Pháp Tạng 79
PL. 2547 - 2003
Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc
Chủ biên: Trương Mạn Ðào
Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ
Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh
Chú
thích: Thích Tâm
Nhãn
Source: Quang duc .com
---o0o---
Bộ “Hiện Ðại Phật Giáo Học Thuật Tùng San” này, gồm có 100 tập, mỗi tập độ 300, 400 trang, do cư sĩ Trương Mạn Ðào chủ trương biên tập. Thời gian biên tập, từ năm Dân Quốc thứ nhất (1911) đến năm Dân Quốc thứ 67 (1978) mới xong. Trong 100 tập này, có 823 tác giả, viết 1776 bài, trình bày với tính nghiên cứu uyên thâm 10 chủ đề: Thiền tông, Phật giáo sử, Duy thức, Hoa nghiêm, Tam luận, Thiên thai, Tịnh độ, Mật tông, Luận tông và Phật giáo Ấn Ðộ.
Tập thứ 59 này, tác giả nghiên cứu về chùa và tháp của Phật giáo Trung Quốc; cư sĩ Tuệ Khai vừa mới dịch xong.
Chúng ta đọc tập sách này, mới thấy sự hùng vĩ đầy thiền vị, sự thiêng liêng đầy cao cả, sự mầu nhiệm tuyệt vời của chùa và tháp Phật giáo Trung Quốc; đồng thời, chúng ta cũng thấy được chư Tôn Ðức Tăng, Ni và Thiện Nam, Tín Nữ Trung Quốc, bằng cách nào, với tấm lòng vì đạo của họ, mà họ đã xây dựng, và bảo tồn những chùa và tháp đó, trải qua hàng ngàn năm?
Khi cư sĩ Tuệ Khai chọn chủ đề này để dịch, có nói với chúng tôi là:“Dịch để học về sự nghiệp chùa tháp của họ”. Ðây là một câu nói có ý thức và ý nghĩa...
Như vậy, 100 tập của bộ “Hiện Ðại Phật Giáo Học Thuật Tùng San” này, thì tập mang số 59 được ra mắt chư Tôn Ðức và quí Ðộc giả trước nhất. Nhưng theo thứ thự được sắp xếp vào “Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam”, thì nó mang số 79, chứ không phải 59 như nguyên vị của nó, mong chư Tôn Ðức cùng quí Ðộc giả cảm thông.
Với tất cả sự trân trọng ngưỡng mộ sự nghiệp chùa tháp của Phật giáo Trung Quốc, chúng tôi xin mạng phép giới thiệu cùng chư Tôn Ðức và quí Ðộc giả tập Pháp Tạng mang số 79 này.
Trong công tác dịch thuật, không sao tránh khỏi sự nhầm lẫn sai sót, mong quí vị hoan hỷ chỉ giáo cho, để khi tái bản được hoàn chỉnh hơn.
Chúng tôi xin chân thành tri ân quí liệt vị.
Cẩn bạch,
Tỳ-kheo Thích Ðỗng Minh
ÐÔI DÒNG DẪN NHẬP
Chùa – Tháp, hai hình thức kiến trúc độc đáo biểu trưng cho Phật giáo: Nơi nào có Chùa – Tháp thì nơi đó có Phật giáo, nước nào nhiều Chùa – Tháp là nhân dân nước đó thâm tín Phật giáo, địa phương nào bảo tồn được cảnh chùa ngôi tháp cổ lâu đời thì Phật giáo địa phương đó rễ sâu gốc bền trong tâm linh của nhân dân địa phương. Có điều thú vị là từ “Chùa” (Tự) có nguồn gốc Trung Quốc, một nước không phải là nơi phát tích Phật giáo, còn từ “Tháp” (Phù-đồ) lại có nguồn gốc Ấn Ðộ, nơi cội nguồn của Phật giáo. Thuở đức Phật còn tại thế, tùy theo địa bàn hành hóa của Ngài và các đệ tử mà thành lập những cơ sở cố định gọi là “Tinh xá” (tinh xá chứ không phải tịnh xá). Những tinh xá này có qui mô nhỏ hay lớn tùy theo nhu cầu sử dụng, như tinh xá Kỳ Hoàn do ngài Xá-lợi Phất thiết kế xây dựng với sự phụ trợ về tài lực vật lực của trưởng giả Cấp-cô-độc và thái tử Kỳ Ðà, có qui mô rất lớn, nhà cửa đình viện rất nhiều, một trong những địa điểm đức Phật thường lưu trú hay nói đầu Kinh (mở đầu các bộ kinh hay nhắc đến địa danh này với tên gọi “Kỳ Thọ Cấp-cô-độc Viên”), là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng lúc bấy giờ (tại đây đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận với ngoại đạo). Thế tại sao hiện nay Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Trung Quốc không tọi Tinh Xá – Tháp mà gọi là Chùa–Tháp? Thật ra việc này có liên quan đến sự kiện đoàn sứ giả do Thái Âm cầm đầu cùng hai vị tăng Tây Vực là Nhiếp-ma-đằng và Trúc-pháp-lan dùng ngựa trắng chở Kinh về Lạc Dương được vua Hán Minh Ðế mời ở tạm nơi nhà khách tên là Hồng Lô Tự, trong thời gian xây dựng chùa Bạch Mã (ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Trung Quốc – có thuyết cho là chùa Bạch Mã do Hồng Lô Tự cải biến). Có lẽ do hai vị khách tăng ở tạm nơi Hồng Lô Tự nên khi xây xong ngôi Bạch Mã mà gọi luôn là Bạch Mã Tự, và từ “Tự” là Chùa Phật phát sinh từ đây vậy.
Từ từ “Tinh Xá” đến từ “Chùa” chúng ta thấy nội dung của chúng có một điểm giống nhau là nhà ở tinh khiết của đức Phật và chư tăng. Nhà tinh khiết tức là người ở trong nhà phải tinh khiết và những người đến với nhà ấy cũng phải tinh khiết (dù là tinh khiết tạm thời!). Như vậy tinh xá hay chùa không phải là một đền thờ mà là một ngôi nhà ở của Phật và Tăng. Ðây là điểm khác biệt cơ bản giữa tinh xá – chùa với đền thờ của các tôn giáo khác, như nhà thờ Thiên Chúa Giáo, đền thờ Hồi Giáo v.v...
Nơi mà Phật giáo để thờ phụng chính là Tháp, do đó nơi nào có chùa, có tinh xá thì nơi ấy phải có tháp. Ông Cấp-cô-độc đã mở đầu công việc này bằng cách xin phép đức Phật được xây ngôi Tháp tại tinh xá Kỳ Hoàn để thờ móng tay của đức Phật, ông trở thành người đầu tiên ở cõi này xây dựng Tháp Phật. Vậy nên Chùa – Tháp kết thành một chỉnh thể trong nghệ thuật kiến trúc Già Lam Phật giáo và trở thành một biểu trưng độc đáo của Phật giáo.
Phật
giáo Việt
Thiên thai sơn hạ vũ phân phân
Vụ tỏa sơn phong từng ủng vân
Cổ tự mao hiên hà xứ tại
Tân đường phạm vũ kỷ thời toàn
Linh sơn Phật tích lưu Thiền đạo
Cát địa nhân tung kế thế truyền
Thất thập dư niên thân nhất hiện
Sắc không tam bách hiện toàn chân
Gần đây
Hòa thượng Thích Ðổng Minh trao cho
tôi quyển “Trung Quốc Phật Giáo Tự
Tháp Sử Chí” do Trương Mạn
Ðào chủ biên, nhà xuất bản
Ðại Thừa Văn Hóa ấn hành,
để đọc và dịch ra Việt ngữ .
Ðọc xong tác phẩm này, tôi bỗng
dưng ngậm ngùi thương cảm cho số
phận những chùa tháp Phật giáo
trên đất nước ta. Tôi nghĩ tập
sách này có thể giúp chúng ta,
nhất là những nhà trí thức nghiên
cứu Phật giáo, có được một
cách thể hiện tấm lòng yêu quý
trân trọng văn hóa Phật giáo, và
một phương pháp bảo tồn, lưu
truyền, quảng bá nghệ thuật kiến
trúc Phật giáo của dân tộc để
tạo một động lực hấp dẫn mọi
người trở về với cội nguồn tôn
giáo truyền thống có hàng ngàn năm
gắn bó với số phận của dân
tộc. Tôi nôn nóng quyết tâm dịch tác
phẩm này ra Việt ngữ , phổ biến
đến với độc giả với nguyện
vọng gợi ý cho quí độc giả
làm những điều cần làm cho hàng
ngàn cảnh chùa, ngôi tháp trên đất
nước ta đang từng giờ, từng ngày
chịu sự tàn phá của thiên nhiên,
sự hủy hoại của con người và
nhiều “ác duyên” khác... Tôi
cũng mong rằng những danh sơn thắng địa
của Phật giáo Việt
“. . . . . . . . . . . . . . . . .
Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái
Lửng lơ khe Yến cá nghe Kinh
Thoảng bên tai một tiếng Chày Kình
Khách tang hải giật mình trong
giấc mộng
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .”
(Hương Sơn Phong Cảnh Ca -
Ðược trở về đúng với trí tịch tịnh thiêng liêng ban đầu của nó, đừng để những lễ hội hành hương ở chốn thanh tịnh này biến thành trò kinh doanh du lịch trần tục, thấp hèn, tệ hại! Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta phải làm một cái gì đó vậy!
Những tác giả với những bài viết trong tập “Trung Quốc Phật Giáo Tự Pháp Sử Chí” đã cho chúng ta một cái nhìn bao quát về quá trình hình thành nền nghệ thuật kiến trúc Chùa – Tháp của Trung Quốc từ khởi thủy đến nay, đồng thời sự thịnh suy của Phật giáo Trung Quốc qua các thời đại cũng hiển hiện trong từng trang sách, những ảnh hưởng của văn hóa nghệ thuật Phật giáo như thấm đượm từng gốc cây ngọn cỏ, bàng bạc khắp non sông, ngấm sâu vào từng thớ đất, dào dạt trong lòng mỗi con người... làm lây lan đến độc giả chúng ta.
Có tác giả đưa chúng ta vào cả một thế giới nghệ thuật kiến trúc bằng những chất liệu gỗ, đá, gạch ngói, kim loại... có qui mô rộng lớn, đậm đà nét mỹ thuật tráng lệ huy hoàng với những tác phẩm điêu khắc, tô đắp, hội họa tuyệt vời “vô tiền khoáng hậu”. Có thể chúng là những vật thật hiện còn có tuổi đời hơn nghìn năm, có thể chúng chỉ là những công trình Chùa – Tháp còn lại trong văn hiến, trên bia đá hay ở những vết chạm khắc nổi (phù điêu) trong hang động, nhưng chung qui chúng đều thể hiện được quá trình giao hòa dung hợp của ba nền kiến trúc Chùa – Tháp Ấn Ðộ – Tây Vực – Trung Hoa để hình thành thứ nghệ thuật kiến trúc Chùa Tháp Phật giáo mang màu sắc Trung Quốc.
Có tác giả dẫn ta vào những vùng danh sơn, thắng địa của Phật giáo Trung Quốc với biết bao cảnh tượng hùng vĩ, tú lệ, u nhã, kỳ ảo (hùng, tú, u, kỳ)... làm lay động lòng người. Trong bối cảnh thiên nhiên ấy, một hệ thống Chùa – Tháp được phối trí hài hòa, tạo ra cho cảnh quan một mạch sống tâm linh rào rạc ngấm ngầm lan tỏa vào từng ngọn núi, dòng thác, con suối, cây tùng, gốc bách... Hoa núi sặc sỡ níu chân người, hương thơm nồng nàn vương tay áo, chim hót líu lo, tiếng suối rì rào, tiếng thác ầm ì, tiếng linh leng keng, tiếng chuông chiều trầm mặc, dáng sơn tăng khoan thai nhã đạm, khách hành hương chiêm bái kính cẩn tâm thành... Tôi độc mà có cảm tưởng như chính mình được đi vào đất Phật tiêu sái thoát trần vậy! Kỳ diệu thay! Trên ngọn núi cao chót vót, đường leo lên quanh co hiểm trở mà sừng sững một cảnh chùa với những điện, đường, lâu, các... to rộng nguy nga, tú lệ lạ thường. Tôi thầm nghĩ lòng tin Phật của con người quả thật vạn năng, không gì chẳng làm được! Trên những đỉnh núi cao hơn ba nghìn mét (cách mực nước biển) tuyết băng giá lạnh, không vật liệu xây dựng truyền thống chịu đựng nổi sự khắc nghiệt của thời tiết, người ta đã sáng tạo phương pháp ốp mái, ốp tường chùa bằng vỏ cây rừng gọi là “Mộc Bì Tự”, thật là một động thái thích nghi tuyệt vời vậy!
Có tác giả
đưa ta trở lại cuộc sống đời
thường của những danh tăng một thời
với những hành xử đầy tính
nhân bản mà một người tu hành
thánh thiện đã sống và làm
việc. Một pháp sư Huyền Trang tài
năng xuất chúng, năng nổ quật
cường, một lòng vì dân vì
nước và nhất là vì sự nghiệp
truyền bá đạo pháp của Ðức
Thế Tôn. Ngài đã bất chấp
vương pháp, bỏ nước ra đi trong vô
vàn gian khổ, đến đất Phật học
hỏi giáo pháp ròng rã mười
chín năm. Trở về nước, ngài
đã hiến trọn hai mươi năm cuối
năm đời phiên dịch kinh Phật. Ðiều
đáng nói ở đây là ý
chí kiên định vượt khó khăn
đi tìm học và tinh thần cần lao
tích cực hoằng hóa lợi sinh của
ngài. Việc ngài lặn lội suốt gần
mười chín năm tìm học ở Ấn
Ðộ và hơn hai mươi năm cuối
đời luôn tuân thủ một lịch làm
việc mỗi ngày duy nhất đã nói
lên điều ấy. Những lời ca ngợi
về ngài trong những bài viết ở tập
sách này có lẽ chúng ta khó tìm
được lời ngợi khen nào hay hơn!
Nhưng cái “rất người” của
ngài đã được Tục Cao Tăng
Truyện nêu rằng: “Ôi dùng lời
tán thán ôm giữ con kỳ lân,
đời có dấu vết ấy, biết
người khó thành, ngàn năm ít
gặp! Nhưng mà Trang sư hại hiền, ngăn
học thì cũng chưa đáng gọi là
bậc thịnh đức chất chồng được,
tại bởi vật chẳng hai cái lớn, lý
chắc chắn đều vậy thôi!” (Chuyện
Trang sư đối với ngài Na-đề Tam Tạng
– Do tác giả Ðông Sơ trích dẫn
trong bài “Chùa Ðại Từ Ân –
Ðạo Tràng của ngài Tam Tạng Huyền
Trang”). Nhân vật Ðường Tăng, ngài
Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang đầy huyền
thoại ly kỳ trong đầu óc giàu
tưởng tượng của chúng ta (điều
này phần lớn do Ngô Thừa Ân tạo
nên), sẽ được lột bỏ đi khi
chúng ta đọc về ngài trong những
bài viết ở tập sách này. Rồi
những Nhiếp-ma-đằng, Trúc-pháp-lan,
Ðạt-ma Sư Tổ được các tác
giả gắn liền với những công trình
xây dựng Chùa – Tháp và việc
mở Tông lập Phái của Phật giáo
Trung Quốc. Nhưng có điều sẽ làm cho
chúng ta bâng khuâng nghĩ ngợi khi biết
có thuyết cho rằng những nhân vật
này là hư cấu, không có thật
(quyết đoán của học giả Lương
Khải Siêu). Ôi! Một vị tổ sư khai
sáng Thiền Tông mà hầu như các
chùa Phật ở Việt
Ðiều làm cho tôi tâm đắc nhất là trong bất cứ bài viết nào các tác giả cũng thể hiện được tấm lòng ưu ái của mình đối với Phật giáo. Họ tự hào vui sướng trước những cống hiến vĩ đại của Phật giáo đối với văn học, triết học, hội họa, điêu khắc, kiến trúc... của dân tộc Trung Quốc. Họ hân hoan sảng khoái chiêm ngưỡng những danh lam thắng địa hùng vĩ, tú lệ, u nhã, kỳ ảo... tồn tại qua hàng nghìn năm của Phật giáo trên quê hương mình. Họ cũng ngậm ngùi tiếc nuối trước những cảnh Chùa – Tháp đổ nát hoang tàn hiu quạnh và bâng khuâng nghĩ đến đạo lý vô thường, hận mà không oán! Họ khảng khái trưng ra những bằng chứng, những nhận định nhằm đính chính, sửa sai, bổ sung những lầm lẫn, thiếu sót trong quá trình lịch sử xây dựng Chùa – Tháp ở Trung Quốc với mục đích củng cố niềm tin của Phật giáo đồ trong và ngoài nước. Quả thật những tác giả trong tập sách này là những Phật tử đầy tâm huyết đã trải lòng mình theo những bước thịnh suy của Phật giáo suốt chiều dài lịch sử xây dựng Chùa – Tháp của Trung Quốc. Chính họ đã gợi ra cho tôi và có lẽ cũng cho quí độc giả nữa, cách suy nghĩ, cách hành động của chúng ta đối với những danh lam, thắng địa, Chùa – Tháp của Phật giáo Việt Nam từ xưa đến nay vậy. Mong sao quí vị, nhất là những vị tăng sĩ trí thức trẻ tuổi, tài đức kiêm toàn, những vị học giả Phật giáo giàu nhiệt huyết, tự đặt ra cho mình những nhiệm vụ cụ thể đối với Chùa – Tháp Việt Nam của chúng ta vậy. Mong thay!
Tôi mạo muội phiên dịch tập sách này cũng vì một ham muốn luôn nung nấu trong lòng là mình phải làm một cái gì đó cho Phật giáo trong phần còn lại của cuộc đời. Vậy nên, với vốn Hán học ít ỏi, kiến thức Phật học nông cạn, lối diễn đạt tiếng Việt quê mùa lủng củng, tôi nghĩ chắc chắn có rất nhiều sai sót, nhầm lẫn, không làm cho quí độc giả hài lòng lắm, tôi chỉ mong quí vị thông cảm chỉ giáo và bớt đi lời quở trách mà thôi!
Khi dịch tập sách này tôi cố ý làm cho văn ý và văn cảnh trở thành khách quan hơn, chung cho mọi người, nên tôi thay chữ “Ngã” chỉ cái thuộc về tác giả bằng từ “Trung Quốc” (như ngã quốc thành Trung Quốc). Và tôi đành lược bỏ đi một ít lời phê phán quá chủ quan, bất lợi của tác giả (tôi có lỗi với các tác giả – đành vậy biết sao?). Tôi cũng không dịch bài “Thanh Hải Hữu Ninh Tự Cập Danh Tăng” của Hàn Nho Lâm và bài “Phúc Ngải Khắc Giáo Thọ Luận Lục Triều Chi Tháp” của Lưu Ðôn Trinh. Bài của Hàn Nho Lâm tôi cảm thấy hơi xa lạ và có vẻ Phật giáo Tây Vực nhiều hơn (chủ quan mà!), còn bài của Lưu Ðông Trinh thì hình như không phải một bài luận văn hòan chỉnh, nên tôi tạm thời loại hai bài này mà không dịch, mong độc giả lượng thứ! Ngoài ra, sự chứng nghĩa của ngài Hòa thượng Thích Ðổng Minh cho bản dịch Việt văn của tôi cũng đã làm cho tôi an tâm và vô cùng cảm động vậy.
Tuệ Khai Cư Sĩ
Phan Rang, ngày 26.3.2002
Trung văn bách khoa đại từ điển (Trung Quốc nghiên cứu sở ấn hành)
Hán ngữ đại từ điển (Kiến Hoành xuất bản)
Từ Hải (Ðài Loan Trung Hoa thư cục ấn hành)
Hán ngữ đại từ điển (Tam Dân thư cục)
Tân tu Khang Hy tự điển (Khải Nghiệp thư cục)
Chánh trung hình âm nghĩa tổng hợp đại tự điển (Chánh Trung thư cục)
Phật quang đại từ điển (Phật quang xuất bản xã)
Thục dung Phật học từ điển (Cao Quán Hùng biên toản, Phật Ðà giáo dục cơ kim hội ấn tặng)
Phật giáo tiểu tự điển (Tổng chủ biên: Nhậm Kế Dũ, Thượng Hải từ thơ xuất bản xã)
Phật học đại từ điển (Ban biên tập: Giang Tô, Vô Tích Ðinh ..., Ðài Bắc – Hoa Ngiêm Liên Xã ảnh ấn)
Nam Sơn tự điển luật học (Thích Trí Dụ chủ biên, Tây liên tịnh ảnh xuất bản xã)
Pháp tướng tự điển (Châu Phi Hoàng biên soạn, Ðài Loan thương vụ thư quán ấn hành)
Phật học thưòng kiến tư vựng (Trúc Ma Pháp sư giám định, cư sĩ Trần Nghĩa Hiếu biên – Diệu âm học Phật thị thính đồ thư quán ấn tặng)
Tự điển Phật học Hán Việt (Kim Cương Tử chủ biên, nxb Khoa học Xã Hội)
Tự điển Phật học (Chân Nguyên, Nguyễn Tường Bách – nxb Thuận Hoá)
Trung Quốc Phật giáo nhân danh từ điển (Chấn Hoa pháp sư di cảo – Thượng Hải từ thư xuất bản xã)
Phật giáo nan tự tự điển (Thường Xuân Thọ Thư Phường xuất bản)
Tự điển Thiền tông Hán Việt (Hân Mẫn, Thông Thiên biên dịch, Nxb TP. Hồ Chí Minh)
Sanskrit – Enghlish Dictionary (Motilal Banarsidass Publishers)
The Pali Text
Society’s – Pali English Dictionary (Edited by T. W. Rhys Davids
.... The Pali Text Society.
A Dictionary of Buddhism Thai-Pali-Chinese (Published by The Library, Wat Pho Maen Khunaram)
The Seeker’s Glossary or Buddhism (The Corporate Body of the Buddha Educational Foundation)
A Dictionary of Chinese Buddhist Terms (Buddhist Culture Service)
Concise
Pali–English Dictionary (The
English – Pali Dictionary (Motilal Banarsidass Publishers)
Buddhist
Dictionary manual of Buddhist terms and doctrines (Frewin and Co., Ltd.,
Dictionary of Pali Proper names (G.P. Malalasekera, Munshiram Manoharlal Publishers Pvt Ltd)
The
Phạn – Hòa đại từ điển (Giảng Ðàm Xả xuất bản)
Tự điển Phật học Sanskrit - Pali - Việt - Pháp - Anh (Phạm Hữu Dụng)
Tự điển Phật học Sanskrit - Pali - Anh - Hán – Việt (Nguyên Hảo, Về Nguồn xuất bản)
Hán-Anh đại từ điển (Lục Cốc Tôn chủ biên, Thượng Hải dịch văn xuất bản xã)
Quốc tế Anh Hán đại từ điển (Trương Phương Kiệt chủ biên, Hoa văn đồ thư công ty xuất bản)
Nhật Anh Hán - Thế giới địa danh từ điển (Hoắc Úc Hoa chủ biên)
Từ điển tên riêng Thế giới (Nguyễn Trọng Ðịnh chủ biên, Nxb Văn hoá thông tin)
Tân thời đại Hán Anh đại từ điển (Trình Chấn Cầu chủ biên, Thương vụ ấn thư quán)
Trung Việt từ điển (Văn Tân, Nxb Sự Thật)
Từ điển Hán Việt hiện đại (Nguyễn Kim Thản chủ biên, Nxb Thế giới)
Hán Việt tự điển (Thiều Chửu, nhà sách Trẻ)
Hán Việt tân tự điển (Hoàng Thúc Trâm)
Vương Vân Ngũ đại từ điển (Hối Thông thư điếm xuất bản)
Từ Nguyên chánh tục biên hợp đính bổn (Lâm Vận Truyền chủ biên, Thương vụ ấn thư quán xã)
Trung Quốc thành ngữ đại từ điển (Vương Kiến Dẫn chủ biên, Thượng Hải từ thư xuất bản xã)
Almanach, những nền văn m9inh thế giới (Nxb Văn hoá thông tin)
Bách khoa thư Văn hóa cổ điển Trung Quốc (Nguyễn Tôn Nhan, nhà sách Trẻ)
Từ điển thành ngữ điển tích Trung Quốc (Nguyễn Tôn Nhan, Nxb Văn hoá thông tin)
Từ điển văn học cổ điển Trung Quốc (Nguyễn Tôn Nhan, Nxb văn nghệ TP. HCM)
Ðường Thi giám thưởng từ điển (Thượng Hải từ thư xuất bản xã)
Từ
điển Việt
Ðại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, (Nxb Văn hoá thông tin)
Việt ngữ chính tả từ vị (Lê Ngọc Trụ)
Hiện địa Hán ngữ hư từ từ điển (Bắc Kinh đại học xuất bản xả)
Cổ đại Hán ngữ hư từ từ điển (Thương vụ ấn thư quán)
Hán Việt từ điển (Nguyễn Văn Khôn)
Hán Việt từ điển (Ðào Duy Anh)
Từ điển Anh Việt (Viện ngôn ngữ học, Nxb TP. HCM)
Từ điển thành ngữ tục ngữ Hoa Việt (Lê Trí Viễn, Nxb Tp. HCM)
Tầm nguyên từ điển (Bửu Kế, nhà sách Khai Trí)
---o0o---
[Mục Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10]
[11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20]
---o0o---
Ghi chú: Xin sử dụng phông chữ: Chn FFangsong S5
để đọc được những chú thích bằng chữ Hán
---o0o---
Chân thành cảm ơn TK Thích Tâm Nhãn đã gởi tặng bản điện tử tập sách này.
TK Thích Nguyên Tạng, 1-3-2004
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01- 4 -2004