn giản, văn
bản c̣n trong Vạn 71/263-264. Sau đó không mấy năm,
đại sư Tuệ viễn (522-592) chú thích khá phong phú,
văn bản c̣n trong Vạn 71/281-309. Rồi đại
sư Pháp tạng (?-712) tổ thứ ba Hoa nghiêm tông,
người cọng tác Đường dịch, cũng chú
thích Lương dịch, văn bản c̣n trong Vạn
71/381-435. Hăy xét những ghi tạm trên đây, khi khảo sát
gốc tích Khởi tín luận.
Ngoài ra, không thể không sơ lược nói đến
Thích ma ha diễn luận (Chính 32/592-668). Lời tựa ghi
luận ấy dịch năm 401 (Chính 32/592). Tác giả
luận ấy được ghi là Long thọ đại
sĩ. Chính văn mà luận ấy giải thích, ḍ ky? là
Lương dịch. Rồi đọc văn nghĩa th́
thấy khá đặc biệt, nên, nói một cách thận
trọng, phải có th́ giờ mới cứu xét
được luận ấy.
(4) Dưới đây là những lược ghi về Mă
minh đại sĩ, theo các tài liệu có được
(4) .
- Mă minh đại sĩ là vị thứ 11 trong 23 (hay 25)
vị thuộc hệ thống phú pháp của Phú pháp nhân
duyên (Chính 50/314), kế thừa Phú na xa tôn giả --vị
này kế thừa Hiếp tôn giả (5) . Nhưng Chính 50/183
nói Mă minh đại sĩ là đẹẤ tử Hiếp
tôn giả.
- Mă minh đại sĩ người Trung Thiên trúc.
Một trong những nơi đại sĩ hoằng pháp là
Hoa thị, cố thành của nước Ma kiệt đà.
- Thời đại của Mă minh đại sĩ là
bách kỷ 6 (hay cuối bách kỷ 5 hoặc đầu bách
kỷ 7) sau Phật nhập diệt, đồng thời
với hoàng đế Ca nị sắc ca.
- Cái tên Mă minh (Asvaghosa hay Ashvagosha) là do loài ngựa
cũng cảm được thanh nhạc của
đại sĩ mà kêu lên.
- Mă minh đại sĩ không những là nhà học
giả, nhà hùng biện, nhà trước thuật, mà
đặc biệt c̣n là một triết gia, một thi hào,
một nhạc sĩ. Giỏi nhất là điệu
nhạc lại tra ḥa la (rastrapala). Thi và nhạc
được đại sĩ kết hợp và vận
dụng thần t́nh vào sự thuyết pháp, nên nghe
đến, ngựa đói cũng bỏ ăn.
- Không thể đồng ư với sự tương
truyền rằng Mă minh đại sĩ là vị khởi
xướng đại thừa, nhưng đại sĩ là
vị hệ thống hóa học lư đại thừa.
- Chỉ một số trước thuật của
đại sĩ được dịch ra Hoa văn mà
cũng đă chứng tỏ điều trên. Một số
ấy, kê theo số hiệu của Chính như sau: 192 là
Phật sở hành tán, 201 là Đại trang nghiêm kinh
luận, 1643 là Ni kiền tử vấn vô ngă nghĩa, 1666 là
Đại thừa khởi tín luận, 1669 là Đại
tông địa huyền văn bản luận, 1687 là Sự
sư ngũ thập tụng. Ngoại trừ 1666 là luận
này, nôểi dung viết theo thể tản văn; lại
trừ số 1669 nên nói thận trọng rằng phải
cứu xét ky? những tác phẩm khác đa số tràn
đầy thi nhạc. Đặc biệt số 192 là thiên
trường ca về cuộc đời của
đức Bổn sư.
(5) Chính 50/163 ghi câu chuyện Mă minh đại sĩ
khuất phục Hiếp tôn giả thật không bằng
Chính 50/314 ghi câu chuyện đại sĩ khuất phục
Phú na xa tôn giả. Xuất xứ này nói đại sĩ
vốn chấp thật ngă. Khi biện luận với Phú na
xa tôn giả, tôn giả nói Phật pháp có chân lư phổ thông
(thế tục đế) th́ nói giả là ngă, lại có chân
lư tuyệt đối (thắng nghĩa đế) th́ nói
chắc là không. Tôn giả bảo đại sĩ hăy suy
nghĩ cho ky?rồi phản biện, đừng nói lỡ
lời. Chúng ta phải ngă ngũ ai thắng. Đại
sĩ nghĩ: chân lư phổ thông nói giả th́ không thật,
chân lư tuyệt đối nói chắc th́ không cả, vậy
là mặt nào cũng không có ǵ để nắm
được, ta nắm cái ǵ mà đánh đổ?
Đại sĩ đành khuất phục và xuất gia theo
Phật pháp.
Từ một người chủ trương thật
ngă, Mă minh đại sĩ trở thành một người
thấu suốt vô ngă, nên trong tác phẩm của đại
sĩ, số 1643 chuyên nói vô ngă qua thật tướng siêu
việt có, không (Chính 32/172-173).
Trong số 192, qua phẩm 12, đại sĩ bài xích
nhiều hơn về thượng đế, về ngă
(Chính 4/34-35). C̣n trong Khởi tín luận th́ Đường
dịch nói rơ "cập bỉ thể tướng hải
: vô ngă cú nghĩa pháp" (Chính 32/384). Câu ấy có nghĩa
Tâm th́ vô ngă. Rồi đến đ2 của c3, đại
sĩ bài xích tất cả khái niệm sâu nhất về
ngă. Do vậy, về sau, khi đại sĩ phú pháp cho
Tỳ la trưởng lăo, vị này viết Vô ngă luận có
đến cả trăm bài tụng, và phú pháp cho Long
thọ đại sĩ (Chính 50/317).
Nhưng không phải Mă minh đại sĩ chỉ
truyền đạt về Không. Tư tưởng của
đại sĩ là có cái Không chính xác và có cái Có chính xác.
Khởi tín luận ghi rơ như vậy.
(6) Nên nói sơ lược về nội dung Khởi tín
luận. Luận này cốt hệ thống hóa học lư
đại thừa, nói thẳng đại thừa là Tâm
chúng sinh. Đại thừa khởi tín không có nghĩa
nhiều rằng phát khởi đức tin đối
với đại thừa, mà nghĩa chính là phát khởi
đức tin đại thừa: đức tin tin cái Tâm
đại thừa.
Tâm đại thừa được ví dụ như
nước. Nước gồm có nước, có tính
ướt của nước, có sóng của nước.
Thể của tâm như tính ướt, tướng
của Tâm như nước, dụng của tâm như sóng.
Tự tín về Tâm ấy là như Lăng nghiêm đă nói: Ai
cũng tự biết Tâm khắp mười phương.
Thấy không gian mười phương chỉ như
chiếc lá trong ḷng bàn tay. Vũ trụ vạn hữu
đều là Tâm. Tâm bao hàm tất cả. Nh́n lại cái thân
do cha mẹ sinh ra th́ thấy chỉ như hạt bụi
trong không gian. Thân ấy c̣n hay mất chỉ như cái
bọt nổi lên hay tan mất trong biển cả (Chính
19/119). Tâm là như vậy nên thân tâm, và vũ trụ của
thân tâm, chỉ toàn là biểu hiện của Tâm. Tâm ấy
Khởi tín luận hay gọi là nhất tâm : cái Tâm
đồng nhất --giữa các pháp với các pháp, giữa
chúng sinh với chúng sinh, giữa chúng sinh với Phật
đà.
Tâm ấy th́ thượng đế hay phiếm
thần, bản ngă với tự ngă, tất cả
đều không đáng ǵ để nói với Nó. Do vậy,
với ngă, Phật giáo có túng có đoạt. Đoạt th́
phủ nhận triệt để, túng th́ như
Đại niết bàn nói, ngoại đạo nói ngă th́
chỉ như sâu ăn lá ngẫu nhiên thành chữ mà thôi
(Chính 12/378).
Đức tin đại thừa là tin vào thể
tướng dụng của Tâm. Tâm ấy vĩ đại,
Tâm ấy đưa những bâểc vĩ đại
đạt đến vị trí vĩ đại. Đó là
sự tự tín không phải như đức tin của
tôn giáo thượng đế hay ư thức về ngă. Tin
Phật, đấng thực chứng về Tâm, khai thị
Tâm ấy, và hộ tŕ để cho người khác cũng
tin tưởng và thực chứng được Tâm
ấy, tin Phật như vậy, và đức Phật
được tin như vậy, cũng là biểu hiện
của đức tin đại thừa mà không có ǵ so sánh
được.
(7) Các đoạn 5 và 6 trên đây đă cho thấy
Khởi tín luận nói ǵ. Luận ấy không những
đặc biệt đối với nguyên thỉ và bộ
phái, mà đối với chính đại thừa, luận
ấy cũng vẫn đặc biệt khi nói thẳng
rằng đại thừa là Tâm chúng ta đây. Tâm ấy là
ǵ th́ đă thấy trong 2 đoạn trên. Ở đây,
dưới cách nói cần thiết khác, cũng nói về Tâm
ấy.
Tôi vừa nói đến nguyên thỉ, bộ phái và
đại thừa. Nhưng không phải tôi công nhận
lối phân chia này. Tôi chỉ nói đến để xét 3
loại này đă nói về Tâm như thế nào.
Trong 2 loại đầu, khi nói về Tâm th́ pháp số
căn bản là 5 uẩn. Pháp số này cho thấy đó là
triết thuyết nhị nguyên (6) . Tâm trong triết
thuyết này chỉ là 6 thức. Rồi, với duyên sinh
quan cái này có th́ cái kia có, 6 thức và 6 cảnh tương
quan với nhau, và được gọi là 6 nhập (do
vậy, nói không khéo th́ duyên sinh quan là duy vật luận). Nên
ngay 6 thức cũng không thuyết minh ǵ sâu và rộng
như Duy thức học nói đến tánh cảnh,
hiện lượng, thành sở tác trí và diệu quan sát trí,
càng không có ǵ sâu và rộng như Khởi tín luận nói
về thỉ giác. Và trong 1 pháp số căn bản hơn
nữa là 4 đế th́ vấn đề khởi nguyên và
chung cục (niết bàn) cách nói cao nhất cũng chỉ nói
là những vấn đề bất kư (hay trí đáp:
vấn đề không cấp bách, không đặt ra, không
giải đáp, hay giải đáp bằng sự không
giải đáp, không đặt ra). Tâm, tức 6 thức,
kết cục là như thế. Và như thế th́ gọi
là giản dị cũng phải, dầu cố nói phiền
toái như Đại tỳ bà sa hay Câu xá luận th́
thực chất cũng vẫn rất đơn sơ.
Đại thừa cho thấy, ngay trong duyên sinh quan, Tâm
là chủ đạo, và Tâm không thể chỉ là 6 thức,
mà 6 thức và 6 cảnh của 6 thức toàn là hiện hành
của a lại da. Tâm như thế này sung măn mọi
khả năng mà giặc hay con đều là Nó: chúng sinh hay
Phật đà chỉ là nghịch dụng hay thuận
dụng của Tâm. Ấy thế cho nên chúng sinh phong phú bao
nhiêu th́ Phật đà càng phong phú hơn bấy nhiêu,
niết bàn là sự lật ngửa của cái bàn tay hết
lật úp, chứ không có nghĩa không có ǵ và không thể nói
ǵ. Tâm như vậy là đại thừa, giáo lư diễn
tả Tâm như vậy là giáo lư đại thừa, và
Phật giáo, nhất là Phật giáo của chính Phật nói,
không thể không có cái đại thừa ấy mà
được gọi là Phật giáo.
Tâm ấy mới đúng là duy tâm (7) của Phật giáo
đại thừa, và chữ Tâm ấy đừng đem
chữ tâm hay bất cứ chữ ǵ khác, của bất
cứ ai mà nói về Nó.
(8) Sau hết, nên nói sơ lược về đại
thừa, về vị trí của Mă minh đại sĩ và
Khởi tín luận, trong đại thừa ấy (8) .
Đại thừa có 4 giai đoạn, tóm tắt như
sau.
Giai đoạn đầu tiên là những tháng
đầu của bách kỷ 1 sau Phật nhập diệt,
khi Ca diếp tôn giả chỉ triệu tập một
số La hán tương đối thuần nhất
(gọi là Thượng tọa bộ), tôn giả chủ
tŕ, số La hán ấy làm chứng, A nan tôn giả tụng
lại pháp thoại của Phật, phân thành cái gọi là 3
tạng (mà thật ra chỉ là các bộ A hàm và bộ
Luật). Việc làm có chọn lấy và lựa bỏ
một số lớn pháp thoại của Phật (9) .
Một số lớn pháp thoại của Phật bị
lựa bỏ th́ trong đó có Đại sĩ tạng (10)
. Chính cách triệu tập và làm việc như vậy làm cho
một số đông hơn, gồm có các vị La hán và
chưa là La hán (gọi là Đại chúng bộ), phải
tập họp một chỗ khác, được chủ
tŕ bởi Ba sư ba tôn giả (Vaspa, 1 trong 5 vị tỷ
kheo đầu tiên), tụng lại và lấy hết
tất cả pháp thoại của Phật, trong đó có
Đại sĩ tạng (11) .
Nhưng sự tụng lại của cả 2 bộ
đều chưa chép ra văn bản. Sau đó cũng
chỉ khẩu truyền cho học thuộc ḷng. Do vậy
mà không tránh khỏi sai chậy, thêm thắt, nhất là quên
mất (12) , đă không phải không thành vấn đề.
Giai đoạn kế tiếp, đầu bách kỷ 2
hay cuối bách kỷ 1 sau Phật nhập diệt, ngài
Đại thiên (13) xuất hiện, đưa ra 5 sự
(14) mà rơ ràng là nói sự bất toàn của quả vị La
hán, lại xếp Đại sĩ tạng vào 3 tạng.
Rồi 3 tạng (dĩ nhiên là của mỗi bộ
thuộc ḷng) được 2 bộ căn bản, và các
bộ tùy thuộc sau đó, chép ra văn bản. Tây
tạng truyền thuyết Đại chúng bộ phát
triển ở địa phương Maharastra, ngữ
văn thánh điển là Maharastra; Thượng tọa
bộ lấy Ujayana làm trung tâm, ngữ văn thánh
điển là Paisaci; Chánh lượng bộ phát triển
ở một dăy Surasena, ngữ văn thánh điển là
Apabhramsa; Thuyết hữu bộ thịnh lên ở Kasmira và
Gandhara, ngữ văn thánh điển là Samkrta. Nay biết
ngữ văn Paisaci chính là ngữ văn Paly (15) ; thời A
dục vương, ngữ văn này là của Phật giáo
dăy Ujayana (16) .
Giai đoạn thứ ba là bách kỷ 6 (hay cuối bách
kỷ 5 hoặc đầu bách kỷ 7) sau Phật nhập
diệt, Mă minh đại sĩ xuất hiện, hệ
thống hóa học lư đại thừa (17) , biệt
lập hẳn với các bộ, kể cả Đại
chúng bộ, và gọi các bộ là tiểu thừa. Ngài
Huyền tráng ghi, bấy giờ đông có Mă minh, (và sau
đó) nam có Đề bà, tây có Long mănh, bắc có
Đồng thọ (không phải ngài La thập),
được gọi là 4 Vầng mặt trời. Sau
đó nữa th́ có anh em các ngài Vô trước và Thế thân.
Do vậy, học lư đại thừa cực thịnh.
Giai đoạn thứ tư, khi Mật tông thịnh hành
th́ đại thừa bị tào tạp. Nhưng đem vào
Tây tạng, giữ cho kinh sách đại thừa c̣n mà
nhiều và xác hơn cả Hoa văn, là do công đức
của các ngài Mật tông.
Trong quá tŕnh trên đây của đại thừa, có
thể nói Khởi tín luận là mở đầu mà cũng
là tổng kết, về giai đoạn thứ ba. Mọi
tư tưởng Lăng già, Bát nhă, Niết bàn, Hoa nghiêm,
Pháp hoa, Thiền, Tịnh, và cả Pháp tướng duy
thức sau đó nữa, Khởi tín luận có đủ tất
cả --có trong một sự đan kết với nhau,
xứng đáng và thừa sức để gọi đó là
một tư tưởng hệ.
---o0o---
| Mục lục
| Phần 01
| Phần
02 | Phần
03 | Phần
04 | Phần
05 |
---o0o---
Chân thành cảm ơn ĐĐ
Nhật Từ đă gởi tặng phiên bản
điện tử này
Cập nhật ngày: 01-05-2001