KỶ NIỆM
VÍA PHẬT THÍCH CA THÀNH ĐẠO (8-12 ÂL)
Thành đạo theo tinh thần Thiền tông
Thích Thông Huệ

Sau khi vượt thành xuất gia, Sa môn Cù Đàm trải qua
nhiều năm tháng tầm sư học đạo và khổ hạnh nơi rừng
già, mục đích tìm ra con đường thoát ly sanh tử. Ngài đã
thọ giáo nơi các tiên nhân nổi tiếng như Kalama,
Ramaputta, và đã đạt đến trình độ tâm linh như các vị ấy.
Tuy nhiên, Ngài biết rằng ở cõi trời cao nhất là Phi
tưởng Phi phi tưởng cũng chưa phải là cứu cánh giải
thoát vì còn trong Tam giới.
Cuối cùng Ngài nhận ra rằng, chỉ nên tìm học ở ngay
chính mình chứ không tìm cầu bên ngoài mà được. Miệt mài
thiền định dưới cội Tất bát la (Bồ đề), Ngài chứng quả
vị tối thượng vào đêm thứ 49, khi sao Mai vừa mọc. Từ đó,
Sa môn Cù Đàm trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, và đêm
lịch sử ấy được gọi là Đêm Thành đạo.
Vậy thế nào là Thành đạo? Theo nghĩa thông thường, đạo
là con đường, như độc đạo là con đường duy nhất. Đạo
cũng có nghĩa là đường lối, nguyên tắc mà con người có
bổn phận giữ gìn và tuân theo trong cuộc sống xã hội
(1). Trong tôn giáo, đạo vừa là một tổ chức, vừa là nội
dung học thuyết của tôn giáo ấy như đạo Phật, đạo Thiên
Chúa, đạo Hồi… có tổ chức giáo hội và hệ thống giáo lý
hướng dẫn môn đồ tu hành. Bài pháp đầu tiên Đức Phật dạy
cho năm anh em Kiều Trần Như là Tứ diệu đế, trong đó chi
phần sau cùng là Đạo đế. Đạo cũng là phương pháp chân
chính, có hiệu quả chắc chắn đưa hành giả đến cảnh giới
an lạc, giải thoát sinh tử.
Với những ý nghĩa trên, Đạo bị lệ thuộc bởi ý thức nên
vẫn còn trong vòng đối đãi. Ví dụ đạo làm người thay đổi
theo tập quán của từng vùng miền, theo từng thời kỳ,
từng xu hướng xã hội. Như ở các nước phương Tây, con đến
tuổi thành niên thường ra ngoài sống tự lập, cha mẹ già
bị đưa vào viện dưỡng lão; nhưng người Đông phương thì
quan niệm “Tam tứ đại đồng đường” (Ba bốn đời ở chung
một nhà) là phước đức của gia đình. Ngày xưa, phụ nữ
theo lễ giáo tam tòng tứ đức, chỉ biết việc nội trợ hầu
hạ chồng con; nhưng ngày nay, phụ nữ tham gia việc chính
trị, kinh tế, khoa học cũng thành công không kém nam
giới. Trong giai đoạn đầu hoằng pháp, Đức Phật dạy về
Ngũ thừa (2), tựu trung là tránh ác làm thiện, bỏ phiền
não cầu an lạc, giải thoát sinh tử tu chứng Niết bàn.
Như thế, còn phân biệt việc xấu dở phải tránh, điều
thiện lành phải làm, sinh tử là điều đáng chán và Niết
bàn là cảnh giới thanh tịnh đáng hướng về…
Riêng đối với nhà Thiền, Đạo có thêm một ý nghĩa khác,
một chân trời khác. Trong hội Linh Sơn, khi Đức Phật cầm
cành sen đưa lên, dùng đôi mắt màu sen xanh nhìn quanh
đại chúng, tất cả đều ngơ ngác, chỉ riêng Tôn giả Ca
Diếp mỉm cười. Đức Phật ấn chứng cho Tôn giả trở thành
Sơ tổ Thiền tông từ lúc ấy. Thiền sinh Nghĩa Huyền trong
pháp hội của tổ Hoàng Bá, một hôm hỏi Tổ: Thế nào là đại
ý Phật pháp? Tổ không trả lời mà đập cho một gậy. Ba lần
thưa hỏi, ba lần đều bị đánh. Đến khi ngộ đạo qua Hòa
thượng Đại Ngu, ngài Nghĩa Huyền trình kiến giải bằng…
một cái thoi vào hông người khai thị! Và tông Lâm Tế do
ngài khai sáng truyền mãi không dứt cho đến ngày nay. Có
phải chăng, Đạo trong nhà Thiền biểu hiện bằng một cành
hoa, bằng những cái đánh, bằng lời nói thoạt nghe không
có nghĩa lý gì? Và có phải chăng, “Thành đạo” là có một
cái Đạo để thành tựu; trước khi tu ta không có, khi tu
đến mực độ chín muồi thì Đạo sẽ hiện ra? Lúc chưa thành
đạo, ta là kẻ phàm phu; khi thành đạo rồi, ta biến thành
con người khác hẳn với hình tướng thoát tục, hào quang
sáng ngời? Hẳn nhiên, không thể hiểu theo sự tưởng tượng
bay bổng như thế.
Phật dạy, tất cả chúng sanh đều có tánh giác, tức bản
tâm chân thật vượt mọi đối đãi. Tánh giác bình đẳng ở
muôn loài, hiển lộ qua sáu căn. Khi mắt thấy sắc, tai
nghe tiếng… mà không khởi niệm phân biệt đẹp xấu hay dở,
thì tánh giác hiện tiền, không phải tìm cầu đâu xa. Chạm
mắt tức Bồ đề là như thế. Phàm phu chúng ta luôn chạy
theo ngoại trần, tạo nghiệp thiện ác rồi quanh quẩn
trong sáu đường sinh tử, nhà Phật gọi là phan duyên.
Ngược lại, Nhị thừa sợ ngoại trần lôi kéo nên tìm mọi
cách tránh duyên, thu thúc lục căn, đè nén vọng tưởng.
Bồ tát không sa vào hai cực đoan ấy. Các Ngài biết rõ
các duyên không thật có, nên vì chúng sanh mà thị hiện
vào các cõi, tùy duyên hóa độ. Các Ngài không phan
duyên, không tránh duyên mà liễu tri các duyên, đồng
thời nhận ra cái chân thật hằng hữu, bình đẳng tuyệt
đối, nơi Thánh không thêm nơi phàm chẳng bớt. Cái chân
thật ấy không có hình tướng nên không thể nắm bắt, không
phải sản phẩm của ý thức nên không thể tưởng tượng hay
diễn tả, không thể tìm trong sách vở kinh lục hay giải
quyết bằng cách tranh biện luận đàm. Nó chính là mình
nên không tìm thấy bên ngoài mà chỉ nhận ra bằng trực
giác, khi tâm thanh tịnh mà hằng tri. Tùy theo tính
chất, diệu dụng và cảm nhận của người thực chứng mà gán
cho một tên gọi (Phật tánh, Chân tâm, Ông chủ, Bản lai
diện mục,…), thật sự nó không có tên. Và ở đây, chúng ta
gọi đó là Đạo.
Ngày xưa, thiền sư Văn Hỷ tìm Bồ tát Văn Thù trên Ngũ
Đài Sơn, nhưng gặp mặt Bồ tát mà không biết. Đến khi ngộ
đạo, thấy Bồ tát hiện ra trên nồi cháo đang sôi, Ngài
lấy dầm đập chứ không đảnh lễ. Bởi vì, khi đã thấy Phật
tâm của chính mình thì không cầu Phật bên ngoài nữa.
Người tu chúng ta cũng thế, lúc đầu phải sửa chữa tâm
mình từ hư dở trở thành hiền thiện, nhưng mục đích cuối
cùng là nhận được Phật tâm hằng hữu ấy. Đạo của nhà
Thiền chỉ có ở trong tâm, nhận ra và sống trọn vẹn với
bản tâm là Thành đạo. Cho nên, tu đạo là tu tâm, ngộ đạo
là ngộ tâm, chứng đạo là chứng tâm, và thành đạo cũng là
thành tại tâm chứ không đâu khác. Từ trước đến sau cũng
chỉ một người ấy, không thay đổi gì về hình tướng, chẳng
ngồi tòa sen phát hào quang, nhưng tâm lại có một biến
đổi diệu thường. Đó là “Rắn hóa rồng không đổi vảy”.
Phật dạy, “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ
thành”. Lời dạy ấy là đứng trên Phật quả. Nhưng theo
tinh thần kinh Lăng Già thì “Chúng sanh đã là Phật”, tức
nhắm trên Phật nhân. Đã là Phật, vì chúng sanh nào cũng
có trí tuệ đức tướng Như Lai. Như kẻ ăn mày trong kinh
Pháp Hoa không biết mình có hạt châu trong chéo áo, cứ
phải sống đời lang thang cơ nhỡ. Đến lúc được bạn nhắc
nhở, lấy ra dùng thì trở nên giàu sang phú quý. Hạt châu
có sẵn như Đạo sẵn đủ tại tâm, chỉ vì ta quên nên mê,
còn nhớ ra là ngộ Đạo.
Đức Phật thành đạo nơi cội Tất bát la cách đây gần 26
thế kỷ, nhưng câu chuyện tìm đạo của Ngài vẫn luôn là
bài học lớn cho hàng đệ tử Phật chúng ta. Khi mới phát
tâm tu, chúng ta cần có thầy hướng dẫn đường lối đúng
đắn để khỏi lạc lầm. Đang trong giai đoạn dụng công, ta
cũng cần thầy bạn sách tấn và sửa chữa những sai sót, để
khỏi sa vào những cám dỗ của ngoại ma. Nhưng vấn đề ngộ
đạo lại khác, tự thân hành giả nỗ lực công phu, phải tự
nhận ra Phật tâm nơi chính mình chứ không ai làm thay
cho ai được.
Hiểu và tin mình có khả năng thành Phật, chúng ta có sự
vững vàng trên đường tu. Ta không tìm cầu Phật bên ngoài,
không tin có một quyền năng ban phước giáng họa, mà chỉ
tin chính tâm mình có chánh nhân thành Phật. Ta cứ một
lòng một dạ tiến bước trong Chánh pháp mà không khởi ý
niệm mong cầu, thì khi đủ thời tiết nhân duyên, tất
nhiên trổ ra chánh quả. Đến lúc ấy, ta mới thấm thía và
biết ơn vô cùng lời-dạy-vô-ngôn của Đức Bổn Sư khi cầm
cành sen, hay gậy tổ Hoàng Bá khi đập cho đệ tử xuất
cách Nghĩa Huyền ba gậy.
Vậy thì rốt cuộc, Thành đạo là nhận ra và hằng sống với
con người chân thật chính mình.
THÍCH THÔNG HUỆ
(1) Hoàng Phê - Từ điển tiếng Việt - NXB.Đà Nẵng
1997:280. (2) Nhân thừa, Thiên thừa, Thinh văn thừa,
Duyên giác thừa và Bồ tát thừa.