Ban
Phiên Dịch :
THÍCH
VIÊN ĐỨC
THÍCH QUẢNG TRÍ
Và
Cư sĩ HUỲNH THANH
NHƯ PHÁP QUÂN
MẬT TẠNG
PHẬT GIÁO VIỆT
TẬP I
VIỆN
TRIẾT LÝ VIỆT
XUẤT
BẢN
Gia
Đình
Cư sĩ Liên Hoa
Nguyễn
Hà Minh ( Nhật Minh ) - Nguyễn Báu Thanh ( Diệu
Tịnh )
Nguyễn
Hà Bảo Vương ( Diệu Ngọc ) - Nguyễn
Hà Bảo Lân ( Chánh Niệm )
Phát
tâm ấn tống cúng dường PHẬT
GIÁO VIỆT
In
lần thứ nhất tại
Phật
lịch 2543 - 1999
Kính lễ
chư Phật ba đời khắp cả mười
phương.
Kính lễ
chư Tôn Pháp Tu-đa-la tạng đà-la-ni
môn ba đời khắp cả
mười phương.
Kính lễ
chư Hiền Thánh Tăng ba đời khắp
cã mười phương…
Hôm nay,
gia đình chúng con xin đốt nén
hương lòng dâng lên Tam Bảo ở khắp
mười phương cùng Bổn tôn Đại
bi Quán-Thế-Âm và chư vị Thiên Long
Bát Bộ tác đại chứng minh cho việc ấn
tống Tập I của bộ Mật tạng bằng chữ
Việt để dâng cúng cho Phật giáo Việt
Nam.
Như lịch
sử của đạo Phật, Phật giáo
được thành lập bởi “một con
người duy nhất, một con người phi thường
trên những con người phi thường, xuất
hiện trên thế gian này vì long từ bi,
vì phúc lạc cho chư Thiên và nhân
loại” – đó là Thái-tử
Sidharta, rời bỏ cung vàng điện ngọc, vợ
đẹp con khôn để tìm chân lý
và đã đắc đạo quả dưới
cội cây Bồ-đề, hiệu là Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni. Một chiếc y, một
bình bát, hơn 49 năm- Ngài đã
vân du qua nhiều quốc độ và hoá
độ cho biết bao nhiêu người giác ngộ,
từ hàng vua chúa cho đến những người
cùng đinh như Ngài Ưu-bà-li, hoặc những
người sai lầm về chánh kiến giải
thoát như Ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên
hay Ngài Vô-não v.v.. bằng tâm Từ Bi,
Bình đăng, Trí tuệ không phân biệt
giàu nghèo, sang hèn. Mỗi bước chân
của Ngài qua nơi đâu, hoa Chánh Giác
rộ nỡ ở nơi đó.
Lời
nói: “Trong 49 năm thuyết pháp, ta chưa
từng nói lời nào”, đó
chính là chơn ngôn có sức mạnh rung
động mãnh liệt đập tan vào tâm
thức của con người làm xé tan trần cảnh,
làm hiển lộ Chân tâm. Những hình ảnh,
những lời nói, những hành động
… của Ngài đối với chúng sanh với
tấm long Từ-bi vô hạn, chính là những
bài thơ bất tận, là mật nhũ,
là nước Cam lộ dịu ngọt… và
ngài là vi Du-già Sư vĩ đại
đã thể hiện trọn vẹn nhất của
con người Mật giáo.
Sau khi Đức
Phật nhập Niết-bàn, giáo pháp của
Ngài đã lưu truyền qua nhiều quốc
gia, trong đó có Việt-Nam. Đạo Phật
đã đến Việt-Nam vào đầu thế
kỷ Tây lịch và trong suốt chiều dài
của lịch sử dân tộc Việt-Nam. Phật
giáo đã là nền văn hoá chính
nhân bản, khoan dung, giải thoát của dân tộc.
Đạo Phật có mặt ở Việt-Nam, có
nghĩa là các Tông phái của Phật-giáo
cũng đã được du nhập, nhưng
rõ ràng và phát triển mạnh nhất
là: Thiền, Tịnh và Mật.
Mặc
dù đạo Phật đã hiện diện
trên đất nước ở Việt-Nam trãi
qua gần hai ngàn năm, nhưng kinh điển của
các Tông phái vẫn chưa được
phiên dịch ra Tiếng-Việt, cả Mật và
Hiển giáo. Mãi đến thế kỷ 20, sự
dịch thuật mới bắt đầu khi có chữ
quốc ngữ, và khi có phong trào Chấn
Hưng Phật Giáo, nhưng cho đến nay vẫn rời
rạc, tập trung vào một số Kinh Đại thừa
nổi tiếng như Pháp Hoa, Di Đà, Địa
Tạng, Hoa Nghiêm, Bát Nhã v.v… nhưng
toàn bộ Tam Tạng Kinh điển vẫn còn nằm
trong chữ Hán hoặc các chữ khác như
Nhật, Tây Tạng… Đây là một sự
thiếu sót của Phật giáo Việt-Nam do nhiều
nguyên nhân. Cho nên, hoàn thành được
một bộ Tam Tạng bằng chữ Việt là tất
cả biết bao nhiêu sự chờ đợi, mong mỏi
của toàn thể Tăng Ni và tín đồ
đạo Phật.
Là một
người căn cơ thấp kém, phước mỏng
tài hèn, nhưng lại may mắn hữu duyên
tu tập, hàng trì theo Mật giáo. Theo sự
giới thiệu của Sư Cô Diệu Ngộ ( Nay
là Ni Sư Như Chơn), tôi được quen
biết Thầy Thích Viên Đức từ những
năm 1965 tại Chùa Chuẩn Đề, Chợ Lớn
và sau đó Chùa Dược Sư ở
Buôn Mê Thuột và được thầy truyền
Mật chú và Ấn pháp. Niềm an lạc từ
những sự miên mật hành trì, cũng
như tìm hiểu nghiên cứu thêm giáo
lí Phật đã từ Hiển đến Mật
giáo, ước vọng đóng góp một
chút gì cho Phật giáo Việt Nam như thực
hiện bộ Mật tạng bằng chữ Việt để
chia sẽ cho mọi người nghiên cứu, tu tập
đã nhen nhúm trong tôi từ đó.
Sau khi Thầy
Viên Đức viên tịch (1980), cơ duyên
đã đến khi chúng tôi quen biết
được Thầy Thích Quảng Tri- người
đã cùng Thầy Viên Đức, dịch
Kinh Mật từ chữ Trung hoa sang chữ Việt và
hiện đang xiển dương Mật Giáo ở
Việt Nam. Thầy trò chúng tôi đã
bàn nhau làm thế nào để phát triển,
phổ biến Mật giáo để mọi người
đều lợi lạc và giải thoát và
do sự tuỳ hỷ của Thầy, gia đình
chúng tôi đã gom nhiều Bộ Kinh ấn tống
như:
*Năm 1981: Kinh Quán
Thế Am Bồ Tát A-lợi-đà-la
Đà-la-ni gồm 11 Kinh:
1- A-lợi-đà-la
Đà-la-ni Kinh.
2-Thiên
nhãn Thiên Tý Quán-Thế-Am Bồ-Tát
Đà-La-Ni Thần chú Kinh.
3-Như
ý Bảo Châu Chuyển luân Bí mật Hiện
thân thành Phật Luân Chú Vương Kinh.
4-Thánh
Cứu độ Phật Mẫu Tu trì Pháp.
5-A-tra Phổ
câu Đại-Tướng Thượng Phật
Đà-la-ni Kinh tu hành nghi quĩ.
6-Kim Cang Thọ
mạng Đà-la-ni Kinh.
7-Bắc
Đẩu Thất tinh Niệm tụng nghi quĩ.
8-Bắc
phương Tà-sa-môn Thiên vương Tuỳ quân
Hộ pháp Chơn ngôn Kinh.
9-Công
Đức Thiên pháp.
10-Văn
Thù Sư Lợi Bồ tát Căn bản Đại
giáo Vương Kinh, Kim Xí Điểu Vương
Phẩm .
11-Đại
phương Quảng Bồ tát Tạng Văn Thù
Sư Lợi Căn bản Nghi quĩ.
*Năm 1992: Kinh Đại
thừa Trang Nghiêm Bảo Vương, kèm theo:
-Pháp tu
Quán Thế Am.
-Tiểu luận
Liên Hoa Bộ.
* Năm 1995: Kinh Bảo
Tất Địa Thành Phật Đà-la-ni, gồm
có 5 kinh:
1- Kinh Thanh Tịnh
Pháp Thân Tỳ-lô-giá-na Tâm địa
Pháp môn Thành tựu Nhất thế Tam Chủng
Tất-địa Đà-la-ni.
2-Kinh Bảo
Tất Địa Thành Phật Đà-la-ni.
3-Kinh Nhất
thiết Như-Lai Bí Mật Toàn thân Xá-Lợi
Bảo-khiếp Ấn Đà-la-ni.
4- Kinh
Như ý Bảo Châu Chuyển Luân Bí Mật
Hiện thân Thành Phật Kim Luân chú
Vương.
5-Kinh Phật
Nhãn.
- Diệu
Pháp Đại Không Thủ Ấn.
Nhưng những
bộ Kinh trên chỉ là những mảnh rời rạc
trong kho báo của Mật giáo, vì nhu cầu
tâm linh lúc đó để những người
cần nghiên cứu, có cơ duyên tu học những
pháp yếu. Nhưng đó không phải
là hoài bảo chính của gia đình
tôi. Nên, hôm nay Tập I của Bộ Mật Tạng
bằng chữ Việt
Ngưỡng Bạch Tăng bảo
khắp cả mười phương cùng
Là một
ngưòi cư sĩ, gia duyên ràng buộc,
phước mỏng nghiệp dày, nhưng vì
để báo ân Phật, ân Thầy Tổ
cùng Tứ ân, gia đình con xin phát tâm
ấn tống Tập I của bộ Mật tạng để
dâng cúng cho Phật giáo Việt Nam. Nếu
trong sự in Kinh này, có mọi sự sai sót,
lỗi lầm nào, gia đình con xin đê
đầu chí thành sám hối. Còn nếu
như có được chút phước
báu, chúng con nguyện xin hồi hướng cho Phật
Giáo Việt Nam được trường tồn,
và giáo lý của Đấng Từ phụ
được phổ biến ở mọi nơi để
mọi loài đều được an lạc.
Và nếu hoàn cảnh, phương tiện cho
phép, gia đình con sẽ tuần tự ấn tống
Tập 2, Tập 3 v.v… cho đến hết toàn bộ
Mật tạng bằng chữ
Việt.
Kính thưa quí học giả,
các nhà nghiên cứu, các hành giả
đang tu học Mật giáo.
Phổ biến
kinh sách về Mật giáo là điều
mà các vị Du-Giả đều cố
tránh, phải chăng vì Mật giáo là một
tông phái kỳ quái hay không hợp “khế cơ” của con
người với đời sống khoa học hiện
đại ? Hay Mật giáo chỉ dành riêng
đặc biệt cho các vị tu sĩ, các vị
giàu sang để có thể có đầy
đủ môi trường, điều kiện hay
phương tiện thực hành đàn
pháp..?.
Phổ biến
là làm sống lại Mật giáo, không
có nghĩa là Mật giáo đã chết.
Vì Mật giáo luôn luôn hiện diện
trong Tâm của mọi loài- dù có Đạo
Phật hay không- đó là Chơn Tâm,
là Đại Nhật Như Lai, là Pháp giới
Thể tánh trí … nên có ý nghĩa
xác quyết là sự cố gắng và can
đảm công khai hoá Mật Giáo. Theo lịch
sử Mật giáo ở một vài nước
như Trung Hoa, Việt
Tôi
không hiểu các nhà sử học đã
nghiên cứu kỹ lưỡng, nghiêm chỉnh
chưa hay chỉ vào thời điểm suy thoái
của Đạo Phật, cho nên cho là lỗi tại
Mật tông. Thế còn những Tông phái
kia đâu ? Sự thịnh suy của mọi pháp
là lẽ đương nhiên theo định luật
vô thường, thành trụ hoại không
và cũng do nhiều nguyên nhân nội hay ngoại
tại của đạo đức trong không gian thời
gian lịch sử lúc đó như phẩm hạnh,
giới luật, đời sống tâm linh ??? … Nếu
như mọi hình thức của Phật Giáo bị
tiêu diệt, suy thoái, nhưng tên Phật, tiếng
Oh mani padme hum, mái cong của ngôi chùa, xâu
chuỗi… còn tồn tại, thì đó
là chơn ngôn, là pháp khí, là ấn,
là phương tiện thiện xảo của Phật
nên những mạch sống hay hạt giống sanh mạng
Phật còn. “ Còn nhân Phật, còn hạt
giống Giác Ngộ, thì chắc chắn sẽ
trôổ quả Phật”, bất chấp mọi hiện
tượng thay đổi của vạn pháp.
Nếu cho rằng
:”Tất cả các pháp thế gian đều
là Phật pháp” thì dù là oản,
bánh in hay là gì đi nữa hoặc bằng
những phương tiện thiện xảo hay thần
thông diệu dụng nào, nhưng nếu có thể
làm cho con người thức tỉnh, giác ngộ,
sống chân chất, biết yêu thương lẫn
nhau, biết làm lành lánh dữ … thì
đó cũng chính là Phật pháp,
dù thuận hạnh hay nghịch hạnh Bồ
tát. Còn nếu như nói rằng những
nghi lễ đồng bóng, cúng xôi oan, lễ
bái vật hoặc có những đàn
pháp nào tương tự, mà kết luận
là bắt nguồn từ Mật giáo, thì
đó là sự sai lầm to lớn, vì
đó chỉ là tính ngưỡng của
dân gian do lòng kính trọng thần linh hay sự
tin tưởng vào hồn ma bóng quế mà
ra.
Đức
Phật và con đường chỉ dẫn đi
đến Giác ngộ của Ngài, là chỉ
rõ chân tâm Thường hằng, là Tri kiến
Phật. Cho nên, mọi hình thức của Oai quyền,
Uy quyền hay Thần quyền đối với đạo
Phật chỉ là hoa đốm trên hư
không hay như một giọt tuyết dưới
ánh nắng mặt trời vào giữa trưa.
Vì thế, cứu cánh của đạo Phật,
dù có Hoá thành dụ, dù có
nói Nhị thừa, Tam thừa v,v.. nhưng chỉ
có một thừa duy nhất: Đó là chứng
được sự Giác Ngộ như Ngài. Nếu
nghiên cứu kỹ về Mật giáo, ta sẽ thấy
Mật giáo là sự tổng hợp của
Tông Hoa Nghiêm, Duy Thức hay Tịnh Độ
Tông, nhận thức được như vậy, ta mới
hiểu được Mật giáo cũng như
đi sâu vào tận suối nguồn vi điều
của Tông Mật.
Để
đánh dấu lịch sử của nhân loại
bước qua một Thiên niên kỷ mới, Bộ
Mật tạng Việt Nam Tập I này được
gia đình chúng tôi ấn tông để
dâng cúng cho Phật giáo Việt
Tập I của
Bộ Mật tạng bằng chữ Việt nầy
được dịch từ chữ Hán của Bộ
Chánh Nguyên Bản Đại Tạng Kinh qua chữ
Việt. Mặc dù vậy, trong sự in ấn
này, chúng tôi đánh số theo thứ tự
Mật tạng Phật giáo Việt
1-
Mục lục của nguyên bản
Bộ Đại Chánh Nguyên Bản Đại
Tạng Kinh.
2-
Mục lục của Mật tạng
PGVN.
Như
thường được cẩn trọng khi ấn tống
Kinh thuộc Mật giáo, Tập I Mật tạng bằng
chữ Việt nầy là để nghiên cứu
nhưng nếu hữu duyên muốn hành trì một
chơn ngôn nào đó cầu giải thoát
và hiện đời đạt nhiều an lạc cho
mình và người qua lòng yêu
thương vô biên và sự gia trì của
Như Lai Đại Nhật, chư Bồ-Tát v,v..
Hành giả cần phải được sự truyền
thọ Ấn Pháp bởi một vị
A-xà-lê thâm hiểu Mật giáo, và
điều quan trọng hơn hết, là hành giả
phải có sự nghiên cứu và học đầy
đủ về Hiển giáo.
Nguyện hồi
hướng phước báu nầy đến mọi
loài chúng sanh, tình hoặc vô tình,
noãn thai thấp hoá, được nhờ
ánh sáng Vô Lượng Quang minh của chư
Phật chiếu soi đều thành Phật đạo.
Mùa thu
năm Kỷ Mão (1999)
Thành phố
Gia
đình Cư sĩ Liên Hoa (Thanh Minh).

Pháp
Vương Vô Thượng Tôn
Tam giới
vô luân thất
Thiên
nhân chi Đạo sư
Tứ
sanh chi Từ phụ
Ư nhất
niệm qui y
Năng diệt
tam kỳ nghiệp
Xưng
dương nhược tán thán
Ức kiếp
mạc năng tận.
Bổn sư Hoà Thượng Thích Ca
Mâu Ni Phật