Lá Thơ Tịnh Ðộ
Ấn Quang Ðại Sư
Source: Quảng Đức.com
Mục Lục
|
Thơ
đáp Cư Sĩ Mã Khế Tây (1-3) |
|
---o0o---
Trong các hành môn của
đức Phật đã chỉ dạy, môn
nào cũng có pháp nghi riêng biệt,
từ cách thờ cúng, lễ bái, trì
tụng, sám hối, phát nguyện v.v... Như
Mật Tông lại còn sự lập đàn,
kiết ấn nữa.
Riêng
về tông Tịnh Độ, tôi thấy có
nhiều người không biết nghi thức hành
trì cho đúng pháp. Lại có những
vị không hiểu nghĩa chữ Hán, thành
ra khi trì tụng chỉ đọc suông theo
thông lệ, khó phát lòng thành
khẩn, không thể chuyển hướng tâm
niệm của mình y như lời văn. Nghĩ
vì dòng đời cứ mãi trôi qua,
người sau càng ngày lại càng ít am
hiểu văn từ Hán Việt, nên theo lời
yêu cầu của một số đông, tôi
soạn dịch nghi thức tu Tịnh Độ ra Việt
văn để giúp bạn đồng tu.
Về
pháp nghi Tịnh Độ, có ba bậc:
thượng, trung, hạ. Để không quá
đơn giản và khỏi phiền toái,
tôi căn cứ theo pháp nghi của ngài
Từ Vân trong Tịnh Độ Thập Yếu,
soạn dịch nghi thức theo bậc trung. Về
cách trì danh, vẫn có nhiều
đường lối, theo chỗ kinh nghiệm và so
với thời cơ, tôi chọn pháp Thập
Niệm Ký Số.
Về
pháp nghi Tịnh Độ, thuở xưa chia làm
năm môn, tôi ước kết lại thành
ba môn: lễ bái, trì tụng và phát
nguyện hồi hướng. Vả lại, pháp
môn Tịnh Độ có chuyên tu và
kiêm tu; có vị chuyên niệm Phật, có
vị lại kiêm tụng kinh, trì chú,
sám hối hoặc tham thiền. Theo Ấn Quang
Pháp Sư, thì người tu tịnh nghiệp phải
lấy sự niệm Phật làm phần chính,
mấy món kia làm phần phụ, phần
chính cố nhiên phải giữ cho nhiều
hơn. Riêng về tụng kinh, trì chú,
nếu dùng để giúp cho phần niệm
Phật và chí tâm hồi hướng, cầu
vãng sanh, cũng có thể gọi là
chuyên tu.
Trên
pháp môn trì danh, sự hơn kém thật
ra không phải ở nơi nghi thức, mà ở
chỗ: âm thanh rành rõ hay lờ mờ,
tâm niệm thành khẩn hay thờ ơ tán
loạn, công trì tụng sâu nhiều hay
cạn ít. Nếu người biết tu thì
một lượt chiêm lễ, một câu xưng
danh, công đức cũng hơn kẻ không
biết tu rất nhiều. Tuy nhiên, nếu không
có pháp nghi cho đúng, thì công
đức hành trì thì cũng khó phát
huy đến chỗ viên mãn. Và vì
thế tôi mới soạn ra nghi thức nầy.
Xưa
và nay cách nhau, chúng sanh căn cơ sở
thích đều sai khác, tôi không dám gọi
việc làm nầy là hợp với mọi
người, cũng không dám cho nghi thức
đây là hơn những pháp nghi đã
có, chỉ tùy chỗ mong cầu mà lạo
thảo viết ra vậy thôi.
Liên Du Thích Thiền Tâm
Lời Bạt (^)
Trong quyển nầy, ta thấy Ấn Quang
Pháp Sư, về cách khuyến hóa, chỉ
dùng lời lẽ bình thường chân
thật, mà điểm cốt yếu duy ở một
chữ thành. Người học đạo biết
đặt chân từ chỗ bình thật đi
vào, thì không còn vọng cầu xa
xôi; có chí thành khẩn thiết tất
dễ cảm thông với Phật. Sự huyền
diệu của đạo chính là ở chỗ
đó. Cho nên thuở xưa, một vị Tổ
Sư đã bảo: 'Tâm bình thường
là đạo.' Nhưng, trên đường
giải thoát, các tông khác tuy cũng
dùng tâm bình thường thanh tịnh làm
căn bản, song chỉ nương ở tự lực,
riêng môn Tịnh Độ đã chuyên
dùng tự lực lại kiêm chú trọng
về tha lực. Như bên tông Thiền tuy tham
cứu câu niệm Phật, nhưng chỉ dùng
đó để ngăn làn sóng vọng
tưởng, trở về tâm thanh tịnh; bên
tông Mật như phái Lạt Ma giáo ở
Tây Tạng, cũng có người chuyên trì
danh hiệu của một đức Phật, một
bậc Bồ Tát hay một vị thần, song họ
chỉ xem đó là một câu chú,
hoặc một đấng ủng hộ mà thôi.
Tuy nhiên, nếu đem so sánh, ta thấy bên
Mật có điểm thắng hơn bên Thiền,
vì bên Mật trong khi tu niệm đã biết
giữ ba nghiệp thanh tịnh (tam mật tương
ưng) để tiêu trừ vọng tưởng
đồng thời lại dùng công đức,
năng lực của chân ngôn hay hiệu Phật,
giúp sức phá tan hoặc nghiệp, để mau
chứng quả Bồ Đề. Nhưng đó
là những lối tu hành của bậc thượng
căn, hơn nữa chúng sanh từ kiếp vô
thỉ đến nay gây nên nghiệp chướng
vô lượng vô biên, dù có tu
được, cũng khó hy vọng trong một
đời phá hết phiền hoặc, thoát
đường sanh tử. Và một khi nghiệp
hoặc còn chừng một mảy tơ, cũng
bị luân hồi, mà đã luân hồi tất
dễ quên mất túc căn, bị trần
cảnh mê mờ lôi cuốn vào trong lục
đạo! Khác hơn thế, môn Tịnh
Độ bậc căn cơ thượng, trung, hạ
đều có thể tu; cách tu chỉ dùng
tâm thanh tịnh làm nền tảng, rồi từ
nơi đó khởi công năng chí thành
khẩn thiết niệm danh hiệu Phật cầu sanh
Tịnh Độ. Nếu đủ lòng tín
nguyện trì danh, không luận người
đã dứt hết phiền não, dù cho
kẻ nghiệp nặng như biển cả non cao, trong
một đời cũng được Phật tiếp
dẫn sanh về Tịnh Độ. Khi niệm Phật
chí thành, trong ấy có ba năng lực:
sức Phật, sức Pháp và sức công
đức không thể nghĩ bàn của tự tâm.
Sức Phật là được Phật phóng
quang nhiếp thọ, thường thường hộ
trì. Sức Pháp là hồng danh A Di Đà
vẫn đầy đủ muôn đức, chí
thành niệm một câu tất sẽ tiêu
tội nặng sanh tử trong tám mươi ức
kiếp, phước huệ tăng thêm. Sức
công đức của tự tâm là tâm ta
có đủ mười pháp giới, trong khi ta
niệm Phật thành khẩn, thì pháp
giới ác bị tiêu ngưng, pháp giới
lành biến chuyển lớn mãi cho đến khi
thành thục, kết quả lúc mạng chung
sẽ hóa sanh trong liên bào nơi cõi
Tây Phương. - đây, ta cần nên phân
biệt có hai lối niệm Phật tương
tợ như Tịnh Độ mà không phải
thuộc về tông Tịnh Độ: 1/ Niệm
Phật tương tục mong đàn áp vọng
tưởng chứng ngộ bản tâm, không
cầu vãng sanh, giống như tông Thiền. 2/
Niệm Phật như trì một câu thần
chú, mong Phật ủng hộ cho xa lìa ma
chướng, tiêu hoặc nghiệp, hiện
đời phước huệ tăng thêm, mà
không cầu vãng sanh, giống như tông
Mật. Niệm Phật như thế là lạc
với đường lối của Tịnh Tông,
chỉ được kết quả nhỏ mà
mất sự lợi ích lớn. Nếu người
biết trì niệm hiệu như giữ gìn
bổn mạng, chỉ tha thiết cầu sanh Tây
Phương, thì tuy không cầu dứt phiền
não mà phiền não tự tiêu, không
cầu sanh phước huệ mà phước huệ
tự nhiên thêm lớn, cho đến không
cầu chứng ngộ mà hoặc sớm hoặc
chầy cũng được chứng ngộ; kết
quả trong một đời sẽ thoát vòng
luân chuyển, lên vị Bất Thối nơi
cõi bảo liên. Thế thì chỉ thành
tâm niệm Phật cầu vãng sanh, trong ấy
đã có đủ Thiền và Mật rồi.
Cho nên „n Quang Đại Sư thường
nói: 'Pháp môn Tịnh Độ thống
nhiếp cả Thiền, Giáo, Luật, cao siêu
hơn Thiền, Giáo, Luật.'
Môn
Niệm Phật xem giản dị mà có công
năng rất huyền diệu như thế, nên
một hạng người học Phật vì nhận
thức không thấu đáo, sanh tâm tự cao,
bài báng, khinh thường. Bởi thế, có
kẻ dẫn câu niệm Phật đem về lý
tánh, cho lời nói trong các kinh Tịnh Độ
là tượng trưng. Lại có một hạng
người nhiều chủng tử ngoại đạo,
đem sáu chữ niệm Phật bố khắp chi
thể, hoặc hợp câu niệm Phật với
phép luyện khí cho đi tuần hoàn trong
châu thân, hoặc dùng câu niệm Phật
tụ hỏa nơi ấn đường. Họ lại
lầm cho đó là quí báu, chỉ
mật thọ nhau trong phòng kín không dám
tuyên dương, sợ e lạm truyền. Sự
lầm lạc ấy khiến cho nhiều người mang
chứng lớn bụng, mờ mắt, đau đầu,
kết cuộc chỉ có tổn hại không
được lợi ích. Nên biết pháp
môn Tịnh Độ chính do đức Thích
Ca Mâu Ni nói ra, sáu phương chư Phật
đều khen ngợi; các bậc Đại Bồ
Tát, Đại Tổ Sư như đức Văn
Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ đều
tuân giữ; các Kinh Đại Thừa như Hoa
Nghiêm, Pháp Hoa, Đại Bảo Tích,
Đại Bát Nhã đều tuyên
dương. Kẻ ngoại đạo vì tà
kiến, hủy báng môn Tịnh Độ, vẫn
không đáng nói; hàng Phật tử
nếu sanh tâm tự cao hủy báng, tức
là vô tình hủy báng ngôi Tam Bảo,
ngăn lấp con đường giác ngộ của
mọi người. Tại sao thế? Vì môn
Tịnh Độ là cửa mầu giải thoát
duy nhất, yên ổn nhất của chúng sanh
đời mạt pháp; chính đức Phật
đã từng có lời huyền ký thuở
xưa.
Trên
đây, không phải tôi cố ý phân
biệt môn Tịnh Độ giữa các tông
phái, hay thiếu mỹ cảm với những kẻ
đã lầm lạc, mà chính vì
tưởng niệm ân sâu của Phật, muốn
cho mọi người đồng được lợi
ích đó thôi. Tuy nhiên, trên
đường đạo, sở thích của mỗi
người có khác nhau, khúc nhạc
hương quê chưa dễ cảm được
lòng du khách! Xem quyển nầy, ai có mến
„n Quang Pháp Sư, cũng nên theo Ngài
mà đọc bài ca quy khứ:
Phải nên phát nguyện,
nguyện vãng sanh,
Đất khách sơn khê mặc
người luyến?
Tự không muốn về, về
sẽ được,
Quê xưa trăng gió có ai
tranh?
Người Bạn Sen
Liên Du Thích Thiền Tâm
---o0o---
[ Mục Lục]
[ 1 ] [
2 ] [ 3 ] [ 4 ] [ 5 ] [ 6 ] [7 ] [ 8 ]
---o0o---
Vi tính :
Huệ Toàn - Diệu Nga
Trình bày: Nhị
Tường
Cập nhật : 01-05-2002