Kinh Tế Phật Giáo
Quán Như Phạm Văn Minh
( Trích : Chuyển Luân Online )
Đây là
Chương thứ ba trong tác phẩm Kinh Tế Phật Giáo của Quán Như Phạm
Văn Minh. Phật Giáo mà cũng có lư thuyết kinh tế?
Đó là một câu hỏi có thể làm cho một số
người băn khoăn, kể cả Phật tử.
Công tŕnh đầy nội lực này có thể đang
muốn trấn an những băn khoăn đó. Trong hai
phần trước tác giả đă giới thiệu
tư tưởng của E. F. Schumacher, người dùng
từ ngữ Kinh Tế Phật Giáo lần đầu tiên
và Tỳ Kheo Payutto, một học giả Tiểu Thừa.
Bài sau đây giới thiệu tư tưởng của
một nhà kinh tế-Phật tử, dùng nguyên tắc căn
bản Đại Thừa để phác họa
nền tảng lư thuyết của Kinh Tế Phật Giáo.
Các chương trước đă được in trong tác
phẩm Phật Giáo Trong Thế Kỷ Mới tập
I và trên Web của Giao Điểm.
Chuyển Luân
Kinh Tế
Phật Giáo theo quan điểm Đại Thừa
Sự sụp đổ của đế quốc Nga và
khối Đông Âu khiến chủ nghĩa tư bản
thành một khuôn mẫu kinh tế và chánh trị duy nhất
‘tượng trưng’ cho dân chủ và thịnh vượng
của cả thế giới. Trong tác phẩm The End of
History,
Khi được thố lộ là đang nghiên cứu
về kinh tế Phật Giáo, một người bạn
thân nh́n tôi một lúc lâu, rồi nói: “Như vậy
đề tài chắc giới hạn lắm!’ Giới
hạn? Ngoài chuyện trở lại lục lạo giáo lư căn
bản của Phật Giáo xem có nguyên lư nào hổ trợ cho
ư niệm kinh tế, tôi c̣n phải theo dơi xem Đức
Phật có đề cập ǵ đến sinh hoạt kinh
tế hay không. Khi theo dơi những hậu quả của kinh
tế thị trường, tôi c̣n phải đi t́m hiều
lập trường của Phật Giáo về các vấn
đề môi sinh, nhất là đối với việc khai
thác tài nguyên không tái tạo, thái độ đối
với sự nghèo khổ (và những chế độ chinh
trị đưa đến nghèo khổ), đối
với chủ trương tiêu thụ hàng hóa thả
cửa, đối với công ăn việc làm, vai tṛ
của từ bi trong các hoạt động thương măi
và cuối cùng đến một câu hỏi tối hậu
mà mọi tôn giáo đếu muốn có câu trả lời: ư
nghĩa của đời sống là ǵ? Tại sao con
người tiếp tục trầm luân trong biển
khổ và làm cách nào để qua bên kia bờ hạnh phúc.
Không những đề tài không bị giới hạn mà càng
ngày tôi càng bị lôi cuốn vào nhiều lĩnh vực khác
nhau, từ kinh tế, chính trị, tâm lư, đạo
đức và siêu h́nh! Tôi có một người bạn
đang nghiên cứu về đề tài kinh tế Phật
Giáo để tŕnh luận án tiến sĩ ở
Đại Học Miền Tây Sydney (UWS). Có lần anh nói:
‘Tôi sẽ đưa ra một mô thức để thay
đổi tận cùng nền tảng đạo
đức Tây Phương”. Lúc đó tôi bán tín bán nghi,
chỉ chúc tụng xă giao: ‘Good luck!’
Có một đường lối “thứ ba” nào có
thể làm kinh tế phát triển mà không làm tổn hại
đến địa cầu và giúp mọi người cùng
hưởng những thành quả kinh tế không? Và ngay
cả khi con người hưởng thụ tràn trề
mọi tiện nghi vất chất, con người có
đạt đến “hạnh phúc” không? Con
đường “trung đạo” của Đạo
Phật có thể đóng góp được ǵ?
Không phải đợi tới
khi Schumacher nhắc nhở kinh tế phải phục
vụ con người, “as if People mattered”. “As if”
là một ước mơ, là một lời kêu
cứu! Kinh tế càng ngày càng trở nên chuyên biệt
hóa và có tham vọng trở thành một ‘khoa học’ của
những “con số”. Con người đột nhiên
biến mất và ‘people don’t matter any more’! Kể từ khi
giải Nobel kinh tế được Hội Hàn Lâm
Thụy Điển đề nghị từ năm 1968, các
kinh tế gia Mỹ (hay có quốc tịch Mỹ) khống
chế số người được giải. Cho
đến năm 1996 có 24 kinh tế gia Mỹ trong số 40
người nhận giải Nobel và phần lớn chuyên
về kinh toán (Econometrics). Các nhà kinh tế này thường
đề nghị những công thức toán học
để tiên đoán các mô thức phát triển.
Ngược lại các nhà kinh tế Âu Châu có cái nh́n dịu
dàng hơn với con người. Sir John Hicks (đọat
giải Nobel năm 1972) cho thấy trong hàng ngũ của
các kinh tế gia Âu Châu đă có những dấu hiệu
“bất tín nhiệm” các mô thức dựa trên kinh toán và xem
kinh tế không thể nào hoàn toàn là một môn khoa học
“phổ quát” “hợp lư” thường được
gọi là ‘economic rationalism’. Joseph E. Stiglitz, người
được giải Nobel 2001, phó giám đốc Ngân Hàng
Thế Giới (World Bank) đă chỉ trích những
biện pháp cứng nhắc sai lầm của Quỹ
Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và Amartya Sen, người
được giải Nobel năm 1998, đă đưa ra
một con đường “thứ ba”, vừa giúp các
nước thuộc “thế giới thứ ba” phát
triển, vừa bảo vệ kinh tế và văn hoá
địa phương, cũng như thực hiện
một chánh sách phân phối tài sản quốc gia một
cách công bằng hơn. Quan điểm của hai kinh tế
gia trên rất quan trọng bởi họ là những
người chủ trương ‘chủ nghĩa xét lại’
về kinh tế.
Nổ lực dùng đạo
đức để hướng dẫn đường
lối phát triển kinh tế không phải chỉ mới
xuất hiện gần đây, ngay chính “cha đẻ’
của nền kinh tế tự do, Adam Smith (1723-1790) cũng
đă đặt vấn đề này. Trong khi tác phẩm The
Wealth of Nations được khai thác một cách tận
t́nh và được xem như là thánh kinh, tác phẩm The
Theory of Moral Sentiments của Smith, đặt vấn
đề liên hệ giữa tư lợi và đạo
đức, bị các nhà kinh tế cố t́nh bỏ quên.
Trong khi The Wealth of Nations cổ vơ cho một
nền kinh tế bất can thiệp (Laissez-faire) và cho
rằng tham lam và tư lợi là “bản chất” của
con người và là động cơ chính yếu thúc đẩy
các hoạt động kinh tế. Kinh tế bất can
thiệp sẽ tạo sự giàu có cá nhân và do đó
đưa đến sự giàu có quốc gia. Giả
thuyết như “bàn tay vô h́nh” hướng dẫn thị
trường của Smith đă bị thách đố và
hiện nguyên h́nh là những ‘giả thuyết’, những
‘tiền đề’, cũng giống như tiền
đề “ai cũng có Phật Tính” hay ‘nhân chi sơ tánh
bản thiện” của Mạnh Tử. Vào cuối
đời, khi cuộc cách mạng kỹ nghệ lên
tới mức cao điểm, chính Smith đă chứng
kiến bộ mặt trái của nên kinh tế tự do: các
nông dân Anh bỏ nông thôn ra thành thị t́m việc làm
nhưng thay v́ hưởng được thành quả
của cuộc cách mạng kỹ nghệ, họ trở
thành công nhân vô sản ở các thành phố lớn. Từ
‘bần nông dân’ qua ‘bần công nhân’, họ sống một
cuộc đời lầm than, vất vưởng không
gốc không rễ. Chính sự bần cùng do cuộc cách
mạng kỹ nghệ gây ra đă biến thành một
mảnh đất mầu mỡ cho sự phát triển
của chủ nghĩa Mác và sự h́nh thành chế
độ Cộng Sản. Các kinh tế gia Anh sau đó ít
người c̣n tin vào “bàn tay vô h́nh” của Smith, như J.S
Mills (1806-1873), Alfred Marshall (1842-1924) và nổi tiếng
nhất là J.M. Keynes (1883-1946), đều nghiêng về sự
can thiệp của chánh phủ trong trường hợp
cần thiết để ngăn chận những hậu
quả thái quá của Kinh Tế Thị Trường.
Nhà kinh tế Anh Joan Robinson
(1903-1983) nửa thật nửa đùa nói là mọi
người nên học kinh tế, không phải để
t́m một giải pháp nào, nhưng để khỏi bị
các huyền thoại kinh tế đánh lừa. Cũng
như nhiều môn tự nhận “khoa học’ khác, môn kinh
tế có nhiều “huyền thoại” cần
được “giải hoặc”. Thí dụ như huyền
thoại ḷng tham lam là ‘bản tính con người’, tư
lợi cá nhân là động lực chính thúc đẩy các
hoạt động kinh tế và “bàn tay vô h́nh” sẽ tự
động điều hợp các hoạt động kinh
tế. Từ lúc Thatcher- Reagan nắm chính quyền, các
quốc gia đang phát triển đă được
“khuyến khích”, “thúc đẩy” và nếu cần “ép
buộc” các quốc gia này ‘hồ hỡi’ chấp nhận
mô thức phát triển Tây Phương. Ở đâu
người ta cũng nghe ‘kinh tế thị trường,
please, please!’ kể cả những quốc gia có quốc
hiệu là ‘xă hội chủ nghĩa’.
Shinichi Inuoe, một
người lănh đạo ngành tài chánh và ngân hàng của
Nhật, đă dùng tư tưởng của đạo
Phật để nghiên cứu là cổ động cho
một nền kinh tế không (hay ít ra cũng bớt) tàn
hại môi sinh. Sau khi tốt nghiệp ngành kinh tế
tại đại học
Sự tương phản
giữa một khoa học công khai ca ngợi “Greed is Good”,
cổ động cho ḷng ham muốn tiêu thụ và vinh danh
luật “chọn lựa tự nhiên về phương
diện xă hội”, mạnh được yếu thua, và
một tôn giáo chủ trương giảm thiểu ham
muốn và lấy từ bi làm căn bản đạo
đức đă quá rơ ràng! Sau nhiều năm thảo
luận với các lănh tụ doanh nghiệp và công nhân, Inoue
đă hoàn thành hai tác phẩm Buddhist Business Management
được phát hành vào năm 1987 và Economics To Save the
Earth, phát hành vào năm 1994. Hai tác phẩm trên
được tổng hợp và dịch ra Anh Ngữ
với nhan đề Putting Buddhism To Work do nhà
xuất bản Kodansha xuất bản vào năm 1997. Như
nhan đề cho thấy Inoue không chú tâm bàn luận
đến những vấn đề lư thuyết như
Schumacher, nhưng đề cập đến yếu tính
của một nền kinh tế Phật Giáo cũng như
những ǵ đă được ứng dụng và thực
hiện tại Nhật, một nước Á Châu có thành
quả về kinh tế không thua bất cứ một
nước Tây Phương nào.
Theo Inoue, Nhật là một
quốc gia thích hợp nhất để t́m một mô
thức “mới” về phát triển kinh tế thị
trường, dựa trên những giá trị đạo
đức truyền thống, nhất là Phật Giáo.
Cuộc đời của Đức Phật là một thí
dụ điển h́nh để suy nghĩ về mô
thức kinh tế. Đức Phật đă từ bỏ
những tiện nghi vật chất trong cung vàng để
đi t́m một giải đáp cho nhu cầu tâm linh. Sau
nhiều năm học hỏi nhiều cách tu tập khác
nhau, Phật nhận thấy rằng con đường
khổ tu cũng cực đoan như con hưởng
hưởng thụ vật chất. Phật Giáo không bao
giờ nên được hiểu như một tôn giáo
phủ nhận kiếp nhân sinh hay chỉ dành cho những
người tu tập trong hang thâm cùng cốc hay quay lưng
lại với cuộc đời. Trong khi thế hệ
đệ tử sống gần Phật thời Ngài c̣n
tại thế có thái độ bảo thủ và xa cách
với quần chúng, các tân tăng trong các phái Đại
Thừa hiểu rơ về bài học của cuộc
đời của Đức Phật. Nếu muốn
từ bỏ cuộc đời, Đức Phật đâu
có bỏ ra 49 năm truyền bá giáo pháp. Đối với
các Phật tử Đại Thừa, Phật Giáo là con
đường Phật Giáo Nhập Thế của các
vị Bồ Tát. Nói nhập thế là nói gượng ép, v́
nói cho rốt cùng, Phật Giáo nào mà chẳng nhập
thế, như chữ của Hoàng Nguyên Nhuận dùng trong
bài phê b́nh tác phẩm Phật Giáo Nhập Thế của
tôi.
Một trong những
người thấm nhuần Phật Giáo trong hoàng gia
Nhật là Thái Tử Shotoku (574-622) và là một trong những
người thảo Hiến Pháp Thập Thất
Điều của Nhật, trong đó phản ảnh
đậm đà tư tưởng Phật Giáo. Hiến
pháp Nhật cổ động sự hoà hợp và
tương nhượng giữa các tôn giáo (giữa
Thần Đạo và Phật Giáo). Một dấu ấn
quan trọng khác trong hiến pháp Thất Thập
Điều là việc đặt trọng tâm vào sự an
sinh của dân chúng, nhất là những người nghèo.
Trong thời kỳ này các tự viện Phật Giáo
Nhật thường dựa vào sự cúng dường
của giai cấp thương gia. Có thể v́ muốn
đề cao vai tṛ của giới doanhnghiệp, quan
niệm về quyền sở hữu, tài sản và tiền
bạc của giới sa môn cũng rộng răi hơn so
với Phật Giáo Tiểu Thừa. Trong thời đại
Sứ Quân - Tokugawa (1600-1868) Nhật bắt đầu
bước vào một thời đại phồn thịnh
về kinh tế và hệ thống tiền tệ đă
bắt đầu có cơ sở vững chăi. Một nhà
nghiên cứu về nước Nhật, Edwin O. Reischauer
(1910-1990) nhận xét đây là giai đoạn nước
Nhật phát triển một chủ nghĩa “tư bản”
cho riêng ḿnh. Một nhà nghiên cứu khác, Robert Bellah, cho
rằng thời kỳ phát triển kinh tế này ở
Nhật tương đương với thời kỳ
phát triển kinh tế tư bản ở Tây Phương,
dưới ảnh hưởng của đạo Tin
Lành.
Một trong những nhà sư có
ảnh hưởng đến chủ nghĩa “tư
bản” quốc gia Nhật là Suzuki Shasan ((1579-1655). Nhà sư
này cho rằng dù làm một công việc ǵ, cá nhân đó
đều đáng tôn trọng v́ họ đang hành tŕ
một pháp môn trên con đường giác ngộ. Shasan
thường nhắc nhở đến pháp thoại sau:
“Những người nào đang hoạt động kinh
tế sẽ được tưởng thưởng
xứng đáng cho những cố gắng của họ,
bởi v́ những công việc này cũng là một cách
thực tập tâm linh”. Ông khuyến khích các thương gia
suy nghĩ về những giá trị tâm linh, nên thành thật
trong các hoạt động thương măi, và phát tâm
bồ-đề, hành sử như các vị Bồ Tát, lúc
nào cũng lo lắng đến an sinh của người
khác. Quan niệm này cũng tương tự như quan niệm
của Schumacher về công việc làm. Công ăn việc làm
không những đem lại lợi tức cần thiết
để sinh sống, mà c̣n là thực phẩm nuôi
dưỡng tâm linh. Do đó một thương gia chân chính
không những xứng đáng có một đời sống
vật chất dồi dào, họ c̣n có cơ hội tu
tập. Tư tưởng này cũng rất gần gũi
với quan niệm của Weber về sự liên hệ
giữa giá trị đạo đức Tin Lành và quá tŕnh
phát triển kinh tế Tư Bản ở Tây Phương.
Trái với những ngộ nhận thông thường,
Phật Giáo không bao giờ cổ động cho sự nghèo
khổ, nhất là sự nghèo khổ đó do một cơ
cấu chánh trị và xă hội bất công gây ra. Thành
quả vật chất và một đời sống sung túc
không có ǵ sai trái nếu như tài sản kiếm
được một cách chính đáng, như cần
kiệm, khả năng cao và nhiều sáng kiến. Tuy nhiên
một trong những hạnh nguyện của Bồ Tát là
Bố Thí, nghĩa là sử dụng tài sản một cách
hợp lư và rộng răi. Bủn xỉn mới là
điều đáng trách v́ chứng tỏ người này
c̣n chấp ngă và lúc nào cũng khư khư giữ chặt
tài sản. Đạo đức Tin Lành biện chính cho
sự giàu sang trong xă hội tư bản bằng cách cho
rằng sự thành công về mặt vật chất
phản ảnh ân sủng trực tiếp của Thiên Chúa.
Điểm khác nhau giữa hai bên là, trong khi Phật Giáo
khuyến khích các tín đồ tiết dục, Tin Lành
khuyến khích tín đồ tích lũy tài sản. Càng giàu
chừng nào chứng tỏ càng được nhiều ân sũng
của Thiên Chúa chừng đó. Ḷng tham không những không
đáy mà c̣n biểu lộ quyết tâm hợp nhất
với Chúa!
Một khuôn mặt khác đóng góp
nhiều cho chủ nghĩa “Tư Bản” quốc gia
Nhật là Rennyo (1415-1499). Ông là đệ nhị tổ
của phái Tịnh Độ, Jodo Shinshu. Nhà sư này đă
khuyên các thương gia: “Khi hoạt động
thương măi, nên xem công việc của ḿnh như là công
việc hoằng hoá của Phật”. Các thương gia
khắp nước Nhật trân trọng lời khuyên này,
nhất là ở hai khu vực Ohmi (Shiga) và
Những Kinh
Nghiệm Về Kinh Tế Tư Bản Ở Nhật
Kinh tế Nhật phát triển
từ thời đại Tokugawa và mặc dù cần
nhiều tư bản và nhiên liệu để sản
xuất, nhưng đó là một mô thức kinh tế “tái
chế biến” và tránh làm ô nhiễm môi sinh, khác với nên
kinh tế hiện đại của Nhật.
Đây là triều đại vơ
sĩ đạo sứ quân, kinh đô được
đặt ở
Đến thời Minh Trị
(1868-1912) Thần Đạo bắt đầu thắng
thế và vai tṛ của Phật Giáo bắt đầu lu
mờ. Các tư tưởng Tây Phương cũng bắt
đầu du nhập vào Nhật. Trong giai đoạn này
một người được xem như là nhân vật
đóng góp rất nhiều vào kinh tế tư bản
Nhật hiện đại, Eiichi Shibusawa (1840-1931). Gốc
nông dân, nhưng sau ông cố gắng vươn lên một
địa vị chính yếu trong chánh quyền, Shibusawa tin
tưởng rằng thương mại và đạo đức
phải song hành. Một nhân vật khác, Zenjiro Yasuda (1838-1921)
đă thành lập một ngân hàng tư nhân lớn nhất
ở Nhật, The Fuji Bank. Ông là một tín đồ
thuần thành của phái Tịnh Độ và bắt
đầu sự nghiệp với nghề đổi
tiền. Không như những ngân hàng lớn khác thường
đối xử với khách hàng tuỳ theo địa
vị xă hội, Yasuda đối xử với mọi
người hoàn toàn như nhau. Đối với các tín
đồ trong phái Tịnh Độ, mọi người
đều tuyệt đối b́nh đẵng dưới
mắt của Phật A Di Dà. Châm ngôn của ngân hàng của
ông là “khi hoạt động thương mại, phải
biết quên ḿnh và đặt ḿnh vào địa vị
của khách hàng”. Ông tặng nhiều số tiền
lớn cho các Hội Từ Thiện nhưng không cho ai
biết tông tích. Đến khi ông mất, mọi
người mới biết ông đă giúp đỡ cho
nhiều hội từ thiện. Đối với Phật
Tử, làm việc thiện là một cách thực tập
hạnh bố thí, không phải là một cách khoe khoang.
Người kế thừa Yasuda là Kichizaemon Takemura
(1900-1984), tiếp tục xây dựng công ty bảo hiểm
Yasuda Mutual Life Insurance và tiếp tục cổ động
nhũng ư tưởng Phật Giáo trong các hoạt
động kinh tế. Ông xuất bản tập san Kokoro no
Kate (Thực Phẩm Tâm Linh) và thành lập tổ chức
Hoằng Hoá Phật Giáo (Bukkyo Shinko
Zaidan).
Những Nguyên
Tắc Nền Tảng Của Kinh Tế Phật Giáo
Không như Tỳ kheo Payutto
dùng kinh điển để giải thích các ư niệm kinh
tế, Inoue dùng một số nguyên tắc căn bản
của Phật Giáo Đại Thừa để thành h́nh
một mô thức kinh tế mà trọng tâm là phục vụ
con người, hay nói như E.F. Schumacher, People Matter.
Kinh tế hiện đại sa lầy vào con
đường định lượng và cố gắng
chứng tỏ tự thân là một loại khoa học không
bị ràng buộc vào một giá trị nào. Nguyên tắc
đầu tiên Đại Thừa dựa trên lời
nguyện của Bồ Tát. Bồ Tát từ chối theo con
đường Độc Giác Phật, quyết ở
lại cơi ta bà để cứu độ tất cả
chúng sinh. Nguyên tắc kinh tế đầu tiên do đó là
‘lợi ḿnh và lợi người’, như một ngạn ngữ
Tây Phương- Live and Let Live. Kinh tế thị
trường chỉ thúc đẩy con người nhắm
mắt chạy theo tư lợi và làm tất cả mọi
cách để đạt đến mục đích này.
Đó là một thứ luật rừng về mặt xă
hội, như luật chủng loại mạnh sống
yếu chết trong thuyết tiến hoá của
Nhiều người nghĩ
ḷng vị tha- bố thí (hiểu như hạnh Bồ tát)
có thể giúp cá nhân trong việc tu nhân tích đức
để kiếp sau được tái sinh vào một giai
tầng ‘khá’ hơn, nhưng không đóng một vai tṛ tích
cực nào trong hoạt động kinh tế. Inoue dẫn
chứng trường hợp của Henry Ford (1853-1947), nhà
sản xuất xe hơi lớn nhất ở Mỹ. Các
quản lư doanh nghiệp thông thường t́m cách giảm
sở phí nhân công càng nhiều càng tốt và trong
trường hợp của kinh tế toàn cầu, dùng nhân công
ở các nước nghèo với tiền lương rẻ
mạt. Tuy nhiên Ford nhận thấy rằng hàng sản
xuất phải có người tiêu thụ, nên trả
lương nhân công ở mức khá cao để họ có
đủ lợi tức để mua xe và đồng
thời t́m cách kiện toàn kỹ thuật sản xuất
hàng loạt để hạ giá thành của xe hơi ở
mức tối thiểu. Inoue cũng đưa ra một thí
dụ khác liên hệ đến một nhà kỹ nghệ
Nhật, Tadao Yoshida (1908-), chủ nhân kỹ nghệ sản
xuất dây kéo - zipper. Ông ta vừa cố gắng giữ giá
thành ở một mức hợp lư để cho có nhiều
người tiêu thụ và đồng thời dùng tiền
lời đầu tư vào việc nghiên cứu để
hoàn thiện kỹ thuật sản xuất zipper và công ty
của ông hiện nay trờ thành một công ty đứng
hàng đầu thế giới về ngành này.
Cũng như Schumacher, Inoue
nhận ra đặc tính thứ hai của kinh tế
Phật Giáo là độ lượng và hoà b́nh. Các
nước theo Phật Giáo có thể liên hệ đến
các cuộc chiến tranh v́ những lư do khác nhau nhưng
chưa bao giờ nhân danh Phật Giáo để để
dấn thân hay tham dự vào một cuộc ‘thánh chiến’.
Giới sát là giới quan trọng đứng hàng
đầu trong các giới cấm và nếu giải thích
trong hoàn cảnh hiện đại, người Phật
Tử không những không trực tiếp sát nhân, mà cũng
không được cổ vơ hay ủng hộ một cơ
cấu chính trị chủ chiến. Giới sát này đă là
nguồn cảm hứng cho Gandhi khởi xướng nguyên
tắc bất bạo động. Một trong những
Phật Tử thi hành chánh sách độ lượng và hoà
b́nh là Asoka, một h́nh ảnh đúng nhất của ẩn
dụ đồ tể buông dao thành Phật. Sau khi gây ra
cảnh máu sông xương núi, Asoka cố gắng xây
dựng một nền kinh tế và chính trị trong đó
mọi người có đủ ăn đủ mặc.
Vị hoàng đế này thừa biết rằng bần
cùng sinh đạo tặc, chính sự nghèo đói đă gây
ra những bất ổn xă hội. Ông cũng tạo ra
những chế độ an sinh xă hội cần thiết,
đi trước chế độ an sinh Tây Phương
gần 20 thế kỷ.
Trong quá khứ có nhiều Phật
Tử Nhật kêu gọi chánh phủ không nên giao dịch
với những quốc gia sản xuất và buôn bán vơ khí.
Tuy nhiên những lời kêu gọi này chỉ là những
tiếng kêu lẻ loi không thực tế, nhất là trong hai
thế chiến vừa qua, các chánh phủ quân phiệt
Nhật xếp hàng với các chế độ trong
trục Quốc Xă và cũng trong hai cuộc thế
chiến, có nhiều nhà sư Nhật đă dùng kỹ
thuật thiền định để huấn luyện có
các vơ sĩ đạo và quân nhân, tuy nhiên điều này không
có nghĩa là những nguyên tắc bất bạo
động không c̣n áp dụng được nữa. Trong
lịch sử Nhật có nhiều vị hoàng đế
‘phản chiến’ như Kammu (781-806). Mặc dù bị
Đại Hàn đe dọa trên mạn Bắc, vị hoàng
đế này đă cố gắng hành động theo
những nguyên lư đạo đức Phật Giáo. Ông
giải tán quân đội Nhật và chỉ giữ lại
một quân đoàn pḥng vệ biên giới
Nhật-Đại Hàn. Các lănh chúa địa phương
chỉ được quyền tổ chức một
đạo quân kiểu ‘nhân dân tự vệ’, đóng vai tṛ
cảnh sát ngày nay. Trên thực tế Nhật không có một
quân đội chánh thức nào cho đến thời
đại
Một Nền
Kinh Tế Cứu Văn Địa Cầu
Như Weber chứng minh,
giữa kinh tế tư bản và đạo đức Tin
Lành có một mối liên hệ mật thiết. Thần
học Ky-Tô Giáo nói chung tạo ra một lối suy nghĩ
và lối sống của người Tây Phương. Nói
một cách khác, văn hóa Tây Phương tất nhiên
đưa đến kinh tế tư bản. Và theo
Schumacher những quốc gia thấm nhuần văn hóa
Phật Giáo lẽ ra có thể thực hành mô thức kinh
tế Phật Giáo. Mơ ước viễn vông?
Schumacher tin là điều này có
thể thực hiện được. Nếu đạo
đức Tin Lành làm sản sinh ra kinh tế tiêu thụ,
văn hoá Phật Giáo (lẽ ra) phải phát sinh ra một nền
kinh tế Phật Giáo. Nhưng Bụt nhà không thiêng! Chính
quyền các quốc gia Đông Nam Á đang phát triển ‘trân
trọng’ mời các ‘cố vấn’ Tây Phương
để lập ra những kế hoạch vĩ
đại 5 năm hay 10 năm, và hăm hở chấp
nhận kinh tế thị trường. Không ai chịu
chậm chân v́ không ai muốn trễ chuyến tầu
lịch sử!
Thần học Ky-Tô xem con
người là trung tâm (anthropocentrism). Con người là
“sản phẩm” của Thượng Đế nên
chiếm một địa vị tối thượng và
địa cầu là trung tâm vũ trụ. Ai nói
ngược lại là lên giàn hỏa! Vào năm 1989 tạp
chí Time, thay v́ chọn một nhân vật xuất sắc
nhất trong năm, đă chọn địa cầu là Planet
of the Year. Đó là những năm mà khối Xă Hội
Chủ Nghĩa đang sụp đổ và chủ
trương tự do mậu dịch và toàn cầu hóa
của Thatcher và Reagan trở thành “vô địch”. Khủng
hoảng môi sinh lên đến mức trầm trọng và
viễn ảnh của mối đe dọa đối
với bầu khí quyển - greenhouse effects, có thể
đưa địa cầu đến chỗ hủy
diệt. Một trong những bài viết do một
Thượng Nghị Sĩ Mỹ, cho là việc diễn
dịch một đoạn trong Thánh Kinh một cách cứng
nhắc có thể là một trong những lư do đưa
đến chính sách kinh tế hủy diệt các chủng
loại trên mặt địa cầu một cách không
thương tiếc. Đó là đoạn 1:27-28 trong sách Sáng
Thế Kư, Genesis: “Thượng Đế tạo
người
Dĩ nhiên đoạn này có
thể chú giải nhiều cách, nhưng có nhiều
người hiểu một cách chắc nịch là
Thượng Đế đă bật đèn xanh cho con
người thống trị và tàn sát những sinh vật
khác.
Phật Giáo trái lại không xem con
người là quan trọng nhất mà chỉ là một cơi
trong lục đạo, dù Đức Phật nhiều
lần nhắc các đệ tử việc được
sinh vào kiếp người là một điều may
mắn, v́ chỉ có con người mới có nhiều
cơ hội nghe Chánh Pháp và do đó có nhiều cơ duyên
để giải thoát. Khi nh́n nhận tất cả chúng
sinh, đất đá, cỏ cây, vi sinh vật và muôn thú,
đều có Phật Tính, tức là một h́nh thức
chấp nhận sự b́nh đẵng tuyệt đối
giữa mọi chủng loại.
Nguyên tắc thứ hai, nguyên
tắc quan trọng nhất trong kho tàng kinh điển,
thường hay gọi là Lư Duyên Khởi. Không có một
chủng loại nào có thể tồn tại biệt
lập, cái này sống nhờ cái kia, trong chuỗi nhân duyên
trùng trùng không đầu không cuối. Ẩn dụ xâu
chuỗi Đế Thích, hạt chuỗi này phản ảnh
hột chuỗi khác, không làm ǵ có một xâu chuỗi chỉ
có một hột. Có một là có tất cả, từ
một hạt bụi, cho đến tam thiên đại
thiên thế giới. Lư thuyết này trong một chừng
mực nào đó đă được hai khoa sinh học và
vũ trụ học hổ trợ. Nhỏ nhất là
genomes, lớn nhất là vũ trụ- có thể có những
vũ trụ song hành - ngoài vũ trụ- mà các nhà thiên
văn vẫn chưa khám phá ra. Như Nguyễn Công Trứ
nói: ‘nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài’ hay như
Trần Thái Tông ‘Có th́ có tự mảy may. Không th́ cả
thế gian này cũng không’.
Trong b́nh diện kinh tế,
việc khai thác tài nguyên không tái tạo như than đá,
quặng mỏ và dầu lửa sẽ gây ra những
tổn hại không thể cứu chữa được
đối với địa cầu. Rừng cây bị phá
hủy (chỉ để làm gỗ vụn hay đũa
gỗ!) một cách thô bạo khiến bao nhiêu chủng
loại sinh vật không c̣n đất sống và bị
diệt chủng dần dần. Đâu khác nào chúng ta gây ra
trận chiến tranh diệt chủng! Thần học Ky-Tô
chỉ để ư đến con người nên không
thấy việc tận diệt các chủng loại sinh
vật khác là ‘tàn ác’, nhưng dưới con mắt của
Phật Tử th́ có khác. Hạt bụi nào hóa kiếp thân
tôi! Làm sao em biết bia đá không đau? Phật Giáo
Đại Thừa, nhất là Thiền, nhấn mạnh
tới thể giới hiện tiền - ở đây và
bây giờ. Khai thác các tài nguyên không tái tạo và
nhất là xài tài nguyên một cách phung phí là một cách
tự hủy diệt quê hương hiện tiền duy
nhất của tất cả ‘chúng sinh’. Thay v́ chờ
đến ‘kiếp sau’, chúng ta nên xem địa cầu
như là quê hương duy nhất ở đây bây
ǵờ và xem hành động hủy hoại sinh vật
và tài nguyên như chuyện một đứa con hư, châm
lửa đốt nhà của cha mẹ ḿnh. Chặt cây
cũng phải được xem như là hành động
phạm giới sát. Các nhà Sư ở Thái Lan chống
đối việc chánh phủ hủy hoại rừng
một cách vô trách nhiệm, đă làm lễ qui y cho các
cội cây lớn. Dân Thái Lan phần lớn theo đạo
Phật nên các phu đẵn gỗ ngần ngại khi ra tay
sát thủ, dù là sát thủ một cội cây. Bất cứ
môn phái nào trong Phật Giáo đều đồng ư với
nguyên lư trùng trùng duyên khởi. Một tượng Phật
vĩ đại được xây ở đền Todaiji
ở
Một Nền
Kinh Tế Giản Dị
Động lực của kinh tế thị
trường là tư lợi và tích lũy tài sản. Thay v́
là một phương tiện, tài sản biến thành
mục đích chính của đời người.
Đạo đức Tin Lành cho là sự thành công về
vật chất là một biểu hiện cho ân sủng
trực tiếp từ Thượng Đế, không qua trung
gian của bất cứ giáo hội nào. Dần dần tích
lũy tài sản trở thành mục tiêu tối hậu
của các hoạt động kinh tế. Tây phương
nghĩ là “tiến bộ” khoa học, kỹ thuật, kinh
tế làm đời sống con người càng thoải
mái và hạnh phúc. Với những sự tiến bộ
vượt bực về kỹ thuật và mức sống
kinh tế được nâng cao như chưa hề có
như hiện nay, con người lẽ ra có rất
nhiều hạnh phúc! Dùng chỉ số chánh trị, xă
hội, mức sống, văn hóa và tâm lư để thăm
ḍ, nước Mỹ là nước giàu có nhất nhưng
dân Mỹ không cảm thấy hạnh phúc nhất. Các
nước Phi Châu là những nước ít hạnh phúc
nhất v́ chỉ số kinh tế quá thấp và thể
chế chánh trị vừa bất ổn vừa độc
tài (nghèo đói nhất nhưng chiến tranh vẫn xảy
ra thường xuyên nhất). Mười trong những
nước mà dân chúng cảm thấy hạnh phúc nhất là
các nước Bắc Âu. Các quốc gia này có chế
độ chính trị dân chủ, ổn định và
cởi mở, chỉ số kinh tế dù không đứng
hàng đầu (dù không nước nào trong G7 hay G8) nhưng
dân chúng cảm thấy hạnh phúc hơn v́ nhờ vào
chỉ số xă hội tuyệt hảo: lợi tức
được phân phối hợp lư hơn ở Bắc
Mỹ và Tây Âu chế độ an sinh rộng răi và thuế
khóa công b́nh. Đây mới là những quốc gia theo Xă
Hội Chủ Nghĩa thứ thiệt!
Phật Giáo thường bị
hiểu lầm cổ động cho sự nghèo khổ qua
lư thuyết nghiệp báo. Ôn Như Hầu Nguyễn Gia
Thiều đă từng thú nhận “cái quay bún sẵn trên
trời”, “vẻ chi ăn uống sự thường”
cũng đă được ‘Trời’ định sẵn,
huống chi là chuyện giàu hay nghèo, sang hay hèn, thành công hay
thất bại! Cách giải thích Nghiệp Báo kiểu
mấy ông thầy cúng thầy tụng, “học đă sôi
cơm nhưng chửa chín”, gây ra những ngộ nhận
về sự u ĺ của Phật Giáo. Nghiệp không bao giờ
nên được hiểu như “tiền định
tất yếu” hay chấp nhận một lối sống
an phận, thụ động. Nghiệp phải
được hiểu như là sự tự do lựa
chọn để chuyển đổi hướng đi
của đời ḿnh. Nếu chấp nhận một
lối sống thụ động ‘trời cho bao nhiêu
ăn bấy nhiêu’ th́ làm sao chuyển nghiệp? Nếu
chỉ ngồi chờ sung rụng làm sao có chuyện ‘ai giàu
ba họ, ai khó ba đời’. Ambedkar, người đă
đứng ra cải đạo cho hàng triệu tiện dân
–Intouchables, ở Ấn, quyết liệt chống
đối thái độ dùng nghiệp báo để
biện chính cho các cơ chế xă hội và chánh trị
bất công. Chỉ đổ lỗi cho cái ‘nghiệp báo’
của hàng triệu người Intouchables, theo Ambedkar, là
một thái độ bất công, chẳng khác nào đổ
lỗi cho nạn nhân, thay v́ đi t́m đích danh thủ
phạm. Nền thần học của Bà La Môn Giáo đă
dùng làm nền tảng đạo đức biện chính
cho chế độ đẵng cấp ở Ấn, và
biện hộ cho những cơ chế chính trị đă
kềm giữ bao nhiêu người đời đời
trong kiếp lầm than.
Tuy nhiên Phật Giáo không
đồng hóa sự giàu có và hạnh phúc. Đối
với Phật Giáo mục đích tối hậu của
mỗi người là có một cuộc sống an lạc
(nguyện ngày an lành đêm an lành). Nghèo thường đi
đôi với khổ, nhưng không phải người giàu
nào cũng sung sướng. Một người có
đủ yếu tố để có ‘hạnh phúc’ như
tiền tài, danh vọng, gia đ́nh yên vui như tài tử
Mel Gibson, gần đây thú nhận có lúc ông muốn tự
tử! Gần đây một tạp chí Úc tiết lộ là
tất cả 6 tài tử trong phim tập ăn khách của
Mỹ là phim Friends, không có người nào cảm
thấy hạnh phúc. Yếu tố để có một
cuộc đời hạnh phúc, theo lời Phật dạy,
là biết thiểu dục, tri túc (tri túc tiện túc),
biết lúc dừng lại khi cần phải dừng
lại (tri chỉ nhi hậu hữu định- biết
dừng đúng lúc mới yên ổn) như Nho gia
thường nói, biết nguyên lư vô thường - giàu sang
phú quư như mây nổi, đừng bo bo ôm chặt tài
sản - thân người c̣n như mộng huyễn bào
ảnh huống chi là tài sản. Sau biến cố 1975,
chắc chắn có nhiều người đă có những
kinh nghiệm đau thương này!
Con
đường Trung Đạo của Phật Giáo là con
đường giản dị: không hoang phí mà cũng không
keo kiệt. Phật có lúc dạy cách sử dụng tài
sản cho hàng cư sĩ để có một cuộc
đời an lạc, hạnh phúc. Chi tiêu một phần
lợi tức cho bản thân và gia đ́nh, để dành
một ít pḥng khi trái gió trở trời, bố thí giúp
đỡ những người khác để nuôi
dưỡng tâm từ bi và nhất là đừng thiếu
nợ! (Có ai không có credit cards!) Phật không bao giờ nói
tham lam là một điều tốt, không bao giờ
đề cao tư lợi, cũng không thơ mộng hóa
sự nghèo khổ. Hạnh phúc chỉ nửa vời nếu
chúng ta quên lăng con đường tu tập tâm linh. Đó là
một lối sống với những nhu cầu
đơn giản trong một nền kinh tế giản
dị. Nền kinh tế giản dị là nền tảng
của xă hội an lạc. Không c̣n ai lo dành giựt hay t́m
cách cướp đoạt tài sản của người
khác. Không quốc gia nào t́m cách khống chế và dành
giật tài nguyên của các quốc gia khác. Nghĩa là không có
chiến tranh. Một nền kinh tế giản dị là
một nền kinh tế ḥa b́nh. Một đời sống
giản dị là một cuộc đời an lạc.
Hiện nay ai cũng thấy, dù có che đậy bằng
những danh từ hoa mỹ như thế nào, mục tiêu
chính của cuộc chiến tranh ở Trung Đông và Iraq
hiện nay là cuộc chiến tranh dành tài nguyên, nhất là
dầu hỏa.
Sự tương phản giữa
kinh tế Phật Giáo và kinh tế tiêu thụ quá rơ ràng. Kinh
tế tiêu thụ kích thích ḷng tham lam. Chúng ta hiện nay
bị choáng ngợp bởi những h́nh thức quảng
cáo, xem tiêu thụ đồng nghĩa với hạnh phúc,
trong khi kinh tế Phật Giáo nhằm tạo hoàn cảnh
giúp con người an lạc và hạnh phúc. Định
nghĩa hạnh phúc thường bị ảnh
hưởng bởi những yếu tố chủ quan,
nhất là tùy thuộc vào một triết lư sống riêng
của mỗi người.
Không có một hệ thống
kinh tế nào không bao hàm một hệ thống giá trị.
Chúng ta cần giải hoặc huyền thoại xem kinh
tế là một thứ khoa học khách quan bất chấp
giá trị luân đạo -value free. Kinh tế Phật Giáo có
thể bị chỉ trích là dựa trên một nền
tảng đạo đức không phải ai cũng
đồng ư và có thể “chứng minh” được.
Lời phê b́nh này cũng có thể áp dụng vào kinh tế
thị trường-tiêu thụ: tham lam-tư lợi không
phải lúc nào cũng tốt và không phải lúc nào cũng
làm tăng sự giàu có của quốc gia như Smith ‘mơ
ước’. Cả Smith và đức Phật đều
‘mơ ước’ con người có một cuộc
đời hạnh phúc. Trong khi Smith thiếu một
triết lư về hạnh phúc, đạo Phật hiện
diện trên đời chỉ v́ một ‘Đại Sự
Nhân Duyên’. Nhân duyên đó không có ǵ khác hơn là diệt
khổ. Diệt được khổ tức là hạnh
phúc. Cả ba tôn giáo lớn ở Đông Phương
đều đồng ư muốn diệt khổ phải tri
túc (Khổng), thiểu dục (Lăo) và diệt
dục (Phật).
Quán Như Phạm Văn Minh.
Ghi Chú -
Sách tham khảo trong chương này:
Allan Hunt, Badiner.
Mindfulness in the Market Pace. Parallax Press,
Shinichi Inoue, Putting
Buddhism to Work. Kodansha International Ltd,
Quan Nhu Pham
Van Minh: Vietnamese Engaged Buddhism: The Struggle Movement of 1963-1966.