Lạt Ma Giáo
Huỳnh Bất Hoặc
Lần này,
Đức Đạt Lai Lạt Ma [ ĐLLM] đến hoằng pháp ở Úc gặp mùa mưa
bão tùm lum. Mưa lạnh khùng luôn làm chính khách nào cũng
muốn trùm... mền!
Mới đầu
ThT Howard rét quá không tiếp.
Thói
thường thấy thiên hạ lạnh thì mình lạnh theo, run thì run
theo, thế nên John So Thị Trưởng Melbourne lây rét cũng né
luôn không gặp mà chỉ cho Phó Thị Trưởng David Wilson tiếp
ĐLLM thôi. Dù cho về phương diện bang giao quốc tế, ĐLLM
không chỉ là giáo chủ một tôn giáo lớn mà còn là quốc trưởng
của quốc gia Tây Tạng, dù là quốc trưởng lưu vong.
Chỉ có
thủ lãnh đối lập Kevin Rudd gồng mình tuyên bố sẽ gặp ĐLLM
khi ngài đến Úc.
Mà Howard
và So rét quá né không gặp ĐLLM cũng phải. Những người như
Howard và So thì mũi rất thính hơi đồng cho nên đâm ngại
chọc giận Trung Hoa tẩy chay than đá, quặng mõ, dầu khí, bột
mì, trái cây, rượu...thì phiền.
Hoặc TH
ngầm ra lệnh cấm nhà giàu đến Crown Casino, nếu có ngứa tay
thì qua Macao, hay cấm du học sinh đừng qua Úc du học nữa
thì hại bạc triệu! Mỗi năm các đại học ở Úc đã hồt tiền du
học sinh TH hay VN biết bao nhiêu tiền...
Chương
trình 7.30 Report của đài ABC ngày 3/4/07 cho biết số du học
sinh xài với giá chót mỗi năm xỉn xỉn 10 ngàn đã trở thành
một thị trường béo bở. Cho nên các đại học Úc đã không ngại
cho huê hồng hậu hĩ mỗi người là 5.000 cho những ai dụ được
một du học sinh cho họ!
Các văn
phòng cố vấn du học sinh mọc lên như nấm, bất chấp nhiều khi
vị văn phòng trưởng không hề biết mặt mũi các bằng đại học
hay cổng vào đại học vuông hay méo nữa!
Howard và
So ngại là phải. Nhưng rồi Howard đã đổi ý có lẽ vì sắp đến
mùa bầu cử?
Tại sao
lại khiêu khích một cộng đồng đang lớn mạnh như PG trong đó
đa số đều có cảm tình với PG Tây Tạng mà ĐLLM là đại diện?
Thật vậy,
kết quả điều tra dân số ở Úc cho thấy PG là tập thể tăng
nhanh nhất với tỷ lệ 79% trong thời gian 5 năm từ 1996 đến
2001.
Chủ Tịch
Hồ cẩm Đào hay Tòa Đại sứ TQ ở Canberra có đi bầu đâu trong
khi 79 % đó đa số đều coi ĐLLM là Phật sống?!
Với lại,
trong chuyến du hoá 1996, ĐLLM đã gặp cả ThT Howard, Thủ
lãnh đối lập Kim Beazley và Thủ Hiến Bob Carr và chẳng thấy
TH cự nự mè nheo gì. Phải chăng cái lo tiên khởi của Howard
và So nói cho cùng chỉ là nỗi lo con buôn?
Về PG Tây
Tạng, những ai quen với ngoại ngữ thì không lạ gì từ ngữ
tantrism hay tantrisme hay occutlisme,
esotérisme mà trong Phật Học Từ Điển của Đoàn
Trung Còn gọi là mật giáo, mật tông hay bí tông... ĐTC cũng
không dịch chữ tantra hay tantrisme trong khi Từ Điển
Phật Học của Chân Nguyên Nguyễn tường Bách thì không
dịch chữ này mà để nguyên là tăng-tra.
Với người
Việt, PG Tây Tạng thường được gọi là Mật Tông bất kể đó là
tantrisme, esotérisme hay occulisme....
Mật tông
được xem là một trong ba nhánh của PG, hai nhánh kia là
Thiền và Tịnh...
Các phái
Thiền, Tịnh tha hồ quảng cáo, ngay cả phái thầy cúng cũng
không ngại trưng bảng hiệu như Minh Đăng Quang Như Lai, tục
gọi là Cổ Sơn Môn. Nhưng Mật tông thì tuyệt nhiên không, dù
ai cũng biết mật tông vẫn còn đó và người dân VN người dân
thường nghe đến Mật tông nhiều hơn là thấy biết một vị sư
nào đó tu theo mật tông dù cho truyền thuyết về mật tông thì
không thiếu chi qua cách tu hành bí mật và bùa chú.
Có rất
nhiều truyền thuyết giải thích tại sao vua Tự Đức đã cấm
tiệt mật tông hành đạo khiến cho phái này phải rút vào bóng
tối. Tất cả chỉ truyền miệng không có tài liệu chính thức
nào...
Đọc
truyện Kim Dung thấy nói đến các sư lạt-ma giáo, các sư
thuộc phái mũ vàng [hoàng cân], xuất quỷ nhập thần từ Tây
Tạng, nhưng Kim Dung không nói rõ PG Tây Tạng là gì.
Có dịp
đọc Núi Đá Tiên Tri của Z.28, tuy cường điệu nhưng ít
ra cũng có một vài ý niệm vể Tây Tạng huyền bí hay ít ra
cũng lờ mờ nhận ra lý do tại sao TH nhất quyết nắm cứng Tây
Tạng không nhả ra.
Mấy quyển
từ điển về PG như Our Religions by Preeminent Scholars
from each Tradition dày cộm nhưng chỉ có một chương về
PG [chương 2 Buddhism, do Masao Abe viết] chứ không có Mật
tông hay PG Tây Tạng.
Quyển
Buddhist Dictionary của Nyanatiloka chỉ nói sơ qua về
Thanh Tịnh Đạo [Visuddhi hay visuddhi magga] vốn là tên một
bộ luận cơ bản của PG có liên hệ đến cách tu hành của Mật
tông thôi [sđd tr.248].
Chỉ có
Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn là chịu nói rõ về
Mật Tông và hoàn toàn khác về định nghĩ Mật tông của Chân
Nguyên Nguyễn Tường Bách trong Từ Điển Phật Học [sđd.
tr.259].
Theo Đoàn
Trung Còn thì tên khác của Mật tông là Lạt-Ma giáo và....
Lạt Ma
giáo [Lamaisme] là phái đạo Phật riêng ở Tây Tạng, Mông Cổ,
Mãn Châu.
Đạo Phật
ở Ấn Độ chánh thức truyền lên Tây Tạng vào thế kỷ thứ bảy,
[nghĩa là hai trăm năm sau khi Tây Tạng trở thành một quốc
gia tự chủ độc lập].
Từ đó,
đạo Phật ở Tây Tạng mở mang ra mãi và truyền bá ra các nước
gần là Mãn Châu, Mông Cổ, Trung Hoa.
Bởi người
ta gọi thầy tu là Lạt-ma cho nên người ta xưng nền đạo là
Lạt-ma giáo.
Lạt-ma
giáo có hai phái.
1-Phái
Hồng giáo [thầy tu đội mũ đỏ] là phái cố cựu chuyên luyện
các phép thuật, các môn thần bí, dung hòa với tư tưởng bình
dân.
2-Phái
Hoàng giáo [thầy tu đội mũ vàng] là phái cải cách do đức
Tông-Cáp-Ba [ Tsong-khapa] dẫn đạo từ thế kỷ 14. Phái này
được chánh phủ công nhận là Chánh giáo, thầy tu có nghi thức
đúng đắn hơn, giữ giới hạnh thanh tịnh theo PG, ở trong
những ngôi chùa lớn mà ban tăng già có đến hằng ngàn người.
Phái
Hoàng giáo tức Lạt-Ma giáo chính thức có hai vị chúa-tể nắm
giữ mối đạo, ủng hộ chúng-sanh:
1- Ngài
Đạt-Lại Lạt-ma[Dalai-lama] hóa thân của đức Quán Thế Âm, ngự
ở điện Bổ-đà-lạc-ca sơn [Potala] tại Kinh thành Lạp-Tát
[Lhassa].
2- Ngài
Ban Thiền Lạt-ma [Pentchen-lama] là hóa thân của Phật
A-Di-Đà, trụ tại Chùa Trát-thập-luân-bố [Trashi-Lumpo] ở
thành Shigatsé.
Lời văn
đơn sơ chân chất của Đoàn Trung Còn đã vô tình vẽ ra bức
tranh lịch sử thế trị của PG Tây Tạng và cho thấy cái khó
của đức ĐLLM khi nói đến PG Tây Tạng hay Tây Tạng tự trị.
Ký tên
trong lời tựa quyển IMAGES phát hành để kỷ niệm
chuyến viếng thăm Úc năm 1996, đương kim ĐLLM ký là
Tenzin Gyatso ĐLLM thứ 14 của Tây Tạng và IMAGES
lại do FPMT [viết tắt của chữ The Foundation for the
Preservation of the Mahayana Tradition - Viện bảo tồn truyền
thống Đại thừa] xuất bản.
Những chi
tiết đó có thể gây băn khoăn vì thông thường người ta vẫn
quen miệng gọi là PG Tây Tạng, nhưng không mấy người nghĩ PG
Tây Tạng là PG Tây Tạng nào? Có phải là Mật Tông, có phải là
Lạt-Ma giáo mà ĐLLM là đại diện, là giáo chủ?
Thực ra
thì Tenzin Gyatso là thế danh của ĐLLM người mà tín
đồ Phật giáo Tây Tạng tin là hiện thân thứ 14 của Quán Thế
Âm Bồ Tát, vị thân hộ mạng của dân tộc Tây Tạng.
Tenzin Gyatso
là con trai của
một gia đình nông dân Tây Tạng tên Lhamo Dhondup và sau được
đổi là Tenzin Gyatso, có lẽ vì lý do an ninh.
Theo
truyền thuyết PG Tây Tạng thì vị Lạt- Ma đương nhiệm tạ thế
sẽ đầu thai trở lại phục vụ quần chúng Tây Tạng.
Ví dụ như
ngài ĐLLM hiện nay, ĐLLM thứ 14, tạ thế thì sẽ đầu thai
thành ĐLLM thứ 15.
Vấn đề
làm sao biết ngài đầu thai ở đâu trong gia đình nào với cha
mẹ nào thì truyền thuyết Tây Tạng đã nói rất nhiều, và hấp
dẫn như chuyện phong thần trinh thám vậy...
Việc đầu
thai trở lại sau khi tạ thế có lẽ bắt nguồn từ việc tôn kính
Bồ Tát Quán Thế Âm trong PG Tây Tạng.
Thật vậy,
ngoài Bát Nhã Tâm Kinh, bài kinh căn bản của PG Tây
Tạng cũng như PGVN chính là bài Chú Đại Bi.
Bài chú
này thường không được dịch ra tiếng Tây Tạng hay Việt Ngữ,
ngay cả Hán Việt, mà chỉ tụng nguyên văn theo phiên âm Phạn
ngữ, trừ phần nhập đề mà cũng là tựa đề bài kinh...
Nhân vật
chính trong bài kinh đó là Bồ Tát Quán Thế Âm một thứ trùm
ES, [Emergency service] hay ambulance thời nay.
Ai cần
cứu trợ khẩn cấp là ngài tới ngay, có mặt ngay, chẳng cần
phải gọi ba số 000 hay 911, bất kể nạn nhân là Phật tử có
quy y hay không quy y. Điều này giải thích tại sao Bồ Tát
Quán Thế Âm thường được gọi là Bồ tát đại bi ngàn tay ngàn
mắt [thiên thủ thiên nhãn].
Đẳng cấp
trong đạo của Quán Thế Âm là Bồ Tát, sau Phật. Bồ Tát là chữ
viết gọn hai chữ Bồ đề và Tát Đỏa. Bồ đề dịch chữ Bodhi là
kẻ đã giác ngộ, có trí huệ và Tát đỏa dịch chữ sattva là
chúng sanh hữu tình.
Tóm lại,
Bồ Tát là một kẻ đã giác ngộ, đã thoát ra ngoài vòng sanh
tử, nhưng đã quyết định ở lại thế gian để sẵn sàng giúp
những người khác cùng đạt đến sự giác ngộ như mình.
Đó là lý
tưởng từ bi cao cả nhất của PG Tây Tạng, của những ai có tâm
nguyện Bồ Tát hay bồ tát hạnh, của tất cả những ai nghĩ và
muốn sống theo PG.
Theo kinh
điển thì Bồ Tát Quán Thế Âm là thị giả hay cận thần của Phật
A-Di-Đà chúa tể Tây phương Cực Lạc Thế Giới.
A-Di-Đà
là vị Phật đã nguyện bao giờ vũ trụ còn một chúng sinh chưa
giác ngộ, nghĩa là còn vướng mắc trong vòng luân hồi sinh tử
thì sẽ không nghỉ ngơi. Nơi Ngài nghỉ ngơi cũng là cùng đích
tu chứng của Tịnh Độ, của Thiền,, ,của tất cả Phật tử. Thế
giới cực lạc!
Nhìn theo
quan điểm đó thì sẽ hiểu tại sao có ĐLLM 14 và sẽ có ĐLLM
15!
Và hiểu
được nguyên lai của ĐLLM 14 thì có lẽ sẽ hiểu được cái khó
của Đức ĐLLM hôm nay trong việc tranh đấu cho nền độc lập và
tự chủ của Tây Tạng.
Thật vậy,
cũng như VN, tự ngàn xưa, Tây Tạng vốn là một châu huyện của
TH như VN thuộc châu Ung, châu Khiêm của TH vậy. Khi nào nội
bộ TH ở Bắc kinh loạn thì địa phương độc lập tự trị.
Theo The
Hutchinson- Encyclopedia [ p.821-822] thì Tây Tạng là một
quốc gia độc lập từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ 18 thì bị TH
thôn tính. Sau cách mạng Tân Hợi, năm 1912 thì Tây Tạng thu
hồi được độc lập.
Năm 1951,
Mao Trạch Đông cướp được chính quyền TH thì thôn tính luôn
Tây Tạng, triệt hạ quyền lực bản xứ khiến ĐLLM và giới tăng
già phải hoàn tục nếu không lưu vong. Giới tăng già vốn
chiếm 25% dân số bị tống xuất khỏi các tự viện.
Từ
1951-1959 Tây Tạng thuộc quyền quân quản như là một lãnh thổ
tự trị có chính quyền riêng, quốc hội riêng. ĐLLM được trở
về nhưng chỉ với tư cách quốc trưởng tượng trưng như Bảo Đại
của VN sau 1949 mà thôi, quyền hành quốc gi đều thuộc vể ban
quân quản.
Năm 1959,
ĐLLM lãnh đạo cuộc nổi dậy toàn quốc bị quân đội thẳng tay
trấn áp và ĐLLM phải cùng với 9.000 người Tây Tạng chạy trốn
qua Ấn Độ thành lập chính quyền lưu vong ở tỉnh biên giới
Ấn-Hoa Dharamsala.
Tây Tạng
phải trải qua những ngày sắt máu cãi tạo xã hội chủ nghĩa.
Hết đợt sắt máu ấy thì lại đến cơn bão dữ Cách Mạng Văn
Hóa...Lạt–Ma giáo gần như bị mấy ông bà Vệ Binh Đỏ chà láng.
Mãi đến
năm 1979, phe Đặng Tiểu Bình nắm được thực quyền trung ương
đã thực hiện một chính sách sửa sai thực tiễn để cho dân Tây
Tạng được tự quyết nhiều hơn, Lạt Ma giáo được cởi trói,
quyền lực tâm linh của giai tầng lạt-ma được phục hồi...
Nhưng
viễn ảnh một Tây Tạng độc lập tự quyết tách rời TH thì vẫn
xa vời trong hoàn cảnh TH luôn luôn cảm thấy hăm dọa một bên
là Nga, một bên là Mỹ, chưa kể Ấn Độ.
Ký ức
những va chạm biên giới với Nga năm 1960, với Ấn Độ vì năm
1962, chưa kể với Mỹ ở Hàn Quốc năm 1950-53, VN 1960-75...
vẫn khó phai mờ trong trí óc các nhà chiến lược TH.
Bigpond
đang có một quảng cáo rất ăn khách phát xuất từ nỗi ám ảnh
về họa phương Bắc đã hình thành một quái thai lớn nhất nhân
loại là Vạn Lý Trường Thành.
Ám ảnh đó
có thể nói đã ăn vào gene, vào DNA của TH rồi cho nên cũng
chẳng lạ gì khi thấy tại sao TH cứ dựt lên như bị vò vẽ
chích mỗi lần nghe nói đến Tây Tạng độc lập tự
trị !
Trong
chiến tranh cũng như phòng thủ, chiếm được điểm cao là chiếm
thượng phong. Diện tích đất đai của Tây Tạng rộng xấp xỉ bốn
lần VN dân số chỉ khoảng 1/20 VN nhưng Tây Tạng lại là cao
điểm của thế giới. Thế giới có 106 đỉnh núi cao 7.315 mét
thì Hy Mã Lạp Sơn chiếm hết 96 đỉnh! Chưa kể là 10 đỉnh núi
cao nhất thế giới thì Hy Mã Lạp Sơn chiến hết 9! [The
Guiness Book of Most and Least, tr. 17].
Điều này
giải thích tại sao TH đã chọn Tây Tạng làm nơi đồn trú lực
lượng tổng trừ bị từ 50ngàn đến 100.ngàn quân và thiết lập
căn cứ hỏa tiễn nguyên tử lớn nhất ở Nagchuka của Tây Tạng.
Chưa kể là Lob Nor của Tân Cương gần đó là kho nguyên tử và
khinh khí của THtrong chiến lược MAD, trâu chết thì bò cũng
đdứt đuôi!
Nhìn theo
quan điểm đó thì thấy cuộc vận động của ĐDLLM hiện nay thật
muôn vàn khó khăn.
Khó khăn
hơn nữa là sau cuộc tổng khởi nghĩa thất bại năm 1959, Ban
Thiền Lạt Ma lại không đào thoát được và đang ở trong vòng
kiềm tỏa của TH và không hề lên tiếng đòi Tây Tạng tự trị !
Và theo
truyền thuyết thì vai vế của Ban Thiền Lạt Ma lại cao hơn
ĐLLM vì Ban Thiền Lạt Ma là hóa thân của Phật A-Di-Đà mà Bồ
Tát Quán Âm là thị giả trong khi đương kim ĐLLM được coi là
hóa thân của Quán Âm Bồ Tát. Nói thế khác, về phương diện
chính trị, Ban Thiền Lạt Ma dù sao cũng ngang cơ với
ĐDLLMnếu không muốn nói là trên cơ! Cho nên,ngày về của ĐLLM
thật còn xa...
Nhưng Bụt
nhà không thiêng, có lẽ thế giới cũng nhờ sự kiện tréo cẳng
ngỗng này mà được hưởng công đức của Phật giáo Tây Tạng?
ĐLLM đã
mất chức giáo chủ và quốc trưởng Tây Tạng nhưng bù lại ngài
đang trở thành hiện thân của từ bi trí huệ là hy vọng cho
nhân loại trong thời kỳ tôn giáo đang trở thành gươm đao bom
mìn để cho con người trút bao nhiêu bất mãn hận thù lên đầu
lên cổ đồng bào đồng loại.
Tiếng
cười an nhiên thống khoái của ĐLLM là hiện thân của một con
tim rỗng tuếch không cầu lụy, không toan tính, không hận
thù, mánh mung. Nghe ông cười, người ta có cảm tưởng như
nghe ông nhắc nhở:Ê! Trăm phần trăm, đâu còn có đó, đừng
nóng!
PG Tây
Tạng hay Lạt Ma giáo nổi tiếng không những với hạnh nguyện
bao la của Phật A-Di-Đà và Quán Thế Âm Bồ Tát, nhưng PG Tây
Tạng còn nỏi tiếng về bùa chú và mạn-đà-la vốn là những
hoành đồ thu tóm cả thế giới thiêng liêng hay luân hồi mà
kinh kệ thường mô tả.
Nhưng đặc
trưng của PG Tây Tạng có lẽ chính la cái nhìn của tôn giáo
này về vấn đề quan hệ nam nữ hay tính dục.
Nếu có
duyên xem những phim như Samsara hay Xuân, Hạ,Thu,
Đông...Xuân thì có lẽ người ta sẽ ghi nhận những đặc
trưng này.
Trong
Sexual Secrets[ tr.153], Nik Douglas và Penny Singer còn
sao lại một bức tranh của Tây Tạng ghi lại sự cố nhập thân
của Phật với các không hành nữ hay không hành mẫu [Dakini]
ngay sau khi Phật giác ngộ.
Xuất xứ
của bản vẽ là bộ kinh Guhyasamaja Tantra mà Chân
Nguyên Nguyễn Tường Bách trong sđd tr.57 đã ghi là ...cũng
được gọi là Tam Nghiệp bí mật kinh; tantra đầu tiên của PG,
được biên soạn giữa thế kỷ 3 và 7, được xếp vào Vô Thượng
du-già tan-tra.
Các Tân
tăng của Nhật hình như cũng đi theo một đường của các lạt ma
Tây Tạng nên rất thoải mái về chuyện nam nữ và không phải
bối rối dấu diếm gì. Đại sư Suzuki không hề dấu diếm là mình
có bà xã kềm kẹp. Đó là ấn tượng người đọc khi đọc tác phẩm
nổi tiếng The Tibetain Book of Living and Dying của
Sogyal Rinpoche.
Trong
phần phụ lục Các Sư Phụ của tôi[ My teachers, tr.367
và tt.] Rinpoche kể ra bốn vị là 1-Jamyang Khyentse Chokyi
Lodro [1896-1959], 2-Dudjom Rinpoche [1904-1987], 3- Dilgo
Khyentse Rinpoche [ 1910-1991] và 4- Khandro Tsering Chodron
mà Sogyl Rinpoche còn nói rõ là: was the spiritual wife
of Jamyang Khyentse Chokyi Lodro and is regarded as the
foremost women master in Tibetan Buddhism.
Như vậy
là chuyện nam nữ vợ con đối với các lạt-ma Tây Tạng là
chuyện tự nhiên? và đó có phải là đặc biệt cho một phái hay
cho cả hai phái mũ vàng và mũ đỏ?
Bởi không
biết chi tiết này nên năm 1980 hay 81 gì đó, khi có cơ duyên
diện kiến đương kim ĐLLM khi ngài đến Sydney và ngụ tại
khách sạn Hilton, Bất Hoặc tôi đã không có dịp xin ngài khai
ngộ cho.
Dù sao
thì mỗi lần vào tửu đường kiêm thiền đường nhìn thấy bản in
bức đà-la-ni ngài đã cho mà Bất Hoặc tôi còn tưng tiu với
dãi khăn lụa như của trấn bảo, Bất Hoặc tôi vẫn không thầm
cầu mong cho hạnh nguyện của ngài viên thành dù biết là khó.
Nhưng khó
hay dễ thì hạnh nguyện đó cũng được các Phật tử PG Tây Tạng
tái xác nhận mỗi khi họ bắt đầu công phu hay niệm thần chú
Lục Đại Tự Minh OM MA NI BAT MI HỒNG.
Hạnh
nguyện cao cả đó có thể nói ra như thế này: Quy y Phật,
Pháp, Tăng/Đến khi con chứng thành/Quả vị vô thượng
giác/Nguyện cho các công đức/Do con tạo tác nên/Như bố thí
trì giới/Khiến con được thành Phật/Để cứu độ chúng sinh.
Đó là
những lời nguyện mà PT Tây Tạng lẩm nhẩm mỗi khi bắt đầu
niệm Lục đại tự minh chú hay bắt đầu cử thiền định quán
tưởng mà chủ đề thường là hình ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm
hay cõi Tây Phương Cực Lạc hấp dẫn diệu vợi đã được lạt-ma
Tangtong Gyalbo ghi lại và được Sư Viên Lý chuyển Việt trong
quyển Pháp Tu Quán Âm [tr.80]
Có đọc
sách này thì mới hiểu tại sao có những người mê chết mê sống
cái gọi là Tu Pháp Hoa và những lúc ngồi thiền do sư phụ
truyền bí kíp cho mà không biết mình đang thực hành cái gọi
là... cuồng thiền đầy vị ngã chẳng có chi là từ bi vô ngã
cả!
Kẹt thiệt
hí?
BẠT - SƠ
LƯỢC VỀ MẬT TÔNG TÂY TẠNG
Vajra
Trong các
quốc gia có Phật Tử tu theo Phật Giáo Đại Thừa thì Tây Tạng
chỉ tu theo Mật Tông mà thôi. Ở Tây Tạng có 4 tông phái Mật
Tông chính đó là 1)Nyingmapa, 2)Sakyapa, 3)Kagyupa,
4)Gelupa.
Mỗi một
tông phái thì đều có phương pháp tu hành khác nhau theo các
Kinh Mật Tông khác nhau nhưng tất cả các tông phái đều cùng
thực hành 4 bậc Mật Tông đó là: 1)Lễ Bái Mật Tông, 2)Nghi Lễ
Mật Tông, 3)Thiền Quán Mật Tông, 4)Tối Thượng Mật Tông.
Mật Tông
thì tiếng Phạn gọi là Tantra. Đạo Bà La Môn (Hinduism) cũng
có Tantra nhưng mà cái Tantra này không phải là Tantra của
trong Kinh Mật Tông dạy.
Đây là sơ
lược về 4 tông phái Mật Tông tại Tây Tạng:
1)Nyingmapa:
Tông phái
Nyingmapa được khai sáng do Ngài Padmasambhava, là vị đem
Phật Giáo Mật Tông từ Ấn Độ truyền sang Tây Tạng vào đầu thế
kỷ thứ 7 sau TL. Ngài Padmasambhava đem theo tất cả Kinh Mật
Tông bằng tiếng Phạn qua Tây Tạng vì vậy mà hiện nay chỉ có
ở Tây Tạng là có đủ tất cả các Kinh Mật Tông. Ngài
Padmasambhava đã dịch rất nhiều Kinh Mật Tông từ tiếng Phạn
ra tiếng Tây Tạng. Ngài Padmasambhava đã truyền lại giáo lý
Mật Tông cho 25 người đệ tử và sự truyền thừa đó vẫn tiếp
tục cho đến bây giờ.
Theo
truyền thyết thì Ngài Padmasambhava đã hàng phục vị Thần Chủ
xứ Tây Tạng cùng nhiều quỷ thần khác để cho họ quy y theo
Phật Pháp và trở thành các vị Hộ Pháp tại các tu viện.
2)Kagyupa
Do Marpa
Chokyi Lodoe Khai sáng vào đầu thế kỷ thứ 10 sau TL. Ngài
Marpa là đệ tử của Ngài Naropa. Ngài Naropa là vị đã truyền
dạy về 6 pháp Thiền Quán về Mật Tông và Đại Thủ Ấn cho ngài
Marpa và Ngài Marpa đã truyền lại cho đệ tử là Ngài Milarepa
và Ngài Milarepa đã truyền lại cho hai vị đệ tử là các Ngài
Gampopa, Rechungpa và sự truyền thừa vẫn liên tục không gián
đoạn cho đến nay.
3)Kadampa
Do Ngài
Atisa khai sáng vào giữa thế kỷ thứ 9 sau TL. Ngài Atisa đã
cho dịch ra rất nhiều kinh Mật Tông từ tiếng Phạn sang tiếng
Tây Tạng. Ngài Atisa đã truyền giáo lý Mật Tông cho các vị
đệ tử và sự truyền thừa vẫn liên tục không gián đoạn cho đến
nay.
4)Sakya
Do Ngài
Khon Konchok Gyelpo Khai sáng vào đầu thế kỷ thứ 11 sau TL.
Ngài Khon Konchok Gyelpo đã truyền lại giáo lý và các pháp
tu cho các đệ tử và sự truyền thừa vẫn liên tục không gián
đoạn cho đến nay.
5)Gelupa
Do Ngài
Je Tsongkhapa khai sáng vào đầu thế kỷ thứ 15 sau TL. và sự
truyền thừa vẫn liên tục không gián đoạn cho đến nay.
Trong các
tông phái kể trên thì chỉ có tông phái Gelupa là các vị xuất
gia còn các tông phái Nyingmapa, Kagyupa, Sakyapa thì đa số
là các vị cư sĩ vì vậy mà rất nhiều người không hiểu biết
nói là các sư Tây Tạng có vợ là một sự sai lầm rất lớn.
Giáo lý
Mật Tông có hai phần Hiển Giáo và Mật Giáo.
Hiển
Giáo: Là tất cả cá giáo lý Tiểu Thừa, Đại Thừa và tất cả các
Kinh, Luật, Luận của Tiểu Thừa và Đại Thừa.
Mật Giáo:
Là tất cả các giáo lý trong các kinh Mật Tông thí dụ như là
phương pháp Thiền Quán Tưởng Đức Phật Bổn Tôn, phương pháp
Chuyển Hoá Thân Thành Thân Bổn Tôn, phương pháp tạo đồ hình
Mạn Đà La, phương pháp Tự Thọ Quán Đảnh, phuơng pháp Truyền
Pháp Quán Đảnh, phuơng pháp Chuyển Di Thần Thức, phương pháp
Cung Thỉnh Chư Bổn Tôn, phương pháp Câu Triệu và Hàng Phục
Thiên Long Quỷ Thần v.v rất là nhiều các pháp hành trì của
Mật Tông khác.
Rất nhiều
kinh Mật Tông chỉ có trong Đại Tạng Kinh Tây Tạng chứ không
có trong Đại Tạng Kinh Hán là bởi vì các vì phiên dịch kinh
Phật từ Phạn sang Hán khi xưa không có tu hành theo Mật
Tông. Ngay cả khi Ngài Huyền Trang thỉnh Kinh Phật từ Ấn Độ
về thì cũng chỉ đem về một số lượng rất là ít ỏi so với hàng
ngàn bộ Kinh Mật Tông hiện có bằng tiếng Tây Tạng và tiếng
Phạn ở tại các tu viện Tây Tạng.
Nền tảng
của triết lý Mật Tông là triết lý của Duy Thức, Hoa Nghiêm,
Bát Nhã, Bồ Đề Tâm. Triết lý Mật Tông đặt nền tảng trên các
Kinh của Đại Thừa và Mật Tông và các bộ Luận như là Trung
Luận, Du Già Sư Địa Luận, Nhân Minh Luận,Nhập Trung Luận,Đại
Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận, Biện Trung Biên Luận, Bồ Đề Đạo
Thứ Đệ Quảng Luận v.v.
Triết lý
và phương pháp hành trì của Mật Tông căn bản vẫn xây dựng
theo tiến trình Giới-Định-Tuệ như tất cả mọi đường lối tu
tập khác của Phật giáo. Tuy nhiên Mật Tông đặt nặng về Gia
Trì Lực của Chư Phật Bổn Tôn nên hay có nhiều sự thần thông
biến hoá.
Ba yếu tố
chính trong sự tu hành của Mật Tông Tây Tạng là Từ Bi, Trí
Tuệ, Phương Tiện Thiện Xảo.
Mật tông
có bốn bậc khác nhau từ cao xuống thấp là:
Tối
Thượng Mật Tông
Thiền
Quán Mật Tông
Nghi Thức
Mật Tông
Lễ Bái
Mật Tông
Tối
Thượng Mật Tông: Là đã đầy đủ các pháp hành trì của ba bậc
thấp hơn và thành tựu đầy đủ các pháp quán tưởng chuyển hoá
thân thành vị Phật Bổn Tôn được thành tựu Tam Mật tức là
Thân Mật, Ngữ Mật, Ý Mật.
Thiền
Quán Mật Tông: Là đã đầy đủ các pháp hành trì của hai bậc
thấp hơn. Hành giả phải biết rõ pháp tu quán tưởng chuyển
hoá thân thành Đức Phật Bổn Tôn. Hành giả phải biết rõ
phương pháp tu Quán Tưởng Đức Phật Bổn Tôn, biết rõ các Chân
Ngôn, biết rõ các Thủ Ấn của bậc này, biết phương pháp tạo
đồ hình Mạn Đà La, biết các Chân Ngôn, các nghi thức về làm
Pháp Quán Đảnh, làm lễ cúng dường và còn rất nhiều nghi thức
khác nữa v.v. của bậc Mật Tông này
Nghi Thức
Mật Tông: Là đã đầy đủ các pháp hành trì của bậc thấp hơn.
Hành giả phải biết rõ phương pháp tu Quán Tưởng Đức Phật Bổn
Tôn, biết rõ các Chân Ngôn, biết rõ các Thủ Ấn của bậc này,
biết phương pháp tạo đồ hình Mạn Đà La, biết các Chân Ngôn,
các nghi thức về làm Pháp Quán Đảnh, làm lễ cúng dường và
còn rất nhiều nghi thức khác nữa v.v. của bậc Mật Tông này
Lễ Bái
Mật Tông: Là hành giả phải tu hành đầy đủ các pháp lạy sám
hối, trì tụng. Hành giả phải biết rõ phương pháp tu Quán
Tưởng Đức Phật Bổn Tôn, biết rõ các Chân Ngôn, biết rõ các
Thủ Ấn của bậc này, biết phương pháp tạo đồ hình Mạn Đà La,
biết các Chân Ngôn, các nghi thức về làm Pháp Quán Đảnh, làm
lễ cúng dường và còn rất nhiều nghi thức khác nữa v.v. của
bậc Mật Tông này
Trong mỗi
bậc Mật Tông lại có hai phần là Nội Mật và Ngoại Mật.
Ở tại
Việt Nam khi nói đến Mật Tông là nói đến hai loại Mật Tông
đầu đó là Lễ Bái Mật Tông và Nghi Thức Mật Tông.
Các Kinh
về Thiền Quán Mật Tông và Tối Thượng Mật Tông thì chỉ có ở
trong Đại Tạng Kinh Tây Tạng mà thôi.
Chư Tăng
và Phật Tử Việt Nam sở dĩ không có tin việc tu hành theo Mật
Tông trong một đời mà có thể thành Phật là bởi vì không có
ai biết về Thiền Quán Mật Tông và Tối Thượng Mật Tông.
Không
phải là hễ ai tu theo Mật Tông thì cũng thành Phật trong một
đời cả mà chỉ có các vị tu theo pháp Tối Thượng Mật Tông lúc
được thành tựu viên mãn thì mới có thể chứng quả Phật trong
hiện đời.
Pháp Tối
Thượng Mật Tông rất là thâm sâu vì vậy một người muốn tu
hành pháp Tối Thượng Mật Tông thì phải có căn bản vững chắc
về Mật Tông của các bậc dưới rồi và hành giả trước hết phải
nhận được Pháp Quán Đảnh của một vị Kim Cang Pháp Sư đã
thành tựu về Pháp Tối Thượng Mật Tông truyền dạy. Hành giả
cũng phải có sự chứng nhập thâm sâu về Tánh Không và Bồ Đề
Tâm thì mới có thể tu hành Pháp Tối Thượng Mật Tông
Lòng Từ
Bi Là Nền Tảng Của Hòa Bình Thế Giới Việt Báo Chủ Nhật,
4/20/2008, 12:02:00 AM
(Nguyên
tác: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Chuyển ngữ: H.T. Thích Trí Chơn
--Trích từ tập sách “A Human Approach to World Peace”)
Theo khoa
tâm lý học Phật Giáo, phần lớn những khổ đau của chúng ta
đều phát xuất từ lòng dục vọng, và sự tham đắm của chúng ta
vào mọi vật mà chúng ta lầm tưởng rằng chúng là những vật
thể chắc thực bền lâu.
Sự theo
đuổi các đối tượng dục vọng và lòng tham đắm của chúng ta
khiến chúng ta dùng đến sự xâm lăng và tranh chấp như những
phương pháp mà chúng ta thường nghĩ rằng chúng sẽ mang lại
kết quả. Những ý tưởng này dễ dàng biến thành hành động nhằm
nuôi dưỡng chiến tranh được chúng ta xem như là phương pháp
hiển nhiên. Tâm con người đã có những ý niệm ấy từ thưở xa
xưa, nhưng hành động tranh chấp này đã trở nên có tác dụng
hơn trong hoàn cảnh sống hiện đại.
Làm thế
nào để chúng ta có thể kiểm soát và chế ngự được những ý
tưởng độc hại tham sân si này? Vì những ác tính đó là nguồn
gốc đã gây ra mọi cuộc khủng hoảng khó khăn trên thế giới.
Là một tu
sĩ được hấp thụ qua truyền thống của nền Phật Giáo Đại Thừa,
tôi nghĩ tình thương và lòng từ bi là căn bản đạo đức cho
nền hòa bình thế giới.
Trước
tiên, tôi xin định nghĩa thế nào là lòng từ bi? Khi bạn phát
tâm giúp đỡ một người nghèo khổ vì bạn thương hại kẻ đó đang
gặp cảnh khốn cùng, như vậy lòng từ bi của bạn được xây dựng
trên sự xót thương hồn nhiên, không suy tính.
Trái lại,
tình yêu thương vợ chồng, con cái hay người quen thân của
bạn thường xuất phát từ lòng tham đắm. Khi sự đắm say của
bạn thay đổi, lòng tốt của bạn cũng thay đổi theo, và nó có
thể biến mất luôn. Đây không phải là tình thương chân thật.
Tình
thương chân thật không xây dựng trên lòng tham đắm, mà trên
sự xót thương. Trong trường hợp này, lòng từ bi của bạn được
xem như một nhu cầu đáp ứng lại sự khổ đau và tình thương ấy
cần được duy trì bao lâu con người còn tiếp tục đau khổ. Đó
là lòng từ bi mà chúng ta nên tu tập nơi mỗi chúng ta và
chúng ta cần phát triển nó từ mức độ hẹp hòi cho đến rộng
rãi bao la.
Lòng từ
bi bao la, hồn nhiên và không phân biệt đối với mọi chúng
sanh rõ ràng không phải là thứ tình yêu thông thường, phát
xuất từ vô minh, lòng ái dục và tham đắm mà con người thường
có đối với bạn bè hay gia đình của họ. Loại tình thương
chúng ta nên duy trì và phát triển là thứ tình thương rộng
lớn hơn mà chúng ta có thể thực hiện ngay cả đối với kẻ thù
đã làm hại chúng ta.
Lý do
chúng ta nên có lòng từ bi vì mọi người chúng ta ai cũng
muốn sống hạnh phúc và không thích khổ đau. Thực vậy, mọi
người sinh ra với những ước muốn giống nhau nên ai cũng có
quyền bình đẳng để thành đạt các điều mong ước đó.
Nếu tôi
so sánh tôi với vô số những người khác, tôi thấy họ quan
trọng hơn tôi nhiều, vì tôi chỉ có một trong khi những người
khác thì số đông. Lại nữa, giáo lý Phật Giáo Tây Tạng dạy
chúng ta nên xem mọi chúng sanh như những thân mẫu của chúng
ta và nên bày tỏ lòng biết ơn, yêu thương họ.
Vì theo
lời Phật dạy chúng ta sinh ra và luân hồi trong nhiều đời
nhiều kiếp, cho nên ai cũng có thể là cha mẹ của chúng ta
trong đời này hay đời khác. Do đó, tất cả mọi người ở thế
gian này đều có liên hệ gia đình với nhau.
Bất cứ ai
dù có tin đaọ giáo hay không, họ vẫn tán dương tình thương
và lòng từ bi. Ngay khi chúng ta vừa mới lọt lòng, chúng ta
đã được sự chăm sóc của cha mẹ chúng ta, và sau này trong
cuộc sống, khi chúng ta gặp đau khổ vì bệnh hoạn hay già yếu,
chúng ta cũng cấn đến tình thương và giúp đở của những người
khác.
Nếu từ
lúc sinh ra cho đến giờ phút lìa đời trong cuộc sống, chúng
ta đã phải nương nhờ đến lòng tốt của mọi người, thì tại sao
trong đời sống chúng ta lại không bày tỏ lòng thương yêu của
mình đối với những kẻ khác.
Sụ phát
triển lòng thương yêu (tình cảm thân thiện đối với mọi người)
không liên quan gì đến lòng sùng đạo mà chúng ta thường áp
dụng trong sự thực hành tôn giáo. Nó không những chỉ dành
riêng cho kẻ có tín ngưỡng mà cho mọi người không phân biệt
chủng tộc, tôn giáo hay đoàn thể chính trị.
Tình
thương cần thiết cho bất cứ ai, nam lẫn nữ tự nhận thấy mình
trên hết, là một phân tử trong đại gia đình của nhân loại,
cũng như đối với những người nhìn thấy sự việc từ nhận thức
bao quát và xa rộng hơn. Đó là thứ tình cảm đạo đức mà thay
vì không lưu tâm, chúng ta nên phát triển và thực hành nó,
đặc biệt đối với tuổi thanh xuân, khi chúng ta nhận thức
được rằng kiếp sống con người là vô thường, không bền chắc.
Khi chúng
ta tìm hiểu vấn đề một cách bao quát hơn, chúng ta nhận thấy
mọi người đều muốn có hạnh phúc và không thích khổ đau cũng
như ý thức rằng trong tương quan với vô số người khác, cá
nhân chúng ta không có gì quan trọng; và khi ấy, chúng ta có
thể nghĩ rằng mang tài sản của chúng ta ra chia xẻ, giúp đỡ
cho người khác là điều đáng làm.
Nếu luyện
tập cho mình có được nhận thức như vậy, giá trị chân chính
của lòng từ bi- ý nghĩa đích thực của tình thương và sự kính
trọng kẻ khác- sẽ trở nên là điều mà chúng ta có thể thực
hiện được.
Hạnh phúc
cá nhân không còn là ý thức nỗ lực tìm cầu của chính bản
thân mà nó trở nên thành quả tự nhiên và tuyệt luân của mọi
sự phát triển về tình thương và hành động cứu giúp cho những
kẻ khác.
Lòng từ
bi chân chính còn mang lại kết quả khác của sự phát triển
tinh thần cũng như rất hữu ích cho đời sống hằng ngày vì nó
giúp cho tâm mình được sáng suốt và thanh tịnh.
Cuộc đời
chúng ta luôn luôn biến đổi và gặp nhiều khó khăn. Những khó
khăn đó sẽ được giải quyết thành công khi tâm chúng ta bình
tĩnh và sáng suốt. Nếu chúng ta không kiểm soát được tâm
mình vì lòng oán giận, ích kỷ, ganh ghét và sân hận; chúng
ta sẽ không còn lý trí để xét đoán.
Vào những
giờ phút cuồng dại vì tâm chúng ta mù quáng thì bất cứ việc
gì cũng có thể xảy ra, kể cả chiến tranh. Cho nên, sự thực
hành lòng từ bi và trí tuệ là điều hữu ích cho tất cả, nhất
là đối với những người có trách nhiệm điều hành công việc
quốc gia, khi mà họ nắm trong tay quyền lực và phương tiện
có thể tạo dựng nền hòa bình cho thế giới.