I.
Ðại Cương
Chủ đích Kinh Trí đức Phật lý giải một cách sâu sắc về pháp
giới đồng thời tuyên bố cứu cánh của trí. Chứng trí là thực
tướng của trí giác, trí tuệ hay trí bát nhã, tức tri thức
đúng cái tri thức sai lầm (nhi nguyên) là giải thoát mọi
phiền não, nhân duyên chằng chịt, cũng là tự giác và giác
tha. Khi tuyên bố chứng đắc trí là đã đoạn tận sự sanh diệt,
Chứng trí là một thực tại tuyệt đối là thấy biết như thật
như chân.
Nhân duyên pháp giới là dòng lưu chuyển của hiện tượng luôn
đổi thay, tuy vậy trong cái chuyển động có cái thường hằng
bất biến. Chơn không diệu hữu
là hình trạng hằng hữu của không tướng các pháp, là tự tính
sự vật, đầy đủ tính, muôn hình vạn trạng, biến hóa khôn
lường, hay sanh, trùng trùng duyên khởi trong hư không,
trong tàng thức của chúng sinh.
Pháp giới duyên khởi là hiện tượng vô thường nên không có tự
tính, công đồng hiện hữu, đồng thời hiện khởi. Trong pháp
giới duyên khởi, mọi hiện tượng đều tùy thuộc lẫn nhau, cái
nầy tùy thuộc cái kia, do đó một trong tất cả và tất cả
trong một. Mỗi một pháp là một cục bộ (bộ phận riêng) trong
toàn bộ và toàn bộ hổ tương giao thiệp với hết thảy mọi cục
bộ trong toàn bộ. Muốn tháo gở một hay nhiều pháp (cục bộ)
ra khỏi vòng nhân duyên chằng chịt của pháp giới (toàn bộ
mắc xích), theo lời Phật dạy, có thể tự tuyên bố chứng đắc
trí là phải thấy thế nào, biết thế nào. để thoát ra khỏi
vòng mắc xích sanh diệt triền miên đó. Kinh Trí Phật dạy rất
rõ về nghĩa lý các pháp trong pháp giới duyên khởl, dồng
thời dạy pháp mở trói khỏi nhân duyên ràng buộc của dòng bộc
lưu sanh tử..
II.
Nội Dung Kinh
23. KINH TRÍ[1]
...........
Thế Tôn hỏi rằng:
1*
“Này Xá-lợi-phất, có thật vừa rồi thầy tự tuyên bố là
chứng đắc trí, biết như thật, rằng ‘Sự sanh đã
dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn
tái sanh nữa’ chăng?”
Tôn giả Xá-lê Tử bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, không phải với lời văn ấy, không phải đi
với câu ấy mà con nói về nghĩa ấy”.
Đức Thế Tôn bảo:
“Này Xá-lê Tử, một thiện nam tử tùy phương tiện[5]
mà tuyên thuyết, hễ có chứng đắc trí, thì tuyên bố chứng đắc
trí”.
Tôn giả Xá-lê Tử bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, con vừa nói không phải với lời ấy, không phải
với câu ấy mà con nói về nghĩa ấy”.
Đức Thế Tôn hỏi:
“Này Xá-lê Tử nếu có vị phạm hạnh nào đến hỏi thầy thế này:
‘Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, biết thế nào, thấy thế nào,
để có thể tự tuyên bố là chứng đắc trí, biết như thật rằng:
‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong,
không còn tái sanh nữa?’ Này Xá-lê Tử nghe như vậy thầy sẽ
trả lời sao?”
Tôn giả Xá-lê Tử trả lời rằng:
“Bạch Thế Tôn, nếu có vị phạm hạnh đến hỏi con rằng: ‘Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, biết thế nào, thấy thế nào, để có thể tự
tuyên bố là chứng đắc trí, biết như thật rằng: ‘Sự sanh đã
dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn
tái sanh nữa?’ Bạch Thế Tôn, nếu có người phạm hạnh đến hỏi
con như vậy, con sẽ trả lời như vầy: ‘Chư Hiền, sanh có nhân.
Nhân của sự sanh ấy diệt tận, thì biết nhân của sự sanh
diệt tận; tôi tự tuyên bố là chứng đắc trí, biết
như thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần
làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa?’ Bạch Thế Tôn nếu
có người phạm hạnh đến hỏi con như vậy, con sẽ trả lời như
thế”.
Đức Thế Tôn khen rằng:
“Hay thay! Hay thay! Nếu các vị phạm hạnh đến hỏi như thế,
thầy nên trả lời như vậy. Vì sao thế? Vì nói như thế nên
biết đó là nghĩa”.
Đức Thế Tôn hỏi rằng:
2.*
“Này Xá-lê Tử, nếu có vị phạm hạnh đến hỏi thầy thế này:
‘Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, sự sanh do nhân gì, do
duyên gì, từ đâu mà sanh, lấy gì làm gốc[6]?”
Thầy nghe những câu hỏi đó, trả lời như thế nào?”
Tôn giả Xá-lê Tử thưa:
“Bạch Thế Tôn, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi con rằng: ‘Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, sự sanh do nhân gì, do duyên gì, từ đâu mà
sanh, lấy gì làm gốc?” Con nghe như vậy sẽ trả lời rằng:
‘Này chư Hiền, sự sanh lấy hữu làm nhân, lấy
hữu làm duyên, từ hữu mà sanh, lấy hữu
làm gốc’. Bạch Thế Tôn, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi
con như thế, con sẽ trả lời như vậy”.
Đức Thế Tôn khen:
“Hay thay! Hay thay! Xá-lê Tử, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi
thầy như thế, thầy nên trả lời như thế. Vì sao thế? Vì nói
như vậy nên biết đó là nghĩa”.
Đức Thế Tôn hỏi rằng:
“Này Xá-lê Tử, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi thầy thế này:
‘Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, hữu do nhân gì, do
duyên gì, từ đâu mà sanh, lấy gì làm gốc?’ Thầy nghe
những lời ấy sẽ trả lời thế nào?”
Tôn giả Xá-lê Tử thưa rằng:
3.*
“Bạch Thế Tôn, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi con rằng ‘Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, hữu do nhân gì, do duyên gì, từ đâu mà
sanh, lấy gì làm gốc?’ Bạch Thế Tôn con nghe như vậy, con sẽ
trả lời thế này: ‘Này chư Hiền, hữu lấy thủ[7]
làm nhân, lấy thủ làm duyên, từ thủ mà sanh, lấy thủ làm gốc.’
Bạch Thế Tôn, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi con như thế, con
sẽ trả lời như vậy.”
Đức Thế Tôn khen rằng:
“Hay thay! Hay thay! Xá-lê Tử, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi
thầy như thế, thầy nên trả lời như thế. Vì sao thế? Vì nói
như vậy nên biết đó là nghĩa”.
Đức Thế Tôn hỏi rằng:
“Này Xá-lê Tử, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi thầy thế này:
‘Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, thủ do nhân gì, do duyên gì, từ đâu
mà sanh, lấy gì làm gốc?’ Thầy nghe những lời ấy sẽ trả lời
thế nào?”
Tôn giả Xá-lê Tử thưa rằng:
4.*
“Bạch Thế Tôn, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi con rằng ‘Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, thủ do nhân gì, do duyên gì, từ đâu
mà sanh, lấy gì làm gốc?” Bạch Thế Tôn, con nghe như vậy,
con sẽ trả lời thế này: ‘Này chư Hiền, thủ lấy ái
làm nhân, lấy ái làm duyên, từ ái mà sanh, lấy ái làm gốc’.
Bạch Thế Tôn, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi con như thế, con
sẽ trả lời như vậy”.
Đức Thế Tôn khen rằng:
“Hay thay! Hay thay! Xá-lê Tử, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi
thầy như thế, thầy nên trả lời như thế. Vì sao thế? Vì nói
như vậy nên biết đó là nghĩa”.
Đức Thế Tôn hỏi rằng:
“Này Xá-lê Tử, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi thầy thế này:
‘Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, thế nào là ái?’ Thầy nghe những lời
ấy sẽ trả lời thế nào?”
Tôn giả Xá-lê Tử thưa rằng:
5.*
“Bạch Thế Tôn, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi con rằng ‘Thưa
Tôn giả Xá-lê Tử, thế nào là ái?” Bạch Thế Tôn, con
nghe như vậy, con sẽ trả lời thế này: ‘Này chư Hiền, có
ba cảm thọ; cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không lạc
không khổ. Ở trong đó mà ham muốn, đắm trước, đó gọi là ái’.
Bạch Thế Tôn, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi con như thế,
con sẽ trả lời như vậy”.
Đức Thế Tôn khen rằng:
“Hay thay! Hay thay! Xá-lê Tử, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi
thầy như thế, thầy nên trả lời như thế. Vì sao thế? Vì nói
như vậy nên biết đó là nghĩa”.
Đức Thế Tôn hỏi rằng:
6*
“Này Xá-lê Tử, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi thầy thế này:
‘Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, biết thế nào, thấy thế nào
để đối với ba thọ không ham muốn, đắm trước?” Thầy nghe
vậy rồi trả lời thế nào?”
Tôn giả Xá-lê Tử thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi rằng: ‘Thưa Tôn
giả Xá-lê Tử, biết thế nào, thấy thế nào để đối với ba thọ
không ham muốn, đắm trước?’ Nghe vậy rồi, con sẽ trả lời
rằng: ‘Này chư Hiền, ba thọ này là pháp vô thường pháp
khổ, pháp diệt. Pháp vô thường tức là khổ; thấy khổ rồi liền
không còn ham muốn, đắm trước đối với ba thọ’. Bạch Thế
Tôn, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi như thế, con sẽ trả lời
như vậy”.
Đức Thế Tôn khen rằng:
“Hay thay! Hay thay! Xá-lê Tử, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi
thầy như thế, thầy nên trả lời như thế. Vì sao thế? Vì nói
như vậy nên biết đó là nghĩa”.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo rằng:
7.*
“Này Xá-lê Tử, lời nói này còn có ý nghĩa nữa để lời nói ấy
có thể trả lời vắn tắt. Này Xá-lê Tử, những gì được cảm
thọ, những gì được tạo tác, thảy đều là khổ
[9]. Này Xá-lê Tử, đó gọi là còn một ý
nghĩa nữa để lời nói ấy có thể được trả lời vắn tắt”.
Đức Thế Tôn hỏi rằng:
“Này Xá-lê Tử, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi thầy thế này:
‘Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, bội xả thế nào để tự tuyên bố là
chứng đắc trí, biết như thật, rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm
hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh
nữa?’”
Tôn giả Xá-lợi-phất thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, nếu có vị
phạm hạnh đến hỏi con thế này: ‘Thưa Tôn giả Xá-lê Tử,
bội xả thế nào để tự tuyên bố là chứng đắc trí, biết
như thật, rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần
làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa?’ Con nghe như vậy
sẽ trả lời thế này: ‘Này chư Hiền, tôi do bội xả bên
trong mà diệt tận các ái, không kinh hãi, không sợ sệt,
không nghi, không hoặc, thực hành sự thủ hộ như vậy. Thủ hộ
như thế rồi không sanh ra lậu bất thiện’. Bạch Thế Tôn,
nếu các vị phạm hạnh hỏi con như thế, con sẽ trả lời như vậy.
Đức Thế Tôn khen rằng:
“Hay thay! Hay thay! Xá-lê Tử, nếu các vị phạm hạnh đến hỏi
thầy như thế, thầy nên trả lời như thế. Vì sao thế? Vì nói
như vậy nên biết đó là nghĩa”.
Đức Phật bảo rằng:
8.*
“Này Xá-lê Tử, lời nói này còn có ý nghĩa nữa để lời nói ấy
có thể trả lời vắn tắt. ‘Đối với những kết sử mà Sa-môn nói
đến[14],
những kiết sử ấy không tồn tại nơi ta, thực hành sự thủ
hộ như vậy; thủ hộ như thế rồi không còn sanh ra lậu bất
thiện nữa’. Này Xá-lê Tử, đó gọi là còn có ý nghĩa nữa
để lời nói ấy có thể trả lời vắn tắt”.
Đức Thế Tôn nói như vậy rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi
vào tịnh thất tĩnh tọa. Sau khi Đức Thế Tôn đi vào tịnh thất
chẳng bao lâu, Tôn giả Xá-lê Tử bảo các Tỳ-kheo rằng:
9.*
“Này chư Hiền, thoạt tiên tôi chưa kịp gợi ý mà Đức Thế Tôn
lại hỏi ý nghĩa đó, tôi đã nghĩ rằng sợ không trả lời
được. Này chư Hiền, khi tôi nói ra ý nghĩa thứ nhất liền
được Đức Thế Tôn tán thán, tôi lại nghĩ thế này: ‘Nếu Đức
Thế Tôn trong một ngày một đêm, với những lời khác với những
câu khác, mà hỏi tôi về nghĩa này, thì tôi vẫn có thể trong
một ngày một đêm, với những lời khác, câu khác mà trả lời
Đức Thế Tôn về nghĩa ấy. Nếu Đức Thế Tôn trong hai, ba, bốn
ngày cho đến bảy ngày bảy đêm với những lời khác câu khác mà
hỏi tôi về nghĩa này, thì tôi vẫn có thể trong hai, ba,
bốn cho đến bảy ngày bảy đêm với những lời khác, câu khác mà
trả lời Đức Thế Tôn về nghĩa ấy’.”
Tỳ-kheo Hắc Xỉ nghe Tôn giả Xá-lê Tử nói những lời ấy rồi,
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vội đến chỗ Phật bạch rằng:
“Sau khi Thế Tôn vào tịnh thất chẳng bao lâu, Tôn giả Xá-lê
Tử nói rất to chẳng thua gì tiếng rống của sư tử, rằng: ‘Này
chư Hiền, thoạt tiên tôi chưa kịp gợi ý mà Đức Thế Tôn lại
hỏi ý nghĩa đó, tôi đã nghĩ rằng sợ không trả lời được. Này
chư Hiền, khi tôi nói ra ý nghĩa thứ nhất liền được Đức Thế
Tôn tán thán, tôi lại nghĩ thế này: Nếu Đức Thế Tôn trong
một ngày một đêm, với những lời khác với những câu khác, mà
hỏi tôi về nghĩa này, thì tôi vẫn có thể trong một ngày một
đêm, với những lời khác, câu khác mà trả lời Đức Thế Tôn về
nghĩa ấy. Nếu Đức Thế Tôn trong hai, ba, bốn ngày cho đến
bảy ngày bảy đêm với những lời khác câu khác mà hỏi tôi về
nghĩa này, thì tôi vẫn có thể trong hai, ba, bốn cho đến bảy
ngày bảy đêm với những lời khác, câu khác mà trả lời Đức Thế
Tôn về nghĩa ấy’.”
Đức Thế Tôn bảo rằng:
10.*
“Này Hắc Xỉ, thật như vậy! Thật như vậy! Nếu Ta trong một
ngày một đêm, với những lời khác với những câu khác, mà hỏi
Tỳ-kheo Xá-lê Tử về nghĩa này, thì Tỳ-kheo Xá-lê Tử vẫn có
thể trong một ngày một đêm, với những lời khác, câu khác mà
trả lời Ta về nghĩa ấy. Này Hắc Xỉ, nếu Ta trong hai,
ba, bốn ngày cho đến bảy ngày bảy đêm với những lời khác câu
khác mà hỏi Tỳ-kheo Xá-lê Tử về nghĩa này, thì Tỳ-kheo Xá-lê
Tử vẫn có thể trong hai, ba, bốn cho đến bảy ngày bảy đêm
với những lời khác, câu khác mà trả lời Ta về nghĩa ấy. Vì
sao thế?
III. Lý Giải
A.
Trực Giải
1.* Chứng đắc
trí: ‘biết như thật, rằng
‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm
đã làm xong, không còn tái sanh nữa’
Chứng đắc trí sự là thực hiện đầy đủ và trọn vẹn đức trí
theo đệ nhất nghĩa các pháp trong pháp giới duyên khởi.
Thứ nhất
là phải dùng chơn trí: thấy biết như chân như thật sự sanh
diệt không còn nữa.
Nếu thấy biết như chơn lục căn, chơn lục trần và chơn lục
thức thì những hệ lụy và say đắm không xãy ra.(theo Ðại Kinh
Sáu Xứ). Nói cách khác, thấy biết chơn lục căn, lục trần,
lực thức là thể cách nhận thức sự vật một cách sáng suốt vô
thời không; đó cũng là sự nhận thức của chơn trí.
Phật
đ
ã giải rõ về nhản căn sắc trần và nhãn thức theo chơn trí.
Chúng ta nhìn một vật thì thấy và biết như chơn mắt, thấy
biết như chơn các sắc, thấy biết như chơn nhãn thức vì chúng
ta đã hiểu được chơn mắt, chơn các sắc, và chơn nhãn thức
theo thật tướng của chúng như đã trình bày trên. Chơn mắt,
chơn sắc, và chơn nhãn thức là một khi nhìn một vật gì thì
sử dụng một lần mà thôi (vô thời gian). Nếu không kéo dài
thời gian thì vật đó còn nguyên thủy: nó-là-nó tại đó và lúc
đó, vô thời không hay mắt, sắc (vật), hay thấy (nhãn thức)
vẫn còn chơn nguyên, thấy biết không bị xúc thọ ái lăn trôi
theo thời gian mà có những khái niệm, nên mắt, sắc, thấy
biết không thay đổi, cố định.
Có thể nói, thấy do ngũ giác quan là thức bên
ngoài; biết là Trí do ý trí tri nhận
bên trong. Thấy như chơn (chơn thức), biết như thật
là chơn trí,(tri thức nguyên thủy) là sự giải ttoát
bên trong.
Thứ
hai,
khi chúng ta đã thực
hiện nghiêm túc vá thực hành tuệ giác và giới luật là không
còn chấp thủ tất các lậu hoặc cò thể gọi là phạm hạnh đã
vững vàng, đó cũng là đã nhận thức thực tại toàn diện về trí
năng tình năng hoạt năng theo chơn trí.
Thứ ba,
các việc cần làm đã thực hiện theo đệ nhất nghĩa các pháp,
tức các pháp được nhận thức trọn vẹn ý nghĩa của nó
không thêm không bớt, nghĩa là pháp không sanh không diệt
không còn tái sanh nữa bất biến, vô thời không tức là không
biến đổi theo thời gian và không gian như “vẫn
có thể trong hai, ba, bốn cho đến bảy ngày bảy đêm với những
lời khác, câu khác mà trả lời Đức Thế Tôn về nghĩa ấy’
.Nói chung, trong Trí (hay Tâm) chúng ta đều có chứa sẵn
biểu hiện Trí Năng, Tình Năng và Hoạt Năng, nên dây thần
kinh dẩn truyền lên não hình ảnh của chơn sắc từ chơn mắt để
có chơn nhãn thức thì đồng thời đã xúc chạm dây thần kinh
thị giác, có nhãn xúc; do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc
thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vì chúng ta thấy biết
chơn cảm thọ không có thời gian, nên không có ái trước (trong
A Lại Da thức) đối với mắt (mắt không lập lại), không có ái
trước đối với các sắc (hình ảnh các sắc có sẵn tích tụ) và
ái trước đối với nhãn xúc (Xúc có sẵn trong A-Lai-Da Thức:
ký ức). Từ đó do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ
thọ , bất khổ bất lạc thọ mà không có ái trước đối với cảm
thọ ấy.
Vậy, thấy như chơn biết như thật tức là:
·
sự sanh đã dứt, cái biết sát-na hiện tiền: vô niệm;
·
phạm hạnh đã vững là không còn chấp thủ tất cả lậu hoặc, là
không tánh, cái biết tróng rỗng, vô không gian: vô tướng;
·
không còn tái sanh nữa, cái biết không lập lại: vô trụ.
·
Ðó là cái biết sát-na hiện tiến, cái biết vô thời
không.
Có thể tự tuyên bố chứng đắc trí , trong mắc xích pháp giới,
là mở ra một pháp được tri nhận một cách tuyệt đối (đệ nhất
nghĩa của nó), vì đã tận diệt sanh khởi.
Khi thực hiện toàn diện
chơn trí là thể nhận nghĩa sâu sắc về pháp giới duyên khởi,
sanh đã diệt, không còn tái sanh nữa. Ðó không phải ngôn từ
suông mà là nghĩa sâu sắc của pháp giới và nghĩa chơn thật
của mỗi pháp.
2. Sự
sanh
do nhân gì, do duyên gì, từ đâu mà sanh,
lấy gì làm gốc?
Sự sanh lấy hữu làm nhân, lấy hữu
làm duyên, từ hữu mà sanh, lấy hữu
làm gốc.. Từ sự tập khởi của hữu có sự tập khởi của
sanh, Có hữu
mới khởi sanh, không có hữu lấy gì sanh.
Sanh: Jati (skt) khởi từ nghiệp
lực quá khứ đưa đến kết quả trong tương lai một cách chính
xác theo nghĩa của chi thứ mười một trong mười hai nhân
duyên.
3.
Hữu lấy thủ làm nhân, lấy thủ
làm duyên, từ thủ mà sanh, lấy thủ
làm gốc. Thủ dẫn đến sanh Hữu: Do sự chấp giữ có cái
của ta hay của người mà gìn giữ
sợ mất. Hữu: Bhava (skt). Từ
những tham dục mà chấp hữu, cố gắng làm chủ những gì mình
muốn như tiền bạc, nhà cửa, danh vọng, vân vân. Qua chấp thủ
mà “hữu” theo liền.
4. Thủ
do nhân gì, do duyên gì, từ đâu mà sanh,
lấy gì làm gốc? Thủ lấy ái làm nhân,
lấy ái làm duyên, từ ái mà sanh, lấy ái làm g
ốc.Do
sự yêu ái được tích trữ thời sự chiếm hữu hay chấp giữ mới
có.
Thủ: Upadana (skt)-Chấp thủ vào những thứ mà mình ham thích
5.
Thế nào là ái? Có ba cảm thọ; cảm thọ lạc, cảm thọ
khổ, cảm thọ không lạc không khổ. Ở trong đó mà ham muốn,
đắm trước, đó gọi là ái. Từ tập khởi của thọ, có tập
khởi của ái. Ái: Trsna (skt)-Ham muốn vui sướng kéo dài. Từ
ham muốn đưa đến trói buộc.
6. Biết
thế
nào, thấy thế nào để đối với ba thọ không ham muốn, đắm
trước?
Ba thọ này là pháp vô thường pháp khổ, pháp diệt. Pháp vô
thường tức là khổ; thấy khổ rồi liền không còn ham muốn, đắm
trước đối với ba thọ.
Thọ: Vedana-Những cảm giác vui, buồn, sướng khổ. Qua cảm
giác đưa tới sự ham muốn
7.
Những gì được cảm thọ, những gì được tạo tác, thảy đều là
khổ. Do bội xả
(giải thoát
bên trong) mà diệt tận các ái, không kinh hãi, không
sợ sệt, không nghi, không hoặc, thực hành sự thủ hộ như vậy.
Thủ hộ như thế rồi không sanh ra lậu bất thiện
8.
Những kiết sử ấy không
tồn tại nơi ta, thực hành sự thủ hộ như vậy; thủ hộ như thế
rồi không còn sanh ra lậu bất thiện nữa. Kiết
và sử, hai tên gọi khác nhau của phiền não, kiết là trói
buộc thân tâm kết thành quả khổ, sử là theo đuổi và sai sử
chúng sanh. Theo Thanh Tịnh Đạo, kiết sử là mười pháp khởi
từ sắc tham; gọi là kiết sử vì chúng trói buộc các uẩn trong
đời nầy với các uẩn đời kế tiếp, hoặc trói buộc nghiệp với
quả, hoặc trói buộc hữu tình vào đau khổ. Vì bao lâu cái nầy
còn hiện hữu thì cái kia không chấm dứt. (TÐPHVA)
9. Ý
nghĩa đó,
dù trong một ngày một đêm, với những lời khác với những câu
khác, mà hỏi tôi về nghĩa này, thì tôi vẫn có thể trong một
ngày một đêm, với câu khác mà trả lời Đức Thế Tôn về
nghĩa ấy. Nghĩa đó rất
sâu sắc do duyên khởi của sự vật và tánh thấy như chân biết
như thật, không phải là những lời nói câu văn là những ngôn
ngữ giả lập.
10.
Nghĩa ấy.
là sự
thấu đạt sâu xa về pháp giới
vậy. Tên
của sự vật khi nói chung cả lý lẫn sự; là chân lý tuyệt đối
hay chân như pháp tính là nhân,
,
B.
Luận Giải
Ði tìm thực tướng của nhân duyên chúng ta cần thiết phải
dùng chơn tri để nhận thức mọi biến đổi trong pháp giới. Từ
những bài học Phật dạy trong kinh luận có thể mở ra con
đường sáng mà soi rọi các pháp điển hình như sau:
·
Chơn Trí.
Này các
Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn mắt, thấy và biết như chơn
các sắc, thấy và biết như chơn nhãn thức, thấy và biết như
chơn nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ
thọ hay bất khổ bất lạc thọ, thấy và biết như chơn cảm thọ
ấy; vị ấy không ái trước đối với con mắt, không ái trước đối
với các sắc, không ái trước đối với nhãn thức, không ái
trước đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc
thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không ái trước
đối với cảm thọ ấy.
Khi vị ấy
trú, quán sát vị ngọt, không bị ái trước, hệ lụy và tham đắm,
nên năm thủ uẩn đi đến tàn diệt trong tương lai. Và ái của
vị ấy, đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm sự hoan
lạc chỗ này chỗ kia; ái ấy được đoạn tận; những thân ưu não
của vị ấy được đoạn tận; những tâm ưu não được đoạn tận;
những thân nhiệt não được đoạn tận; những tâm nhiệt não được
đoạn tận; những thân khổ não được đoạn tận; những tâm khổ
não được đoạn tận; vị ấy cảm thọ thân lạc và tâm lạc (Ðại
Kinh Sáu Xứ)
Tóm lược, nếu thấy biết như chơn lục căn, chơn lục trần và
chơn lục thức thì những hệ lụy và say đắm không xãy ra. Nói
cách khác, thấy biết chơn lục căn, lục trần, lực thức là
thể cách nhận thức sự vật một cách sáng suốt vô thời không;
đó cũng là sự nhận thức của chơn trí
Theo tinh thần trí bát nhã - Giải Kiến: Tánh Không của Trí
và Ðắc -.”Chân
Trí hay Chân Ðắc là thực tướng của Tri và Hành. Tri thức
đúng (tự tính tuyệt đối) là Chứng, là giác ngộ, mà giác ngộ
mới thực hành đúng là Ðắc. Chứng (Tri) và Ðắc (Hành) tự nó
đầy đủ, là chân lý tối hậu, không có gì áp đặt lên nó như
dùng ngôn từ hay công ước. Như vậy Không Trí Không Ðắc được
giải kiến bằng Tướng Không (tuyệt đối) của Trí và Ðắc. Vì
Trí và Ðắc là thực tại giả lập, nên tri thức đúng thực thể
của chúng tức là nắm bắt tự tính tuyệt đối của chúng.” (Phổ
Nguyệt)
·
Nhân Duyên
Mười
hai nhân duyên là pháp được đức Phật hiện quán xuôi nghịch
trong lúc Ngài tọa thiền dưới bóng cây Bồ Ðề mà khám phá ra
bộ mặt thật của các pháp là vô thường-khổ-vô ngã; nhưng vì
vô minh mê mờ nên chúng sanh không nhận ra bộ mặt thật của
chúng mà chấp vào chúng cho là thường còn bất diệt, để rồi
từ vô minh mê mờ mà tạo ra nghiệp nhân đau khổ rồi cẵm quả
trong ba cõi sáu đường. Sự khám phá bộ mặt thật của các pháp
này là một sự kiện phát hiện mới về những nguyên nhân trói
buộc chúng sanh vào con đường sanh tử luân hồi, và phương
pháp để diệt trừ những khổ đau mà chung sanh phải gánh chịu.
Ðây là những điều mà trước kia Ngài đã từng cưu mang. Ðạo lý
giải thoát của Ngài được đặt nền tảng chính yếu qua thập nhị
nhân duyên.
Với thập nhị nhân duyên Ngài đã khám phá ra nguyên nhân
chính yếu của vòng tròn sinh khởi và hủy diệt khổ đau của
sinh tử luân hồi. Theo phương pháp quán thuận nghịch, tức là
cách quán lưu chuyển và hoàn diệt của thập nhị nhân duyên.
Trong 49 ngày đêm Ngài ngồi tư duy dưới bóng cây Bồ Ðề không
ngoài vấn đề này. Vấn đề sanh, lão, bệnh, tử đực Ngài đặt ra
như là một tiên quyết là làm sao biết được vấn đề từ đâu
sinh ra? Và khi chết sẽ đi về đâu?
Ðây là giáo nghĩa cơ bản của đức Phật đối với ngoại hàm
trong cách giải thích mọi hiện tượng trong nhân duyên sinh
khởi và biến dịch của nhân sinh cùng vũ trụ được Ngài triển
khai rộng theo thời gian và không gian của ba đời theo luật
tắc nhân quả, qua nhận thức quán chiếu lưu chuyển và hoàn
diệt theo định thức duyên khởi quán hay còn gọi là duyên
sanh quán. Mười hai nhân duyên được dịch nghĩa tiếng Phạn
dvãdasã, gapratĩya-samutpãda, còn gọi là mười hai duyên sanh,
hay mười hai duyên khởi. Mười hai duyên này làm nhân và
duyên vào nhau mà hiện khởi theo chiều lưu chuyển sinh khởi
hay ngược lại, làm nhân duyên cho nhau mà biến diệt theo
chiều hoàn diệt trong nhận thức quán lưu chuyển và hoàn diệt.
(Thập Nhị Nhân Duyên, Thích Ðức Thắng)
·
Pháp Giới.
Trong pháp giới hay thế giới hiện tượng, có ba thế giới là
dục, sắc và tâm. Hết thảy các loài tạo vật, cả Thánh lẫn
phàm, nhân và quả, đều ở trong pháp giới đó. Chỉ có Phật
là ở ngoài pháp giới;
Pháp Giới có đến hai nghĩa:
a)
Vũ trụ hiện thực:.
b)
Thế giới không hạn định hay Niết Bàn. Nó chính là Chân Như
của Phật. Niết Bàn tịch diệt vừa có nghĩa là sự diệt vọng
của thể xác con người (theo nghĩa tiêu cực), và vừa là sự
diệt tận của các điều kiện
sinh tử (theo nghĩa tích cực):
Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật
Giáo, pháp giới trong ý nghĩa là cảnh giới của lý tắc và vừa
là sự tướng của tất cả sự tướng, đồng nghĩa với Như Lai Tạng
và cũng đồng nghĩa với vũ trụ hay thế giới hiện thực, nghĩa
là cảnh giới của tất cả sự tướng
Theo triết học Trung Quán, Pháp Giới cũng có nghĩa là Chân
Như hoặc Thực Tại hay Niết Bàn. Ở đây chữ ‘Giới’ có nghĩa là
bản chất thâm sâu nhất, hay bản chất tối hậu. Pháp Giới và
Chân Như đều là siêu việt và nội tồn. Nó là siêu việt như
Thực Tại tối hậu, nhưng nó hiện hữu trong mỗi người như là
cơ sở và bản chất thâm sâu nhất của họ—nương dựa vào đó mà
vạn pháp sanh ra. Đây là một trong 18 pháp giới. (TÐPHVA)
* Duyên Khởi ( Pratityasamutpada,skt).
(A) Những định nghĩa nầy căn cứ trên sự giải thích về Duyên
Khởi của Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học
Phật Giáo:.1) Sự vật chờ duyên mà nẩy sinh, đối lại với
tánh giác hay chân như; 2) Vạn sự vạn vật hay các pháp hữu
vi đều từ duyên mà khởi lên, chứ không có tự tánh; 3) Phật
giáo không coi trọng ý niệm về nguyên lý căn nhân hay nguyên
nhân đệ nhất như ta thường thấy trong các hệ thống triết học
khác; và cũng không bàn đến ý niệm về vũ trụ luận. Tất nhiên,
triết học về Thần học không thể nào phát triển trong Phật
giáo. Đừng ai mong có cuộc thảo luận về Thần học nơi một
triết gia Phật giáo. Đối với vấn đề sáng thế, đạo Phật có
thể chấp nhận bất cứ học thuyết nào mà khoa học có thể tiến
hành, vì đạo Phật không thừa nhận có một xung đột nào giữa
tôn giáo và khoa học; 4) Theo đạo Phật, nhân loại và các
loài hữu tình đều tự tạo, hoặc chủ động hoặc thụ động. Vũ
trụ không phải là quy tâm độc nhất; nó là môi trường cọng
sinh của vạn hữu. Phật giáo không tin rằng vạn hữu đến từ
một nguyên nhân độc nhất, nhưng cho rằng mọi vật nhất định
phải được tạo thành ít nhất là hai nguyên nhân. Những sáng
hóa hay biến thành của các nguyên nhân đi trước nối tiếp
trong liên tục thời gian, quá khứ, hiện tại và vị lai, như
một chuỗi dây xích. Chuỗi xích nầy được chia thành 12 bộ
phận, gọi là 12 khoen nhân duyên vì mỗi bộ phận liên quan
nhau với công thức như sau “Cái nầy có nên cái kia có; cái
nầy sinh nên cái kia sinh. Cái nầy không nên cái kia không;
cái nầy diệt nên cái kia diệt.”
(B) Theo Triết Học Trung Quán, thuyết Duyên Khởi là một
học thuyết vô cùng trọng yếu trong Phật Giáo. Nó là luật
nhân quả của vũ trụ và mỗi một sinh mạng của cá nhân. Nó
quan trọng vì hai điểm. Thứ nhất, nó đưa ra một khái niệm
rất rõ ràng về bản chất vô thường và hữu hạn của mọi hiện
tượng. Thứ hai, nó cho thấy sanh, lão, bệnh, tử và tất cả
những thống khổ của hiện tượng sinh tồn tùy thuộc vào những
điều kiện như thế nào và tất cả những thống khổ nầy sẽ chấm
dứt như thế nào khi vắng mặt các điều kiện đó. Trung Quán
lấy sự sanh và diệt của các thành tố của sự tồn tại để giải
thích duyên khởi là điều kiện không chính xác. Theo Trung
Quán, duyên khởi không có nghĩa là nguyên lý của một tiến
trình ngắn ngủi, mà là nguyên lý về sự lệ thuộc vào nhau một
cách thiết yếu của các sự vật. Nói gọn, duyên khởi là nguyên
lý của tương đối tánh. Tương đối tánh là một khám phá vô
cùng quan trọng của khoa học hiện đại. Những gì mà ngày nay
khoa học khám phá thì Đức Phật đã phát hiện từ hơn hai ngàn
năm trăm năm về trước. Khi giải thích duyên khởi như là sự
lệ thuộc lẫn nhau một cách thiết yếu hoặc là tánh tương đối
của mọi sự vật, phái Trung Quán đã bác bỏ một tín điều khác
của Phật giáo Nguyên Thủy. Phật giáo Nguyên Thủy đã phân
tích mọi hiện tượng thành những thành tố, và cho rằng những
thành tố nầy đều có một thực tại riêng biệt. Trung Quán cho
rằng chính thuyết Duyên Khởi đã tuyên bố rõ là tất cả các
pháp đều tương đối, chúng không có cái gọi là ‘thực tánh’
riêng biệt của chính mình. Vô tự tánh hay tương đối tánh
đồng nghĩa với ‘Không Tánh,’ nghĩa là không có sự tồn tại
đích thực và độc lập. Các hiện tượng không có thực tại độc
lập. Sự quan trọng hàng đầu của Duyên Khởi là vạch ra rằng
sự tồn tại của tất cả mọi hiện tượng và của tất cả thực thể
trên thế gian nầy đều hữu hạn, chúng không có sự tồn tại
đích thực độc lập. Tất cả đều tùy thuộc vào tác động hỗ
tương của vô số duyên hay điều kiện hạn định. Ngài Long Thọ
đã sơ lược về Duyên Khởi như sau: “Bởi vì không có yếu tố
nào của sự sinh tồn được thể hiện mà không có các điều kiện,
cho nên không có pháp nào là chẳng ‘Không,’ nghĩa là không
có sự tồn tại độc lập đích thực.”
(TÐPHVA)
* Pháp Giới Duyên Khởi
Pháp
giới duyên khởi có nghĩa là, vì hết thảy mọi hiện tượng đều
không có tự tính, cộng đồng hiện hữu, và đồng thời hiện khởi,
nên mỗi hiện tượng là một cơ quan trong toàn bộ, và toàn bộ
là hổ tương giao thiệp nhịp nhàng giữa hết thảy mọi cơ quan
thuộc nó. Như vậy tính chất của mỗi hiện tượng thành phần
trong toàn bộ là do toàn bộ xác động, và tính chất của toàn
bộ là do mỗi và mọi hiện tượng thành phần của nó xác định.
Vì toàn bộ không gì khác là hổ tương giao thiệp giữa các
thành phần, nên mỗi hiện tượng có thể xem như tác dụng định
đoạt tính chất của tất cả các hiện tượng khác, đồng thời
tính chất của chính nó cũng do tất cả các hiện tượng khác
tác dụng định đoạt.(Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương)
·
Chân
Như Duyên Khởi
“Chân
Như duyên khởi” là một “học thuyết” có mặt trong hầu hết các
tông phái Ðại Thừi như Không tông (Trung Quán, Trung Ðạo),
Duy Thức tông, Hoa Nghiêm tông, Thiên Thai tông, Mật tông....
Sở dĩ chúng ta dùng chữ “học thuyết” như một lý thuyêt triết
học, vì khi chỉ nghiên cứu trên bình diện tư tưởng và khái
niệm- và đó là việc chúng ta đang làm- thì nó là một học
thuyết (chân lý tương đối, tục đế). Còn ngày nào chúng ta
thật sự thể nghiệm Chân Như thì đó không còn là một học
thuyết, một ngón tay chỉ mặt trăng, mà đó chính là chân lý
tuyệt đối, chân đế; là chính là mặt trăng.
Chân Như
(tathata) là gì? Ðịnh nghĩa tổng quát, Chân Như là thực tại
“ bất sinh bất diệt, bất tăng bất giảm” nghĩa là thực tại
nguyên sơ và tối hậu từ đó tất cả mọi thế giới hiện tượng
sinh ra. Chỉ lấy một số từ ngữ trong Ðại Thừa Khởi Tín thì
Chân Như là Tâm Chân Như (đối lại với tâm sinh diệt). Pháp
tánh Chân Như , Như Lai tạng, Nhất tâm, Thể Ðại tổng tướng
của Nhất Pháp Giới, tánh Không, Pháp thân, Bản Giác, Cứu
Cánh giác, cái gương như hư không, tánh giác, Tâm, Pháp tánh,
Phật thể.
Chúng ta
có thể định nghĩa khái quát Chân Như duyên khởi như sau:
“Tất cả những gì ta thấy, nghe, ngữi, nếm, xúc, chạm, suy
nghĩ. (nhãnnhĩ tỷ thiệt thân ý, sắc thinh hương vị xúc pháp)
đều sinh ra, duyên khởi từ Chân Như, hiện hữu trong Chân Như,
và diệt mất trong Chân Như. Nói cách khác, tất cả mọi hiện
tượng mà chúng ta kinh nghiệm đều là Chân Như.
Chân Như
duyên khởi được nới rộng và sâu trong kinh Hoa Nghiêm và
kinh Pháp Hoa. Kinh Hoa Nghiêm nói ‘ ba cõi chỉ là Nhất
tâm”phẩm Thập Ðịa). Kinh Pháp Hoa thì hai phẩm Như Lai thần
lực và Như Lai thọ lượng (nằm trong phần Bổn Môn theo phân
tích của Ðại sư Trí Khải) nói một cách trực tiếp và sâu xa
và Chân Như duyên khởi. Kinh Lăng Gà nói: Như Lai tạng là
nhân của thiện và bất thiện, từ nó tất cả mọi hình thức đời
sống được khởi sinh. Giống như một diễn viên mặc lấy các
hình tướng khác nhau, trong đó không có cái ta và cái của ta.
Do không biết điều này nên ba duyên hòa hợp làm phương tiện
mà sinh khởi. Ngoại đạo không biết nên chấp là có một tác
giả, có một nguyên nhân. Vì tập khí xấu và hư vọng đã huân
tập từ vô thủy nên gọi là Tạng thức (A lại da thức), chúng
chuyển biến cùng với bảy thức và vô minh căn bản xông ướp,
như một đại dương có sóng sinh mãi chẳng dứt. Nếu lìa lỗi
lầm do không thấy vô thường, lìa khỏi chấp ngã thì (đại
dương) Như Lai tạng không dơ uế và rốt ráo thanh tịnh trong
bản tính của nó.
“Ðại Bồ
tát muốn tiến bộ đến rốt ráo thì phải thanh tịnh Như Lai
tạng đang còn là thức A Lai da này. Nếu không có thức A Lại
da này, ắt không có sinh diệt… Này Ðại Huệ cảnh giới của Như
Lai tạng vốn là thanh tịnh, nhưng người chưa giác ngộ thì bị
khách trần nhiễm ô che đậy nên vẫn thấy chẳng thanh tịnh.” (quyển
8)
Kinh
Thắng Man
“sanh tử
y trên Như Lai tạng…Có Như Lai tạng cho nên có sanh tử, đó
gọi là người trí nói. Sinh và tử, hai pháp này tức là Như
Lai tạng. Do lời nói thế gian nênnên nói có sinh tử, chứ
không phải Như Lai tạng có sinh tử. Như Lai tạng nếu lìa
ngoài tướng hữu vi Như Lai tạng vốn thường trụ, bất biến,
cho nên Như Lai tạng là nền tảng y cứ, là cái dung từ, là
cái là cái kiến lập. (phẩm Tự Tánh thanh tịnh) Tất cả tướng
đều là tánh, tất cả sóng đều là đại dương thanh tịnh bất
động, tất cả hiện hữu đều là Như Lai tạng. Kinh Ðại Bát Nhã,
phẩm Ðẳng học nói”Tất cả pháp bổn tánh thanh tịnh ở trong
pháp đó, nếu Bồ Tát tâm thong đạt chẳng mê mờ, đó là Trí Huệ
Ba La Mật”
Kinh
Lăng Nghiêm, quyển IV,
nói:
“Như Lai
tạng không phải là tâm, không phải là đất nước gió lửa,
không phải là nhãn nhĩ than ý, không phải là sắc thinh hương
vị xú pháp, không phả là nhãn thức giới cho đến không phải
là vô minh hay không vô minh, không phải là hết vô minh,
không phải không hết vô minh. Như vậy không phải là lão tử,
không phải hết lão tử, không phải khổ tập diệt đạo, kh6ng
phải trí, không phải đắc, không phải bố thí trì giới nhẫn
nhục thiền định trí tuệ, không phải Ba La Mật, như vậy cho
đến không phải Như Lai, ứng, Chánh Biến Tri, không phải Ðại
Niết bàn, không phải Thường Lạc Ngã Tịnh. Tất cả đều chẳng
phải, chẳng phải pháp thế gian hay xuất thế gian.”
“Như Lai
tạng tức là tâm, tức là không, tức là đất nước gió lửa, tức
là nhãnhĩ tỷ thiệt than ý….cho đến tức là Như Lai, Ứng Cúng,
Chánh Biến Tri, tức là Ðại Nết bàn, tức là Thường Lac Ngã
Tịnh , tức là pháp thế gian, tức là pháp xuất thế
gian.
Như Lai
tạng lìa “tức là”, lìa “chẳng phải”, cũng “tức là”, cũng
“chẳng phải”
Tóm lại
Chân Như duyên khởi hay Như Lai tạng duyên khởi hay Pháp
giới duyên khởi là Chân Như Diệu Hữu. Hay nói theo thuật ngữ
của Ðại Thừa Khởi Tín, Chân Như duyên khởi là không Như Lai
tạng (Chơn Không) và Bất Không Như Lai tạng (Diệu Hữu).
Nói theo ngôn ngữ bình thường thì Chân Như là là cái dung
chứa mọi mâu thuẩn; đối nghịch; động và tĩnh, một và nhiều,
như thật và như huyễn, tướng và vô tướng… đồng thời vẫn
thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi chúng. Có điều Chân Như
duyên khởi hay Chân Không Diệu Hữu phải được thực hành thể
nghiệm. Nếu không, nó chỉ là một thứ triết học tư biện bàn
luận suông thay vì là một ngón tay chỉ mặt trăng, một dấu
hiệu chỉ đường nhắm đến thực tại tối hậu. Nếu chỉ là một
loại triết học, nghĩa là dựa trên và làm việc với những khái
niệm, thì với phật giáo, nó không tránh khỏi rơi vào vòng
lẩn quẩn của ý thức hữu hạn và sinh diệt. Kinh Lăng Già nói:
“Cái sinh diệt kia là thức, cái chẳng sinh diệt là trí. Cái
bị các tướng rang buộc hoặc ngăn ngại là thức. Cái không bị
rang buộc ngăn ngại là trí… Ðại Huệ! Ta nói rằng thức vọng
tưởng diệt là Niết bàn (là một tên gọi khác của Chân Như)
.
Ðưa vào
trong đời sống thực tế
Chân Như
là tất cả đời sống, vậy thì ứng dụng của Chân Như duyên khởi
có mặt trong lảnh vực của đời sống. Ở đây chúng ta chỉ nhìn
sơ lược trong vài lảnh vực. Mặc dầu con đường của con người
là để đạt tới chân lý tuyệt đối, đạt đến trí chẳng sinh
chẳng diệt, nhưng ở bước khởi đầu và trên đường đi, chúng ta
cần sử dụng cái thức sinh diệt nghĩa là chân lý tương đối,
tư tưởng. Nói cách khác, chúng ta chưa chứng thực được Chân
Như duyên khởi thì chúng ta hãy sống với nó trên bì diện ý
thức, bình diện tư tưởng,bình diện con đường đang đi nhưng
định hướng đúng. Nhân là một ý thức tương đối nhưng tiến
hành đúng, thì quả sẽ là một trí huệ chẳng sanh chẳng diệt
thấu đạt Chân Như. (Chân Như duyên khởi, Nguyễn Thế Ðăng)
·
Chân
Không Diệu Hữu
Riêng Ðại Thừa Khởi Tín thì chỉ rỏ 2 mặt của chân như:
bản chất không của mọi hiện tượng (chơn không) mà
vẫn có sự tồn tại của các pháp (diệu hữu), nghĩa là Đại thừa
chỉ dương thống hợp cả hai quan niệm đó mà chủ trương Chân
không tức Diệu hữu. Đó là chỗ lập cước căn bản của Đại thừa.
Dĩ nhiên, về triết học Đại thừa, cũng có người chỉ thiên về
phương diện Chân Không mà lập thành thế giới quan nhưng cũng
có người phản đối chủ trương ấy mà nghiêng về phương diện
Diệu Hữu để khảo sát các hiện tượng.Tuy có những chủ trương
tương phản đó, nhưng bất luận chủ trương nào cũng đều thừa
nhận rằng: Chân Không không ngoài Diệu Hữu và ngược lại.
Nghĩa là khi đã đạt đến tuyệt đối thì Chân Không là Diệu Hữu,
Diệu Hữu tức Chân Không. Đó là điểm cộng thông của tất cả
các Bộ phái Đại thừa.
Chơn Không Diệu Hữu là không tướng các pháp cũng là sự “
Sinh diệt của Tâm là do Như lai
tạng mà có tâm sinh diệt. Tâm sinh diệt ấy hóa hợp bất diệt
và sinh diệt một cách không phải đồng nhất cũng không phải
biệt lập, và gọi là a lại da thức. A lại da thức có hai mặt,
bao gồm và phát sinh tất cả các pháp; hai mặt ấy là tuệ giác
và bất giác”. Bản chất và hiện tượng tuy hai mà một. Cái bất
biến thường hằng thật có trong cái lưu chuyển vô thường. Nói
cho cùng Chân như của Tâm là pháp tánh đồng nhất, cơ sở của
tiết mục giáo pháp Phật dạy về khái niệm vĩ đại và tổng quát,
Pháp tánh ấy là tâm thể phi sinh diệt. Hết thảy các pháp
chỉ do phân biệt mà có sai biệt, tách rời phân biệt thì đối
tượng cũng không có. Do vậy mà biết các pháp xưa nay phi
ngôn ngữ, phi văn tự, phi nhận thức, tuyệt đối nhất quán,
không hề chuyển biến, không thể phá hủy, toàn là tâm thể
đồng nhất nên mệnh danh chân như. Mọi ngôn ngữ đều không
thực chất, chỉ tùy phân biệt chứ không có gì có thể thủ đắc.
Gọi là chân như thì cũng không phải là một đối tượng, mà là
ngôn ngữ tột đỉnh, do ngôn ngữ ấy mà hủy bỏ ngôn ngữ. Nhưng
chân như thì phi hủy bỏ, vì các pháp toàn là chân, lại phi
xây dựng, vì các pháp toàn là như. Phải hiểu các pháp phi
diễn tả, phi phân biệt, đó là chân như.”
IV.
Pháp Học
Rèn luyện trí theo kinh Phật dạy rất nhiều cách, nhưng tựu
chung chỉ có cách tưởng tri vá tuệ tri (chánh trí) trong
Kinh Căn Bản Tất
Cả Pháp là tối ưu.
Để biết được tri kiến chúng sanh hay bậc giác ngộ, Phật đã
giảng "Pháp môn căn bản tất cả pháp" trong Trung Bộ Kinh tại
rừng Subhaga (rừng Hạnh phúc). Phật cũng đã phân biệt bốn
loại tri kiến: Phàm phu, vị Hữu học, bậc A-la-hán và đấng
Như Lai. Tri kiến phàm phu thường dùng tưởng thức; cho vị
hữu học th
ì dùng thắng tri căn bản và đơn thuần, không dục hỷ. Bậc
A-la-hán dùng pháp thắng tri, không dục hỷ và đoạn trừ được
tham sân si. Đặc biệt, đấng Như Lai dùng pháp thắng tri,
không duc hỷ, đoạn trừ được tham sân si, giác ngộ Niết bàn,
giải thoát khỏi dòng bộc lưu sanh tử và đạt được chánh đẳng
chánh giác. Hiểu được các hạng tri kiến, sự phân biệt dùng
tưởng thức để biết sự vật (tưởng tri) là Vô minh của
tri kiến phàm phu và thắng tri, tuệ tri hay tuệ quán
(Chánh tri kiến, tuệ giác) của bậc hữu học và giác ngộ
là cần thiết, đó là cái biết sát-na hiện tiền
Chẳng
hạn cốt tủy các kinh:
Kinh Nhất Dạ Hiền Giả
....
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động không rung chuyển
Biết vậy nên tu tập,
....
Phật dạy, Tuệ Quán ở nơi pháp hiện tại, không động không
rung chuyển. Tuệ quán là tri nhận một cách sáng suốt, vô
thời gian. Vì lẽ chơn thức (tri giác nguyên sơ) là một điểm
nhận thức có thật trong động tác nhận thức đầu nguồn của tri
giác. Thực tại điểm nầy thì không động, không rung chuyển vì
một điểm có thật một cách toàn diện không thêm không bớt,
chính nó là nó ở đó và lúc đó (vô thời không). Vậy tri nhận
thực tại điểm của giác thức nguyên sơ, chúng ta có tri thức
nguyên thủy của chân trí
Theo đạo Phật, mọi sự mọi vật trong vũ trụ không thể đứng
riêng một mình mà có được; trái lại phải nương nhờ nhau mà
thành. Riêng về loài hữu tình như con người thì do mười hai
nhân duyên nương nhau mà thành một chuỗi sinh tử vô hạn, nối
tiếp từ quá khứ đến hiện tại và vị lai. Muốn hiểu rõ guồng
máy của của sự sinh tử luân hồi của kiếp người trong bể khổ
trần gian, Phật tử nên thông đạt thuyết “Thập Nhị Nhân
Duyên” và phải tìm hiểu phương pháp để diệt trừ cái vòng
lẩn quẩn sinh tử luân hồi ấy. Nhân là công năng sinh
trưởng tất cả sự vật, duyên là sự trợ giúp cho công
năng được thực hiện. Cũng như gieo đậu được đậu, nhưng trước
hết chúng ta phải có hạt đậu giống, gieo xuống đất, rồi nhờ
ánh sáng mặt trời, mưa, tưới, bón phân, nhân công chăm sóc
mới có sự nẩy mầm thành cây đậu, trái đậu. Hạt giống là
nhân; đất, ánh sáng, nước, vân vân là duyên. Do nhân có
duyên trợ giúp nên có quả. Theo Phật giáo, quả không bao giờ
do một nhân duy nhất mà thành; nhiều nhân và nhiều duyên mới
thành một quả. Vì vậy chúng ta có thể kết luận vạn vật trong
vũ trụ nương nhau mà phát sanh, đây là định luật tất yếu.
Thập Nhị Nhân Duyên là mười hai mắt xích trong vòng sanh tử.
Nhân duyên sinh sản trong lệ thuộc. Tất cả các hiện tượng
thể chất và tâm thần tạo thành sự sống của chúng sanh đều có
những liên hệ phụ thuộc lẫn nhau. Đây là mười hai ràng buộc
sinh linh vào luân hồi sinh tử.
Con đường đưa đến đoạn diệt Lậu hoặc đó là
Pháp Chánh Tri Kiến nói chung và riêng cho từng
ngành như Tứ Diệu Ðế, Thánh Đạo
Tám Ngành (Bát Chánh Đạo) và Thập Nhị Nhân Duyên
v.v...
Pháp học mà Phật
dạy trong Thập Nhị Nhân Duyên là điển hình trích ra thích
hợp cho việc tu hành theo kinh Trí như:
Kinh Chánh Tri Kiến
......
Thọ
Chư Hiền, thế nào là thọ, thế nào là tập khởi của thọ, thế
nào là đoạn diệt của thọ, thế nào là con đường đưa đến đoạn
diệt của thọ? Chư Hiền, có sáu loại thọ này: thọ do nhãn xúc
sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt
xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Từ tập
khởi của xúc, có tập khởi của thọ; từ đoạn diệt của xúc, có
đoạn diệt của thọ; và Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường
đưa đến đoạn diệt của thọ, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh
Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thọ như vậy, tuệ tri
tập khởi của thọ như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thọ như vậy,
tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thọ như vậy, khi ấy,
vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu
pháp này.
Chấm dứt Thọ dẫn đến chấm dứt Ái: Khi sự thọ dụng không có
thì không có yêu ái, thương mến, và ham mong, vân vân...
Chư Hiền, thế nào là ái, thế nào là tập khởi của ái, thế nào
là đoạn diệt của ái, thế nào là con đường đưa đến đoạn diệt
của ái? Chư Hiền, có sáu loại ái này: sắc ái, thanh ái,
hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Từ tập khởi của thọ, có
tập của ái, từ đoạn diệt của thọ, có đoạn diệt của ái, và
Thánh Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của
ái, tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri ái như vậy, tuệ tri
tập khởi của ái như vậy, tuệ tri đoạn diệt của ái như vậy,
tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của ái như vậy, khi ấy,
vị ấy, đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu
pháp.
Chấm dứt Ái dẫn đến chấm dứt Thủ: Do sự yêu ái không sanh
thời sự chiếm hữu hay chấp giữ cũng không do đâu mà sanh
khởi được.
Thủ
Chư Hiền, thế nào là thủ, thế nào là tập khởi của thủ, thế
nào là đoạn diệt của thủ, thế nào là con đường đưa đến đoạn
diệt của thủ? Chư Hiền, có bốn thủ này: dục thủ, kiến thủ,
giới cấm thủ, ngã luận thủ. Từ tập khởi của ái, có tập khởi
của thủ; từ đoạn diệt của ái, có đoạn diệt của thủ; và Thánh
Ðạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của thủ,
tức là: Chánh Tri kiến... Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri thủ như vậy, tuệ tri
tập khởi của thủ như vậy, tuệ tri đoạn diệt của thủ như vậy,
tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thủ như vậy, khi ấy,
vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên và thành tựu diệu pháp
này.
Chấm dứt Thủ dẫn đến chấm dứt Hữu: Do sự chấp giữ không còn,
thời cũng không có cái của ta hay của người.
Hữu
Chư Hiền, thế nào là hữu, thế nào là tập khởi của hữu, thế
nào là đoạn diệt của hữu, thế nào là con đường đưa đến đoạn
diệt của hữu? Chư Hiền, có ba hữu này: dục hữu, sắc hữu, vô
sắc hữu. Từ tập khởi của thủ, có tập khởi của hữu; từ đoạn
diệt của thủ có đoạn diệt của hữu và Thánh Ðạo Tám Ngành này
là con đường đưa đến đoạn diệt của hữu, tức là: Chánh Tri
kiến... Chánh Ðịnh.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri hữu như vậy, tuệ tri
tập khởi của hữu như vậy, tuệ tri đoạn diệt của hữu như vậy,
tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của hữu như vậy, khi ấy,
vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên... và thành tựu diệu
pháp này.
Chấm dứt Hữu dẫn đến chấm dứt Sanh: Do cái của ta hay của
người không còn, thời không còn tái sanh nữa.
Sanh
Chư Hiền, thế nào là sanh, thế nào là tập khởi của sanh, thế
nào là đoạn diệt của sanh, thế nào là con đường đưa đến đoạn
diệt của sanh? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào trong từng mỗi
loại hữu tình, sự sanh, hiện khởi, xuất hiện, hiện diện,
hiện hành các uẩn, tụ đắc các xứ; Chư Hiền, như vậy gọi là
sanh. Từ sự tập khởi của hữu có sự tập khởi của sanh, từ sự
đoạn diệt của hữu, có sự đoạn diệt của sanh, và Thánh Ðạo
Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của sanh, tức
là: Chánh Tri kiến... Chánh Ðịnh.
Chấm dứt sanh còn dẫn tới chấm dứt Lão, Tử, Sầu Muộn, Ta
Thán, Đau Khổ, Phiền Não, và Thất Vọng.
......
V.
Pháp Hành
Dùng chơn trí (tuệ tri hay biết rõ ràng) để hành pháp.
-
Tôi biết rõ rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã
vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’
-
Tôi biết rõ rằng “ sự sanh lấy hữu làm nhân,
lấy hữu làm duyên, từ hữu mà sanh,
lấy hữu làm gốc’
-
Tôi biết rõ rằng, “hữu lấy thủ[7]
làm nhân, lấy thủ làm duyên, từ thủ
mà sanh, lấy thủ làm gốc.’ Đức Thế Tôn
khen rằng:
-
Tôi biết rõ rằng, “thủ lấy ái làm nhân,
lấy ái làm duyên, từ ái mà sanh,
lấy ái làm gốc” Tôi biết rõ rằng,“có ba cảm thọ;
cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không lạc không khổ. Ở
trong đó mà ham muốn, đắm trước, đó gọi là ái’.
-
Tôi biết rõ rằ ng, “biết thế nào, thấy thế nào để
đối với ba thọ không ham muốn, đắm trước”
-
Tôi biế t rõ ră ng, “ba thọ này là pháp vô thường pháp
khổ, pháp diệt. Pháp vô thường tức là khổ; thấy khổ rồi liền
không còn ham muốn, đắm trước đối với ba thọ”,
-
Tô i biế t rõ rằ ng, “những gì được cảm thọ, những gì
được tạo tác, thảy đều là khổ
-
Tôi biết rõ rằng,” tôi do bội xả bên trong mà diệt tận
các ái, không kinh hãi, không sợ sệt, không nghi, không hoặc,
thực hành sự thủ hộ như vậy. Thủ hộ như thế rồi không sanh
ra lậu bất thiện’-
-
Tôi biết rõ rằng, “những
kiết sử ấy không tồn tại nơi ta, thực hành sự thủ hộ như vậy;
thủ hộ như thế rồi không còn sanh ra lậu bất thiện nữa’.
-
Tô i biế t rõ răằ ng, dâẫ u cho
có thể trong hai, ba, bốn cho đến bảy ngày bảy đêm với những
lời khác, câu khác mà tôi khẳng định thấy như chơn biết như
thật theo ý nghĩa ấy’.
vậy. Tê
-
Tôi biết rõ rằng,
“Nghĩa
ấy.
là sự
thấu đạt sâu xa về pháp giới
n của sự vật khi nói chung cả lý lẫn sự; là chân lý tuyệt
đối hay chân như pháp tính là nhân,”
VI.
Kết Luận
Tham khảo
Chân Như Duyên Khởi. Nguyễn Thế Ðăng. Trích trong website
Chùa Phật Huệ, phần Pháp Học:
:
http://chuaphathue.com/
Ðại Kinh Sáu Xứ. HT. Thích Minh
Châu Việt dich, đăng trên website Qu
ảng Ðức, phần Kinh
Ðiển:
http://www.quangduc.com
ÐạiThừa KhởI Tín Luận. HT Thích Trí Quang dịch giảI, trích
trong website Tạng Thư Phật Học: http://www.tangthuphathoc.net.
Kinh Chánh tri kiến (Sammàditthi sutta). Trung Bộ Kinh (Majjhima
Nikaya). Và Nhất Dạ Hiền Giả.Thích Minh Châu Việt dịch,
đăng trong website Quảng Đúc (Kinh Điển):
Kinh Pháp Môn Căn Bản (Mùlapariyàya sutta). Trung Bộ Kinh (Majjhima
Nikaya). Thích Minh Châu Việt dịch , trích trong website
Quảng Ðức.
:
Kinh Trí (23) thuộc Kinh Trung A-H àm.Việt
dịch Thích Tuệ Sỹ,
trích trong website Quảng Ðức.
Pháp Giới
Duyên Khởi. Hồng Dương Nguyễn văn Hai. Luân Giải Trung Luận:
Tánh Khởi và Duyên Khởi. Nguyệt san Phật học xuất bản - Phật
lịch 2547.
TÐPHVA.Tự Ðiển Phật Học Việt Anh. Thiện Phuc đăng website
Quảng Ðức.
Thập
Nhị Nhân Duyên. Thích Ðức Thắng. Trích trong website Chúa
Phật Huệ, phần Phật Học.