ĐẠI
BI QUÁN THẾ ÂM
HAY
LIÊN HOA BỘ
- Kính dâng lên chư Tổ, Ân sư Cốù Sa môn Thích Viên Đức, Sa
môn Thích Quảng Trí và những
hành giả Du già đã và đang
âm thầm nuôi dưỡng, duy trì và phổ biến Mật giáo tại Việt
- Kính tri ân những tác giả các
quyển sách mà tôi đã trích đăng
hay tham khảo khi viết bài tiểu luận nầy.
- Thương tặng Thanh- người vợ và là người bạn đồng hành.
Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm
Thiền sư
Hương Hải
Tạm dịch :
Nhạn bay giữa trời
Bóng chìm dưới nước
Nhạn không lưu ảnh để lại
Nước chẳng lưu bóng làm chi
Hình ảnh Quán Thế Âm là biểu tượng sống động của tình yêu
tuyệt vời, cao độ trong Phật giáo, đó là tinh thần Đại bi.
Phải chăng phạm trù Đại bi chỉ ứng dụng cho con người hiện
đại, hay tiếng niệm Quán Âm là tiếng cầu cứu thống thiết nhất của
nhân loại trước họa diệt vong? Chúng ta càng ngày càng sống trong
một xã hội được khoa học kỹ thuật phục vụ, và càng lúc, vì ảnh
hưỡng của môi trường sống chung quanh, ta càng quên mất chính ta. Tây
phương đã lẫn lộn giữa tiện nghi và tiến hóa, và Đông phương chỉ vì
mặc cảm thua kém về kỹ thuật khoa hoc, đã và đang tiến bước theo đà
của Tây phương cũng như đã dần dần đánh mất những bản sắc cao đẹp
nhất của Đông Phương: Đó là đời
sống tâm linh. Cần nhấn mạnh là chúng ta không chống đối sự
tiến bộ, sự phát triển của khoa học, nhưng làm sao phải quân bình
giữa tinh thần và vật chất, cũng như phân biệt rõ giữa tiện nghi và tiến hóa
Phật giáo nhận thức rằng: “Con
người hay hữu tình nơi đâu vẫn đều khổ. Khổ vì sanh, già,bệnh,chết,
vì lục dục thất tình làm điên đảo, đố kỵ, tranh giành, thù hận, chém
giết . . Quá khứ đã vậy và tương lai cũng vậy, chỉ trừ khi con người
đã vượt thoát khỏi sự chấp trước trong vòng nhị nguyên”.
Đó cũng là ý nghĩa xuất hiện
trên thế gian của Đức Phật.
Phẩm Phương Tiện của Kinh Pháp Hoa nói rằng: “Ta vì đại sự nhân duyên mới xuất hiện ở đời, đó là khai thị
cho chúng sanh Ngộ, Nhập Phật Tri Kiến”.
Cho nên, tìm hiểu về Đức Quán Thế Âm Bồ tát trong Mật giáo, chính là sống trong lòng từ bi vô bờ bến của Đức Phật, trong tinh thần Đại nguyện của Bồ tát Hạnh, cũng là sống với chính mình, làm cởi bỏ tất cả mọi phiền trược, thành kiến v.v...để thể nhập vào Đại bi Thai tạng giới, thể hiện tinh thần cứu khổ, ban vui được hiện thực trên mỗi con người, mỗi hành giả.
Vậy, Đức Quán Thế Âm trong Mật giáo ra làm sao?
Quan Âm hay Quán Âm, gọi đủ là Quán Thế Âm. Tiếng Phạn gọi
là Avalokiteshvara. Quán là quán tưởng, có nghĩa là xét thấy bằng tư
tưởng và trong tư tưởng, tức là trí
năng quán. Thế là thế gian, tức cảnh
sở quán. Âm là tiếng hay âm thanh.
Quán Thế Âm có nghĩa là xét
thấy, xét nghe tiếng của thế gian đau khổ, lo sợ. Bởi tất cả chúng
sanh đều có hoặc nghiệp nên mới hòa hợp với nhau mà hiện ra các
khổ tướng báo thân. Cho nên, Quán Thế Âm cũng có nghĩa là Trí năng
quán, tiêu biểu cho Đại bi, Đại từ của Đức Phật, tức Tâm. Mà tâm
thời ai cũng có, cho nên Đức ấy có thể hiện trong bất luận chúng
sanh nào, từ cõi Thiên xuống đến cõi người, A-tu-la v.v…để độ thoát
những chúng sanh trong 3 nẻo dữ (Địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh ).
Quán Thế Âm gồm 2 nghĩa :
- Về Nhân hạnh : Trong Kinh
Thủ Lăng Nghiêm nói rằng: “Tiếng bị
nghe được gọi là Cảnh sở quán, do tâm không duyên cảnh nào khác mà
mỗi mỗi đều an trụ vào Như Lai Tạng”. Đây chủ yếu là lấy Văn
-Tư -Tu làm cho nhĩ căn viên thông. Bởi vì, nếu có thể quay ngược lại
để nghe nơi tự tánh, thời năng văn
của tâm và cảnh sở văn thảy
đều tiêu tan, dung hội- tâm mới được tư tại, viên thông.
- Về Quả đức : Từ nhân
hạnh, nay lấy chữ Âm làm đại biểu cho tất cả những tiếng khổ đau,
cũng là tiếng kêu vang thống thiết của chúng sanh đang ngụp lặn trong
phiền não, si mê. Bồ tát dùng nguyện lực đại bi đã từng thường
xuyên quán sát chúng sanh khổ não, gặp có cảnh xưng niệm danh tánh
mình để cầu cứu độ thoát, Bồ tát liền đem ngay trí đại bi soi xét
tất cả, tức tốc thi hành cứu độ ngay.
Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn do Thái Hư Đại sư giảng lục
có giải thích rõ về chữ Quán và 5 pháp Quán như sau:
1- Chân quán : Là dùng
diệu trí quán sát nơi chân tánh để biết thân tâm mình, thân chúng
sanh, tất cả đều bình đẳng không hai- Đây tức chân khởi nguyên của đồng thể đại bi.
2- Thanh tịnh quán : Là
quán sát nơi tịnh pháp từ xưa đến nay chẳng tương ứng cùng với nhiễm
pháp, xa lìa 2 món chướng ngại là cái
ta và vật của ta.
3- Quảng đại trí tuệ quán
: Vì tự tâm thanh tịnh, nên quán sát
nơi pháp hai Đế Chân và Tục, mỗi mỗi đều soi rõ làu làu
không có sót lọt.
4- Bi quán : Là quán nơi
giữa chúng sanh và Phật đều đồng thể, do đó; mới thương chúng sanh vì
họ bị hoặc-nghiệp nên không thoát khỏi khổ não.
5- Từ quán : Là Bồ tát
Quán Thế Âm vì lòng bi nguyện cứu khổ, nên thường nghĩ ban điều vui,
an lành cho chúng sanh.
Do Quán tự nầy, hiện rõ ánh sáng Vô cấu Thanh tịnh, tức ánh
sáng của trí tuệ năng phá các tăm tối phiền não, nhờ đó hàng phục
được bổn tâm. Cho nên, mới năng đem trí quang minh mà soi khắp các
cõi để cứu khổ chúng sanh. Đây chính là diệu dụng lợi tha.
Còn căn cứ vào Quả đức mà nói, thời mười Phuong ba đời các
Đức Phật , có Ngài nào mà không đem từ bi quán soi các khổ não của
chúng sanh để mà cứu vớt. Do đó, không vị nào không là đồng danh
đồng hiệu Bồ tát Quán Thế Âm. Và chúng sanh đâu có gì sai khác, vì
chúng sanh là Phật sẽ thành. Âm thanh chẳng những là tiếng từ miệng
phát ra, mà trong tâm chúng sanh những khi mặc niệm cũng là âm. Bởi
vì là từ danh thể làm hiện cảnh, rõ nghĩa, mà tâm là duyên cảnh
xét lấy nơi nghĩa. Cho nên, hễ động nơi bên “trong” cũng là tiếng của tâm, nên cũng chính là niệm Quán
Thế Âm của bổn tâm mình.
Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm còn nói thêm: “Vì được viên thông
vô thượng, cho nên Ngài có 4 Đức vô tác nhiệm màu không thể nghỉ
bàn:
1-Một là xoay tánh nghe để nghe tiếng mầu
nhiệm của nội tâm. Tánh nghe nầy không chút ô nhiễm, nên ngăn dứt
tất cả âm thanh đối tượng. Bấy giờ, tánh thấy, nghe , ngửi, nếm,
xúc, biết của 6 căn còn là một tánh giác thanh tịnh có thể thay thế
cho nhau mà không ngăn ngại. Do đó, có thể hiện ra nhiều tướng và
nói vô số Chân ngôn bí mật, từ 1 đầu, 3 đầu, 5 đầu, 7 đầu, 9 đầu,
11 đầu, 108 đầu, 1000 đầu, 10.000 đầu cho đến 84.000 đầu. Hoặc có thể
hiện ra 2 tay, 4 tay, 6 tay, 12 tay, 14
tay, 18 tay, 10 tay, 24 tay, 108 tay, 1000 tay, 10.000 tay cho đến 84.000 tay
uyển chuyển, và biến hiện về mắt cũng như mắt vậy, nhưng có mắt
thanh tịnh hoặc uy từ, hoặc uy, hoặc định, hoặc huệ tuỳ duyên cứu độ
cho chúng sanh được tự tại
2- Hai là tánh nghe và suy nghĩ thoát ra khỏi 6
trần, như âm thanh luồn xuyên qua vách. Do sức nhiệm màu vô tác, nên
hiện nhiều hình tướng, nói nhiều chân ngôn đem lại cho chúng sanh
được sức vô úy. Cho nên danh xưng của Ngài trong muời phương vi trần, goị
là Bậc Thí Vô Úy.
3- Do sự tu tập là phát huy căn bản
thanh tịnh sẳn có, nên được viên thông mầu nhiệm. Đi đến nơi nào hay
thế giới nào, cũng tuỳ theo sự cầu cứu của chúng sanh mà thương xót
tế độ.
4- Do được Phật tâm, chứng ngộ đến
chỗ cứu cánh nên có thể đem các thứ trân bảo cúng dường Thập
phương Như Lai. Đến như các chúng sanh trong pháp giới muốn cầu trường
thọ, được trường thọ, cho đến cầu Đại Niết bàn cũng được Đại Niết
bàn.
Sự chứng đắc viên thông nầy đến từ cửa ngõ nhĩ căn quán chiếu đến tột cùng
viên mãn về âm văn ( nghe và tiếng ) mà được Tam muội, bởi vì tánh và nghe và thấy tròn sáng
châu biến mười phương”
Vì chúng sanh có
thiên hình vạn chủng, nghiệp sai biệt nên do tâm sai biệt mà chiêu
cảm hình tướng. Cho nên, trong Bộ Mật tạng của Tông Mật, Đại Bi Quán
Thế Âm cũng biến hiện ra nhiều thân hình như Thiên nhãn Thiên tý
Quán thế Âm , Thập Nhất Diện Thánh Quán tự Tại, Quyến Sách Quán
Thế Âm, Khổng Tước Quán Thế Âm, Bạch Y Quán Âm, Chuẩn Đề Quán Âm
v.v.. Để thuyết pháp hoặc nói chú độ chúng sanh. Có nghĩa là Thần
chú của Đai bi Quán Thế Âm nhiều nhất trong Bộ Mật Tạng, tương ưng
vớùi những trạng thái thống khổ của chúng sanh trong 3 cõi, 6 đường.
Có thể nói đến Phẩm Phổ Môn trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, cũng có
nói đến 7 nạn, 2 cầu, và 32 ứng hóa thân của Bồ tát Quán Thế Âm
cũng cùng ý nghĩa cứu khổ cứu nạn cho chúng sanh.
Mật giáo cũng là một trong mười
Tông phái của Phật giáo. Mật giáo lấy phương pháp Tam mật gia trì
làm căn bản. Đây là pháp của Đức Như Lai Đại Nhật hay Tỳ-lô-giá-na
(Vairocana), là Pháp thân của Đức Phật- có nghĩa là phương pháp được
xướng khởi trên mặt Quả hay là trên sự chứng nghiệm rồi. Tam mật
gia trì, đó là thân-khẩu-ý.
* Thân: Ngồi kiết già hay
bán già, còn gọi là Thân Kim Cang- tương ứng với Pháp thân.
* Khẩu: Miệng tụng trì Thần
chú, còn gọi là Khẩu Kim Cang, ứng với Ứng Thân.
* Ý: Quán tưởng chủng tự hoặc Bổn Tôn, còn gọi là Ý Kim
Cang, tương ưng với Hóa Thân.
Khi Tam mật tương ưng, chính là ngay trong khoảng sát na đó đã
thể hiện trọn vẹn hình ảnh Bổn tôn hoặc Đức Phật. Liên tục gia
công hạnh pháp tức liên tục thể nhập hình ảnh đó,tức tâm, tức ngay
thân nầy phá trừ nội ngoại chướng, thành Phật.
Mật giáo lại chia ra làm 2 loại:
1-Kim Cang giới tức Không, còn gọi
là Trí tuệ Bát nhã, Đại
Viên Cảnh Trí.
a/- Trí
đức bền vững không hư hoại.
b/- Năng
dung phá tan tất cả phiền não.
2- Thai tạng giới tức Hữu, còn
gọi là Đại Bi Tâm, tức Diệu Quán
Sát Trí.
a/- Ẩn
phú : Lý thể ẩn trong phiền não.
b/- Hàm
tàng : Lý thể đầy đủ công đức, ví như thai mẹ
hàm tàng thân con.
Thai tạng giới như cái bào thai,
tiêu biểu Bi Trí tánh đầy đủ. Thai nhi còn là biểu tượng cho chính
hành giả tu trì chân ngôn.
Thai tạng giới còn bao gồm 3 Bộ :
1- Phật
Bộ : Do Đức Như Lai Đại Nhật làm chủ, nghĩa Bi Trí đầy
đủ, giáo đại viên mãn.
2- Liên
Hoa Bộ : Do Đức Bồ Tát Quán Thế Âm
làm chủ, có
nghĩa là Đại Bi Tâm hay trụ tướng
pháp lành, ví như hoa sen tươi đẹp trong bùn.
3- Kim
Cang Bộ : Do Bồ Tát Kim Cang Thủ làm chủ, là Trí tuệ
và Lục dụng của Như Lai, hay phá tan mọi nghiệp khổ, dụ rắn
chắc như Kim Cang.
( Vì muốn làm sống động hình ảnh Đức Đại bi Quán Thế Âm hay
Liên Hoa Bộ trong Mật giáo, nên tôi đã dẫn chứng đến nhiều danh từ
của Mật giáo. Còn nói rõ về ý nghĩa cũng như phương pháp tu trì
Chân ngôn là một việc khác và sẽ
được nói trong quyển “ Tinh yếu Mật giáo Việt
Mật giáo lấy âm thanh làm chủ. Đây cũng là sự liên hệ mật
thiết với Đại bi Quán Thế Âm, tuy như 2 mà là một.
Âm của tâm tức Diệu âm, gồm ý nghĩa bất tư nghì, tức tâm
Phật hay tâm của Bổn tôn. Cái tâm bao trùm tất cả để tùy sự cầu
cứu của chúng sanh mà cứu vớt và tùy duyên giáo hóa, hay phương
tiện thi thiết pháp âm, tức nơi Quyền lý Thiệt. Nhưng vì nguyên lai
Bản thể chẳng dời đổi, lay động, nên tùy duyên mà thường bất biến.
Có nghĩa là nơi Dụng hiện Thể, hiển hiện Diệu Âm hoặc Quán Thế Âm.
Tâm Phật và chúng sanh nào có khác nhau, chỉ duy có bên Mê
bên Ngộ, tịnh-nhiễm, giải thoát và ràng buộc. Cho nên, để thể nhập
vào Đại bi Thai Tạng giới, hành giả phải hành trì, có nghiã là thọ
trì, gìn giữ, tức Niệm. Trì Niệm gồm đủ 2 nghĩa : Sự và Lý.
Khi trì niệm chân ngôn là Sở trì. Tâm ta là tâm Năng niệm,
biết tâm năng niệm của ta, tức hiển lộ Danh sở niệm. Lìa tâm, không
có Danh sở niệm, cũng như lìa Danh, không có Tâm Sở niệm. Ngoài Sở
không Năng, ngoài Năng không Sở. Đó chính là Nhất tâm, còn gọi là
Lý trì. Sự chẳng rời Lý, Lý nhờ sự hiện, chẳng rơi vào Không hoặc
Hữu, không vướng hai bên, hợp với Tự tánh Chân tâm, gọi đó là
Phạm Âm.
Cũng như khi niệm, niệm trước chẳng sanh, tức sống trong tự tánh định, không lìa Thể Chân
như thanh tịnh, tức không vọng động. Niệm sau chẳng diệt, tức vào nơi
tự tánh huệ, bổn tánh tự tại ứng động, phát ra diệu dụng, hiểu rõ
và phân biệt tất cả Sự-Lý, mọi vật. Tuy nói trước sau, nhưng không
có thời gian hiện diện, vì tức thời hay tương tức.
Do thể hiện được sự kết hợp với Chân tâm, ba độc tham-sân-si
liền tiêu trừ, tức thành được 3 Đức của Mật tạng: Pháp thân, Bát
nhã, Giải thoát. Đức nầy như sóng Hải triều âm làm tan mọi vọng
niệm của chúng sanh để đưa đến Bờ giác. Đó cũng là Hạnh của Bồ
tát: Trên cầu Phật đạo- đó là Phạm
âm. Dưới hợp với cơ nghi, cứu độ chúng sanh- đó là Hãi triều âm.
Đại bi Quán thế âm của Mật giáo, tức là Bồ tát tự tánh của
chúng sanh. Chúng sanh là chúng sanh ở trong tâm của Bồ tát, đem
chúng sanh ở trong tâm Bồ tát mà đảnh lễ Bồ tát trong chúng sanh, nên
Năng–Sở lễ tánh đều vắng lặng- Gọi là thị hiện Quán Thế Âm.
Đạo Phật là Đạo của hành động, của Dấn thân. Hình chữ Vạn
( ) hình dung rõ ràng hôn
cái Lý nầy: Bất dịch (Tỉnh) nằm trong cái Lý biến dịch (Động). Nên,
hành động hay dấn thân của Đạo Phật, của Mật giáo đòi hỏi hành
giả phải thể nhập vào để thể hiện hay nhập thể để nhập thấ.
Thể nhập là Chánh niệm. Chữ Niệm
( 念 ) gồm có:
trên chữ Kim (=hiện nay ), dưới chữ Tâm (= lòng ), tức là tấm
lòng của hiện nay. Ý nói rằng: “Không
nên dùng tâm quá khứ hoặc tâm vị lai mà niệm, chỉ nên dùng tâm
hiện tại mà niệm”.
Do tâm hiện tại niệm, từ nơi đó suối nguồn của tâm Từ bi và
Trí tuệ tràn ngập. Có Trí tuệ để quán sát sự vật như thật để đi
sâu vào thức tánh và từ đó, khởi lên Tâm Từ cứu độ. Kinh Từ Bi
(Karaniya Metta Sutta), bộ Kinh thường được trì tụng trong Phật giáo
Nguyên thủy đã nói rõ về Chánh niệm nầy:
Karaniya matthakusalena - yam tam satam padam abhisamecca-Sakko uju ca
suju ca - suvaco c’assa mudu anatimani.
Santussako ca subharo ca - Appakicco ca sallahuka vutti-Santindryo ca
nipako ca -Appagabbho kulesu ananugiddho.
Na ca khuddam samacare kinci – Yena vinnu pare upavadeyyum –
Ye keci panabhutatthi –
Na paro param nikubbetha – natimannetha katthacinam kanci – Byarosana
patighasana – nanna mannassa dukkha miccheyya.
Mata yatha niyam puttam – ayusa ekaputta manurakkhe – Evampi sabba bhu
tesu – Manasam bhavaye aparimanam.
Mettanca sabbha lokasmin – Manasam bhavaye aparimanam – uddham adhonaca
tiriyanca asambadham averam asapattam.
Tittham caram nisinno Va – sayano Va yavat’assa vigatamiddho – Etam
satim adhittheyya – Brahmametam viharam idha mahu.
Ditthinca anupagamma silava – dassassena sampanno – Kamesu vineyya
gedham – Nahi jatu gabbhaseyyam puna reti’ti.
Bản dịch của Ngài Bửu Chơn :
( Người trí tuệ biết rõ những sự hữu ích, muốn giác ngộ theo
các pháp yên lặng là Niết bàn, thì người ấy nên có sự dũng mãnh,
thân khẩu-ý chân chánh, dễ dạy, tánh nết mềm mỏng, không ngã mạn
thái quá.
Là người tri túc dễ nuôi, ít bận rộn, thân tâm nhẹ nhàng, có
lục căn thanh tịnh, có trí tuệ, rất cẩn thận, không quyến luyến theo
kẻ thế.
Các bậc trí tuệ hằng khinh bỉ những kẻ khác, tạo những nghiệp
ác nào thì người có trí không nên hành theo những nghiệp ấy. Nên
rải lòng từ ái đến tất cả chúng sanh như vầy: “Cầu xin cho tất cả
chúng sanh hằng được sự an vui, yên ổn”.
Tất cả chúng sanh không có hạn định, dầu là chúng sanh có sự
kinh hãi, là còn lòng tham muốn, hoặc các bậc hiền triết đã dứt
lòng tham muốn. Chúng sanh nào có thân hình dài hoặc lớn, trung hoặc
vắn, gầy hoặc béo.
Chúng sanh mà ta thấy hoặc không thấy được, ngụ nơi xa hoặc
gần, đã sanh ra rồi hoặc đang tìm nơi thác sanh: Cầu xin cho chúng sanh
đó hằng được sự an vui.
Chúng sanh không nên hăm dọa và hãm hại lẫn nhau, không nê
khinh dễ kẻ khác dầu là nhỏ nhoi, chút ít, không nên làm khổ lẫn
nhau vì sự nóng giận bất bình là sự bực tức trong tâm.
Người mẹ dám liều sanh mạng để bảo dưỡng con mình là con một
thế nào, thì người nên rải lòng từ bi vô lượng vô biên đến tất cả
chúng sanh cũng như thế ấy.
Người có tâm từ ái vô lượng vô biên là không bực tức,
không thù oán, không kẻ nghịch, nên rải đến tất cả chúng sanh trên
thế giới, là rải nơi hướng trên, hướng dưới, bên ngang và khoảng
giữa.
Người đó dầu lúc đi đứng nằm ngồi, không có ngủ mê lúc nào,
thì nên niệm tâm từ ái đến lúc đó. Các bậc trí tuệ gọi những tư
cách đó là Phẩm Phạm Hạnh trong Phật pháp.
Người có tâm từ ái không tà kiến, có giới hạnh được đắc
quả Tu-đà-hoàn là người đã dứt bỏ sự vui thích theo ngũ trần và
không còn thọ sanh vào thai bào nữa”.
Thật vậy, có chánh niệm mới thể nhập được Thực tánh, thể
nhập vào suối nguồn Chân Tâm vốn đầy đủ Từ bi và Trí tuệ, Hạnh
nguyện. Có thể nhập để từ đó thể hiện. Thể nhập vào Bổn tôn, tức
thấy rõ Bộ mặt muôn đời của mình. Nhận thức rõ các pháp là huyễn,
phiền não tức Bồ đề. Chúng sanh tức là Phật, mê là ngộ v.v. .
Tổ Huệ Năng trong Kinh Pháp Bảo đàn nói:
Bồ
đề bổn vô thọ
Minh
cảnh diệc phi đài
Bản
lai vô nhất vật
Hà
xứ nhạ trần ai
Dịch :
Bồ
đề vốn không cây
Gương
sáng cũng không đài
Phật
tánh thường thanh tịnh
Chỗ
nào nhuốm bụi nhơ
Từ
chỗ Chân không Diệu hữu mới thấy được pháp giới trùng trùng duyên
khởi, tương tức tương nhập: Một la tất cả, tất cả là một, tất cả
là tất cả. .
Đó là Trí tuệ, có Trí tuệ mới có Từ bi hoặc có Từ bi mới có
Trí tuệ. Trí tuệ và Từ bi là một, từ đó, hạnh nguyện độ sanh tự
nhiên tràn trề, tức là thể hiện Đại bi Quán Thế Âm.
Hành giả sống trong tâm thức của Bổn tôn, gọi đó là “Gia” do ánh sáng mầu nhiệm của Bổn
tôn chiếu rọi vào. Thu nhận và hòa đồng cùng ánh sáng đó, gọi là
“Trì”. Hai bên thừa tiếp nhau,
nên gọi là Tam Mật Gia Trì, hay Định Huệ.- gồm ý nghĩa:
Huệ là Trí Đức Trang Nghiêm.
Định gọi là Phước Đức Trang Nghiêm.
Đây là Lưỡng Túc Tôn, tức Pháp
thân hay Như Lai Đại Nhật.
Bộ Kinh Đại Thừa Trang nghiêm- Một Bộ Kinh tối ư quan trọng của
Mật giáo, nêu rõ lý tưởng Từ Bi trong Trí Tuệ, hay ngược lại, Trí
tuệ là Từ bi. Đây cũng là Bộ Kinh của Mật tạng nói lên sự thể
hiện hay là con đường dấn thân của
Đức Bồ tát Quán Thế Âm.
Sao gọi là Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương ? Vì Kinh nói nơi Tự
tánh gồm có đầy đủ Phước Huệ.
Nơi Tự tánh là Sở Trang Nghiêm, còn nơi Phước Huệ là Năng
Trang nghiêm. Năng Sở chẳng phài 2, nên gọi là Diệu Trang Nghiêm, bao
gồm đầy đủ Tam học là Giới-Định-Huệ và Đà-la-ni.
Kinh cũng thuyết về SÁU CHỮ ĐẠI MINH CHÂN NGÔN, đó là :
thoát Thiên giới.
MA
( ) : Sắc xanh, thoát A-tu-la.
NI
( ) : Sắc vàng, thoát Nhân.
BÁT
( ) : Liên Hoa
tức Quán Thế Âm. Sắc lục, thoát
Bàng anh.
MÊ
( ) : Sắc đỏ, thoát Ngạ quỷ.
HÙM
( ) : Sắc đen, thoát Địa ngục.
Những màu sắc cũng như những cảnh giới vượt thoát khỏi, tương
ứng với những hình ảnh của cận tử
nghiệp hay thân trung ấm. Tuy
nhiên, đề cập đến Liên hoa Bộ, chúng ta thấy rằng: Đây la một may
mắn vô cùng cho các Phật tử, vì Chân ngôn Lục tự Đại Minh nầy là Pháp bảo của Đức Bồ tát Quán
Thế Âm trao lại cho cuộc đờøi. Sáu chữ nầy có công năng đưa hành
giả thoát ra khỏi Tam giới Lục đạo. Nhưng, làm sao để giải thoát ra
khỏi khổ nạn nầy? Làm sao để trang nghiêm thân để thân là Bồ tát
Quán Thế Âm? Làm sao để tìm học và thọ trì? v.v.. .
Trong Kinh, Đức Phật dạy: “Nếu
Thiên nam và Thiện nữ y pháp niệm Sáu chữ Đại Minh Đà-la-ni nầy,
người đó chắc chắn đắc Tam-ma-địa, an trụ nơi đạo giải thoát, không
thể nghỉ bàn.
Lúc đó, Bồ tát Trừ Cái Chướng
bạch Phật rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn! Con phải đến
nơi đâu để lảnh thọ Sáu chữ Đại Minh. Kính mong Ngài từ bi chỉ dạy”.
Phật dạy rằng: ‘Nầy Thiện nam
tử! Ở tại thành Ba-la-nại có một vị Pháp sư, thường phát tâm khóa
tụng thọ trì Sáu chữ nầy”.
- Bạch Đức Thế Tôn, con nay muốn
qua thành đó và muốn được thấy Pháp sư để lễ bái cúng dường.
Phật dạy: “Lành thay Thiện nam
tử! Ông nên biết rằng, vị Pháp sư kia rất khó gặp. Thấy được Pháp
sư đó cũng như thấy Đức Như Lai, như thấy được công đức Thánh địa, như
thấy phước đức chứa tụ, như Pháp tạng, như Châu Ma-ni Như Ý cứu đời.
Thiện nam tử! Nếu ông thấy vị
Pháp sư đó, không được sanh lòng khinh mạn nghi ngờ. Thiện nam tử,
cũng chớ nên thoái thất tâm Bồ đề. Ta sợ ông thoái thất địa vị Bồ
tát, vì vị Pháp sư kia giới hạnh khuyết phạm, lại có vợ con, đại
tiểu tiện dính dơ cà sa, trông không oai nghi”.
Bầy giờ Bồ tát Trừ Cái Chướng
đem vô số chúng xuất gia Bồ tát, Trưởng giả, Đồng tử và vì muốn
hưng khởi đại lễ cúng dường, nên đem Thiện Bảo Cái cõi Trời và các
thứ mão báu, châu báu …và đến chỗ ở của Pháp sư, rồi cúi đầu
đảnh lễ sát chân của Ngài để cầu Pháp Lục tự.
- Đây là Đại Pháp tạng,
Pháp sư nói rằng: “Nếu được sáu
chữ Đại Minh Đà-la-ni nầy, thì không thể bị ba độc tham-sân-si làm ô
nhiễm. Như được Vô Thượng Trí, Như Đại Giải Thoát. Tất cả Trí tuệ
Mẫu đều xuất phát từ đó, tất cả Như Lai Đẳng Giác và các vị Đại
Bồ Tát thảy đều cung kính chấp tay làm lễ. Thiện nam tử! Bồ tát tu
pháp nầy, tức được đầy đủ Sáu Ba la mật”.
Bấy giờ Pháp sư Ngài hiện thân
tướng Liên Hoa Thủ, Liên Hoa Cát Tường, Bồ tát Tự Tại Quán Thế Âm
vì Bồ Tát Trừ Cái Chướng trao truyền Sáu Chữ Đại Minh Đà-la-ni”.
Tại sao cầu Sáu chữ Chơn ngôn nầy lại không cầu nơi Đức
Phật, nơi các vị Đại Bồ tát hoặc các vị có những hình dạng đặc biệt
hay hiển lộ ra những đức hạnh oai nghi, siêu việt v.v… làm dễ kính
phục, mà lại cầu thọ lãnh Pháp nơi một vị Cư sĩ khiếm khuyết oai
nghi, vợ con đùm đề, đại tiểu tiện dơ dáy, dính cà sa?
Như chúng ta được biết, Đạo Phật là đạo của hành động và
hành động thì tác động lên tất cả mọi sự vật, mọi tư tưởng. Bản
chất của hành động bao gồm Trí tuệ ( Sự hiểu biết ) và Từ bi ( Tình
thương ).
Kinh Hoa Nghiệm nói rằng: “Nhất thiết duy tâm tạo”.
Tâm con người như người họa sĩ vẽ lên tất cả các nét của
cuộc sống. Tâm là một năng lực có thể gây nên mọi sự mầu nhiệm
hoặïc xấu xa. Cho nên, hành động theo đạo Phật như - bản chất- đưa chúng sanh đi thẳng vào Chân lý. Tuy nhiên,
Chân lý lại không thể tách rời khỏi cuộc đời, khỏi con người, vì
nếu trần gian ô trược nầy là đất chết, thì cũng chính nơi đây là
đất sống, như phiền não tức Bồ đề. Không có một sự giải thoát nào
tách rời khỏi con người hoặc cuộc đời uế nhiễm nầy.
Con ngươi vì do vô minh, vì thành kiến, cố chấp, thiếu thông cảm
v.v..làm thành một lớp màn che phủ Chân tâm, tức Bản Giác.
Trong quyển Tự điển Phật học Hán Việt, Tập 2, trang 1684: Bồ
tát Trừ Cái Chướng là tên tắt của “Trừ Nhất thiết Cái chướng”.
Cái là tên khác của
phiền não, che lấp cái tâm của chúng sanh, làm chướng ngại Thánh
đạo, khiến thiện tâm không nẩy nở được, ví dụ như Ngũ cái: 1- Tham
dục, 2- Sân nhuế, 3- Thụy miên (Biếng nhác, ham ngủ), 4- Trạo hối
(Xao động, hối hận) 5- Nghi pháp (Ngờ vực Chánh pháp) v.v… Như Kinh Vô
Lượng Thọ, quyển Hạ nói: “ Sự thanh tịnh do xa lìa triền cái, cái tâm
không lừơi biếng giải đãi” hoặc trong Pháp giới thứ đệ, quyển
Thượng: “Cái có nghĩa là che lấp tâm hành giả, khiến lòng tin thanh
tịnh không thể nẩy sanh được”.
Vị Bồ tát Trừ Cái Chướng biểu tượng như là một con người bình
thường như chúng ta, là chúng ta. Một con người đang bị ràng buột trong
với những nội kết, những đau thương của ngã và pháp chấp, tuy nhiên
lại mang một tâm thức cầu đạo. Người đã mang nổi niềm khao khát
giải thoát, hơi thở choáng ngợp trong sự tù hảm của nội tâm muốn vươn lên, hai tay chới
với giữa khoảng không gian. Người đã đem tất cả những gì quý nhất
để đảnh lễ vị Pháp sư để cầu thọ lảnh Sáu Chữ Đại Minh Đà-la-ni.
Điều nầy làm cho chúng ta liên tưởng đến những mẩu chuyện kể về Tiền
thân của Đức Phật đi cầu Pháp, chỉ 1 câu hay 1 bài kệ mặc dù phài
hy sinh đến tánh mạng v.v.. Đó là những tấm lòng tha thiết vì sanh tử
đại sự, vì muốn đắc thành Chánh quả.
Thành Phật có nghĩa là trở về Thủy giác, Chân
tánh, cho nên không có nghiã là xa lánh cuộc đời. Sáu chữ Đà-la-ni
mầu nhiệm nầy nằm sẳn trong tâm thức của mỗi người, mọi chúng sanh
biểu hiện như lục dục, thất tình làm điên đảo con người. Thành Tất
điạ có nghiã là chuyển lục thức thành Ngũ Trí Như Lai, chuyển Lục
tự thành chân tâm tức xé bỏ mọi cái chướng, triền phược, chấp
trước…
Bản giác ví như
vàng khối, tức biểu tượng chúng sanh đều có Phật tánh. Còn Thủy
giác ví như vàng đã thành những đồ
mỹ khí, trở về Chân Như Thực tánh, hội nhập vào Bổn tôn hay Thực
tại. Sự hội nhập nầy không phải bằng Trí năng mà bằng tất cả sự sống tâm linh, gột
rửa con người hắc ám, củ kỷ, đạt đáo bỉ ngạn.
Vị
Pháp sư hiện thân sống giữa đời và thành Phật giữa phiền nảo vô
minh, như bông sen vươn lên giữa bùn lầy nhầy nhụa, như ánh mặt trời
làm tan chảy những tảng băng dày đặc thành kiến, sai lầm.
Núi thành núi, sông thành sông
Đâu
có gì sai khác giữa Phật và chúng sanh, giữa mê và ngộ. Pháp sư tuy
ở giữa cuộc đời, nhưng Ngài đã thực chứng. Thực chứng bằng thực
nghiệm của cuộc đời sanh tử, không phải là cái biết có tính cách
lý luận của Trí năng, mà là cái biết đã được thực nghiệm bằng sự
sống của bản thân. Ngài đã yêu cái trần gian , yêu chúng sanh vì đó
là tâm của Ngài. Qua Kinh, trông Ngài vẻ bề ngoài như phi pháp, quần
áo lôi thôi lếch thếch, ăn nói ngông nghênh, nhưng tất cả hành
trạng đó chỉ để thể hiện hay biểu tượng cho cái tâm không vướng
mắc, rong chơi, vuợt chốn nhị nguyên đối đải, hoàn toàn giải thoát.
Ngài
đã quán chiếu thực tại và đi xuyên suốt thực tại và thực tuớng
của nó, quán rõ cảnh giới đều do Tâm lưu xuất và đạt Đại Tự Tại. Quán biết
căn cơ của chúng sanh mà hoá độ, nên Ngài là hiện thân của Đại bi
Quán Thế Aâm , gần gủi chúng sanh, gần gũi con người, tự tại vô
ngại mà thể hiện Bi Trí, Lý Sự vô
ngại, đầy đủ đại hùng đại lực, xem thường tất cả mọi sự thăng
trầm, khổ vui, phân biệt của cuộc đời.
Đó chính là bàn tay “Tài thủ đắc vật”, nói theo ngôn
từ Mật giáo, có nghĩa là đầy đủ “phương
tiện thiện xảo” để tuỳ căm cơ độ sanh. Còn gọi là Đà-la-ni môn, theo Kinh Lăng
Nghiêm nói:” Khi đã chứng được Đà la ni môn nầy là chứng biết vạn
pháp sai biệt” hay còn gị là “Du hí thần thông tam muội”, đi vào cuộc
đời sanh tử như một trò du hí độ sanh.
Thiền sư Lâm Tế nói về Du hí Thần thông như
sau:” Vào thế giới sắc không bị sắc đánh lưà,vào thế giới âm thanh
không bị âm thanh đánh lừa, vào thế giới hương-vị-xúc-pháp không bị
hương-vị-xúc-pháp đánh lừa. Thành tựu được sáu thần thông tức đạt
được Không tướng của Sáu trần. Tuy còn là thân ngũ uẩn hữu lậu,
nhưng thực là đang đi thần thông trên đất”.
Câu nói nầy hẳn nhiên
bổ túc, bóc trần được hình ảnh linh động, kỳ đặc của Pháp sư tứ c
Bồ tát Đai bi Quán Thế Aâm qua biểu tượng trong Kinh Đại thừa Trang
Nghiêm Bảo Vương.
Do đó, Đức Phật mới
nói với Bồ tát Trừ Cái Chướng (Đây có nghĩa Sở tri, chướng ngại,
định kiến ) rằng: ”Pháp sư đó thường phát tâm koá tụng, thọ trì Lục
tự nầy (sống hồn nhiên trong Đại bi Thai tạng giới ), nên thấy vị
Pháp sư đó cũng như thấy Đức Như lai. Đây là Pháp tạng (Chân tâm hay
Châu Ma-ni Như ý (thể hiện Đại bi) và Pháp sư sống giữa đời thưòng
để giác ngộ cuộc đời, ban vui cứu khổ.
Qua Mật giáo, qua Liên
hoa bộ mà Đức Bồ tát Quán Thế Aâm là Chù bộ, chúng ta nhận thấy
Ngài không chỉ hiện thân trên con người, vì con ngưòi, mà còn hoá
thân vì những chủng loại khác nhau như : noãn, thai, thấp, hoá v.v.. vì
tâm bao trùm tất cả. Kinh Thủ Lăng Nghiêm còn nói rằng:” Phải biết
hư không sanh trong tâm của ông, cũng như một đám mây điểm giữa bầu
trời, huống là các thế giới ở trong hư không”.
Chân tâm rộng lớn,
biến khắp viên mãn, bao gồm mười phương.
Chúng ta từ vô thủy đến nay không rõ
tâm nầy, vọng thấy các tướng cũng như con mắt bệnh, nên thấy hoa đốm giữa hư
không. Ơû trong Chân tâm vốn đầy đủ vô tận sắc tâm công đức, tức
cùng Tỳ-lô-giá-na ( Vairocana ) thân tâm bình đẳng. Cho nên, muốn
thành tựu Phật quả, cần phải ngộ Tỳ-lô-giá-na giới.
Ngài Thành Lương thì nói
rằng:” Không nương sự Ngộ nầy, việc
làm không chân chánh, sự tu hành của mình sẽ ràng buộc thành nghiệp
”. Cho nên, Chân tâm nầy biểu tượng là Đàn tròn ( Viên Đàn ) trong Bộ Liên Hoa của Mật
giáo, bao gồm Bi-Trí, Lý-Sự viên dung.
Theo Đại Trí Độ Luận viết: “Mọi hiện tương đều gồm trong 2
phạm trù Vật lý và Tâm lý, ngoài ra không còn gì khác. Trên phương
diện phân biệt, ta nhận thấy Tâm và Vật khác nhau, nhưng trên bình
diện Giác ngộ, mọi hiện tựơng đều từ Tâm. Tâm mầu nhiệm mà Vật
cũng mầu nhiệm ( Diệu Sắc Diệu Tâm ). Tâm là Vật, mà Vật cũng là
Tâm, ngoài Tâm không Vật, ngoài Vật không Tâm. Cả 2 tương nhiếp lẫn
nhau, nên gọi là bất nhị”.
Câu nầy cũng nói lên tinh thần
của Liên Hoa bộ, như đã nói ở trước, Liên hoa bộ bao gồm đủ : Phật,
Liên hoa và Kim cang bộ. Phật bộ là Thực tại, biểu tượng là hình
vòng tròn hàm chứa Bi Trí, Tâm Vật….đây là ý nghiã thể nhập vào
Bổn tôn hay đắc Tam mật gia trì của Mật giáo.
Trong Kinh Dịch có nói: “Tẩy
tâm, thối tàng ư Mật “.
Chữ
Mật nầy thì đồng nghĩa với Chân tâm. “Tẩy tâm” là gột rửa
Tâm mình, gột rửa những meo mốc của quá khứ, những thành kiến phải
quấy, thiện ác v.v…để trở về với Chân tâm. Chân tâm khác với cái
tâm nhị nguyên. Ơû đây, Chân tâm
là biểu tượng cho cái vòng tròn, như cái lòng của biển cả.
Theo quan niệm “vật thể “ của
Tây phương, vòng tròn hònh căng lên giống như cái bầu của người đàn
bà. Do đó, thường biểu tượng cho đàn bà và sự sanh nở qua những nét
tròn.
Quan niệm của Đông phương, tròn
là biểu tượng cho sự biến dịch, va chạm vào nhau mà không gây hại
cho nhau. Đây là hoà đồng phải có trong mọi sự sống chung, để sanh
tồn. Ví dụ: gặp thhời tiết băng giá hoặc điều kiện thiên nhiên
khắc nghiệt, thù ngịch,; thì loài vật có khuynh hướng thu tròn lại để
bảo tồn năng lượng.
Còn quan niệm của Mật giáo,
vòng tròn biểu tượng cho Đại Viên Cảnh trí, như các Kinh Đà-la-ni trì
tụng Pháp nói:” Tam ma địa hay Du già trì là tưởng Tâm thành vòng tròn sáng” (Mặt nguyệt )
Mật giáo chỉ thẳng chân tâm, không qua con đường lý luận trí
năng. Vị Du già sư qua Đàn pháp, Ấn khế, Chân ngôn v.v…đẩy hành giả
vào tâm điểm của vòng tròn, đó là tâm điểm của Thực tại. Dĩ
nhiên, người hành giả đã trải qua bao nhiêu là thăng trầm, miên mật
trong biển Pháp và vị du già su đã nhìn thấy ra căn cơ đã chín nuồi.
Đàn Pháp chỉ là môi giới làm cho hành giả thể nhập thẳng vào dòng
sống đó.
Chúng ta phải quen với ngôn ngữ Mật giáo, vì ngôn ngữ đó
thường biểu lộ qua Ấn khế, Quán tưởng, Chân ngôn, Đàn pháp, vì đó
bao hàm nội dung hoặc Tâm ấn ẩn
tàng sự Giác ngộ của Bổn tôn hay Đức Phật hoặc vị Thượng sư. Về
mặt Lý tánh, thì đồng thể giữa chúng sanh và Phật. Về mặt sai biệt,
như trong Hiển Mật ViênThông nói:” Ly tướng ngoài cầu lấy Vô
tướng” và Vô tướng chính là Thực Tướng.
Kinh Quảng Bát lầu Cát còn nói rằng:” Chân ngôn là Mẹ của
chư Phật”. Thần Biến sớ gọi đó là Vô tướng Pháp giới. Mỗi mỗi chữ
đều gồm đủ Giới-Định-Huệ, đủ muôn hạnh không ngoài Lục độ, Lục độ
không lià Tam học”.û
Vì thế, chân ngôn cần phải
được Mật truyền, không được giải thích, vì nếu giải thích từng chữ,
từng câu sẽ không đủ hết ý nghiã, hơn nữa, còn thành những ý niệm,
định niệm, phân đoạn v.v…khiến hành già xa lìa Chân tâm. Khi chia xẻ
Thực tại, Thực sẽ là vô nghĩa.
“Thời gian suy nghĩ, mây xa ngàn
dậm” ( Thiền sư Trí Bảo, phái Vô ngôn Thông ở Việt
Tuy nhiên, làm hiển lộ Chân
tâm hay thể nhập vào Tâm ấn của Đức Như lai ( Đại bi Thai tạng giới
) được hay không, phải do Công Năng miên mật của hành giả. Tại sao
phải hội đủ Công Năng?- vì lẻ, như yá nghĩa được nói sau về Công
Năng: Tinh Cần tu hành, gọi đó là Công và phải đủ Tín nguyện,
đó là Năng.
Không hành trì, không Tín
nguyện, chúng ta mãi mãi đứng xa khoảng trời Mật nhủ, trừ phi phải
là bậc đã đầy đủ túc duyên, gieo trồng căn lành nhiều đời nhiều
kiếp.
Do Công Năng nầy, hành giả liên tục gia trì ( miên mật) trong
dòng sống Thực tại, kết được Thánh thai Đại bi Quán Thế Âm, vì làm
bùng vở cái hữu ngã, chấp trước, vị ngã để nhảy vào vô ngã, một
chân trời thênh thang, vô tướng, vô cầu, nhưng đầy hạnh Đại bi.
Trong Kinh Tăng A-hàm viết:”Tác ý tức nghiệp” hay Kinh Kim
Cang:”Ứng vô sở trụ nhi sanh kỳ
tâm”. Nghiệp ở đây là Bạch tịnh nghiệp, đã tịnh hoá, trở về với
Chân tâm. Như Lục tự Đại minh còn nói:” màu trắng là tổng hợp
của 7 màu, nó chỉ cho sự bao dung vô cùng tận trong sự hoà hợp của
Tâm hư”.
Vào thế kỷ 17, nhà Bác học
Các nhà Bác học thường gọi màu sắc trên là linh hồn của
ánh sáng. Hai nhà Bác học Thụy sĩ là Georg Agricola (1499-1555)- người
lập ra ngành mỏ và Paracelse (1493-1544)- người cha đẻ của thuật luyện
kim đơn, đã phát hiện rằng:” Từ màu sắc của ngọn lửa, chúng ta suy
luận và biết vật thể đang cháy”.
Qua phương pháp suy luận qui nạp, chúng ta nhận thức rõ màu
trắng là tổng hợp của 7 màu và qua Mật giáo, Bạch tịnh thức bao hàm
sự chuyển y, chuyển hoá của lục dục thất tình hay “Phiền nảo tức Bồ
đề”. Đây là đường rrở về Chân tâm và Khí.
Mật giáo quan niệm rằng làm chủ được thân-khẩu-ý, tức đạt
được tam muội ( Chánh định ). Cũng như nếu biết xử dụng hơi thở (khí)
và âm thanh (Phạm âm) sẽ tạo ra được những luồng ba động có năng
lực sáng tạo. Năng lực sáng tạo nầy trưởng dưỡng Thánh thai Đại bi
và Trí tuệ, do sự trở về với Bạch Tịnh Thức.
Chủng tử của Bạch tịnh thức theo Đại bi Quán Thế Âm hay Liên
hoa bộ là Hật-rị ( Hrih
). Theo A-di-đà Nhất tự Tâm chú, chân ngôn chủng tử nầy luôn
luôn đi theo với Lục tự : Om- Mani Padme Hùm, Hrih ( Đoá sen trong viên
ngọc ma-ni ( như ý ) được hình thành trong Bạch tịnh thức.
Chữ Hrih gồm đủ 4 chữ để thành một chân ngôn. Chữ HA
( H ) tự môn, có
nghiã là tất cả pháp nhơn bất khả đắc. Chữ RA
( R ) tự môn, nghiã
là tất cả pháp ly trần. Trần nghiã là ngũ trần gồm:
sắc-thanh-hương-vị-xúc. Đây, cũng gọi là 2 thứ chấp trước Năng thủ
và Sở thủ. Chũ Y ( I ) là tự tại bất khả đắc. Chữ ÁC
( H ) gọi là Niết bàn. Do
Giác ngộ các pháp vốn không sanh, xa lià 2 thứ chấp trước, nên
chứng được Pháp giới thanh tịnh.
Chữ Hrih nầy cũng gọi là tâm hổ thẹn, hay Tàm quí. Thẹn với
luơng tâm mình, và xấu hổ đối với nguời khác, vì thế không làm điều
bất thiện, đầy đủ tất cả các pháp lành vô lậu. Trong Liên hoa Bộ
gọi là Pháp bộ, chuyển thành Diệu dụng. Do chuyển được Lục dục
thành Tịnh thức, đây là Tịnh thổ của Tâm do sự trở về (chuyển y) và
phương Tây là biểu tượng của Tịnh thức nầy. Mặt trời mọc ở phương
Đông, lặn ở phương tây.
Qua đôi mắt hạn hẹp của chúng ta, mặt trời đã lặn khi ở
cuối phương tây. Nhưng, nó lặn để mà mọc lại rõ ràng ánh sáng rực
của buổi bình minh: Xuân Hạ Thu Đông vẫn tuần tự trôi qua, ngày lại
đến đêm, rồi lại ngày. Nơi nầy vừa chấm dứt, nơi kia lại bắt đầu,
liên tục…
Thiền sư Mãn Giác
nói rằng:
Mạc vị xuân, hoa lạc
tận
Đình tiền tạc dạ,
nhất chi mai
Dịch:
Chớ bảo xuân tàn, hoa ruing hết
Đêm qua sân trước, một cành mai
Theo Abhidharma :”Sự sanh và sự
chết bất cứ lúc nào cũng xuất hiện đồng thời”.
Cho nên, trở về với Tịnh thổ, có nghĩa là chết đi con người
cũ kỷ, con nguời của sách vở, của của xã hội, của nhị nguyên, của
nhân vị tạo thành. Con người của kiến thức, của truyền thống lâu
đời không biến cải v.v… ( Huyền nhai tận thủ, tuyệt hậu tái sanh :
Vực thẳm buông tay, chết đi sống lại ).
Không chết con người nầy, sẽ không bao giờ chuyển y được và
sẽ không là con người của Đại bi Đại trí. Oâm cái vị ngã hạn hẹp
vào mình, thì bầu trời bao la chỉ còn gom lại trong lòng bàn tay, chật
cứng. Chết đi con người cũ, nghĩa là phá tung cái vị ngã để hoà vào
vô ngã, của vùng trời bao la vô cùng tận.
Ngài Điều Ngự Giác Hoàng nói: “Nhất hồi niêm xuất, nhất hồi
xuân “. Con người mới, con người của vô ngã, của cái tâm bao dung,
là con người giải thoát tự tại, và là một Đại bi Quán Thế Âm. Đó
là một biểu tượng cực đẹp, sống động ban vui cứu khổ, là cứu cánh
của Mật giáo.
Trên cái bàn viết của tôi, motä cái lọ nhỏ nằm trên bàn,
vài nhánh cây vạn niên thanh ( tên thường gọi là cây trầu bà )
được cắm vào đó, lẫn với sỏi, nuớc. Mỗi ngày, tôi nhìn nó và uớc
muốn nó sẽ lớn, xanh. Nay thì nó đã thêm nhiều lá,xanh mưót, tràn
đầy sức sống, yểu điệu, vươn mình khoe sắc. Từ cuối thân, những mầm
rễ trắng nhú ra, mỉm cười. Có những nhánh dài màu xám nhạt, len lỏi
qua kẻ hở của những hạt sỏi chồng chất nhau, bám rễ và hút nước.
Một mẫu thiên nhiên nhỏ được tôi nuôi dưỡng bằng chính tình thương
của tôi. Tôi đã nhìn nó hàng ngày và nó đã sống dậy, không chỉ vì
nuớc mà còn, cũng vì lòng thương, tình cảm của người bạn săn sóc nó.
Tình thương phải chăng làm cho cuộc sống có ý nghĩa và sống
dậy. Chúng ta đã có bài học yêu thương đầu đời bằng tình thương của
cha mẹ và khi lớn lên, với thiên nhiên, với mọi sự vật chung quanh.
Sự hiện hữu của một người là do tình thương của bao nhiêu ngưòi
khác, tương tức tương nhập và ngược lại. Sự dau khổ, sự vô thường,
sự chia cách, được thua, vinh nhục, giàu nghèo v.v..đã không làm cho
chúng ta trưởng thành và nhiều tình thương hơn sao?
Cho nên, tình thương chính là sự sống. Sự sống vươn mình hiển
hiện khắp mọi nơi, thì Đại bi Quán Thế Âm cũng thể hiện, phân hình
khắùp nơi chốn cần cầu. Tình thương- đó là Phật giáo, vì đến từ cái
tâm trưởng thành. Tình thương không thể có trong một con ngưòi nhiều
thành kiến, đố kỵ, hận thù…Tình thương chỉ có thật khi con người thông
cảm lẫn nhau do sự hiểu biết chân thành và nhận ra nhau là những vị
Phật sẽ thành. Những lớp phủ bề ngoài chỉ là những nghiệp lực tác
động đến, còn Tâm Phật vẫn luôn ngời sáng.
Đời sống cuồn cuộn trôi như nước chảy qua cầu, có ai bắt
được dòng nuớc vừa trôi qua. Mọi sự luôn biến dịch trong từng sát na
một, nhưng mỗi lúc lại chứa đựng cả thiên thu. Trong nhà thiền gọi
là: “Nhất niệm vạn niên “.
Chúng ta đang đứng trước một nền văn minh vật chất cực thịnh,
quay cuồng mọi người trong những mắc xích, mà mỗi người là một mắc
trong đó. Chúng ta chạy theo thời gian, dù thời gian vật lý một ngày
chỉ có 24 giờ, ta vẫn cảm thấây thiếu, vì tâm luôn bất an. Chúng ta
nhận lầm tiến bộ vật chất là tiến bộ tâm linh và vô tình, lại đang
bán linh hồn cho những tiện nghi đó. Cho nên, tấm lòng Đại bi thể
hiện trong lúc nầy là cùng nhau làm cho vật chất có ý nghĩa tiến bộ
thực sự là để phục vụ con người đúng nghĩa. Và chung quanh chúng ta,
bao hoàn cảnh đau khổ đã đang có mặt, trong ta hay trong những người
thân, bạn bè, người xa lạ…Chiến tranh, thiên tai, nạn tại và là nổi
bức xúc thường trực ảnh hưởng đến mọi thân phận con người, bất kể
địa phương, giai cấp, màu da chủng tộc, tôn giáo, văn hoá v.v..Hình
ảnh của Đại bi Quán Thế Âm trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, để
Chánh báo chuyển hoá Y báo, để cảnh khổ được dập tắt, lò lửa hận
thù biến thành lò sen thanh khiết, diệu hiền.
Thực sự, cuộc sống không có gì mâu thuẩn; mâu thuẫn hay
không là do chúng ta đem đến cho nó với ý niệm vị kỷ, đặt định, ưa
ghét, khen chê v.v…Con người là một cái gì vô tậtn (Phật tánh), cuộc
sống cũng vô tận (Pháp giới sum la vạn tượng, trùng trùng duyên
khởi). Đem cái vô tận ở bên trong mà ứng với cái vô tận ở bên
ngoài, đó gọi là Đại bi Quán Thế Âm.
Làm sống lại hình ảnh của Bồ tát Quán thế Âm trong Mât
giáo, chủ đích của chúng tôi mong ước rằng tất cả chúng ta hãy trở
về với Quán Thế Âm của tự tánh mà mọi người đều có đủ, để cứu
khổ ban vui cho mình, cho tất cả mọi người, mà chính ta cũng là một
sự sống trong đó.
Có đường nào không
quanh co, khúc khuỷu
Có đuờng nào thẳng
hoài, êm dịu bước chân đi
Người có đến, có đi
Cỏ cây, hoa lá đều
vẫn vậy
Chim vẫn hót reo vui
trong trong nắng bình minh
Hay buổi chiều tà
về nắng nhạt
Xuân Hạ Thu Đông
vẫn tuần tự trôi qua
Đã bao lần, ta không
nhìn thấy
Nhưng hôm nay, Ngài
đến
Mắt Liên hoa nhìn
suốt đại thiên
Những tia sáng dịu
hiền, mắt trong như nước cam lộ
Bàn tay Phât thủ
giang rộng đến vô thỉ vô chung
Mảnh Thiên y khua
động bao tầng vũ trụ
Nhành dương chi rải,
dập tắt mọi hận thù,
vén lên màn ánh
sáng
Đại
bi Quán Thế Âm!
Người hởi người!
Người là ta hay ta
chính là Người
Ta vẫn thấy người
trong mọi sinh vật
Vẫn thấy Nguời trong
vô cùng pháp giới
Ta vẫn thấy trong
mỗi cầu mong, tâm niệm
Xuân Hạ Thu Đông
vẫn tuần tự trôi qua
Chim vẫn reo vui
Cỏ cây hoa lá đều
cũng vậy….
Tiết Hạ năm Mậu Thìn
Kinh sách tham khảo :
- Tô Tất Địa
Thầy Thích Viên Đức dịch
- Đông Mật của Đại
sư Hoằng Pháp “
- Hiển Mật Viên
Thông
“
- Chuẩn Đề Đà la ni
Kinh “
- Tô Bà Hô Đồng
tử Kinh luân Thầy Thích
Quảng Trí dịch
- Phổ Môn giảng
lục- Đại sư Thái Hư HT. Trí
Nghiêm dịch
- Huyền luận về
Kinh Pháp Hoa. Đại sư Thái Hư
Minh Lễ dịch
- Diệu Pháp Liên Hoa giảng diễn
lục HT. Trí nghiêm dịch
- A Di Đà sớ
sao
HT Thích Hành Trụ dịch
- Dòng Tiếp
Hiện
Nhất Hạnh
- Pháp Hoa huyền
nghĩa Chánh Trí
Mai Thọ Truyền
- Quán Thế Âm Bồ
tát tín luận
Cư sĩ Hàn Tín
- Phật Học Phổ
thông
HT Thích Thiện Hoa
- Sáu cửa vào động
thiếu thất
Cư sĩ Liễu Như
- Chu Dịch huyền
giải
Nguyễn Duy Cần
- Nguyễn Trãi- Sinh
thức và hành động
Võ văn Ái
- Kinh Thủ Lăng nghiêm HT Thích Từ Thông