LẠT
MA GIÁO VÀ THIỀN TÔNG VIỆT
Tương đồng và khác
biệt
Cao Xuân Phổ *
Thư viện Hoa sen
Có
thể nói một cách thoả đáng
là Lạt Ma giáo (Lamaism) ở Tây Tạng,
Mông Cổ và Thiền tông Việt
1. Long Thọ, theo nghiên
cứu của các nhà Phật học quốc
tế, là một trong những luận sư Phật
học quan trọng nhất, sống vào cuối thế
kỉ II đầu thế kỉ III ở Nam ấn
Độ. Ông là vị tổ thứ 14 của
Thiền tông ấn Độ, là người
sáng lập ra Trung Đạo tông (Madhyamaka).
Tác phẩm quan trọng nhất của ông là
Trung Luận Bản tạng (Madhyamaka karika). Ông cũng
là tác giả của Đại Bát Nhã
Ba La Mật luận (Hahaprajnaparamita sastra). Thành tựu
lớn lao của Đại sư là đã
hệ thống hoá và trình bày sâu
sắc giáo nghĩa trong tập Bát Nhã Ba La
Mật kinh (Hahaprajnaparamita sutra), trong đó ông
phát triển một đường lối biện
chứng đặc biệt dựa trên cách suy
luận dồn đến chỗ dường như
là phi lí về các thế đối lập.
Mọi vật sở dĩ
tồn tại là do có cái đối lập
với nó. Nếu không có cái đối
lập với nó thì vật sẽ không
tồn tại thực sự. Không có sinh tất
không có diệt, không có thường
tất không có đoạn, không có một
tất không có nhiều, không có
đến tất không có đi. Đó
là luận điểm “Tám không”
nổi tiếng của Long Thọ.
Song sự thật là sự
vật vẫn tồn tại trước mắt ta, xung
quanh ta. Đó chỉ là sự thật biểu
kiến ở cấp độ quy ước, còn
sự thật đích thực thì lại nằm
trong bản chất đích thực của sự
vật. Nói “quy ước” là vì
có tính đối đãi với nhau giữa
các đối lập mới tồn tại. Nói
“bản chất đích thực” vì
nó là thường trụ, không biến
đổi, không chuyển hoá, độc lập
với mọi bản chất khác; bản chất
đó là Không (Sunyata). Cõi Không
đó là Tâm, cái tâm tịch tĩnh,
không xao động; đó cũng chính
là Niết Bàn (Nirvana) của nhà Phật.
Niết Bàn, cũng theo Long Thọ, không phải
là cái gì có thể với tới
được mà chính là nằm trong sự
thức ngộ bản chất đích thực của
hiện tượng, nằm trong Chân Như (Tathata)
chứ không nằm trong biểu hiện đa dạng
của hiện tượng. Đó cũng chính
là cơ sở giáo lí của Thiền tông
(Phật tại Tâm).
Trung Luận tông (Madhyamaka)
chính là một trong ba cột trụ giáo
nghĩa của Lạt Ma giáo. Hai cột trụ kia
là Duy Thức tông (Vijnanavada) và Kim Cương
thừa (Vajrayana).
Bài viết cho Hội
thảo khoa học “50 năm quan hệ Mông Cổ
– Việt
Duy Thức tông do đại
sư Vô Trước (Asangha), sống vào thế
kỉ IV ở Bắc ấn Độ, xướng
lập, phát triển từ Trung Luận tông.
Cũng xuất phát từ tiền đề thế
giới hiện tượng là không có
bản chất đích thực, Vô Trước
luận giải nó (thế giới hiện
tượng) tồn tại là do các quá
trình nhận thức chứ không phải vì nó
là vật thể. Do đó, thế giới
ngoại cảnh chỉ là “thuần tuý
tâm thức” (Duy Thức). Có được
sự nhận thức đó là vì trong
tâm thức mỗi người có một thức
gọi là A Lại Da thức (Alaya vijnana), còn
gọi là Như Lai Tạng thức hay Tạng
thức, là tối thượng trong tám thức
của con người (Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt,
Thân, ý, Ma Na, A Lại Da) bao gồm cả bảy
thức kia. A Lại Da thức thường
được ví như dòng nước chảy,
luôn luôn biến đổi trong tâm thức con
người, từ kiếp này sang kiếp khác,
và luôn bị các thức kia che lấp. Con
người khi thức ngộ được A Lại Da
thức là ngộ được tính Không,
còn gọi là Chân Như, là đắc
Bồ Đề (Bodhi).
Lạt Ma giáo là sự
hợp nhất giới luật của Nhất Thiết Hữu
Bộ tông (Sarvastivada: mọi pháp - quá
khứ, hiện tại, tương lai - đều đang
cùng tồn tại) và nghi thức tác
pháp của Kim Cương thừa. Bước
quyết định trong nghi thức này là Lễ
Quán Đỉnh (Abhiseka) do một vị sư cả
(Guru) ban phép cho người đệ tử
được nhập thiền định tâm
vào một vị Phật cụ thể bằng
cách đọc thần chú (Mantra), suy niệm
đồ hình (Mandala) và thực thi ấn quyết
(Mudra) để đạt đến độ thăng
hoa loại bỏ ý niệm nhị nguyên (Duality)
đặng nhập vào Chân Như, vào
cõi Không. Trạng thái đó
được biểu tượng bằng Vajra (Kim
cương bất hoại). Để làm chủ
được các nghi thức tác pháp
của Kim Cương thừa thì điều tiên
quyết là phải thấu hiểu giáo nghĩa
của Bát Nhã Ba La Mật (Prajnaparamita) của Long
Thọ và Vô Trước. Giáo nghĩa
Bát Nhã Ba La Mật được gọi
là “Nhân thừa”, và giáo nghĩa
Kim Cương thừa được gọi là
“Quả thừa”.
Tuy Lạt Ma giáo đã
được Liên Hoa Sinh (Padmasambhava) đặt
nền móng từ thế kỉ VIII, song đến
thế kỉ XII, dưới triều Nguyên Thế
Tổ (1260-1293), tông phái này mới
được đại sư Phagpa (1235-1280) thuộc phái
Sakyapa truyền sang Mông Cổ; rồi sau đó
được đại sư Tsongkhapa (1357-1419), nhà
đại cải cách, người xướng
lập phái Gelugpa (Hoàng Mạo phái, Phái
Mũ vàng) hoằng dương và phát
triển đến tận ngày nay. Giáo lí
của Tsongkhapa dựa trên Tam Luận tông (Madhyamaka)
và kinh Bát Nhã Ba La Mật của Long Thọ,
và bộ Luận (Abhidharma) của Nhất Thiết
Hữu Bộ tông, chú trọng giới Luật
(Vinaya). Ông là người đã phục
dựng lên hình tượng quan trọng của
Phật Di Lặc.
Nói hơi dài dòng
về Lạt Ma giáo là để muốn tìm
thấy sự tương đồng và cả sự
khác biệt giữa Lạt Ma giáo và
Thiền tông Việt
2. Phật giáo truyền
vào Việt Nam từ những thế kỉ
đầu Công nguyên, trực tiếp từ Nam
ấn Độ, theo hệ Thiền của Long Thọ.
Sử liệu nước ta còn ghi lại rằng
thiền sư Khương Tăng Hội, người
nước Khương Cư (Sogdiane), sang Giao Châu
(Bắc Việt Nam) vào đầu thế kỉ III,
xuất gia tại đây và đã dịch
bộ Bát Thiên Tụng Bát Nhã kinh
(Ashtasahasrika), là bộ kinh cổ nhất trong văn
hệ Bát Nhã. Chính dựa trên các
bộ kinh Bát Nhã mà Long Thọ đã
đề xướng thuyết Trung luận nổi
tiếng, có ảnh hưởng sâu rộng
đến Phật giáo Việt Nam, nhất là
các thời Lý - Trần (từ thế kỉ XI đến
thế kỉ XIV). Vào giữa thế kỉ III,
thiền sư Kalaruci, người xứ Kuchan (Trung á)
sang Giao Châu dịch Pháp Hoa Tam Muội kinh (Saddharma
samadhi). Tam muội có nghĩa là đại
định, cảnh thiền bậc cao. Đến thế
kỉ V, các thiền sư người Giao Châu
như Huệ Thắng, Đạo Thiền, những
người uyên thâm về Thiền học,
đã giảng Thiền không chỉ ở Giao
Châu mà ở cả Trung Hoa (Giang Tô, Kim Lăng)
theo lời thỉnh của vua nhà Tề, có
được uy tín rất lớn. Các thiền
sư Việt
Ngay cả thiền sư Tì
Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci), người Nam ấn
Độ, sống vào thế kỉ VI, đệ
tử thứ tư của Bồ Đề Đạt Ma
(Bodhidharma) tổ thứ 28 Thiền tông ấn
Độ và là tổ thứ nhất của
Thiền tông Đông Bộ (Trung Hoa), khi đến
Giao Châu lập ra Thiền phái Tì Ni Đa
Lưu Chi cũng giảng Thiền Nam ấn Độ,
diễn đạt trung thành tư tưởng
“Tám không” trong Tam Luận tông của
Long Thọ. Trong bài kệ của thiền sư
có câu: “…Không thiếu không dư,
không đi không đến, không
được không mất, chẳng một chẳng
khác, chẳng thường chẳng đoạn,
vốn không chỗ sanh, cũng không chỗ
diệt,…”.
Như vậy, từ thế
kỉ III đến thế kỉ VI, Thiền tông
Việt Nam mang đậm giáo nghĩa Tam Luận
tông của Long Thọ, mà đặc biệt là
tư tưởng Bát Nhã Ba La Mật của Long
Thọ và Vô Trước. Các thiền sư
thuộc Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi
không chỉ uyên thâm về Phật pháp
mà nhiều vị rất có uy tín với
triều đình và biểu thị rõ ý
thức độc lập tự chủ của đất
nước. Các thiền sư Pháp Thuận, Ma Ha
(thế kỉ X), Sùng Phạm (thế kỉ XII),…
đều làm cố vấn cho nhà vua không
chỉ việc đạo mà cả việc
đời, việc ngoại giao. Dòng Tì Ni Đa
Lưu Chi còn kéo dài mãi đến
thế kỉ XIX. Đặc biệt, các thiền
sư dòng Tì Ni Đa Lưu Chi thường
có hình thức tu tập “Tổng Trì Tam
Muội” (Dharani samadhi), một hình thức tu
tập phổ biến của Mật giáo (Tantrism),
dùng thần chú kết hợp với ấn
quyết trong trạng thái đại định
để giữ được thân, khẩu, ý.
ở Hoa Lư (Ninh Bình), một cột kinh Phật
bằng đá vào thế kỉ X có khắc
bài thần chú Phật Đỉnh Tối
Thắng Đà La Ni (Usnisavijaya dharani), là một
thần chú phổ biến của Mật giáo,
đã được phát hiện.
Ngoài Thiền phái
Tì Ni Đa Lưu Chi, ở Việt
Tuy nhiên, trong quá
trình phát triển, Thiền phái này
cũng chịu ảnh hưởng của Duy Thức
tông với luận điểm A Lại Da thức.
Các vị thiền sư dòng Vô Ngôn
Thông có uy tín lớn trong nhân dân.
Nhiều vị được triều đình ban
chức Tăng thống (cấp bậc cao nhất trong
hệ thống Tăng đoàn). Có vị
được mời làm quốc sư, cố
vấn cho nhà vua về Phật sự và
chính sự. Dưới thời Lý (1010-1225),
Thiền tông rất phát triển. Bên cạnh
hai thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi và
Vô Ngôn Thông, còn có Thiền phái
Thảo Đường, do thiền sư Thảo
Đường người Chăm sáng lập,
kéo dài từ năm 1069 đến năm 1210,
có khuynh hướng Mật giáo dung hoà
với Nho giáo, và ảnh hưởng mạnh
trong giới vua chúa quý tộc, như các vua
Lý Thánh Tông (1032-1072), Lý Anh Tông
(1136-1175), Lý Cao Tông (1173-1210); các vị tham
chính, thái phó, tuy rằng họ không xuất
gia.
Ba thiền phái nói
trên tồn tại gần như song song và có
ảnh hưởng qua lại với nhau dẫn
đến sự dung hợp giữa Thiền Long Thọ
và Thiền Huệ Năng (tổ thứ sáu
của Thiền Bồ Đề Đạt Ma), và dung
hợp giữa Thiền tông và Mật giáo.
Thiền tông còn tác
động mãi trong tâm thức người
Việt đến tận ngày nay, song đậm
đà tính dân tộc nhất trong Phật
giáo Việt Nam là Thiền phái Trúc
Lâm Yên Tử (Trúc Lâm, rừng trúc
nơi Phật yên trụ để truyền bá
đạo pháp; Yên Tử, một ngọn núi
ở tỉnh Quảng Ninh) do vua Trần Nhân Tông
(1258-1308) sáng lập khi 41 tuổi, nhường
ngôi cho hoàng thái tử, xuất gia vào
núi Yên Tử. Thiền phái này còn
phát huy ảnh hưởng đến đầu
thế kỉ XVII. Có thể thấy rõ những
đặc điểm của Thiền phái này
như sau:
- Dung hợp Đốn giáo
và Tiệm giáo. Đốn giáo là
chủ trương của Huệ Năng: Định
(Samadhi) và Tuệ (Prajna) diễn ra đồng
thời, trong Định có Tuệ, trong Tuệ
có Định. Tiệm giáo là gần với
Thần Tú (cùng thế hệ với Huệ
Năng): tu Định trước, Tuệ sau.
- Dung hợp Thiền - Tịnh -
Mật. Thiền tông lấy tự lực làm
phương thức tu tập. Tịnh Độ tông
lấy Phật A Di Đà làm chủ thể
và niệm chú A Di Đà Phật để
cầu lên được cõi Tây Phương
Cực Lạc (Sukhavati) - tha lực; cũng thờ
Dược Sư Lưu Ly Quang Phật (Bhaisajyaguru),
còn gọi là Đông Phật, để
cầu tiêu giải các tai nạn, bệnh tật.
Mật giáo được thấy ở Lễ
Quán Đỉnh, thực hành các pháp
thuật, lễ cầu siêu (một hình thức
của Bardo thodol Lạt Ma giáo), dịch Bạch
Tán Cái Thần Chú kinh (Mahasitatapatra dharani),
chú giải Kim Cương Tam Muội kinh (Vajra samadhi
sutra)… Đặc điểm này không chỉ thấy
rõ ở Thiền tông Việt
- Tính chất nhập
thế: Lấy đạo đức Phật giáo
(thập thiện) làm nền tảng cho đạo
đức xã hội.
- Dung hợp Phật - Nho -
Lão: “Chưa rõ thì chia làm ba
phái, hiểu rồi thì cùng ngộ một
tâm” (Trần Thái Tông). Đặc điểm
này là cơ sở đời sống văn
hoá của người dân Việt.
Từ thế kỉ XV trở
đi, Phật giáo nói chung và Thiền
tông nói riêng mất vị trí độc
tôn trong đời sống xã hội và
cả trong giới quý tộc, nhường ngôi
cho Nho giáo. Bây giờ, chính các Nho gia
lại là người biện giải Phật
giáo, ví như Nguyễn Trãi, vua Lê
Thánh Tông, Nguyễn Du, Ngô Thời Nhậm…
Trong lúc đó, trong dân gian lại xuất
hiện những tác phẩm văn học Phật
giáo để đời, như truyện Quan Âm
Thị Kính, Quan Âm Nam Hải. Quan Âm Thị
Kính lấy chủ đề là Oan và
Nhẫn để làm việc phải, còn Quan
Âm Nam Hải lấy chủ đề Nhân và
Hiếu để đấu tranh cho lẽ phải. Hai
tác phẩm này có ảnh hưởng sâu
rộng trong dân chúng cho đến tận
ngày nay. Quan Âm Thị Kính được
dàn dựng trên các loại hình sân
khấu cổ truyền, đặc biệt là
chèo, với nghệ thuật diễn xuất
điêu luyện, tinh tế của các nghệ
sĩ, đã làm cho tâm Phật thấm
đẫm thêm trong lòng người xem. Truyện
Quan Âm Nam Hải thường được
“kể hạnh” trong các hội chùa
miền Bắc.
Trong các thế kỉ sau,
ở Việt Nam không xuất hiện những
thiền phái “độc lập” như
trước, mà chỉ có những tông phái
ra đời từ Thiền Nam tông (Trung Hoa), nổi
bật nhất là tông Lâm Tế và
tông Tào Động. Tư tưởng cơ
bản của Lâm Tế là “Sinh Phật
bất nhị”, chúng sinh và Phật không
phải hai, mà cùng một gốc, một
tánh, đó là Chân Như. Luận
điểm đó là cơ bản trong kinh Hoa
Nghiêm (Avatamsaka sutra) do Long Thọ soạn. Tông
Lâm Tế được truyền bá khắp
cả Trung, Nam, Bắc Việt Nam, và trải dài
từ cuối thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ
XIX nối tiếp truyền thống Trúc Lâm
Yên Tử. Một số chùa dòng Lâm
Tế vẫn còn hương khói đến
tận ngày nay như chùa Liên Phái
(Hà Nội), chùa Bút Tháp (Bắc Ninh),
chùa Nguyệt Quang (Hải Phòng), chùa Từ
Đàm, chùa Thuyền Tôn (Huế),…
Tông Tào Động cũng phát triển rộng
rãi khắp cả
Thiền tông chủ
trương “Phật tại Tâm”. Mọi
chúng sinh đều có Phật tính trong
mình. Con người chẳng qua bị lục căn,
lục trần, lục dục che mất Phật tính
cho nên cứ phải đoạ vào kiếp
khổ luân hồi. Khổ là do bản thân
mình tạo ra, cho nên muốn diệt
được khổ thì chỉ có bản
thân mình tự giải thoát cho mình
thôi. Đó là nội hàm của Tứ
Diệu Đế và Bát Chính Đạo,
lời thuyết pháp đầu tiên của
Đức Phật ngay sau khi đắc Bồ Đề.
Đó là tính tự lực. Đó
cũng chính là nội hàm của Thiền
tông. Tính tự lực đã trở
thành một trong những đặc trưng cơ
bản của tính cách người dân
Việt xưa và nay. Không đâu như ở
Việt
Thiền tông dạy con
người lấy tinh thần Vô Trước
(không mê, không chấp) mà chứng ngộ.
Trong lịch sử, người dân Việt đã
vận dụng phương châm đó để
giữ vững bản sắc của mình. Hiếm
có quốc gia dân tộc nào như Việt
Nam, nơi du nhập hầu hết các tôn
giáo lớn trên thế giới: Phật giáo,
Nho giáo, Đạo giáo, Công giáo, Tin
Lành,… và cũng chịu sự tác
động mạnh của các nền văn minh
lớn trên thế giới: Trung Quốc, ấn
Độ, Châu Âu, Mỹ. Song có một sự
thật hiển nhiên là người Việt,
văn hoá Việt Nam chưa bao giờ và
không hề bị đồng hoá bởi những
luồng văn hoá, tôn giáo ngoại lai
mà chỉ ứng dụng đắc lợi những
yếu tố và những hệ thống của
các luồng đó vào hoàn cảnh
cụ thể của Việt Nam để phát
triển xã hội. Việt Nam đứng
được đến ngày hôm nay như
một thực thể cũng là nhờ có
tính thích ứng cao, có nghĩa là
biết làm phù hợp với hoàn cảnh
mới nhờ những biến đổi, những
điều chỉnh nhất định, hay nói
một cách khác là tiếp thu có chọn
lọc cái mới để tự đổi mới.
Đó cũng chính là tinh thần Vô
Trước, loại bỏ cái vô minh (Avidya)
mà Phật giáo, nhất là Thiền tông,
đã có tác động đến tâm
thức con người Việt.
3. Nhìn chung lại, có
thể biết khá rõ mối tương
đồng giữa Lạt Ma giáo và Thiền
tông Việt Nam đều cũng khởi phát
từ đại sư Long Thọ và đại sư
Vô Trước với tư tưởng Bát
Nhã Ba La Mật và A Lại Da thức. Song trong
lịch sử, mỗi bên lại có một
hướng phát triển riêng. Lạt Ma giáo
thiên về nghi thức tác pháp Kim Cương
thừa và đã tạo ra những vị Lạt
Ma thông tuệ “bảo ngọc của tri
kiến”, những vị thánh sống Đạt
Lai Lạt Ma, những phương thức tu chứng
thông qua huyền thuật độc đáo
với việc quán tưởng đồ hình,
tụng đọc thần chú và thực hiện
ấn quyết, có ảnh hưởng rộng
khắp trong thế giới Phật giáo Đại
thừa. Còn người dân Việt Nam dựa
trên tâm thức tự lực, tự độ
mà Thiền tông đã tác động
vào tính cách của họ để giữ
gìn bảo vệ độc lập đất
nước, lấy tinh thần không mê, không
chấp để phát huy tính thích ứng
mà xây dựng cuộc sống xã hội
của mình.
Tuy nhiên, trong tâm linh
vô thức của người Việt vẫn thấy
những biểu hiện của Mật giáo, chủ
yếu trong các chùa chiền. Ví như trong
Lục Quan Âm của Mật giáo thì có
thể thấy trong nhiều chùa đến 3 cách
thể hiện: Thánh Quan Âm, Thập nhất
diện (11 mặt) Quan Âm, Quan Âm Chuẩn
Đề. Hay như tay bắt ấn Vô Thượng
Bồ Đề (Uttarabodhi) trên một số
tượng Quan Âm là thể hiện Kim
cương bất hoại, một ấn đặc
trưng của Đại Nhật Như Lai. Hay như
các toà “cốt kinh”, một pháp
cụ đặc trưng của Mật giáo. Hay
như Lễ Cầu siêu là khá gần gũi
với tác pháp ghi trong Tử thư của
Liên Hoa Sinh, nhất là ở Huế khi vị
chủ lễ sử dụng linh chử (Ghanta, lễ
cụ gồm một đầu là chuông, một
đầu là chuỳ kim cương). Hay như
việc bài trí Phật điện ở chùa
Việt cũng phảng phất đồ hình
mandala… Và còn những biểu hiện
khác nữa.
Dù có cái chung
và cái riêng thì Lạt Ma giáo và
Thiền tông Việt Nam đều có một
mục tiêu tối thượng là làm
sống động cái thiện căn trong mỗi con
người./.
Cao
Xuân Phổ
PGS., Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.
Tạp
chí Nghiên cứu Tôn giáo (Số 5(29)/2004)