YẾT
MA BỘ
VÀ
NHỮNG
VẦN THƠ
NĂM 2000
Trên
vai trỉu nặng đôi bờ tử
sinh
Có
– Không một chút vương tình
Thôi
em, ta đã rũ y trở về …
Tôi muốn nói nơi đây
với bạn về một nỗi lòng.
Đó là trên cuộc hành trình
trở về nơi quê
hương dấu yêu, tôi bỗng ngạc
nhiên và khám phá ra biết bao
nhiêu là sự mầu nhiệm ở
xung quanh, trong cuộc đời nầy. Không
còn cảm thấy lẻ loi, cô độc
trên bước đường đi và
cũng không còn băn khoăn, lúng
túng tìm cho mình một nhân sinh quan
để sống trong cái tâm trạng " tiền lộ mang mang bất
tri hà vãng" hay như:
Thuyền tôi rời
bến ra khơi
Bốn
bề giông bão, biết về nơi
đâu?
(Thanh
Minh )
Tôi
cũng không muốn đóng khung cõi
tâm mình trong cái hộp kín,
ước lệ như một thi sĩ nào
đó:
Sáng
hôm nay, lòng tôi như tủ áo
YÙ
trong veo là lượt xếp từng
đôi.
Có nhiều người nói thơ
là động
của tâm, tâm không động thì
lấy đâu ra thơ? Nhưng nếu nói
động thì còn có sự so
sánh giữa tĩnh
và động
của nhị nguyên tính. Vì thế,
có một cõi mà tất cả sự
động tĩnh
không vươn tới được.
Tổ Long Thọ đưa ra “ bát
bất” để phá vỡ
những phán đoán, đào
bới, mổ xẻ nầy để nhận
thức được sự cạn
cợt của ngôn ngữ. Cõi đó
là suối nguồn của vạn pháp,
chỉ có ứng chứ
không động. Xin
hiểu rõ để khỏi rơi vào
bẫy của ngôn ngữ. ” Ứng vô sở trụ nhi sanh
kỳ tâm”.
Thơ từ đó vượt cao
xa, đến với cuộc đời
để đem cho những chất liệu
màu mỡ bằng an vui, tự tại,
hạnh phúc qua những ngôn ngữ
thường nhật như ăn uống,
làm việc, sáng tác, nghệ thuật v.v..
hiện diện trong mọi cuộc sống bằng
diệu dụng.
Có người nói thơ của
tôi không phải là thơ thiền,
chỉ là loại thơ tình cảm lãng
mạn, ví như đám mây còn
lãng đãng dưới chân núi,
chưa bay cao lên chóp đỉnh rồi
phủ xòa xuống tận chân và
để thấy được bề
thế rộng, bao la hùng vĩ của toàn
ngọn núi. Gặp chư Tổ, sẽ bị
các Ngài đánh roi, vì còn xa
xăm mù mịt, chưa rờ
được tới da huống gì
là xương thịt.
Tuy nhiên, tôi nhớ đã
được nghe câu thơ sau đâu
đây:” Đa
tình thị Phật tâm” đã
làm tâm tôi rúng động, bàng
hoàng và thấy tâm mình ngày
càng rộng mỡ, khai thông. Chư
Phật, chư Bồ tát là những
bậc đa tình bậc nhất vì các
Ngài đã thương xót tất
cả chúng sanh nên không trụ Niết
bàn mà ứng, hóa hay hiện thân
trong các cõi giới hữu
hoăïc vô sắc, để tùy
duyên hóa độ chúng sanh thoát
khỏi trầm luân. Vẫn biết cuộc
đời là huyễn hóa, nhưng
các Ngài vẫn dấn thân vào
để độ sanh, làm mà không
chấp thủ, tâm luôn tràn đầy
Từ Bi Hỷ Xả.
Thực sự, tôi không phải
là thi sĩ và tâm thức còn
vướng bận, lẫn quẩn trong Khổ,
Không, Vô thường, Vô ngã. Cho
nên, những bài thơ hay những
bài viết khác, chỉ là để
ghi lại tiếng nói tự nhiên của
cõi lòng. Đó không phải là
một món thời trang để trang
trí. Có ai đem tấm lòng ra
để mà trang trí bày cảnh bao
giờ? Nên, nó như là
những bông hoa nho nhỏ gặt hái
bên lề đường sau cuộc
viễn du dài, nay trên đường
trở về nơi “ chôn nhau cắt rốn”. Nếu
những bài thơ có chiều sâu,
gợi hứng đi vào nội tâm,
thì đó là chất liệu toát ra
từ tâm thức, dâng lên cuộc
đời đáng yêu nầy.
Tiếng thơ lấy chất liẹâu
từ cuộc đời thường
ngày nên không cách biệt cuộc
đời. Chạy trốn cuộc
đời nầy chỉ là một
thoái bộ của tâm thức:
Hữu vi tuy ngụy, xã
tất Phật đạo nan thành
Vạn hạnh môn trung,
bất xã nhất pháp
Nhưng, nếu những bài thơ
nầy chỉ mang lại những hoài
cảm, mông lung lãng mạn, thiếu chất
liệu giãi thoát, thì chỉ vì
cõi tâm của tôi còn nông cạn,
chật hẹp. Bước vào phổ
môn, nhưng còn nhiều vướng
bận, cưu mang, nên thay vì hái
những bông hoa tươi mát, lại
chỉ hái toàn hoa dại. Tổ Mã Minh
trong Đại thừa Khởi Tín
luận quở là:” Vàng chưa sàng lọc, còn
đầy tạp chất”.
Tôi chỉ mong thơ tôi hay những bài
viết khác chỉ như là nỗi
lòng đơn giản không ước
lệ, cầu kỳ, mang đầy kỹ
thuật hay bắt chước thơ thiền,
nên thơ vẫn là thơ với
đầy đủ ý nghĩa của
nó.
Tập thơ nầy là tập thứ ba
để tiếp nối cho hai tập thơ trước;
tuy nhiên, trong lần nầy còn kèm
thêm bài tiểu luận: Yết ma bộ
của Mật giáo. Nó đánh dấu
cho những đoạn đường
mà tôi trãi qua, xin được chia
sẻ cùng những người quen
biết.
Nếu mọi sư được thông
cảm như vậy, xin hãy lật từng
trang sau. Mời bạn...