LỜI NÓI ĐẦU TIỂU
LUẬN
BẢO BỘ
VÀ
NHỮNG VẦN THƠ
DÌU NHAU ĐI TRONG VÔ
THƯỜNG
NĂM 2004
Thương tặng
Thanh
và hai con : Bảo Vương - Bảo
Lân
Em niệm tên Quan Âm
ta thầm câu Lục
tự
Quan Âm thì cứu
khổ
Lục tự hóa hoa sen.
Mượn ngôn
ngữ thường ngày để
diễn tả dòng tâm thức đang
tuôn chảy từ Như Lai tạng, làm
thành những biểu tượng.
Tất cả biểu tượng như
lớp mây lang thang, trôi nổi, rỗng
không trong bầu trời của tâm,
nhưng cũng chỉ để tiếp cận,
sống thực và bơi lội trong Ba
Thực Tánh :
Khổ Không - Vô
Thường -Vô ngã
Này bạn,
Như đã thưa nhiều lần,
tôi không phải là một thi sĩ,
văn sĩ hay là gì gì... mà chỉ
là một con người bình thương
như tất cả mọi người.
Thuở còn đi học ở Trung
học và cho đến lúc lên
Đại học, lúc đi dạy, lúc
làm thầy thuốc v.v...văn chương, chữ nghĩa của
tôi thuộc loại bết bát, không ra
hồn, huống chi là thơ. Đôi
lúc, cũng muốn tỏ ra có chút
trí thức, viết vài ba dòng
văn vẻ hay sáng tác ít vần
thơ, nhưng rồi ý thơ không ra,
văn viết không suôn và đầu
óc thì dày đặc, rỗng.
Những năm tháng đắm
mình trong biển giáo pháp của
Đấng Giác ngộ, những lúc
cô đơn trong căn phòng vắng
lặng, chỉ còn lại một mình, xoay
nhìn lại tâm, nhìn lại những
vọng tưởng lăn xăn, nhảy
múa, nối tiếp như một dòng
suối chảy. Như một khán giả
nhìn những hoạt cảnh đang trình
diễn trên sân khấu, có lúc
cảm giác như mình là một diễn
viên, bị lôi cuốn theo từng
cảm xúc, tình huống...để có
những phản ứng thích hợp.
Nhưng, khi quán chiếu lại, nhìn thật
rõ nó chỉ là những vọng tưởng do
tâm biến hiện. Và lạ lùng thay,
cũng từ đó, dòng thơ
văn tự ngẫu nhiên bộc phát,
bình thường, không suy nghĩ,
đắn đo.
Có nhiều người gọi thơ
tôi là thơ tình, một thứ
tình yêu lãng mạn. Có
người lại nói là thơ văn
có hơi thở của tình yêu
nhưng chuyên chở Đạo, nhưng
lại ngại ngùng, e dè và im lặng,
vì đọc những thơ văn nầy
sao quá ướt át quá như
dẫm bước chân
trên vùng sương mù, dù mùi
hương trầm thơm ngát vấn
vương, nhưng nó ra làm sao ấy..???
Theo truyền thuyết, khi xưa Lý Bạch
(701 - 762, là một nhà thơ kỳ tài
ở Trung hoa về thời thịnh
Đường) trong một cuộc du thuyền
thưởng trăng trên dòng sông,
trong men say của rượu, trong niềm yêu
nàng Hằng nga tha thiết, nhà thơ
đã lao mình xuống dòng sông
để mong bắt được ánh
trăng đang lóng lánh mỉm cười
dưới nước. Cái say mê
kỳ quái nầy đã đưa thơ
đến một cõi lưu linh, thoát tục
nhưng lại không
phải là chất thơ đạm bạc
của người con Phật.
Đã bước qua đầu
thế kỷ 21, khi nhân loại đang
đối diện với những vấn
đề nóng bỏng của thời
đại: Ngòi lửa của chiến tranh
như xẩy ra bất cứ lúc nào,
bất luận nơi đâu. Nạn nhân
mãn dâng cao, sự đói kém, thất
học, bệnh tật và mọi giá trị
tinh thần, đạo đức, tâm linh
của đời sống con người
bị đảo lộn, thử thách,
thì luận bàn thơ văn trong lúc
nầy có hợp thời chăng hay
chỉ là trò chơi chữ nghĩa
vô bổ?
Trong Kinh Hoa Nghiêm nói rằng:” Nhất thiết duy tâm
tạo”. Tất cả mọi hiện
tượng hữu hoặc vô
tướng trong thế giới nầy
đều bắt nguồn tưø tâm. Khi tâm còn chứa
đầy tham sân si, mạn nghi, tà kiến,
thì mọi cách giải quyết các
vấn đề chỉ chứa
đựng hận thù, đấu tranh, tham
ái. Sự kiện nầy đã bao
nhiêu lần xẩy ra và diễn đi,
diễn lại trong lịch sử nhân loại.
Vì thế, trong thế giới đảo
diên nầy, biết bao nhiêu là khổ
đau đã, đang và sẽ xẩy ra,
đều do vọng chấp, liên tiếp
đưa con người từ thống
khổ nầy đến đau khổ khác,
để rồi lấy thú vui tạm
bợ để làm niềm vui chánh cho
cuộc sống, lấy vô thường
để làm nơi bám víu, gìn
giữ. Đến lúc nào đó,
con người bỗng chốc thấy mình
bơ vơ, cô đơn trên chính
mảnh đất tâm của mình, một
sự trống rỗng vô nghĩa. Tìm
sự giải thoát ư, nơi đâu ???
Sự vong thân
nầy chính là sự khổ đau
tột cùng đã đẩy con
người làm khách tha phương qua
bao thời gian, không gian.
Trong Kinh
Lăng Nghiệm, Đức Phật dạy:
“Muốn đắc Vô thượng
Bồ-đề, cần phải hiểu rõ 2
món căn bản:
1- Căn bản của sanh tử luân
hồi là Vọng tâm.
2- Căn bản của Bồ-đề
Niết bàn là Chân tâm.
Nếu nhận lầm
căn bản của sanh tử làm nhân
tu
hành, thì không bao
giờ giải thoát được,
cũng như người nhận giặc
làm con thì chỉ thêm bị phá
hại gia sản của mình mà thôi.”
Cho nên, người con Phật muốn
thoát ra khỏi khổ đau, lầm chấp,
nên trên sự tu tập thường
quán rõ tâm, sự vật để
chứng ngộ thực tướng
và tìm cách đem những pháp
lợi lạc, pháp hỷ, tự tại do
sự miên mật, giúp chỉ rõ cho tha
nhân, cho khắp mọi người,
để đồng đến giải
thoát. Những người con của
Đấng Cha Lành luôn luôn đi
bằng hai chân Bi - Trí
và quan niệm người với ta
chỉ là sự đối đãi cho
vui, vì thực ra đã hòa
đồng trong biển Tỳ-lô. Do vì
mang tâm niệm chia xẻ, hóa giải, nên
không lý do gì lại tạo thêm
nhiều vấn đề đau khổ khác
cho con người, những
vị Phật sẽ thành. Vì vậy,
Chân tâm lúc nầy có thể tạm
gọi là thơ, vì đến từ
sự bừng giác khi ngôn ngữ
tạp niệm rơi rụng để thơ là
nguồn vui đạo. Thơ không còn
là một ngỏ thoát của tâm hồn
khi tình cảm đi vào vực sâu
của tâm, mà thơ văn lúc nầy
như một sự
đánh thức để thoát
khỏi vọng mê.
Trong tập tiểu luận nầy, vẫn
những bài thơ chan chứa tình
cảm, ghi lại những biến chuyển
của tâm qua những ốc đảo,
còn có một bài Bảo bộ- một trong năm Bộ
của Đông Mật như một gợi
ý nhỏ nhoi với mọi người
về con đường đi đến
Chân không Diệu hữu. Nếu bạn
đã thấu hiểu và cảm thông
được, chúng ta hãy nắm tay nhau
cùng đi.
Mời bạn.......