|
Source : Vietsciences
MỤC LỤC
1. Bối cảnh
lịch sử Ấn Độ trước Phật giáo
2. Giai đoạn
sơ khai và Giáo hội đầu tiên
2.1- Giai
đoạn sơ khai
2.2 -Tổ
chức giáo hội đầu tiên
3. Các Hội nghị
kết tập kinh điển chính
3.1 -Kết tập
lần thứ I
3.2 -Kết tập
lần thứ II
3.3 -Vua Asoka và
Kết tập kinh điển lần thứ III
3.4 -Kết tập
lần thứ IV và các lần sau đó
4. Các bộ phái chính
hiện nay
5. Về khái niệm
Tiểu thừa
6. Nguyên do suy tàn
của Phật giáo tại Ấn Độ
6.1 -Sự phân hoá
trong Phật giáo ở Ấn Độ
6.2 -Phật giáo
và quan hệ với Ấn giáo (Hindu)
6.3 -Sự bành
trướng có tính cách bạo động của
Hồi giáo
7. Các di tích, di chỉ, và trung tâm Phật giáo quan
trọng trong lịch sử
7.1 -Ấn
Độ
7.2 -Sri Lanka (Tích Lan)
7.3 -Nepal
7.4 -Afghanistan (A Phú
Hăn)
7.5 -Tây Tạng
7.6 -Miến
Điện
7.7 -Trung Hoa
7.8 -Việt Nam
7.9 -Triều Tiên
7.10 -Thái Lan
7.11 -Campuchia
7.12 -Nhật Bản
8. Phật giáo ngày
nay
9. Tóm tắt các
diễn biến trong lịch sử Phật giáo
10. Đọc thêm
11. Tham khảo
11.1 -Tiếng Việt
11.2 -Tiếng Anh
Phật giáo là một tôn
giáo được Đức Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni)
truyền giảng ở miền bắc Ấn
Độ vào thế kỷ thứ 6 TCN. Do đạo
Phật được truyền đi trong một
hơn hay 2500 năm và lan ra nhiều nơi cho nhiều chủng
tộc nên lịch sử phát triển của nó khá đa
dạng về các bộ phái cũng như là các nghi
thức và phương pháp tu học. Ngay từ buổi
đầu, Đức Thích Ca, người truyền
đạo Phật, đă thiết lập
được một giáo hội với các luật
lệ hoạt động chặt chẽ của nó. Nhờ
vào sự uyển chuyển của giáo pháp, đạo
Phật có thể thích nghi với các hoàn cảnh chế
độ xă hội, con người, và tập tục
ở các thời kỳ khác nhau, nên ngày nay Phật giáo
vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển ngay
cả trong các nước có nền khoa học tiên
tiến như Hoa Kỳ và Tây Âu.
1.
Bối cảnh lịch sử Ấn Độ
trước Phật giáo
Về địa lư, phía
Bắc của Ấn Độ là dăy Hy-mă-lạp-sơn
(Hymalaya) cao lớn và dài tạo nên một hàng rào cô
lập các vùng b́nh nguyên của xứ này với các vùng
c̣n lại. Để liên lạc với bên ngoài th́
chỉ có con đường núi xuyên qua A Phú Hăn (Afghanistan).
Nền văn hóa chính ngự trị thời bấy
giờ là văn hóa Vệ Đà (Veda). Theo sử
liệu hiện nay th́ dân tộc Ấn (Veda) có chung
tổ tiên với các dân tộc châu Âu là các bộ lạc
du mục đă mở mang và xâm chiếm các vùng lănh thổ
Tây Bắc Ấn và lan rộng ra hầu hết bán
đảo Ấn Độ khoảng 1000 năm
trước Công Nguyên.
Văn hoá Vệ Đà
nghiêng về thờ phụng nhiều thần thánh
cũng như có các quan điểm thần bí về
vũ trụ. Những sự phát triển về sau
đă biến Veda thành một tôn giáo (đạo Bà La Môn)
và phân hoá xă hội thành 4 giai cấp chính trong đó giai
cấp Bà La Môn (hay tăng lữ) là giai cấp thống
trị.
Tư tuởng luân hồi
và cho rằng sinh vật có các ṿng sinh tử thoát thai
từ đạo Bà La Môn (hay sớm hơn từ tư
tưởng Veda). Đạo này c̣n cho rằng tồn
tại một bản chất của vạn vật
đó là Brahman (hay Phạm Thiên). Do việc giai cấp
tăng lữ được đề cao và
được hưởng mọi ưu đăi bổng
lộc trong xă hội đă tạo điều kiện
cho việc phân hoá thành phần này ra rất nhiều
hướng triết lư hay hành đạo khác nhau và
đôi khi chống chọi phản bác nhau. Trong thời
gian trưóc khi ĐứcThích Ca thành đạo, đă có
rất nhiều trường phái tu luyện. Các xu
hướng triết lư cũng phân hoá mạnh như là
các xu hướng khoái lạc, ngẫu nhiên, duy vật,
hoài nghi mọi thứ, huyền bí ma thuật, khổ
hạnh, tu đức hạnh, tụng kinh...
Chính sự phức
tạp của xă hội, các tư tưởng về
nhân sinh quan vũ trụ quan khá phong phú, và sự xuất
hiện của các phương thức tu tập dị
biệt nhau đă là một môi trường giúp cho Thích
Ca từ đó t́m ra con đường riêng cho
đạo Phật về sau.
|

|
|
Điêu
khắc bằng đá vào thế kỉ thứ I
dấu chân Phật có chạm h́nh bánh xe Pháp Luân
|
2.
Giai đoạn sơ khai và Giáo hội đầu tiên
2.1
Giai đoạn sơ khai
Ngay sau khi thành Đạo
(vào khoảng giữa sau thế kỉ thứ 6 TCN - có
tài liệu cho đó là vào năm 544 TCN) th́ Thích Ca đă
quyết định thuyết giảng lại hiểu
biết của ḿnh. 60 đệ tử đầu tiên là
những người có quan hệ gần với Thích Ca
h́nh thành tăng đoàn (hay giáo hội) đầu tiên.
Sau đó, những người này chia nhau đi khắp
nơi và mang về thêm ngày càng nhiều người
muốn theo tu học. Để làm việc
được với một lượng người
theo tu học ngày càng đông, Phật đă đưa ra
một chuẩn mực cho các đệ tử có thể
dựa vào đó mà thu nhận thêm người. Các
chuẩn mực này phần chính là việc quy y Tam Bảo
-- tức là chấp nhận theo hướng dẫn
của chính Phật, những lời chỉ dạy
của Phật (Pháp), và cộng đồng Tăng
đoàn.
2.2 Tổ chức giáo hội
đầu tiên
Trong thời c̣n tại
thế th́ giáo hội trực tiếp chịu sự
hướng dẫn của Thích Ca về giáo lư và
phương cách tu tập. Đây là tổ chức
thống nhất, b́nh đẳng giữa mọi thành
viên không phân biệt gíới tính, tuổi tác, điạ
vị xă hội và có mục tiêu tối cao là đem
lại giác ngộ cho mọi thành viên. Nhờ vào tổ
chức chặt chẽ và qui củ nên giáo hội tránh
được nhiều chia rẽ.
Kỷ luật của giáo
hội dựa trên nguyên tắc tự giác. Trong các ḱ
họp, giới luật được nêu lên, sau đó
thành viên tự xét và nhận vi phạm nếu có. Những
điều lệ chính được đề cập
là nhẫn nhục, hành thiện tránh ác, tự chủ và
kiềm chế trong ăn nói và tinh tấn.
Ngoài những người
xuất gia, Phật c̣n có rất nhiều đệ
tử tại gia (hay cư sĩ). Giới cư sĩ
cũng được Phật thuyết giảng và ngược
lại tham gia ủng hộ tăng đoàn về
nhiều mặt.
Sau khi Phật nhập
tịch th́ Tôn giả Ma Ha Ca Diếp (Maha Kassapa) thay
phần lănh đạo giáo hội. Giáo hội giữ
nguyên các hoạt động truyền thống của
ḿnh cho đến ḱ kết tập kinh điển
lần thứ hai.
3.
Các Hội nghị kết tập kinh điển chính
3.1-
Kết tập lần thứ I
* Lí do :
Khi Phật c̣n sinh tiền
th́ các giảng thuyết đều chỉ truyền
miệng. Phật lại tuỳ theo tŕnh độ
hiểu biết và khả năng hấp thụ
để có lời giảng thích hợp. Các
phương pháp dùng lại rất phong phú tùy theo hoàn
cảnh và phưong tiện. Do đó, sự dị
biệt khó tránh khỏi trong các lời giảng.
Ngay sau khi Phật nhập
diệt đă có các đệ tử cho rằng phải
làm điều này, không làm điều nọ, không
chịu ràng buộc tâm ư... Để tránh sự sai biệt,
và bảo tồn các giáo pháp và luật lệ cho
được toàn vẹn, Ma Ha Ca Diếp (Maha Kassapa)
đă đề nghị kết tập và phân loại
toàn bộ lời dạy của Phật lại thành kinh
điển để tránh chia rẽ, sai lầm về
giáo pháp.
* Diễn biến và Kết
quả :
Cuộc kết tập
đă được tổ chức tại Tỳ Xá Ly (Rajagriha,
nay là Rajgir) gồm 500 t́ kheo do sự trợ giúp của
vua A Xà Thế (Ajatasatru) xứ Ma Kiệt Đà (Magadha)
vào khoảng đầu thế kỷ thứ 5 TCN. A Nan Đà (Ananda) là người theo
hầu Phật suốt 30 năm, được xem là
người có trí nhớ tuyệt vời, đứng ra
tŕ tụng lại những điều Phật giảng
thuyết (bởi vậy các bộ kinh đều
bắt đầu bằng câu "Tôi nghe như
vầy:", lời của A Nan Đà). C̣n Upali, là
người thợ cạo, kể lại về
giới luật.
Phương pháp kết
tập được kể lại bằng trí nhớ
và cũng không có ghi thành văn bản. Những
điều ghi nhận này sau đó được
viết lại thành 4 bộ kinh:
1.
Kinh Trường A Hàm (Digha agama)
2.
Kinh Trung A Hàm (Majjhima agama)
3.
Kinh Tăng Nhất A Hàm (Anguttara
agama)
5.
Kinh Tạp A Hàm (Samyutta agama)
Đây là các tài liệu
cổ nhất có ghi lại cuộc đời của
Phật và hoạt động của Tăng đoàn,
đánh dấu bước đầu h́nh thành Kinh
tạng và Luật tạng. Các bộ kinh văn trên
cũng là căn bản cho Phật giáo nguyên thuỷ.
3.2- Kết tập lần
thứ II
* Lí do
:
1.Sau 100 năm (đầu
thế kỉ thứ 5 TCN) th́ có nhiều người
muốn thay đổi một số điều chi
tiết trong giới luật. Đại hội kết
tập lần thứ II cốt để bàn thảo về
những thay đổi này.
2.Đại hội c̣n
nhằm mục đích ngăn không để các tư
tưởng của các đạo khác thâm nhập vào giáo
lư Phật giáo.
* Diển biến và Kết
quả :
Đại hội có 700
vị tỳ kheo, được tổ chức tại
Vesali trong tám tháng dưới sự trợ giúp của
vua Kalasoka. Trong đại hội những người không
đồng ư với việc giữ nguyên giới
luật ban đầu đă bỏ ra để tổ
chức một hội nghị kết tập riêng và
thành lập Đại chúng bộ (Mahàsamghika). Số
người c̣n lại vẫn tiếp tục kết
tập kinh điển, sau đó h́nh thành Thượng
tọa bộ (Theravada).
3.3- Vua Asoka và Kết tập
kinh điển lần thứ III
|

|
|
Thời vua A Dục, đạo Phật
đă truyền ra ngoài Ấn Độ
|
- Asoka (A
Dục) là vua của xứ Mauryan, ra đời
khoảng năm 273 TCN. Trước khi trở thành
Phật tử, ông có tính khí rất hung bạo, đă
giết nhiều anh em của ḿnh để cướp
ngôi vua cũng như đă xua quân chiếm lănh thổ
Kalinga (ngày nay thuộc về Orissa) phía Đông Ấn.
Nhưng ngay sau đó nhờ gặp được Sa di
Nigrodha, ông theo Phật giáo cải hối và làm rất
nhiều điều thiện, chống lại bạo
lực. Ông là ngựi có công lớn khuyến khích
Phật giáo, xây dựng hàng chục ngàn chùa chiền,
bảo tháp Phật giáo cũng như xây dựng hệ
thống đường xá, nhà thương cho
đất nước.
Đây là giai đoạn
đánh dấu sự phát triển của Phật giáo ra
khỏi địa bàn nước Ấn Độ.
Nhiều đoàn truyền giáo đạo Phật đă được
cử đến khắp nơi từ Âu sang Á
đến tận Hy Lạp, các nước tại Trung
Á, tại Trung Đông cũng như Trung Quốc,
Miến Điện và Tích Lan. Một tranh luận khá sôi
nổi hiện nay là liệu đoàn thuyết pháp
của vua Asoka đă đến được Việt Nam hay
không? Câu hỏi này c̣n trông chờ vào việc t́m ra thêm các
bằng chứng về di chỉ khảo cổ ở
Việt Nam.
Ngoài ra, vua Asoka c̣n là người bảo trợ cho ḱ
kết tập kinh điển thứ lần thứ III.
3.4- Kết
tập kinh điển lần thứ III và bản
dịch tiếng Pali của toàn bộ Tam Tạng kinh
* Lí
do:
Trong thời gian vua Asoka
trị v́ vào giữa thế kỉ thứ 3 TCN, Phật
giáo đă phát triển rộng ra nhiều nơi. Một
điều tất yếu là có nhiều sự phân hóa,
ngay trong đạo Phật. Tăng đoàn cũng đă
bị một số người trà trộn và lạm
dụng, gây nhiều bất ḥa nội bộ.
* Diễn
biến và Kết quả:
Hội nghị
được chủ tŕ bởi Moggaliputta Tissa bao
gồm 1.000 t́ kheo ưu tú được cử
đến. Hội nghị được tổ
chức vào khoảng năm 325 TCN và kéo dài trong 9 tháng.
Địa điểm kết tập là thành Pataliputta
thuộc về xứ Maggadha dưới sự khởi
xướng và giúp đỡ của vua Asoka. Đây là
lần đầu tiên Tam Tạng Kinh bao gồm Kinh
tạng, Luật tạng và Luận tạng
được hoàn thành đầy đủ.
Cuối
đại hội, Moggaliputta Tissa ra "Những
Điểm Dị Biệt" (Kathavatthu)
để bác bỏ luận thuyết không hợp lệ
của một số bộ phái. Đại hội
kết tập này có hạn chế là chỉ
được sự công nhận về giáo pháp của
tông phái Phật giáo nguyên thuỷ (Theravada), tông phái
chiếm đa số lúc bấy giờ.
Sau đại hội,
Tam Tạng kinh cùng với các chú giải được
đem tới Tích Lan bởi con trai vua Asoka là Mahinda. Các
kinh điển này sau đó đă được
dịch sang tiếng Pali c̣n nguyên vẹn cho đến
nay.
3.5- Kết tập lần
thứ IV và các lần sau đó
* Đối
với ḱ kết tập lần thứ IV th́ các
sử liệu đă không hoàn toàn thống nhất
với nhau về thời gian tính và địa
điểm. Có hai thuyết đáng lưu ư là:
1.Thuyết thứ
nhất:
* Lí do:: Vua
Kanishka là tín đồ trung thành với Phật giáo,
rất ưa được nghe giảng kinh văn nên
thường mời nhiều tu sĩ Phật giáo
đến giảng kinh. Tuy nhiên, ông nhận thấy có rất
nhiều sự khác biệt về các kiến giải
trong Phật giáo nên khởi tâm bảo trợ cho ḱ
kết tập lần thứ IV.
* Diễn
biến và Kết quả: Thời gian kết tập
là vào khoảng 400 năm sau khi Phật nhập diệt
(thế kỉ thứ 1). Địa điểm là vùng Kasmira
miền tây bắc Ấn Độ. Hội nghị bao
gồm 500 học giả giỏi về Tam Tạng kinh
và do Vasamitra chủ tọa với sự trợ giúp
của Parsva.
Sau khi kết tập,
Vua Kanishka đă ra lệnh khắc lại toàn bộ Kinh
tạng, Luật tạng và Luận tạng lên trên
những lá đồng, bảo quản tại một
nơi cố định, không cho mang ra ngoài. Tuy nhiên,
những di vật này đă bị thất lạc, nay
chỉ c̣n phần thích luận A Tỳ Đạt Ma Đại
Tỳ Bà Sa (Abhidharma Mahavibhasa sastra) mà Trần
Huyền Trang đă dịch sang tiếng Hán, gồm hai
trăm quyển.
2.Thuyết thứ hai:
1-Thời gian kết
tập là vào khoảng 400 năm sau khi Phật nhập
Niết Bàn, do vua xứ Tích Lan là Vattagàmani hỗ trợ.
Ḱ kết tập này đă đọc, hiệu đính và
xếp lại thứ tự của Tam Tạng kinh
cũng dịch lại chúng sang tiếng Pali. Thuyết
này được nhiều học giả công nhận
chính là kết tập lần thứ IV của
Thượng Tọa Bộ (Theravada).
* Các ḱ
kết tập khác: Các lần kết tập c̣n
lại đều là của riêng bộ phái Thượng
Tọa Bộ (c̣n gọi là Nam Truyền) tiến hành.
- Kết tập lần
thứ V được tổ chức vào năm 1871, trong
suốt 5 tháng tại thủ đô của Miến
Điện lúc bấy giờ là Mandalay. Số người tham
dự gồm 2.400 cao tăng dưới sự bảo
trợ của vua Mindon. Kết quả là việc
hiệu đính lại 3 tạng kinh và đem khắc
trên 729 phiến đá h́nh vuông được cất vào
trong chùa tháp Kuthodaw.
- Kết tập lần
thứ VI bắt đầu ngày 17 tháng 5, nhân dịp
lễ Phật Đản, năm 1954, trong suốt
thời gian là 2 năm. Địa điểm kết
tập là phía bắc của Ngưỡng Quăng, trên
đồi núi Nghệ Cố. Dưới sự khởi
xướng của Giáo hội Phật giáo Miến
Điện và bảo trợ của Chính phủ Miến
Điện. Kết quả là sự tham khảo lại
tất cả kinh điển của các nước
Phật giáo Nam
truyền, rồi đúc kết và đem xuất bản
để truyền bá.
* Theravada, c̣n được gọi là Phật giáo
nguyên thuỷ hay Phật giáo Nam truyền (tiếng
Phạn: Sthaviravada). Tông phái này h́nh thành ngay trong
thế kỷ đầu tiên sau khi Thích Ca viên tịch.
Chữ Theravada có nghĩa là "lời dạy của
bậc trưởng thượng". Do đó nhiều
sách c̣n gọi nhóm này là Trưởng Lăo bộ. Chính
xứ Sri Lanka
là nơi bảo tồn được truyền
thống của Theravada mặc dù đạo Phật
tại đó là một kế thừa từ trung tâm
Ấn Độ. Phật giáo ở Ấn đă bị
suy tàn và biến mất từ thế kỉ thứ 6 do
việc lan tràn của Hồi giáo và Ấn Độ
giáo.
|

|
|
Quan
Thế Âm Bồ Tát
Một h́nh ảnh tiêu biểu của tư
tưởng Đại thừa ở các nước
Đông Nam Á
|
* Mahayana, c̣n có tên là Đại
thừa hay Phật giáo Bắc truyền . Từ thế
kỉ thứ 1 TCN các tư tưởng Đại
thừa đă bắt đầu xuất hiện và thuật
ngữ Mahayana, hay Đại thừa, chỉ thực
sự có khi nó được đề cập trong
bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharma pundarika sutra).
Nói chung, ư tưởng Mahayana là có xu hướng rộng
răi và tự do hơn là các phép tắc ràng buộc của
Theravada
. Đến thế kỉ
thứ 3 khái niệm Mahayana mới được xác
định rơ ràng qua các trước tác của Bồ tát
Long Thọ (Nagarjuna) trong Trung Luận (hay Trung Quán
Luận), chứng minh tính không của vạn vật. Các
ư này đă được Long Thọ khai triển. Bên
trong Đại thừa, lại có các trường phái
khác như là Madhymaka, Yogacara.
* Vajrayana c̣n có các tên gọi là
Tantra, Mật tông, Kim cương thừa. Mật tông
thường có khuynh hướng giữ bí mật các
thông tin nên khó xác định được chính xác thời
điểm ra dời của tông này. Nó xuất hiện
vào khoảng thế kỉ thứ 6, hay chắc chắn
hơn là thế kỉ thứ 7. Mật tông có rất
nhiều kĩ thuật thực nghiệm trong đó bao
gồm Mandala, Mantra, Mudra, Yidam, Dhyani-Buddhas, Bija, Mahamudra,
Vajra và Ghanta
Khối lượng kinh
điển Mật tông rất khổng lồ chưa
được biết hết. Trong đó cần kể
đến đại Nhật, Kim Cang Đảnh, Tô tất
địa, Du kư, Yếu lược niêm tụng
* Pure Land, hay Tịnh Độ
tông (Ching T'u), xuất hiện vào giữa thế
kỉ thứ 4 từ sự truyền bá của sư
Huệ Viễn (Hui-yuan). Tư tưởng về
Tịnh Độ th́ có sẵn trong Phật giáo Ấn
Độ nhưng tới khi sang Trung Hoa th́ nó phát
triển thành một tông phái.
Kinh điển phái
này phần chính là các kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô
Lượng Thọ, kinh A Di Đà, cộng với
luận Văng sinh Tịnh độ. Phương pháp tu
học có 3 nguyên tắc Tín, Nguyện và Hành. Đây là
một trong các tông phái tương đối dễ tu
học nên ở Đông và Nam Á có rất nhiều
Phật tử trong vùng theo tông này, nhất là các
người lớn tuổi.
* Ch'an c̣n có các tên gọi là
Thiền tông, Zen. Thiền là phương pháp tu tập có
từ khi Thích Ca truyền giảng. Nó được
Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) đem sang
Trung Hoa vào đầu thế kỉ thứ 6. Đến
đầu thế kỷ thứ 8 th́ Thiền tông
thực sự phát triển và lớn mạnh sâu rộng
hơn các tông phái khác. Thiền tông cũng thường
được xem là một nhánh của Đại
thừa. Tuy nhiên, phương cách tu học
được nhấn mạnh là việc tự nỗ
lực để phá bỏ các định kiến
chấp trước, các kinh nghiệm, hay lề lối
suy diễn cũ của bản thân để trực
tiếp chứng nghiệm chân lư. Do sự lớn
mạnh đặc biệt, Thiền tông c̣n
được chia ra thành nhiều tông phái nhỏ, quan
trọng là Lâm Tế (Lin-chi) và Tào Động (Tsao-t'ung).
* Ngoài ra các bộ phái khác
tầm mức nhỏ hơn đáng kể là Luật
tông (Vinaya), Duy Thức tông c̣n có tên là Pháp
Tướng tông (Vijnànavàda hay Dharmalaksana), Thiên
Thai tông (T'ien T'ai), Hoa Nghiêm tông (Avatamsaka) hay
Hiền Thủ tông, Thành Thật tông (Satyasiddi), và
Chân Ngôn tông (true-word).
4. Về khái niệm Tiểu
thừa
Trước đây đă
có một sự đánh giá không đầy đủ
về các danh từ Tiểu thừa (Hinayana) và
Đại thừa (Mahayana). Cả hai khái niệm
trên xuất hiện vào khoảng thế kỉ thứ 1
trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Đă có
một số nhầm lẫn khi nhập chung khái
niệm Tiểu thừa với Thevarada (Nguyên thuỷ hay
Trưởng lăo bộ) làm một. Sự thật là
Thevarada được truyền tới và phát triển
ở Tích Lan vào thế kỉ thứ 3 TCN (thời vua
Asoka). Trong thời gian này th́ chưa hề có các khái
niệm Tiểu thừa và Đại thừa. Măi cho
đến khi bộ phái Tiểu thừa h́nh thành ở
Ấn Độ th́ Thevarada hoàn toàn phát triển độc
lập ở Tích Lan. Phái Tiểu thừa ngày nay đă
hoàn toàn không c̣n tồn tại. Do đó, Hội Phật
giáo Thế giới (World Fellowship of Buddhists, WFB)
đă quyết định xoá bỏ danh từ này vào
năm 1950 v́ nó hoàn toàn không liên quan tới đạo
Phật hiện diện ngày nay ở Tích Lan, Thái Lan,
Miến Điện, Campuchia, Lào ...
5. Nguyên do suy tàn của
Phật giáo tại Ấn Độ
Sự suy tàn của
đạo Phật tại Ấn Độ có thể
đă bắt đầu từ thế kỉ thứ 7 và
đạo Phật thực sự biến mất trên
đất Ấn vào thế kỉ thứ 14. Măi cho
đến thế kỉ thứ 19 th́ phong trào chấn
hưng Phật giáo tại Ấn mới bắt
đầu lại.
5.1 Sự phân hoá trong
Phật giáo ở Ấn Độ
Từ thế kỉ
thứ 7 trở đi, đạo Phật đă có
nhiều phân hoá. Nhiều tông phái đă xuất hiện
lại có đường lối dị biệt và
nhiều lúc chia rẽ nhau. Thời gian đó, cũng là
lúc ra đời các tông phái Mật tông. Các phái này
đưa ra rất nhiều h́nh ảnh Bồ tát và có
nhiều hoạt động về h́nh thức
tương tự với việc thờ cúng thần
linh của Ấn giáo. Do đó, ít nhiều đă làm lu
mờ các điểm đặc thù của Phật giáo.
Sự bao dung và tự do của Phật giáo cũng là
một tiền đề cho sự suy tàn. Các vua trong
nước Ấn mặc dù rất sùng bái đạo
Phật nhưng khó t́m thấy trong đạo này một
vị trí tôn xưng xứng đáng. Do đó, họ có
thể sẵn sàng nghe thuyết pháp nhưng vẫn không
bỏ quên đạo Bà La Môn và không ngừng phát huy
đạo này thay v́ Phật giáo.
5.2 Phật giáo và quan
hệ với Ấn giáo (Hindu)
Ấn độ giáo (hay
Bà La Môn) là một đạo giáo ra đời từ
thế kỉ 15 TCN, với một điểm
đặc thù là nó sẵn sàng tiếp thu các nguyên lư hay
khái niệm của đạo khác.
Một mặt, trong
số tín đồ Phật giáo có rất nhiều tu
sĩ phát gốc từ đạo Bà La Môn nên các tư
tưởng và nề nếp của Ấn giáo có ảnh
hưởng ít nhiều đến đạo Phật.
Mặt khác, quan
trọng hơn là việc Ấn giáo đă mặc nhiên
thu nạp các tư tưởng của Phật giáo làm
thành tư tưỏng Bà La Môn. (Trong đó có việc
Phật Thích Ca Mâu Ni trở thành một vị tiên tri quan
trọng của đạo này). Những cuộc tự
đổi mới của đạo Ấn kể
từ thế kỉ thứ 7 đă đem lại sinh khí
cho đạo đó cũng như làm mờ nhạt
dần h́nh ảnh Phật giáo. Sư pha trộn các
tư tưởng Phật giáo vào Ấn giáo sâu và
nhiều đến nỗi một người b́nh dân
rất khó t́m được một sự phân biệt
rơ ràng giữa Ấn giáo và Phật giáo. Măi cho đến
ngày nay, khi nghiên cứu về Phật giáo và Ấn giáo
vẫn c̣n nhiều tác giả Tây phương bối
rối khi phân biệt hai tôn giáo này.(Xin xem thêm Exploring
Hindu-Buddhist Connections)
Ngoài ra, trong thời gian đó,
với đặc tính dễ thích nghi và hợp với
nhu cầu thờ phưọng của người b́nh
dân ở Ấn, nên đạo Phật dần dà trở
thành thứ yếu hay trở thành đạo của giai
cấp trí thức.
5.3 Sự bành
trướng có tính cách bạo động của
Hồi giáo
|

|
|
Đại học Nalanda một trung tâm
Phật giáo quan trọng ở Ấn Độ (bị
phá huỷ năm 1197)
|
Vào nửa cuối thế
kỉ thứ 8, vua Al-Mahdi (775-785) của triều
đại Hồi giáo Abbasad đă xua quân tấn công
Ấn Độ và họ đă phá huỷ, cướp
bóc các tài liệu, công tŕnh, kiến trúc Phật giáo --
trong đó quan trọng là trung tâm Phật học Valabhi (Valabhī).
Mặc dù sau đó họ không tiếp tục bức
hại Phật giáo nhưng dầu sao đây cũng là
bước đầu trong việc huỷ hoại
Phật giáo tại Ấn Độ, Afghanistan và Trung Đông
Cho đến 1178 th́ quân
đội Hồi giáo của Muhammad Ghuri đă tiến
hành nhiều cuộc chinh phạt Ấn Độ,
hầu hết các công tŕnh Phật giáo đă dần dà bị
tiêu huỷ. Vào năm 1197 Trung tâm Phật giáo
Nālandā bị huỷ diệt hoàn toàn kể cả
các tăng sĩ. Vikramaśīla cũng bị chiếm
năm 1203, chấm dứt toàn bộ một thời
đại lịch sử của Phật giáo tại
Ấn Độ.
6. Các di tích, di chỉ, và trung tâm
Phật giáo quan trọng trong lịch sử
6.1 Ấn Độ
Là cái nôi đầu tiên
của Phật giáo. Các trung tâm Phật giáo đă ra
đời ngay từ thời Thích Ca truyền
đạo và phát triển mạnh vào thời vua Asoka.
Ngày nay, những di tích quan trọng ở Ấn
Độ là:
|

|
|
Tháp Dhamekh di tích được xây
rất sớm (thế kỉ 6 TCN) cao 150 bộ
bằng gạch nung
|
* Bồ
Đề đạo tràng (BodhGaya). Đây là
nơi mà Thích Ca đă ngồi thiền và thành
đạo. Alexander Cunningham và các cộng sự đă t́m
ra các chứng tích về các cột trụ của
đạo tràng này vào thập niên 1880. Tháp Bồ
Đề ngày nay được dựng lại từ
thế kỉ thứ 7. BodGaya cách thành phố Gaya 12 km bằng
đường bộ. Người ta có thể
đến đó qua ngơ Gaya
bằng đường hàng không hay dùng xa lộ
Deli-Calcuta.
* Sarnath, c̣n
gọi là Mrigadava (Deer
park). Đây là nơi mà Phật
bắt đầu thuyết giảng giáo lư cho 5 anh em
Kiều Trần Như (vườn Lộc Uyển). Di
tích c̣n sót lại là tháp Dhamekh được xây vào triều
đại Gupta thế kỷ thứ 6 trước Công
nguyên. (Chữ Phạn dharmekh nghĩa là chánh pháp.)
Sarnath chỉ cách Varanasi ở Uttar Pradesh khoảng 8 km và có
thể đến đó từ Varanasi bởi đường
hàng không, hay xe lửa.
* Kusinagara Đây
là nơi mà Phật nhập niết bàn. Qua các khai
quật th́ người ta đă t́m thấy
được các mảnh vỡ của các tượng
phật và các cột tụ mà vua Asoka đă xây dựng.
Nơi này ngày nay là Kasia, thuộc về Deoria của bang
Utta Pradesh.
* Trung tâm Phật giáo Nalanda.
Đây là trường đại học Phật giáo
đầu tiên trên thế giới. Nalanda nằm cách Patna 90 km. có thể đến Patna bằn đường
hàng không hay đường bộ. Sau đó có thể
đến Nalanda bằn đựng tàu hoả. Trạm
Nalanda nằm trên nhánh đường của
Bhaktiyarpur-Rajgir trong phần Eastern Railway. Hoặc từ Patna, có thể
dùng xe bus để đến Nalanda.
6.2 Sri Lanka (Tích Lan)
Ở Sri Lanka có rất
nhiều các di tích Phật giáo. Quan trọng nhất bao
gồm.
* Anuradhapura: Đây là cố đô
của Sri Lanka
(thời ấy có tên là Tích Lan, hay Ceylon) có rất
nhiều di tích Phật giáo. Trong số đó, đáng chú
ư là:
* Cây
bồ đề được chiết cành
từ cây bồ đề gốc nơi mà Thích Ca đă
thành đạo. Cây này có tuổi thọ hơn 2100
năm. Cây bồ đề chính ở Ấn đă
bị huỷ hoại. Hầu hết các nhánh bồ
đề hiện tại chiết ra về các nơi
khác trên thế giới đều chỉ xuất phát
từ cây bồ đề con này.
* Đền Thuparama, đây là một trong
những ngôi đền cổ nhất của Phật
giáo tại Sri Lanka, xây dựng vào thế kỉ thứ 3
TCN dưới triều đại vua Devanmpiyatissa.
Đền này có đặt một mảnh vụn
xương vai phải của Phật. Ngôi đền
đă được trùng tu và xây lại nhiều
lần. Ngôi đền hiện tại là phiên bản
năm 1862.
* Khu đền Ruvanveli
đă được xây cất bởi vua Dutugemunu vào
thế kỉ thứ 2 TCN. Đây là một kiến trúc
khổng lồ cao 103 mét và chiếm chu vi 286 mét. Khu di tích
này được được phát hiện vào
đầu thế kỉ 20 và được phục
chế theo đúng kích thước ban đầu.
|

|
|
Tượng Phật
ngồi thiền Lord Buddha được tạc
vào thế kỉ thứ 12 cao 14 mét ở Sri Lanka
|
* Anuradhapura, cách Colombo 250 km
về phía bắc. Từ Colombo có nhiều chuyến xe
buưt Colombo-Anuradhapura mỗi ngày. Phương tiện tàu
hoả từ Colombo đến Anuradhapura
cũng có.
* Tượng Phật
ngồi thiền Lord Buddha t́m thấy ở Polonnaruwa.
Tượng được tạc vào thành núi đá
bằng granit vào thế kỉ thứ 12 cao 14 mét. Gần
đó, cũng có hai khối tượng h́nh sư Anan
đứng khoanh tay bên cạnh Thích Ca tịch diệt
trong tư thế nằm. Polonnaruwa nằm ở phiá
Đông Sigiriya, tốn chừng 1,5 giờ đi xe buưt.
* Quần thể tượng
và tranh Phật trong các hang động ở Dabulla.
Đây là nơi trú ẩn của vua Valagam Bahu ở
thế kỉ thứ 1 TCN. Tổng cộng hơn 80 hang
động đă được các sư thời đó
dùng để toạ thiền. 5 trong tổng số các
hang này có nhiều tượng và tranh Phật
được kiến tạo vào thời gian đó.
Dambulla nằm cách Kandy 72 km về
hướng bắc và cách Anuradhapura
64 km về hướng đông nam trên đường
nối hai thành phố này. Từ đường cái
người ta phải di bộ lên cao 150 mét qua các
bậc đá trọc. Nên mang theo dù khi thăm viếng.
6.3 Nepal
Nepal cũng có nhiều
trung tâm Phật giáo quan trọng như:
|

|
|
Tháp được
dựng từ thời vua Asoka để đánh
dấu nơi Phật Thích Ca ra đờ
|
* Lumbini, nơi
Phật Thích Ca ra đời. Vùng di tích t́m thấy ở
hướng Tây Nam
là một đồng bằng ở chân của rặng
núi Churia (xem thêm bản đồ trong bài Thích Ca Mâu Ni).
Trước đây người ta không xác định
được địa danh này. Măi đến 1 tháng 12
năm 1886, nhà khảo cổ người Đức Dr.
Alois A. Fuhrer mới t́m thấy cột tháp của vua Asoka
ghi lại làm xác nhận nơi ra đời của Thích
Ca Mâu Ni.
Để đến
Lumbini, dùng đường hàng không từ Kathmandu
tới Bhairawa. Từ nơi này có các loại xe buưt hay
taxi đưa đến Lumbini cách đó 22 km.
* Kathmandu: Đây
là thành phố mà có khoảng 1/3 số người theo
Phật giáo. Đáng dể ư có:
* Tháp Swayambhunath (có nghĩa là "tự
tại") ở Kathmandu.
Nằm về phiá tây của trung tâm thành phố. Tháp này
đă có 2000 năm tuổi. Tháp này nằm trên
đỉnh của một đồi cao 77 mét và có 350
bậc thang đi bộ. Đỉnh tháp là các khung
thiếp vàng của các mắt Phật nh́n về bốn
phiá. Giữa hai mắt thường có thêm mắt
thứ 3 tượng trưng cho khả năng thiên nhăn
thông.
* Tháp Bodhnath (hay Boudhanath) ở Kathmandu.
Đây là tháp lớn nhất Nam Á cách 5 km về phiá
đông của Katmandu.
Đây đuợc xem là trung tâm Phật giáo Tây Tạng quan
trọng nhất bên ngoài Tây Tạng. Trong khuôn viên của
tháp có 35 thiền đường. Tháp có thể
đuợc xây vào thế kỉ thứ 14.
Có một ít
đường bay đến Kathmandu.
Sân bay quốc tế ở đó là Tribhuvan.
6.4 Afghanistan (A Phú Hăn)
Afghanistan
nằm trên con đường tơ lụa (the Silk Road), đường bộ
huyết mạch giao thương Á-Âu trong lịch sử
loài người. Đạo Phật trước khi
truyền sang Trung quốc cũng đă lan đến xứ
này từ rất sớm, khoảng thế kỉ thứ
2 TCN. Vua Kaniska, một Phật tử, đă cai trị Afghanistan
từ thế kỉ thứ 1 TCN. Đến thế
kỉ thứ 3, thời đại vua Asoka, th́ Phật
giáo ở đây trở nên hưng thịnh. Một trung
tâm Phật giáo quan trọng h́nh thành vào cuối thế
kỉ thứ 1 tại nơi này là Gandhara.
|

|
|
Tượng
Phật khổng lồ tạc vào núi đá ở Bamiyan, Afghanistan
(nay không c̣n nữa)
|
* Grandhara là một trung tâm
Phật giáo rất lớn. Nghệ thuật Phật giáo
ở đây đă đạt đến đỉnh cao.
Các thành phố chính của văn minh Granhara bao gồm
Zaranj, Bamiyan, Paktia, Kabul, Zabul, và Peshawar. Một
trong những công tŕnh nghệ thuật Phật giáo tiêu
biểu là các tưọng Phật tạc vào núi đá
khổng lồ ở Bamiyan. Các công tŕnh này
được xây dựng khoảng thế kỉ 2-5. Pho tượng lớn
nhất cao khoảng 52 mét (pho nhỏ hơn cao 35 mét).
Nghệ thuật này chịu ảnh hưởng kiến
trúc văn hoá của Hy Lạp, Ba Tư, Trung và Nam Á. Công
tŕnh đă bị phá huỷ một lần bởi
Hephthalites (White Huns, Yanda, 厌哒) vào thế kỉ thứ 6. Lần đó,
pho tượng lớn nhất vẫn c̣n. Sau đó, các
tượng đă bị chính quyền Hồi giáo
cực đoan Taliban phá huỷ hoàn toàn vào tháng 3 năm
2001
Ngoài ra, trong năm 1994 th́
thư viện quốc gia Anh công bố t́m
được một di chỉ kinh Phật cổ
lấy từ Grandhara bao gồm nhiều mảnh
gốm. Tiếp sau đó, Đại học Washington (Hoa
Kỳ) vào tháng 8 năm 2002 cũng t́m được thêm
8 mảnh vỡ của cùng một di chỉ này. Bản
kinh Phật này, viết bằng tiếng Grandhara,
được xem là bản văn tự kinh Phật lâu
đời nhất (vào khoảng thế kỉ thứ 1)
hiện t́m thấy. Việc
nghiên cứu giải mă nội dung đă được
tiến hành trong nhiều năm qua và đang
được xuất bản từ từ.
6.5 Tây Tạng
Tây Tạng là quốc gia
mà trước khi bị Trung Quốc chiếm (1951) có
hơn 99% dân số theo Phật giáo mà đa số là
Mật tông. Thủ đô Tây Tạng là Lhasa và cũng là trung tâm
Phật giáo quan trọng. Sau khi bị chiếm đóng,
hàng chục ngàn chùa chiền bị tiêu huỷ và rất
nhiều di sản quư liên quan tới Phật giáo ở đây
bị cướp phá nghiêm trọng, và khoảng hơn
87,000 Phật tử Tây Tạng bị giết. Số di
tích c̣n sót lại hiện nay thuộc về thành phố Lhasa
|

|
|
Điện Potala, Lhasa Tây Tạng
|
* Lhasa
Thành phố ở độ cao gần 3700 mét này có
từ thế kỷ thứ 7 và ngay từ khi thành
lập nó đă dung nạp Phật giáo. Hai địa
danh c̣n giữ lại và được chính quyền
Trung Quốc trùng tu cho mụch tiêu du lịch là
đền Jokhan và điện PotalA.
* Chùa Jokhan (hay Đại
Chiêu) ngày trước là trung tâm của bộ phái Shakya
(Thích Ca) thuộc Mật tông. Trên đỉnh chùa có h́nh
tượng bánh xe Pháp Luân. Ngôi chùa là một công tŕnh
kiến trúc khổng lồ với 3 tầng bên trong
phủ đầy bởi các tượng Phật.
Đáng kể nhất là tượng Jowo Shakya (Thích Ca khi
12 tuổi). Nơi này là trung tâm cho hàng trăm ngàn
người Tây Tạng đến hành hương
* Điện Potala,
nghĩa là "thánh địa Phật giáo", là nơi
mà các Dalai Lama trú ngụ. Đây là một biểu
tượng của Phật giáo Tây Tạng. Điện
này được xây cất từ thế kỉ
thứ 7. Dáng hiện tại của nó là kiến trúc
đă trùng tu vào thời gian của Dalai Lama thứ 5.
Điện này có 13 tầng cao 117 mét gồm gần 1000
pḥng là nơi làm việc ngày xưa của chính quyền
Tây Tạng.
6.6 Miến Điện
Miến Điện, nay là
Myanma, là một quốc gia mà Phật giáo đă truyền
đến rất sớm. Phật giáo là quốc giáo
của xứ này. Truyền thuyết cho rằng Phật
giáo đă du nhập xứ này từ khi Phật Thích Ca
c̣n sống, hai đệ tử là Tapussa and Bhallika đă
mang được 8 sợi tóc của Phật về và
hiện các di tích vẩn c̣n giữ tại các chùa tháp.
Dữ liệu được xác minh chắc chắn là
các đoàn truyền giáo thời vua Asoka đă đến
Miến Điện vào thế kỉ thứ 3 TCN.
Hiện tại đa số Phật tử theo Thevarada.
|

|
|
Tháp Shwedagon tại Yangon Myanma, toàn thân tháp
được dát vàng ước lượng lên
đến 30 tấn
|
- Yangon (hay Rangoon) và vùng phụ
cận. Đây là trung tâm Phật giáo lớn c̣n giữ
lại rất nhiều đền đài trong số này
có:
* Tháp Shwedagon: Ngôi
đền lớn nhất tại đây toàn bộ
được dát vàng và trang trí rất nhiều gỗ,
đá quí. Chu vi của ngôi tháp là
1.420 feet và cao 326 feet. Xung quanh có 64 đền nhỏ.
Truyền thuyết cho rằng đền này có hơn
2500 năm được xây từ thời Thích Ca c̣n
tại thế. Độ cao nguyên thuỷ của ngôi
đền là 66 feet nhưng sau nhiều lần trùng tu nó
đă đạt được độ cao hiện
tại.
* Tháp Sule: Theo truyền
thuyết th́ đây là nơi chứa tóc Phật do hai
đệ tử của Thích Ca Mâu Ni nên số tuổi
của nó được cho là hơn 2000 năm. Tháp có
tiết diện dạng bát giác, nh́n xa gần giống
như một cái chuông đặt úp, cao 152 feet, lần
cuối cùng nó được trùng tu vào thập niên 1880.
* Đền Botataung
(nghĩa là "một ngàn sĩ quan")
được xây dựng gần như cùng lúc với
đền Shwedagon. Đền cao 132 feet dùng thờ tóc
Phật.
- Thành
phố Bago, 80 km bắc Yangon
là nơi đóng đô của 42 vị vua triều
đại Bago. Nơi này có những di tích quan trọng
là:
* Tượng đài Kyaik Pun là sự ghép
của 4 h́nh tạc Phật khổng lồ nh́n về 4
hướng. Nằm gần dường nối
Yangon-Bago. Tượng đài được xây bởi
vua Zedi năm 1467 chưa bị huỷ hoại.
* Chùa Shwemawdaw, đây là chùa cổ nhất Bago
có hơn 1000 năm tuổi, cao 114 mét và có thờ hai
cọng tóc Phật trong bảo tháp.
* Trung Tâm Phật giáo Bagan, hay pagan. Thành
phố cổ này thuộc vùng Trung Miến nằm về
phiá tả ngạn sông Irrawaddy.
Đây là nơi được các nhà khảo cổ cho
là có nhiều di chỉ nhất thế giới mà chính
yếu là di chỉ Phật giáo. Các vua ở nơi dây
từ thế kỉ 11 tới thế kỉ 13 đă cho
xây hàng ngàn chùa tháp. Anawrahta (1044-1077), vị vua đầu
tiên, trở thành một Phật tử phái Thevarada sau khi
hành hương đến Sri Lanka và ông đă
chuyển xứ Bagan theo Phật giáo. Đến năm
1287 th́ triều đại này sụp đổ bởi
quân Mông Cổ và thành phố Bagan bị xoá sổ
Nhiều đền đài ở đây đặc
trưng cho các kiến trúc Phật giáo. Tháp Shwezigon là
tháp duy nhất phủ vàng trở thành kiểu mẫu cho
nhiều đền tháp sau này.
* Đền Ananda, đây là một trong
những ngôi đền c̣n nguyên vẹn nhất
được xây bởi Kyansittha trong năm 1090. Nó là
biểu tượng cho năng lực trí huệ vô biên
của Phật. Ngôi tháp ở trung tâm khu đền có
mặt cắt ngang h́nh vuông, độ cao 175 feet. Trong
trung tâm của khối là 4 ảnh Phật cao 31 feet quay
về bốn hướng chính: Kakusanda (Phật Ca La Tôn
Đại) hướng bắc, Konagamana (Phật Kim
Tịch) hướng đông, Kassapa (Phật Ca Diếp)
hướng nam và Gotama (Phật Cồ Đàm)
hướng tây.
* Tháp Maha Bodhi, đây là ngôi tháp rập lại
theo khuôn mẫu của tháp Bodhgaya và đă
được đặt cùng tên "Bồ Đề
Đạo Tràng" được xây trong triều vua
Nadaungmya (1211-1234). Tương truyền, chính những
người thợ xây tháp này đă được
gửi sang Ấn Độ để phục hồi
lại ngôi bảo tháp nguyên thuỷ Bodh Gaya.
* Ngoài ra nơi đây c̣n có các
tháp như là Bupaya (850), Nathlaung Kyaung (931), Nga-kywe-na-daung
(khoảng thế kỷ thứ 9), Shwezigon Paya
(cuối thế kỷ 11), Pahtothamya...
6.7
Trung Hoa
Phật giáo phát triển
rất sớm ở Trung Hoa. Do địa bàn rộng
lớn nên có nhiều di tích liên quan đến lịch
sử Phật giáo. Đáng kể là:
|

|
|
Tượng Phật lớn nhất
thế giới cao 71m được tạc trong núi
đá từ 713, công tŕnh mất 90 năm mới xong
|
Nhà
thơ Tô Đông Pha, Một Phật tử
đời Tống có viết bài thơ về Lô Sơn
như sau
Lô sơn yên tỏa
Chiết Giang triều,
Vị đáo b́nh sinh hận bất tiêu.
Đáo đắc bản lai vô biệt sự,
Lô sơn yên tỏa Chiết Giang triều.
鑪山煙鎖浙江潮
未 到 平生恨不 消
到得本來無別事
鑪山煙鎖浙江潮
Dịch
nghiă: (theo Tuệ Sỹ):
Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang
Khi chưa đến đó hận muôn vàn
Đến rồi về lại không ǵ lạ
Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang
* Chùa
Thiếu Lâm (Shaolin), được xây khoảng
năm 540. Nơi đây, sơ tổ phái Thiền tông
Trung Hoa là Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma)
đă trụ tŕ và truyền đạo cho Huệ
Khả cũng như dạy vơ tăng cường
sức khoẻ cho những người phụ việc
dịch kinh Phật trong chùa. Chùa xây trên một phần
rừng c̣n lại sau khi cánh rừng này đă bị cháy
(Thiếu Lâm có nghĩa là rừng non) trên núi Tung sơn (Songshan)
tỉnh Hà Nam.
Ngôi chùa sau này đă không c̣n giữ được tinh
thần Phật giáo ban đầu bởi ảnh
hưởng của Lăo giáo. Ngôi chùa nguyên thuỷ đă
hoàn toàn bị phá huỷ trong thời gian nội
chiến giữa quân đội Tưởng Giới
Thạch và Mao Trạch Đông. Trước đó nó
đă bị đốt cháy nhiều lần do chiến
tranh.
* Nga Mi Sơn (Emei)
ở phía nam tỉnh Tứ Xuyên, dăy núi này có đến
hàng trăm ngôi chùa và chùa lớn nhất kiến trúc
bằng gỗ là Baoguo được xây vào thế
kỷ 16. Phật giáo truyền tới Tứ Xuyên từ
thế kỉ thứ 1. Truyền thuyết cho rằng
núi Nga Mi là nơi tu luyện của Phổ Hiền
Bồ Tát. Pho tượng Phật lớn nhất
thế giới cũng ở tại đây, nó được
đục vào trong núi Lư sơn (Leshan) cao 71 mét
được bắt đầu khởi công năm 713
và xong năm 803 (90 năm).
* Ngũ Đài Sơn (Wutai),
tỉnh Sơn Tây. Nơi đây từ đời nhà Hán
(25-220), có nhiều ngôi chùa được đục vào
trong núi. Nơi này được tin là chỗ mà Văn
Thù Bồ Tát hóa thân. Hiện nay vẫn c̣n khoảng 47
ngôi chùa c̣n nguyên vẹn. Tổng cộng có đến
hàng trăm ngàn tượng và h́nh vẽ Phật lớn nhỏ.
Hai ngôi chùa cổ quan trọng nhất ở đây là
Nanchan (1200 tuổi) và Foguang (được bắt
đầu xây từ thế kỉ thứ 7).
* Cửu Hoa Sơn (Jiuhua)
-- chữ Jinhua nghĩa là "9 toà sen" -- tỉnh An
Huy, nơi này theo truyền thuyết là chỗ mà Địa
Tạng Vương Bồ Tát hóa thân. Chùa cổ nhất
nơi đây là Huacheng.
* Phổ Đà Sơn (Putuo)
nằm trên đảo nhỏ gần Thượng
Hải thuộc tỉnh Triết Giang, là nơi Quán
Thế Âm Bồ Tát thị hiện. Hai chùa lớn là Pháp
Vũ Thiền Tự và Phổ Tế Thiền Tự
* Động Đôn Hoàng (Dunhuang)
tại tỉnh Cam Túc nằm trên con đường
tơ lụa. Tại đây có vài chục thạch
động mà bên trong được tạc
tượng, vẽ tranh hay kinh văn Phật giáo
bằng nghiều thứ tiếng mà đa phần là
tiếng Hán có từ thời Wei đến đời
Song.
Tên của một hang
động chính là Mogao (Mạc Cao) được Le Zun
t́m thấy và khởi đầu việc tạc
tượng Phật nhằm ghi nhớ lại sự
việc ông ta thấy ánh hào quang như của ngh́n
vị phật phát ra tại đó.
* Ngoài ra c̣n có động Long
Môn (Lung-men) tại tỉnh Hồ Nam và động Vân
Cương (Yungang hay Yun-Kang) tại
tỉnh Sơn Tây (Datong)
cũng có các kiến trúc hay nghệ thuật Phật giáo
nổi tiếng.
6.8 Việt Nam
Có nhiều bằng
chứng cho thấy Phật giáo du nhập vào Việt Nam vào
thế kỉ thứ 1, sớm hơn cả Trung Hoa. Tuy
nhiên, Việt Nam
cũng như các nước lân bang khó tránh khỏi nhiều
ảnh hưởng về văn hoá và truyền
thống tôn giáo của Trung Hoa. Việt Nam đă
trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh với
ngoại bang và những lần nội chiến đă có
hệ quả tất yếu là hầu hết các công
tŕnh kiến trúc đặc sắc nói chung và Phật giáo
nói riêng bị huỷ hoại phần lớn. Chưa
kể ngay cả trong thời b́nh các phù điêu
tượng khắc hay nghệ thuật cổ Phật
giáo Việt Nam
cũng đă bị thất thoát ra nước ngoài.
Hiện tại các vùng c̣n lại những di chỉ quan
trọng là:
|

|
|
Chùa Dâu tỉnh Bắc Ninh
xây khoảng thế kỉ thứ 3, tại trung tâm
Phật giáo Luy Lâu Việt Nam
|
* Bắc Ninh với trung tâm
Phật giáo Luy Lâu (hay Liên Lâu). Đây là trung tâm
Phật giáo lớn của quận Giao Chỉ vào thế
kỉ thứ 1. C̣n sót lại tại đây có:
* Chùa Dâu, c̣n có tên là Diên
Ứng, ở làng Dâu. Ngôi chùa cổ nhất Việt Nam
hiện nay, được xây vào đầu thế
kỷ thứ 3. Cuối thế kỷ thứ 4,
Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi đă thuyết
pháp tại chùa này, lập nên thiền phái đầu tiên
ở Việt Nam.
Chùa được ông Mạc Đĩnh Chi dựng lại
với qui mô lớn vào thế kỷ 14, và trùng tu
nhiều lần ở các thế kỷ sau.
* Chùa Bút Tháp, có từ
đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278), xây lại vào
năm 1646-1647 tức là thời nhà Hậu Lê - thế
kỷ 17. Chùa có tên nguyên thuỷ ghi trên bia dựng vào
năm 1646 là "Ninh Phúc Tự". Theo Phật sử
Việt Nam
th́ thiền sư Chuyết Chuyết, người
để lại nhục thân không bị thối rữa
cho đến ngày nay, đă trụ tŕ tại chùa này (viên
tịch năm 1644).
* Chùa Phật Tích, nằm
trên sườn nam núi Phật Tích, được
khởi công vào năm 1057. Qua các cuộc chiến tranh
chùa này đă bị hư hại nhiều lần và
được nhiều lần trùng tu. Theo các tin tức
gần đây (năm 2004-2005) th́ nhục thân của
thiền sư Chuyết Chuyết được
đặt tại chùa này.
* Hà
Nội: (Tên cũ Thăng Long) Là thủ đô lâu
đời của nước Việt, Phật giáo
đă từng là quốc giáo nên nơi này một thời
lâu dài là trung tâm Phật giáo lớn. Các di chỉ Phật
giáo c̣n lại đáng kể là:
* Chùa Trấn Quốc,
đây là ngôi chùa cổ nhất Hà Nội. Tương
truyền chùa được xây vào đời Lư Nam
Đế (544-548) với tên gọi "Khai Quốc". Sau
này, tên chùa thay đổi nhiều lần như "An
Quốc" thời Lê Thánh Tông (1434-1442), "Trấn
Quốc" năm 1628, "Trấn Bắc" năm
1844 và nay chùa Trấn Quốc. Chùa cũng đă có
nhiều đợt trùng tu. Kiến trúc c̣n giữ
được đến nay là từ cuộc trùng tu
của vua Gia Long năm 1815, chùa chiếm diện tích
hơn 3000 mét vuông.
* Chùa Báo Ân, xây thời nhà
Trần, là một trong những trung tâm lớn nhất
của Thiền phái Trúc Lâm, nơi vua Trần Nhân Tông, các
thiền sư Pháp Loa và Huyền Quang đều đă
từng trụ tŕ. Ngôi chùa từng tồn tại trong
một thời gian dài, từ thế kỷ 8 đến
thế kỷ 15. Đến nay Chùa Báo Ân ở Gia Lâm
hiện chỉ c̣n trong quy mô rất nhỏ.
* Chùa Một Cột,
tức chùa Diên Hựu nằm giữa Hà Nội. Theo
truyền thuyết, vua Lư Thái Tông (1028-1054) nằm mộng
thấy Phật Quan Thế Âm dắt vua lên ṭa sen. Sau
đó, Sư Thiền Tuệ khuyên vua xây chùa, dựng
cột đá giữa ao, đặt ṭa sen của
Phật trên cột như đă thấy trong chiêm bao.
Đó là vào năm 1049. Chùa Một Cột đă bị phá
huỷ và được trùng tu nhiều lần trong
lịch sử. Đài h́nh vuông, chiều dài mỗi
cạnh 3 mét, mái cong, dựng trên một cột cao 4 mét,
đường kính 1,20 mét gồm 2 trụ đá ghép
chồng lên nhau liền thành một khối.
- Quảng
Ninh:
* Núi Yên tử thuộc
tỉnh này đă là nơi Phát xuất của phái
thiền Yên Tử. Nơi đây là một quần
thể nhiều chùa trong đó có chùa Hoa Yên (tên cũ là
Vân Yên - thế kỉ 13) nơi mà các tổ phái Yên Tử
trụ tŕ. Ngôi tháp nổi trội nhất là Tháp Tổ,
bằng đá, 6 tầng. C̣n lại là các chùa Quỳnh
Lâm, Long Động, Giải Oan, Bảo Sái, Một Mái và chùa
Đồng là chùa cuối nằm trên đỉnh Yên Tử.
- Hà Tây:
o
Chùa Đậu. Tương
truyền chùa có từ đầu công nguyên, nhưng theo
văn bia ở chùa th́ chùa được dựng từ
đời nhà Lư, theo kiểu "Nội công ngoại
quốc". Chùa c̣n lưu lại nhiều di vật và
đồ thờ cổ có giá trị như đôi
rồng đá, khánh, chuông... Đặc biệt, trong chùa có
hai pho tượng là nhục thân của hai vị
thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc
Trường đă trụ tŕ chùa vào khoảng thế
kỷ 17.
o
Chùa Thầy, c̣n
được gọi là chùa Cả, tọa lạc
ở chân núi Sài Sơn. Chùa được dựng
từ đời vua Lư Nhân Tông (1072-1128). Lúc đầu
chùa chỉ là một thảo am nhỏ của thiền
sư Từ Đạo Hạnh. Sau đó, được
mở rộng ra. Chùa xây theo h́nh chữ "Tam" có ba
lớp: Chùa Hạ, chùa Giữa, chùa Thượng.
Lớp ngoài cùng là nơi tế lễ, lớp giữa
thờ phật, lớp trong cùng thờ sư Từ
Đạo Hạnh.
·
Di chỉ văn hoá Óc-eo: Khu
vực văn hoá Óc-eo trải rộng nhiều tỉnh
miền Tây và Đông Nam bộ, các di chỉ khai quật
được xác định là từ thế kỉ
thứ 1 đến thế kỉ thứ 7. Trong số
các di vật t́m thấy có nhiều tượng Phật
gỗ chứng tỏ Phật giáo đă du nhập vào khu
vực này từ rất sớm bằng đựng
biển.
6.9
Triều Tiên
Đạo Phật
được truyền sang Triều Tiên khoảng
cuối thế kỷ thứ 4 (năm 372). Do lịch
sử phát triển đặc thù, tại đây có
mặt đủ các tông phái lớn Thevarada, Mahayana
(kể cả Zen) và Vajrayana. Hiện nay, có đến 90%
dân chúng theo Phật giáo. Các di tích ở đây rất
nhiều nhưng cũng bị tàn phá do chiến tranh hay
do sự cấm đoán hoạt động như là
dưới triều Joseon (1395-1910). Hơn nữa từ
đầu thế kỷ 20 ở Bắc Hàn, do chính sách
tiêu diệt tôn giáo, các công tŕnh Phật giáo ở nơi
này đă hoàn toàn bị huỷ hoại. Nam Hàn ngày nay có
khoảng 90% dân theo Phât giáo và có đến hàng chục
ngàn chùa chiền. Do đó, rất khó để liệt
kê hay đánh giá hết các công tŕnh quan trọng ra. Ở
đây chỉ hạn chế vài kiến trúc Phật giáo
tiêu biểu.
·
Nhóm chùa Tam Bảo bao gồm
o
Tongdosa: nằm trên
đường nối hai thành phố Ulsan và Busan có từ giữa
thế kỷ thứ 7 (năm 646). Đây là ngôi chùa quan
trọng nhất ở bán đảo Triều Tiên
được sư Jajang-yulsa khởi công. Chữ
"Tongdosa" theo tiếng Triều Tiên có nghĩa là
"vuợt qua để giác ngộ". Chùa có lưu
giữ một số mảnh xương Phật (Xá
Lợi Phật) trong ngôi tháp chính. Trước đây, nó
đă từng có đến hàng trăm công tŕnh xây
dựng nhỏ và hàng ngàn sư cư ngụ. Sau đó,
bộ phận lớn của chùa đă bị huỷ
hoại do quân Nhật trong thế chiến thứ 2,
ngoại trừ toà tháp Daeungjeon. Lần cuối chùa
được tu sửa là vào đầu thế kỷ
17. Người ta thường gọi đây là "chùa không
Phật" v́ nó không có bất ḱ tượng Phật
nào ở các cửa ra trong tầng trệt. Đối
với người Triều Tiên th́ đây là "Bảo
tự thứ nhất của Hàn Quốc" (Korea's
first Jewel Temple) hay Phật Bảo tự.
o
Haeinsa: ở Đông Nam Daegu, xây
năm 802, được gọi là Pháp Bảo tự
(Dharma). Nơi này có chứa các bộ kinh
điển Đại thừa (Mahayana ) gọi là
"Triều Tiên Tam Bảo Kinh" (Tripitaka Koreana)
nguyên vẹn nhất thế giới bao gồm 52
triệu Hán tự (chữ cái Trung Hoa) được
khắc vào trong 81.258 khối gỗ và được làm
vào thế kỷ thứ 13. Chùa là trung tâm chính của
"Hoa Nghiêm Tông" (Avatamsaka hay Garland Sutra).
o
Songgwangsa: nằm
về phía Đông Gwangju, ban đầu chỉ là một
chùa nhỏ thời Silla. Đến cuối thế
kỷ 12 th́ được sư Chinul mở rộng ra
thành trung tâm thiền và được người
Triều Tiên mệnh danh là Tăng Bảo Tự.
Chữ Songgwangsa có nghĩa là "thiền". Chùa có
hơn 50 thiền đường cho tăng và 30 cho ni.
Đây cũng là Trung Tâm thiền quốc tế
đầu tiên của Triều Tiên do thiền sư Kusan
sáng lập.
·
Bulguksa: Được xây vào
năm 535 với tên gọi cũ là Hwaeombeomnyusa. Ngôi chùa
nằm phiá Đông Daegu trên núi Doham gồm hơn 80 toà nhà
cùng với hai ngôi đền lớn là Shakyamuni và Tabotap.
Tại đây có chứa bản in cổ nhất thế
giới là Tịnh Quang Đà La Ni kinh (Pure Light Dharani
Sutra). Chữ Bulguksa có nghĩa là "đất
Phật". Ngoài ra ở đây cũng có pho
tượng phật thiền Seokguram có khoảng 1250
năm lịch sử. Chùa bị đốt năm 1592
bởi quân đội Hideyoshi Toyotomi. Ngôi chùa hiện
tại trùng tu trên nền móng ngôi chùa cũ vào thập
niên 1970.
|

|
|
Tượng Phật Dược Sư
nằm trên đỉnh núi Gwanbong
|
·
Ngoài các công tŕnh Phật giáo
kể trên, ở Triều Tiên c̣n có các kiến trúc
Phật giáo khác không phải là các ngôi chùa như:
o
Sinse-dong: tháp 7 tầng (xây vào
khoảng thế kỷ thứ 7 đến thế
kỷ thứ 10), nằm ở ngoại ô Andong, là ngôi
tháp bằng đá lớn nhất của Triều tiên.
Tháp cao 7,75 mét đưuợc trang trí theo cung cách 8
người bảo vệ của Phật giáo. Thân tháp
làm bằng những viên đá xám cỡ 24x14x6 cm chiếm
7,75 mét vuông.
o
Tượng Phật Dược
Sư
(Gatbawi Buddha): được tạc vào thế
kỷ thứ 9, nằm trên đỉnh núi Palgongsan (hay
Gwanbong) ở Daegu. Điểm đặc biệt là
tượng Phật có đội nón dạng bất
thường dầy khoảng 15 cm và trên tay có cầm
một siêu thuốc chữa bệnh tượng trưng
cho việc đẩy lui ma đạo. Pho tượng
ngồi, cao khoảng 4 mét. Đây là một trung
điểm du lịch v́ cảnh trí đẹp.
Để đến nơi du khách phải mất ít
nhất 1 giờ leo bộ
6.10
Thái Lan
Nhiều người
tin là Phật giáo đă truyền tới Thái Lan trong
thời gian vua Asoka ở Ấn đưa người
đi truyền giáo vào thế kỷ thứ 3 TCN. Một
cách chắc chắn th́ Phật giáo và Ấn Độ
giáo đă đến đây qua các ngơ giao thương
đường biển hay qua các nước lân bang
như Miến Điện và Campuchia vào thế kỷ
thứ 6. Ngày nay, có đến 94% dân Thái theo Phật giáo.
Các di tích ở đây rất nhiều nhưng đa
số được xây sau thế kỉ 14. Những
công tŕnh hay trung tâm có giá trị lịch sử lớn bao
gồm:
|

|
|
Tháp Phật giáo lớn nhất Phra Pathom,
Nakhon Pathom, Thái
|
·
Phra Pathom Chedi
thuộc tỉnh Nakhon Pathom, 56 km tây Bangkok. (Chữ chedi có
nghĩa là "tháp"). Nakhon Pathon được xem là
nơi xuất phát đạo Phật đầu tiên
ở Thái. Ngôi tháp Phra Pathom cao 120 m với đáy tṛn bán
kính 233,5 m. Tháp hiện nay là được khởi công
trong thời vua Mongkut Rama IV (1804-1868) trong ṿng 17 năm
nhằm bao bọc cho một tháp nhỏ hơn
được cho là có từ hơn 2000 năm tuổi.
Đây là tháp lớn nhất thế giới.
·
Wat Mahathat (chữ
wat có nghĩa là "đền" hay
"chùa"). Đây là công tŕnh kiến trúc tiêu biểu
cho ảnh hưởng của văn hoá Khmer (giai
đoạn nghệ thuật Tích Lan). Khu đền
nằm ở trung tâm thành phố Sukhothai thuộc về Ayutthaya có
tổng cộng hơn 200 ngôi tháp. Cứ mỗi ngôi tháp
lớn dạng đài sen sẽ được vây quanh
bởi 8 tháp nhỏ hơn. Đền này có lẽ xây vào
năm 1374, nơi đây ngày trước được
dùng để thờ mảnh xưong Phật. Ngày nay th́
tháp trung tâm đă bị đổ nát do thời gian.
Ngoài ra, tại Ayuttaya c̣n có các đền Phật nổi
tiếng là Phra Si Sanphet (xây năm 1448 với 3 ngôi
tháp h́nh chuông úp là biểu tượng cho Ayuttaya), Ratchaburana
(xây vào thế kỉ 15), và Lokaya Sutha (chưa xác
định chính xác niên đại).
·
Trung tâm Phật giáo Haripuchai,
ngày nay thuộc về thành phố Chiang Mai. Đây là trung
Phật giáo lớn của Thái khoảng 1000 năm
trước. Hiện tại c̣n lại rất nhiều
chùa tháp. Trong số đó, có tháp Wat Chiang Man dựng
năm 1306. Bên trong đền đặc biệt có
một bức tranh Phật được cho là mang
về từ Tích Lan 2000 năm trước đây và
một tượng Phật bằng tinh thể (crystal)
lấy về từ Lopburi có khoảng 1800 năm
tuổi.
Ngoài ra, trung tâm Haripuchai c̣n các các đền Phật khác
như là: Chedi Luang (xây năm 1391), Chet Yot (xây
cuối thế kỷ 15), Doi Suthep (xây năm 1386), Phra
Sing (xây năm 1345) và Wat Suan Dok (xây vào thế
kỷ 16).
6.11
Campuchia
Một số thuyết
cho rằng đạo Phật đă du nhập vào xứ
Campuchia vào thế kỉ thứ 3 TCN do kết quả
của việc gởi các nhà truyền đạo Phật
giáo đi khắp nơi của vua Asoka. Tuy nhiên,
thuyết đáng tin cậy hơn là đạo Phật
đă du nhập cùng lúc với đạo Bà La Môn qua
việc mở rộng giao thương với Ấn
Độ sớm nhất là vào thế kỷ thứ 1
TCN. Nhưng lúc đó đạo Bà La Môn đă hưng
thịnh hơn đạo Phật trong suốt thời
gian dài của triều đại Funan. Đến
thế kỷ 12, vua Jayavarman II đă cho xây dựng ngôi
đền Hindu khổng lồ Angkor
để thờ thần Vishnu. Đền này mở
rộng thành Angkor Wat. Nhưng đến triều vua
Jayavarman VII, trị v́ từ 1181 đến 1215, Phật
giáo đă gần như thay thế hoàn toàn vai tṛ của
Ấn Độ giáo và vua Jayavarman VII đă xây một
đền Phật giáo rất lớn là Angkor Thom ở
gần đền Angkor Wat, đă bị làm hư hại
bởi quân đội Chàm.
|

|
|
Cổng đền
Angkor Thom -- sự pha trộn văn hoá Hindu vào một
kiến trúc Phật giáo ở Kampuchia
|
Angkor Thom là một công
tŕnh Phật giáo lớn nhất ở Campuchia
được xây vào cuối thế kỷ 12, nay
thuộc về tỉnh Siem Reap. Nó có đặc
điểm là chịu rất nhiều ảnh
hưởng của kiến trúc Bà La Môn. Ngay sau khi xây xong
ít lâu th́ công tŕnh Angkor lại
bị sự tấn công, đốt phá và chiếm
đóng của quân Chàm. Đền này có hào nước
bao bọc rộng 100 mét cặp theo bốn vách
tường cao 8 mét làm thành một khu vực h́nh vuông
mỗi cạnh khoảng 3 km theo các hướng chính. Các
cổng lớn được trổ ngay trung
điểm của các bức tường cho các
hướng Tây, Nam và Bắc có các
cầu bắc qua. Riêng hướng Đông có hai cổng
vào. Các đường dẫn tới cổng vào có các
dăy 54 h́nh tượng bằng đá.
6.11
Nhật Bản
Đạo Phật chính
thức du nhập vào Nhật Bản từ thế
kỉ thứ 6. Hai trung tâm Phật giáo tại đây là
cố đô Nara, Kyoto,
và Tokyo
|

|
|
Vườn
sỏi kiến tạo do thực hành thiền - chùa
Ryoan-ji Nhật
|
·
Nara nằm
ở điểm cuối của con đường
tơ lụa (the Silk Road)
với các chùa:
o
Horyu-ji xây năm 607, đây là chùa
cổ nhất bằng gỗ c̣n sót lại trên thế
giới. Thiên tai đă huỷ đi phiên bản
đầu tiên của chùa. Nó được xây lại
vào khoảng 710. Gian tháp chính của nó có đến 5
tầng.
o
Chùa Kokufuji xây năm 730, có
tháp năm tầng bằng gỗ cao nhất nước
Nhật (50 m), trùng tu năm 1426 và chùa Todaiji (760).
·
Kyoto tập
trung khá nhiều chùa cổ nhưng đa số xây
từ thế kỷ 14 trở đi. Quan trọng là các
chùa Kiyomizudera (dựng khoảng 798, trùng tu lại
năm 1633), Ninnaji (xây năm 888, trùng tu nhiều
từ thế kỷ 17 trở đi), Byodoin (1053) và
chùa Ryoan-ji, dựng năm 1450, nổi tiếng
với vườn sỏi kiến tạo do việc
thực hành thiền, chùa Chionin của Tịnh
Độ tông dựng năm 1234 nhưng phiên bản c̣n
lại xây từ thế kỉ 17.
·
Tokyo với
chùa quan trọng nhất là Sensoji (từ thế
kỷ thứ 7), được xây dựng do việc 3
ngư phủ t́m thấy ảnh nhỏ của Quan
Thế Âm Bồ Tát (Kannon) trong luới của
họ.
7. Phật giáo ngày nay
- Theo
số liệu thống kê của Adherents th́ số
người theo đạo Phật trên toàn thế
giới là 376 triệu (vào năm 2005), chiếm
khoảng 6% dân số thế giới.
- Cũng
theo thống kê Adherents, 10 nước có đông
người theo Phật giáo nhất là:
Trung Quốc 102,000,000 người
Nhật Bản 89,650,000 người
Thái Lan 55,480,000 người
Việt Nam 49,690,000 người
Myanma 41,610,000 người
Sri Lanka 12,540,000 người
Hàn Quốc 10,920,000 người
Đài Loan 9,150,000 người
Campuchia 9,130,000 người
Ấn Độ 7,000,000 người
- Đạo
Phật ở các nước Tây phương:
- Hoa
Kỳ: Theo World Almanac năm 2004 có khoảng 2-3
triệu người theo đạo Phật.
Đạo này đứng hàng thứ 5 ở đây.
Tỉ lệ tăng số người theo
đạo từ 1990 đến 2000 là 170%.
- Theo
Australian Bureau of Statistics của Úc th́ số
người theo đạo Phật có tỉ lệ
tăng nhanh nhất nước này từ 1996
đến 2001 (hơn 150%). Năm 2002 có đến
hơn 360,000 người theo Phật giáo.
- Theo
Pluralism Project th́ trong năm 1997 ở Pháp có
khoảng 650,000 và ở Anh có 180,000 tín đồ
Phật giáo.
8.Tóm tắt các diễn
biến trong lịch sử Phật giáo

Sự phát triển của Phật giáo thời vua Asoka
- 566-486
TCN: Siddhartha Gautama đản sinh. Những nhiên
cứu gần đây cho rằng Phật ra
đời khoảng 490-410 TCN. Do đó, thời gian
tính trong 500 năm đầu kể từ khi ra
đời của Phật giáo sẽ không
được chính xác, sự kiện chỉ ghi
lại khoảng chừng.
- 530
TCN: Thích Ca giác ngộ (ở tuổi 36) và thuyết
pháp trong khoảng 45 năm.
- 486
TCN: Thích Ca tịch diệt.
- 486
TCN: Hội nghị kết tập kinh điển
lần I ở Rajaghgraha khoảng 500 t́ khưu, do
Mahakassapa chủ tŕ nhằm góp nhặt lại các bài
giảng của Thích Ca. H́nh thành Giới tạng và
Kinh tạng.
- Khoảng
443-379 TCN: Hội nghị kết tập kinh
điển lần II ở Vesali, bàn về một
số điểm dị biệt trong giới
luật đă nảy sinh.
- 297
TCN: Vua Asoka (274-236 TCN) cải đạo sang Phật
giáo; đạo Phật phát triển thành một quốc
giáo và bắt đầu lan truyền ra khỏi
Ấn Độ.
- 250
TCN (308 TCN?): Hội nghị kết tập lần
thứ III dưới sự bảo trợ của
vua Asoka ở Pataliputra, Ấn Độ. Chủ tŕ
bởi Moggaliputta Tissa. Bàn thảo và ngăn ngừa
sự phân hoá trong giáo pháp. Lần đầu tiên ra
đời đủ Tam tạng kinh. Các nhà truyền
giảng Phật giáo được vua Asoka gửi
tới Tích Lan (Ceylon,
nay là Sri Lanka),
Kanara, Karnataka, Kashmir, vùng Hy Mă Lạp Sơn, Miến
Điện (Burma,
nay là Myanma), Afghanistan,
ngay cả đến Ai Cập,
Macedonia và Cyrene.
- 240
TCN Tích Lan: Thành lập cộng đồng Theravada
đầu tiên. Công chúa Sanghamitta, con vua Asoka, thành công
chiết nhánh cây bồ đề, chỗ Phật
thành đạo, về trồng tại Tích Lan.
- 94 TCN
Tích Lan: Kỳ kết tập kinh điển lần
thứ IV của Theravada ở mũi Aloka trong thành Malaya.
- Năm
35 Tích Lan: H́nh thành sự phân phái giữa Mahavira và
Abhayagiri Vihara ở Tích Lan.
- Năm
65 Trung Quốc: Di chỉ sớm nhất chứng
tỏ Phật giáo thâm nhập vào Trung Hoa.
- Thế
kỉ thứ 1: Kỳ kết tập lần kinh
điển lần VI tại Jalandhar, Ấn
Độ được vua Kaniska bảo trợ.
Các nhà sư từ Tích Lan truyền Phật giáo
Theravada đến Thái Lan và Miến Điện.
Đạo Phật xuất hiện tại Việt Nam
cùng ở thời điểm này.
- Cuối
thế kỉ thứ nhất: Đạo Phật
đến Campuchia.
- Thế
kỉ thứ 2: Năm 200 ở Ấn Độ,
Đại học Phật giáo ở Nalanda ra
đời và trở thành trung tâm Phật học
của thế giới hơn 1000 năm (có tài
liệu cho rằng đại học này ra
đời vào đầu thế kỉ thứ 5).
Cùng thời gian này h́nh thành phái Mahayana bắt
đầu tách ra từ Theravada.
- Hậu
bán Thế kỉ thứ 2: Đạo sư Nagarjuna
(Long Thọ); được biết đến do
các thuyết giảng về tính không. (Thật sự
tính không đă được Thích Ca giảng dạy
cho Ananda từ khi c̣n tại thế nhưng tới
đạo sư Long Thọ th́ khái niệm này
được làm nổi bật lên và cũng
định nghĩa rơ hơn về Mahayana).
- Thế
kỉ thứ 3: đạo Phật lan tới Ba
Tư (Persia)
qua ngơ buôn bán.
- Năm
320: Phái Vajrayana h́nh thành và phát triển ở Ấn
Độ từ cơ sở Mahayana.
- Thế
kỉ thứ 4: Đạo sư Vasubandhu (Thế
Thân) làm nổi bật khái niệm "duy tâm" (mind-only)
và niệm Phật A Di Đà (Amitabha) cho sự
tái sinh miền Tịnh Độ (Pure Land).
Tịnh Độ tông h́nh thành từ thời gian này.
Ở Nepal
h́nh thành sự tồn tại giữa hai đạo
Phật giáo và Ấn giáo.
- 334-416:
Sư Huệ Viễn (Hui-yuan), đem Tịnh
Độ tông vào Trung Hoa (Bạch Liên Hội).
- 372:
Phật giáo thâm nhập đến bán đảo
Triều Tiên.
- 390:
Phái Pháp Hoa ra đời tại Trung Hoa.
- Thế
kỉ thứ 5: Mahayana du nhập vào Indonesia và Philippines.
- 499:
Nhất Thiết Hữu Bộ Tông (Sarvàstivàdah)
h́nh thành ở Ấn Độ. (Có tài liệu cho
rằng Nhất thiết hữu bộ h́nh thành ngay
sau lần Kết tập Kinh điển thứ II.)
- 526:
Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) từ
Ấn Độ đến Trung Hoa. Ông là sơ
tổ của Thiền tông (Ch'an hay Zen) và
tổ sư của phái vơ Thiếu Lâm.
- 552:
Đạo Phật đến Nhật Bản và
trở thành quốc giáo.
- Thế
kỉ thứ 6: Thiên Thai tông (T'ien T'ai)
được sư Trí Giả (Chih-I)thành lập.
- 641:
Đạo Phật du nhập vào Tây Tạng (Tibet).
- Nửa
sau thế kỉ thứ 7: Sư Pháp Tạng (Fa-tsang)
thành lập phái Hoa Nghiêm.
- Cùng
trong cuối thế kỉ thứ 7: Thiền sư
Huệ Năng phát triển Thiền tông mạnh
ở Trung Hoa. Trong khi đó, ở Kashmir
và Tây Tạng Mật tông phát trển mạnh.
- Từ
năm 713: Nhiều Thiền phái h́nh thành trong đó có
Lâm Tế (Lin-Chi) với khái niệm đốn
ngộ và công án (koan), Tào Động (Tsao-t'ung).
- Thế
kỉ thứ 8: Cổ Mật tông ra đời
tại Tây Tạng.
- Thế
kỉ thứ 9: Chân Ngôn tông (Shigon) ra đời
ở Nhật từ đạo sư Kukai.
- Từ
giữa thế kỉ thứ 9: Angkor Wat
được xây dựng ở Campuchia. Đạo
Lăo phát triển mạnh làm ảnh hưởng
nhiều đến đạo Phật ở đó.
Trong khi đó, đạo Hồi đă bắt
đầu thay thế cho đạo Phật ở
nhiều nơi.
- Thế
kỉ 11 tới thế kỉ 13: Ở Ấn
Độ đạo Hồi đă thâm nhập
mạnh; những người cực đoan đă
tiêu huỷ nhiều kiến trúc cũng như tổ
chức Phật giáo. Năm 1193 họ chiếm Magahda
tàn phá các công tŕnh và các đại học Phật giáo
như Nalanda và Vikramasila.
- Thế
kỉ 13: Đạo Phật phát triển nhiều
tông phái ở Nhật đặc biệt là các phái
Thiền tông (Tào Động và Lâm Tế) cũng
như Tịnh Độ tông. Nhật Liên tông cũng
ra đời tại đây do đạo sư
Nichiren Daishi (1222-1282). Cũng trong giai đoạn này,
Phật giáo Theravada du nhập tới Lào, Phật giáo
Tây Tạng thâm nhập vào Mông Cổ.
- Thế
kỉ 14: Gelugpa (phái Nón Vàng) h́nh thành ở Tây Tạng
do Tsong-kha-pa.
- Thế
kỉ 15: Sự ra đời của nhiều giáo
phái Ấn giáo đánh dấu sự suy tàn cuối
của Phật giáo tại Nam Ấn. Ở Tây
Tạng th́ ḍng Dalai Lama (Đạt Lai Lạt Ma)
bắt đầu.
- Thế
kỉ 16: Bồ Đào Nha chiếm Tích Lan,
đạo Phật không c̣n là quốc giáo và hầu
như bị biến mất do hệ quả của
các hành động phân biệt tôn giáo như phá
huỷ chùa chiền để dựng nhà thờ,
hầu hết các sư săi phải đào tị. Măi
cho đến thế kỉ 17, với ảnh
hưởng của Hà Lan th́ đạo Phật
mới bắt đầu du nhập lại nơi
này từ Miến Điện. Cũng trong thời
gian này, thiền phái Obaku được ra
đời do đạo sư Ingen (1592-1673). (Tuy nhiên
có tài liệu cho rằng Obaku đuợc sư
Yin-Yuan Lung-ch'i (Ẩn Nguyên Long Khí)- nguyên thuộc phái
Lâm Tế - sáng lập từ 1654 tại Nhật.
- 1862:
Lần đầu tiên Kinh Pháp cú (Dhammapada)
được dịch ra tiếng Đức.
- 1871:
Bắt đầu kỳ kết tập kinh
điển lần thứ V ở thủ đô
Miến Điện là Mandalay.
Kinh điển Pali đă được khắc trên
729 phiến đá hoa cương.
- Cũng
trong giữa sau thế kỉ 19, khi xuất hiện
cộng đồng người Hoa tại Bắc
Mỹ th́ đạo Phật cũng thâm nhập vào
đây và một phần của kinh Liên Hoa
được dịch ra tiếng Anh.
- Năm
1905: Đạo sư Soyen Shaku là người
đầu tiên dạy Thiền tại Bắc
Mỹ.
- Từ
năm 1920: Chủ nghĩa cộng sản công khai t́m
cách dẹp bỏ tôn giáo đặc biệt bắt
đầu là đạo Phật tại Mông Cổ.
- 1950:
Trung Quốc chiếm Tây Tạng bắt đầu
công việc đàn áp phá huỷ các chùa chiền
Phật giáo ở đây. Đến 1959 th́ vị
Dalai Lama của Tây Tạng phải tị nạn
tại Ấn Độ và Phật giáo Tây Tạng
lại được phát triển mạnh ở các
nước Tây phương. Sau đó Dalai Lama
được giải Nobel hoà b́nh năm 1989.
- 1954:
Hội nghi kết tập kinh lần thứ VI
tại Miến Điện ở Ngưỡng
Quảng (Rangoon).
- 1966:
Tu viện Theravada đầu tiên xây dựng ở Hoa
Kỳ.
9. Tài liệu Tham khảo
Tiếng Việt
Tiếng Anh
Lưu ư: bài viết này đă được tác
giả khởi đăng trên wikipedia.org với vài chi
tiết nhỏ khác nhau
Namo shakyamuni
Làng Đậu
|