Ngu Sĩ Tusito
Thái Minh Trung, M.D.
Hai cơ hội nh́n thấy
sự thật hay chân lư.
Trong cuộc đời con
người ta chỉ có 2 cơ hội để nh́n
thấy sự thật. Cơ hội tự nhiên là khi ta
chết. Theo những bác sĩ nghiên cứu những người
chết sống trở lại (hiện tượng Near
Death Experience), th́ linh hồn ta có cơ hội nh́n lại
cuộc sống của ta một cách khách quan và sau đó,
nếu ta không sống trở lại, th́ linh hồn sẽ
đi đầu thai. Cái cơ hội đó như một
cửa sổ hé mở giúp ta nh́n lại cuộc đời
ta một cách rỏ ràng rồi chợt đóng lại. Khi
tái sanh th́ ta quên hết những ǵ đă biết
được và bị thụ động theo nghiệp
lực lôi cuốn trong ṿng luân hồi.
Cơ
hội thứ nh́ là ngay trong cuộc sống hiện
tại, ta tu tập và sống với ḍng Tuệ Giác,
nhờ đó mà ta trực nhận được sự thật
của cuộc đời. Ḍng Tuệ Giác như ḍng sông ánh
sáng dẩn ta ra biển khơi Phât tánh. Danh từ chuyên môn
gọi trực nhận sự thật là giác ngộ. Giác là
ánh sáng của sự tỉnh thức, ngộ là nhận ra.
Tiếng Anh, enlightenment có nghỉa là đem ánh sáng về soi
sáng lại ta (en = in = ở trong, nội tâm; lighten = soi sáng).
Nhờ có ánh sáng tâm linh, ta tỉnh thức, ta thấy
liền sự thật không qua sự lư luận suy đoán
của tư duy. Chứng quả có thứ bậc từ
thấp đến cao chớ giác ngộ tức thời
nhận ra sự thật- không có thứ bậc. Sự
thật đó được gọi là chân lư v́ nó
thường hằng như vậy. Nhờ ánh sáng giác
ngộ ta thấy “con voi” nguyên vẹn, không lầm nhận
những phần nhỏ (đuôi, ṿi, chân) của con voi là
con voi.
Sở
dỉ trong kinh này Phật đề cao sự giác ngộ
qua thực hành (practice) v́ Phật muốn ta trở về
tánh Không, sự đồng nhứt mầu nhiệm của
vủ trụ. Chân lư Không không phải là sản phẩm
kiến thức hay kết quả sự tu tập theo
một pháp môn nào đó. Nhờ giác ngộ ta sẽ
thấy chân lư Không không thay đổi tùy theo hiểu
biết nhận định sâu cạn của từng cá
nhân. Khi giác ngộ, ta mới thấy rơ (nhờ trí tuệ)
sự b́nh đẳng của chúng sanh và sanh ḷng
thương yêu mọi người mọi loài như nhau
(từ bi).
Phương
pháp giúp ta sống với ḍng Tuệ Giác được khai
triển trong Tâm Kinh hay Kinh Trái Tim Tuệ Giác. Tên gọi Tâm
Kinh muốn nói lên là kinh này không phải để hiểu
qua suy luận mà chúng ta nên để sự an b́nh yên
lặng trong ḷng ta (tâm) th́ trong một nháy mắt ta sẽ
cảm nhận được kinh. Kinh (canon, sutra) là sách ghi
lại những lời nói của Phật giảng về
sự thật. Khi ta trực nhận được
nhịp rung động của ḍng Tuệ Giác ngay lúc
đang sống th́ ta giành lại được quyền
làm chủ định mệnh ta. Phật gọi đó là
nguyên nhân của giải thoát. Nếu ta làm chủ
định mệnh ta trong mọi thời điểm,
đó chính là giải thoát.
Khi ta
liện một nấm cát xuống bàn th́ những hạt
cát rơi một cách bề bộn trên mặt bàn. Những
hạt cát không thể biến thành những h́nh
tượng như lâu đài cát. Bản chất tự nhiên
của vủ trụ là sự hổn loạn (chaos) và tan
rả. Khi những hạt vật chất họp lại
tạo thành sự sống th́ phải có một năng
lực tổ chức trật tự. Năng lực đó
là ḍng Tuệ Giác, là sự sống. Tất cả các sinh
vật trong vủ trụ đều có ḍng Tuệ Giác. Cái
khác biệt giửa con người và các động
vật khác là con người có khả năng nhận ra (ư
thức, awareness) ḍng Tuệ Giác, c̣n các sinh vật khác
chỉ biết để ḍng Tuệ Giác thể hiện
(thí dụ: loài ngổng biết định hướng bay
xuyên lục địa) nhưng chưa phát triển cao
đến độ nhận ra được ḍng Tuệ
Giác.
Tuệ là
trí tuệ, giác là tỉnh thức. Nhờ tỉnh thức
ta mới có trí tuệ để nhận ra sự sống
vỉnh cửu nơi ta. Ḍng Tuệ Giác chính là sự
sống, cái động lực sáng suốt tổ chức
vật chất trở thành trật tự, chống lại
sự hổn loạn (chaos) và tan rả.
Thí dụ
thân thể con người được cấu tạo
bằng những chất cơ bản như carbon, hydrogen,
oxygen và nitrogen. Nếu không có ḍng Tuệ Giác th́ những
chất cơ bản trên không thể nào họp lại
một cách trật tự tạo thành tế bào, rồi hàng
triệu tế bào họp lại tạo thành cơ quan, bô
phận trong cơ thể. Rồi những bộ phận
trong cơ thể phải hoạt động ăn khóp
với nhau tạo ra sự sống hài ḥa. Cái nguyên lư
tự nhiên của vủ trụ là hổn loạn và chia
rẻ phân tán. Với những khó khăn phức tạp
như hàng ngàn phản ứng sinh hóa xảy ra trong một
tích tắc nhưng phải rất ḥa họp nhau, nếu ta
chỉ sống được một giây đă là mầu
nhiện rồi, huốn chi sống đến 70 hay 80
tuổi, là một việc thật khó nghỉ bàn. V́ thế
ta gọi ḍng tuệ giác, v́ nó như ḍng sông ánh sáng trôi
mải không dừng để xây dựng sự sống.
Ngay cả
khi ta chết, cái thân vật chất trở lại cái giai
đoạn hổn tạp ban đầu, nhưng linh
hồn ta vẫn c̣n giử được tri thức.
Những khoa học gia rất ngạc nhiên khi nghe
người chết sống lại kể lại những
mẩu chuyện khi mà bộ óc và con tim họ đă
ngưng hoạt động. Cái cảm giác đầu tiên
của sự “xuất hồn” là bịnh nhân đang
chết nh́n từ trần nhà và thấy nhóm bác sĩ, y tá
đang cố gắng hồi phục thân thể của
họ. Thoạt đầu, họ không nh́n ra thân đó là
của họ rồi rất ngạc nhiên khi nhận ra thân đó
là ḿnh. Sau đó, linh hồn sẽ đi qua một
đường hầm và cuối đường hầm
sẽ gặp Ánh sáng từ bi. Ánh sáng đó không có một mảy
may phê b́nh, giúp linh hồn người chết ôn lại
những giai đoạn quan trọng trong cuộc
đời họ. Những người đó kể
lại rằng sau khi ôn lại cuộc đời họ,
họ chọn lựa trở lại trần gian để
hoàng tất sứ mệnh, mặc dù họ cảm thấy
rất b́nh an ở gần Ánh sáng đó. Bác sĩ Raymond
Moody, tác giả quyển sách Life after life, theo dỏi nhóm
người chết sống trở lại, khám phá rằng
sau kinh nghiệm đó, tánh t́nh họ thay đổi một
cách tốt lành hơn.
Trên
phương diện tâm lư, ḍng Tuệ Giác tự nhiên
được biểu hiện khi ta đi tham quan một
thắng cảnh lạ. Ta có cái cảm giác kỳ diệu
(sense of wonder) khi đối diện một thắng
cảnh mới lạ. Ta có cảm tưởng như ta ḥa
vào cảnh, ta và cảnh cùng rung động cái đẹp.
Ta có cái cảm giác đó v́ trong một giây phút ta gần
gủi với ḍng Tuệ Giác. Nhưng buồn thay, khi ta
trở lại lần thứ nh́ th́ cảm giác đó không
trở lại với ta. Sở dỉ như thế v́ khi
trở lại lần thứ nh́, ta biết trước
những ǵ ta sắp thấy, cái biết trước đó
che mờ ḍng Tuệ Giác, làm mất đi cảm giác kỳ
diệu đó. Cái “biết trước” đó,
được Phật gọi là “tri kiến lập tri”
(kinh Lăng Nghiêm). Cái biết ban đầu, lúc ta chưa có
khái niệm ǵ hết là “tri kiến vô kiến”, cũng là
Tuệ Giác.
Nguyên lư nhị nguyên (duality) và
bất nhị (non-duality)
Trước
khi vào đề kinh, ta nên t́m hiểu về nguyên lư nhị
nguyên và bất nhị. Ta có cái thân bằng ánh sáng,
được gọi là Pháp thân. Thân đó không lệ
thuộc vào không gian và thời gian nên không hề bị chu
kỳ sanh tử ràng buộc. Thân thể vật chất
của ta có tầng số rung động thô hơn và
bị lệ thuộc ở nguyên lư nhị nguyên. Sự
nhị nguyên được thể hiện qua thân thể
ta muốn được thành h́nh cần phải có tinh
(sperm) cha quyết (ovary) mẹ để được
cấu tạo. Các tế bào thân ta có hai bộ nhiểm
sắc thể từ cha và mẹ.
Khi sinh ra ta không thể sống
mà không nương tựa trên hơi thở và thức
ăn. Ăn uống là nguyên nhân căn bản (primary)
của ngă và ngă sở. Đói bụng làm cái bụng cồn cào
không ổn thể hiện rơ hơn (ngă) và thúc ta phải
đi t́m thức ăn (ngă sở). Từ đó ta sanh ra ham
muốn và tham ái v́ ta bị thiếu và lúc nào cũng cần
sự bồi đắp bên ngoài. Sự bồi đắp
đó có thể bằng vật chất (đối
tượng của tham) hay bằng t́nh thương
(đối tượng của tham ái). Tham ái phát xuất
từ đứa bé ham muốn được t́nh
thương cha mẹ để bảo đảm cho
sự sống c̣n của nó.
Với thân
thể vật chất bị vô thường chi phối, ta
ít khi thấy đầy đủ hạnh phúc. Đó là
khởi sanh của tham khi chưa được và sân khi
mất hay bị tước đoạt. Nguyên nhân của
bạo quyền từ đây mà phát triển. Ta tham
được quyền lực để lấy cái hơn
về cho ta, bảo đảm cuộc sống vật
chất của ta, bất kể sự thiệt hại cho
người khác. Ta sống với thân vật chất
đầu thai tới lui từ muôn đời trong sự
thiếu thốn đau khổ nên quên cái thân ánh sáng
đầy đủ của ta. Phật gọi tâm trạng
đó là si mê. Tham sân si tạo nên cảm giác không yên ổn,
nặng nề, phiền muộn trong tâm ta, c̣n
được gọi là nội kết (danh từ của
Thượng tọa Thích Nhất Hạnh). Khi ta theo ḍng
tưởng tội nghiệp cho ta (self pity) th́ làm nội
kết cháy rực lên như ngọn lửa lớn làm ta đau
khổ nhiều hơn. Nội kết được
thể hiện ở thế giới vật chất: tâm
không yên ổn làm tim đập nhanh, tâm nặng nề
tạo cảm giác nặng ngực, ngộp thở, tâm
phiền muộn tạo nhiều cơn đau trên thân
thể.
Cảm giác
thiếu thốn lo âu là nguyên nhân thứ yếu (secondary)
của ngă sở: ta muốn được để
đở lo. Phật chia cái “được-ngă sở” ra
làm 5 phần: ăn và ngủ là 2 yếu tố căn
bản; danh vọng, tiền bạc (power = thế lực)
và sắc đẹp (sex) là 3 yếu tố tiếp theo. Khi
ta đặt nặng vật chất trong cuộc sống,
ta bị cái được mất nhồi sọ th́ ta
dần dần xa ĺa và quên cái thân ánh sáng nguyên thủy
bất sinh diệt của ta. Khi quên thân ánh sáng của ta,
th́ ta không bao giờ cảm thấy đầy đủ
thỏa mản khi được 5 loại ngă sở nêu
trên. Giới nghệ sỉ nổi tiếng (ngôi sao màn
bạc) tuy có đủ 5 cái ngă sở trên nhưng họ là
những người bị nhiều khủng hoảng
nội tâm nhứt.
Kẻ sát
nhân trong cơn thịnh nộ, kẻ tự tử trong
cơn đau khổ tuyệt vọng và người bị
nghiện (x́ ke, rượu) là những người
muốn t́m về Pháp thân nhưng lầm lẩn t́m qua con
đường vật chất. Kẻ giết
người hay tự tử ao ước t́m về Không
trong sự phiền nảo đau khổ của sắc,
muốn diệt sắc để đến Không.
Người nghiện ao ước t́m về sự ấm
cúng, đầy đủ và sự an tâm của Không
nhưng lầm lẩn đi qua con đường bịnh
hoạn của những hóa chất (sắc).
Trong cơn
mê (si), ta đem sự nương bám vật chất vào tôn
giáo và biến tôn giáo giải thoát thành tôn giáo cầu xin. Ta
trở thành những đứa bé cầu xin Phật hay Chúa
ban cho ta sự giồi giàu về vật chất mà
người thế gian gọi là phước. Thí dụ
như ta cầu xin được làm ăn phát đạt
giàu sang, thân thể đẹp đẻ, mạnh khỏe.
Ta c̣n “hối lộ” Phật hay Chúa, bố thí cho chùa hay nhà
thờ một phần mà muốn hưởng lộc
mười phần. Cái “nhà băng trên trời” phải cho
ta tiền lời nhiều gắp bội cái nhà băng
thế gian th́ ta mới chịu dầu tư/bố thí. C̣n
có nhiều người phóng (project) cái ngă ḿnh lên tôn giáo và
cho rằng tôn giáo ḿnh đúng nhứt hoặc hay nhứt,
như ta đă từng phóng cái ngă ḿnh lên đội banh “nhà”
(của tôi/ngă sở) và bực bội tức giận khi
đội nhà thua.
V́ cố
chấp tôn giáo, những kẻ cuồn tín sẳn sàng
giết hại những người không theo tôn giáo ḿnh.
Lịch sử đă cho thấy từ thời La Mả
những người theo đạo Chúa bị giết
hại (martyr), rồi đến thánh chiến, và gần
đây nhứt là biến cố 9-11. Đó là những biến
cố đau ḷng do con người tranh chấp tôn giáo
giết chốc lẩn nhau. Đó cũng là một trong
những nguyên nhân Phật phá cái sở đắc chấp
vào kiến thức trong kinh này.
Để khuyến khích những
người c̣n sống nặng trên cỏ sở nguyên lư
nhị nguyên, với ngă mong cầu được ǵ ḿnh
thích (ngă sở), Phật đưa ra giới luật và những
quả vị tu chứng. Giai đoạn đầu ta
phải từ bỏ tham sân si của đời bằng
sự tránh né (avoidance). Giới luật là những
phương pháp giúp ta tránh và bỏ những đam mê
dụ dổ của đời để có một
cuộc sống lành mạnh đạo đức. Ta tránh
được càng nhiều (giử giới) th́ đạt
được quả càng cao. Nói một cách khác, những
quả vị chứng đắc Phật đề ra
tương đương với những bằng cấp
ở đời để chứng nhận (validate)
những cố gắng của chúng ta. Học nhiều th́
được bằng cao. Phật thế cái muốn
được ở đời bằng cái muốn
được ở đạo, thế cái muốn vật
chất bằng cái muốn tinh thần. Phật gọi
đó là hóa thành, có nghĩa là những trạm dừng chân
chớ không phải là mục đích cứu kính.
Ở giai đoạn cuối
của cuộc đời giảng đạo, Phật
đề cao thuyết bất nhị qua hệ thống
kinh Bát Nhă để hướng dẩn người tu
trở về Pháp thân, thân ánh sáng nguyên thủy. Nhờ
thuyết bất nhị dung ḥa mà đạo Phật tránh
được những cuộc tranh chấp tôn giáo
đẩm máu. Thuyết Bát Nhă (hay bất nhị)
được Phật nói ra để phá cái chấp vào
sở đắc của đạo và trực chỉ Pháp
thân-Không. “Không” c̣n được gọi là tánh chân thật
(chân tánh) hay tâm chân thật (chân tâm). Thuyết bất
nhị khó có thể hiểu được bằng tư
tưởng. Nói một cách khác: khó mà có thể dùng âm thanh
để diển tả sự yên lặng. Ta chỉ có
thể dùng trí tuệ trong sự im lặng của tư duy
để chứng nhận chớ không thể dùng tư
tưởng náo loạn để hiểu được.
Nhân nào quả nấy, sự hiểu biết qua tư duy
sanh ra sản phẩm phân tán (học càng nhiều càng
thấy rối loạn, mâu thuẩn) chớ không có khả
năng gôm về một tụ điểm.
T́m hiểu về trí khôn và trí
tuệ.
Trí khôn dùng tư tưởng suy
luận so sánh đúng sai để hiểu những
hiện tượng bên ngoài. Trí khôn dể bị phân tán
trong rừng kiến giải. Kiến giải là danh từ
chuyên môn của Phật giáo nói lên sự dùng suy luận
để giải thích chân lư. C̣n trí tuệ dùng sự im
lặng nội tâm để trực nhận cái bản
chất trung thực của ḿnh. Chỉ có trí tuệ
mới trực diện được chân lư. Vừa
khởi ư nghỉ so sánh th́ chân lư bất nhị liền
đó biến thành kiến giải đối đải.
Tuy nhiên chổ Phật muốn
phá chấp là ngă dùng sự hiểu biết làm sở
đắc, để tham sân si núp bóng sau trí khôn biện
luận hoạnh hành mà không ai biết. Phân tâm học
gọi hiện tượng đó là resistance. Ngă dùng
kiến giải để che đậy tham sân si, chống
cự (resistance) lại sự cải thiện. Ngă có
thể dùng lư lẽ (intellectualization) để biện
hộ cho tham sân si và tự thuyết phục rằng “ta”
đă “hoàn hảo”. Ngă biến thành ông luật sư
biện hộ tài giỏi làm người phạm pháp
trắng án. Đặc tính của ngă là bắt người khác
phải thay đổi để theo ta chớ ta không bao
giờ nhận sai lầm về ḿnh. V́ vậy mà
người hiểu rộng, có nhiều sở đắc
rất khó tu v́ người đó bám víu vào cái ta đúng,
kẻ khác sai, ta hơn, kẻ khác thua. Khi thấy có đúng
sai, hơn thua (nguyên lư nhị nguyên) th́ từ bi, thông
cảm không có chổ để xuất hiện.
Trí tuệ bản chất nó
đầy đủ, không hơn không kém, tự nó có
sẳn cái biết trong đó, không cần đem từ ngoài
vào. Trí tuệ thường đi đôi với từ bi
thông cảm, hiểu ḿnh và hiểu người. Sống
với trí tuệ ta sẽ thấy mọi người
đều b́nh đẳng như nhau, cái hơn kém chỉ
là một ảo giác (illusion) của tư tưởng phân
biệt. Chính v́ Trí tuệ có nguồn gốc ngoài hiện
tượng (chân Không), kể cả hửu h́nh và vô h́nh, nên
mới dung ḥa được sự b́nh đẳng.
Nếu có sự so sánh tốt xấu, hơn thua th́ không
thể nào có b́nh đẳng được. Tột cùng
của b́nh đẳng là Không, chính là thân ánh sáng (pháp thân).
Nói tóm lại trí tuệ giúp ta
hiểu chính ḿnh. C̣n trí khôn chỉ giỏi để
hiểu người, hiểu cảnh mà đôi khi ta c̣n dùng
trí khôn để tự lừa dối ḿnh (biện hộ)
hay lừa dối người để lấy phần
lợi, phần thắng cho ta. Càng hiểu nhiều ta càng
che đậy con người thật/Phật tánh của
ta.
Bản kinh
này được coi là sự đúc kết tất cả
những tinh hoa của Đại Phẩm Bát Nhă gồm 25 ngàn
bài kệ. Kinh này được cô động lại không
hơn 300 chữ!
Để tiện
việc chú giải, chúng tôi theo Thượng Tọa Thích Tâm
Thiện chia kinh làm 7 phần. Cũng nên biết theo số
học (numerology), số 7 là số nguyên trạng tượng
trưng cho sự vỉnh cửu. Ngày thứ 7 của
tuần (chủ nhựt = ngày làm ch?) ta được
nghỉ làm để tưởng nhớ đến
vỉnh cửu.
Phần
1:
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa
thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ
nhứt thiết khổ ách.
Đây là
đoạn nhập đề giới thiệu về (1)
đức tánh cần thiết để tu, (2)
phương pháp tu và (3) kết quả tu. Câu nhập
đề đă khéo léo gôm ghém toàn ư kinh.
Theo khoa
số học, con số 3 là con số dương
đầu tiên, là con số chỉ cho hành động thay
đổi. Đạo Phật có tam bảo, đạo Chúa có
Chúa 3 ngôi. Số 3 tượng trưng cho kinh này là kinh
của sự thực hành (practice).
Phần 2: Xá Lợi Tử! Sắc bất dị
Không, Không bất dị sắc; Sắc tức thị Không,
Không tức thị Sắc; thọ, tưởng hành,
thức diệc phục như thị.
Đây là đoạn công phá nguyên lư
nhị nguyên và giới thiệu Không. Phật chỉ
thẳng phương pháp tu nhằm phá chấp ngă dẩn
đến nguyên lư bất nhị “vô ngă”. Đoạn này c̣n
giới thiệu “Không”, nền tảng hay nguồn gốc của
muôn vạn hiện tượng hửu h́nh và vô h́nh.
Căn
bản của ngă là 5 uẩn: sắc (thân thể) và
thọ, tưởng, hành, thức (tinh thần). Số 5 là
số của sự tạo thành nhân loại. Ta có 5 ngón tay
và 5 giác quan vật chất. Sư sống c̣n (survival)
của loài người đựa trên 5 ngón tay và 5 giác quan.
Trong sắc có số 4: tứ đại (đất,
nước, gió, lửa). Theo số học, số 4 là
số âm đầu tiên làm nền tảng chứa
đựng, bao dung sự sống. Số 4 cũng là số
của trật tự: 4 hướng, 4 mùa.
Phần
3:
Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng,
bất sanh bất diệt, bất cấu, bất tịnh,
bất tăng bất giảm.
Đây là
đoạn nói rơ thật tướng hay tánh Không của
pháp là không tướng. Đoạn này chỉ thẳng pháp thân
hay chân tánh sau khi vượt qua được đám mây
mờ của ngă ở phần trên. Khai mở ư chỉ
“tất cả” trở về “1”.
Phần
4:
Thị cố không trung, vô sắc, thọ, tưởng,
hành, thức; vô nhản , nhỉ, tỉ, thiệt, thân, ư; vô
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhăn giới, nai
chí vô ư thức giới; vô vô minh diệc, vô vô minh tận;
nải chí vô lăo tử, diệc vô lăo tử tận; vô trí
diệc vô đắc.
Đoạn này
phá chấp ngă và sở đắc của ngă (ngă sở). V́
người tu (ngă= chủ thể) là không, nên phương
pháp tu và sự chứng đắc (ngă sở= khách thể)
cũng không luôn. Khai mở ư chỉ “2 = ngă + ngă sở”
trở về “1”.
Phần
5:
Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề tát
đỏa y Bát Nhă Ba La Mật Đa cố tâm vô quái ngại; vô
quái ngại cố vô hửu khủng bố, viển ly
điên đảo mộng tưởng; cứu cánh Niết
bàn.
Đoạn này
giới thiệu năng lực của ḍng Tuệ Giác/Trí
Bát Nhă giúp người tu thoát ly được lo âu
phiền muộn/nội kết qua được “bờ
bên kia”.
Phần
6:
Tam thế chư Phật y Bát Nhă Ba La Mật Đa cố
đắc A nậu đa la tam miệu tam Bồ
đề.
Ấn
chứng về Tuệ giác. Đây là con đường tu
tập mà 3 đời chư Phật đều phải
qua. Khai mở ư chỉ “3 thời điểm” trở
về “1 vô sanh”.
Phần
7:
Cố tri Bát Nhă Ba La Mật Đa, thị đại thần
chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú,
thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ
nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố
thuyết Bát Nhă Ba La Mật Đa chú, tức thuyết chú
viết: “Yết đế, yết đế, ba la yết
đế, Bồ đề, tát bà ha.
Nhấn
mạnh tính chất kỳ diệu diệt khổ của
Tuệ Giác. Phật kết thúc kinh bằng câu linh ngử
(thần chú). Khái mở ư chỉ trong “1” có “tất cả”.
Cái “tất cả- diệu dụng” đó có khả năng
lấp cái hố sâu của sự thiếu thốn ham
muốn đem về cho ḿnh (ngă sở), trừ
được mọi khổ đau.
Giải thích Kinh
Trái Tim Tuệ giác.
Phần 1:
Khi Bồ tát Quán thế âm tiến sâu vào nguồn mạch
Tuệ giác Vô thượng, Ngài soi thấy 5 hợp thể
đều là Không, liền độ hết thảy
nội kết.
1- Đức tánh
cần thiết để tu.
a)
Bồ tát chỉ cho cái khả năng tự độ và
tha độ. Cái đặc điểm của Bồ
tát là không tránh thế gian, tu trong thế gian và độ
trong thế gian. Nếu ta không bỏ đời t́m
đạo, ngay trong đời thấy đạo và dùng
đạo giúp đời th́ ta tu theo nhân Bồ tát.
b)
Quán thế âm tượng trưng cho tánh đặc
trưng của vị Bồ tát đó. Nhưng ta cũng
có thể hiểu đó là phương pháp tu. Xin tạm
dịch Quán thế âm là “nghe bằng tỉnh thức”, nghe
cái âm thanh như thế, âm thanh nguyên thủy không qua suy
luận và t́nh cảm. Trong dân gian, h́nh ảnh của Quán
thế âm là người mẹ cầm b́nh nước cam
lồ làm mát dịu nổi khổ của những đứa
con lâm nạn cầu cứu Ngài.
Để tránh
sự hiểu lầm Kinh Trái Tim Tuệ Giác là kinh tha
độ dẩn đến sự mê tín, cầu xin, ỷ
lại nên sau này tên Quán thế âm được đổi
thành Quán tự tại. Tuy nhiên hai tên nhưng cùng chỉ
một yếu tố tỉnh thức. Ta chỉ nghe
được âm thanh như thế trong sự tự
tại của tỉnh thức.
Khi ta nghe
một tiếng chửi mắng bằng sự tỉnh
thức th́ ta không lấy cái khổ của nội kết
về cho ta, mà ngược lại ta thông cảm
được nổi khổ người mắng
nhiếc ta. Trong một nháy mắt, ta tư độ và
lấy t́nh thương thông cảm (từ bi) độ
người chửi ta. Ta trao tặng sự b́nh an của
ta cho người ghét ta và chuyển hóa được ḷng
sân hận của người đó. Đó chính là ư nghỉa
của b́nh nước cam lồ.
Tại sao
Phật nói “quán thế âm” chớ không nói “quán thế
sắc”. Ở thế giới loài người, âm thanh-ngôn
ngử là phương tiện giúp ta tu tắt. Nếu
người câm điếc giảng cho nhau nghe lư vô
thường chắc phải đợi một thời
gian lâu để vật thể đó biến đổi,
rồi chỉ cho nhau thấy. Chúng ta nhờ nghe-hiểu
được ngôn ngử nên có thể thâu ngắn kinh
nghiệm đó lại trong một tích tắc. Nền
tảng sự phát triển trí thức của nhân loại
là ngôn ngử.
2- Phương pháp tu
a) Tiến
sâu vào nguồn mạch Tuệ Giác vô thượng. Câu này
chỉ cho sự thực
hành (practice). Tiến sâu khác với hiểu rỏ. Với
phương pháp tu Bát Nhă càng hiểu nhiều th́ càng đi
xa ḍng Tuệ Giác. Tiến sâu có nghiả là giử sự
tỉnh thức im lặng càng lâu càng tốt v́ ta càng
gần gủi với mạch Tuệ Giác. “Tu” bằng
phương pháp Tuệ Giác là như vậy, ta không bỏ
cái này để được cái kia. Tu bằng Tuệ
Giác là “đi đi”. Đi (hành) trong sự lắng động.
Tuy hành mà không hành v́ có làm ǵ đâu? Có được ǵ
đâu? Nguồn là điểm Không, nơi muôn hiện
tượng phát xuất; c̣n mạch là sự mầu
nhiệm diệu dụng của Không. Mạch đó lúc nào
cũng vô tận. Vô thượng là chổ tột cùng, không
c̣n có ǵ để so sánh. Không thể giải thích vô
thượng là cao nhứt v́ tính chất vô thượng là
bất nhị.
b) Ngài soi
thấy 5 hợp thể là Không. Soi là nh́n trong im lặng, nh́n
bằng sự tỉnh thức. Lúc đó sự im
lặng tỉnh thức cộng hưởng (resonate)
với tánh Không cuả 5 hợp thể (thân và tâm) làm tánh
Không đó hiện ra trước mắt Ngài. Có vị
Tổ thiền tông diển tả tâm trạng đó như
hai mặt gương đối diện nhau.
c) Liền. Tức thời. Đây là đặc
trưng của pháp tu Bát Nhă. Liền chỉ cho cái trực
nhận tức thời của tỉnh giác không qua sự
cố gắng hiểu biết của suy nghỉ. “Chổ”
đó không có người suy nghỉ và cái kiến thức
được hiểu biết. Bị té liền biết
đau, cái đau không qua suy nghỉ, đó liền là
tỉnh giác. Khởi suy nghỉ là ta rơi vào cái bẩy
của sân (bực tức khi bị đau), tham
(định đi thưa chủ tiệm nơi ta té) và si
(nguyên do tham và sân). Suzuki tác giả của Thiền Luận
diển tả ư của “liền” là “hiện tại và bây
giờ” (here and now).
3- Kết
quả tu.
Độ hết thảy nội kết. Sỡ dỉ ta có nội kết là khi
một hoàng cảnh tạo khổ đă qua rồi nhưng
trong tâm ta không cho nó qua. Ta cứ ôm ấp mải những
tư tưởng buồn phiền, ôn đi ôn lại hàng
ngàn lần đến độ mất ăn, mất
ngủ. Khi ta sân hận kẻ thù thực ra ta nuôi
dưởng cái ấn tượng hay h́nh ảnh sân hận
nơi tâm ta và như thế ta không ngờ ta sân hận
một phần của chính ta rồi tạo khổ cho ta.
Khoa học ngày nay chứng minh rằng nhiều bịnh
phát sinh ra từ suy tư rầu rỉ. Cái tâm trạng
nội kết (stress) để lâu ngày trong tâm sẽ
ảnh hưởng qua nhiều hệ thống của
cơ thể. Hệ thống thần kinh bị ảnh
hưởng sanh ra mất ngủ, người bực
bội, căng thẳng, nhức đầu, cơ thể
bị đau nhức. Hệ thống tim mạch bị
ảnh hưởng sanh ra tim hồi họp, tăng áp
xuất, ngực bị nặng. Hệ thống tiêu hóa
bị ảnh hưởng sanh ra biến ăn, buồn nôn
hay tiêu chảy.
Khi ta nghe thấy bằng tỉnh thức th́ ngay lúc hoàng
cảnh xấu xảy ra tâm ta thật b́nh an. Như thế
ta không cần xa lánh, diệt trừ hoàng cảnh khổ hay
diệt trừ ḷng tham và sân. V́ ta thấy được
tánh Không của vạn vật nên ta dể dàng biến
đổi (độ) hoàng cảnh phiền toái thành b́nh an.
Trong “độ” ta vượt qua được cái tham và
sân tế nhị. Trong “độ” ta lấy tâm tỉnh
thức chuyển hoàng cảnh khổ thành Không. Thí dụ
như người tù cải tạo, với tâm Không th́ 4
bức tường vật chất không thể nào nhốt
được người đó. Tuy trong cảnh tù,
người đó tự tại không bị cảnh làm
đau khổ. Đó cũng là ư nghỉa giải thoát (Không) ngay
nơi tù tội (sắc).
Phân tâm học đă chứng minh rằng khi ta muốn diệt
trừ tham sân si th́ ta tự tạo càng nhiều căng
thẳng cho ta v́ ta đè nén (repression) chúng. Một lúc nào
đó chúng có cơ hội sẽ bùng nổ dử dội
(acting out). Nói một cách khác ta muốn không tham rồi
sẽ bị tham nhiều hơn. Ta ghét cái giận rồi
sẽ bị cau có nhiều hơn. Người dùng tham và
sân để diệt trừ tham sân si sẽ dể bị
mặc cảm tội lổi và trong ḷng hay lo âu. Có một
khoa tâm lư trị liệu (supportive psychotherapy) dùng sự
lắng nghe và thông cảm để trị nội kết.
Tuy nhiên ta có thể làm một minh khi ta quán chiếu và thông
cảm tham sân si biến (độ) tham thành từ bi và sân
thành trí dũng cảm đốt phiền nảo, giúp ta
nh́n sự thật nơi ta.
Nếu quư vị có bịnh mất ngủ (insomnia) th́
hiểu rỏ rằng khi ta muốn ngủ, càng muốn
ngủ th́ lại càng mất ngủ. Rồi ta bực
bội nh́n những người khác ngủ ngon mà sao ta
ngủ không được, càng bực bội, thân và tâm ta
căng thẳng th́ ta càng mất ngủ nhiều hơn.
Cách trị bịnh mất ngủ một cách tự nhiên
không dùng thuốc là ta không muốn ngủ, cũng không
bực bội khi ngủ không được, tâm yên
lặng, giấc ngủ sẽ đến, ta là giấc
ngủ và ta ngủ ngon lành.
Phần 2:
Này Xá Lợi Tử, h́nh thể chẳng khác chân Không, chân
Không chẳng khác h́nh thể, h́nh thể là chân Không, chân Không
là h́nh thể; cảm xúc (thọ), cảm tưởng
(tưởng), suy tưởng (hành) và trí nhớ (thức)
đều như vậy.
Đây là
đoạn hết sức quan trọng của kinh này. Xá lợi tử là đệ tử
giỏi nhất về suy luận của Phật. Sở
dỉ Phật gọi ngài Xá lợi tử đến
để giảng kinh này v́ Phật muốn nhắc khéo:
Ông nên thận trọng, ḍng Tuệ Giác không do suy luận
tưởng tượng được. Phật muốn
chỉ thuyết bất nhị vô ngă, không những cho riêng
ông Xá lợi tử mà cho những người hậu
thế đọc kinh này bằng kiến thức suy
luận. Khi ta dùng suy luận để hiểu Không th́ ta
chỉ thấy được cái bóng của Không do tư
duy vẽ ra. Vô ngă không phải là “bất ngă” có nghỉa là
không có (phủ nhận) ngă, cũng không phải là “phi ngă” có
nghỉa là vượt ngoài (beyond) ngă, như Thượng
đế vượt ngoài tầm con người. Nếu
nói vô ngă là ngă th́ lại rơi vào cái ṿng lẩn quẩn
của văn tự, có nghỉa là ta trở về cái
điểm phát xuất. Chính v́ thế mà Phật chỉ
dơ cành hoa lên để diển tả cái chân lư tột
cùng của sự hiện diện, tổ sư th́ dơ cây
phất tữ lên hay mời uống trà. Dơ cành hoa lên hay
uống trà là (is-present time) “trái tim” Tuệ Giác. Hành
động đó chỉ thẳng đến mạch
Sống.
Trong hành
động (sắc) đó người nào thấy
được cái không hành động (không) th́ liền
ngộ đạo. Người ngộ đạo th́
nở nụ cười hàm tiếu bỏ đi.
Người chưa ngộ th́ x́ xào bàn tán “đại ư”
của hành động đó. Phật tổ đă không có
một niệm nhỏ th́ làm ǵ có đại ư!
Sắc không khác với không. Ta không thể giải thích tánh
không ngoài hiện tượng sắc được.
Muốn đi, hai chân ta phải luân phiên đụng mặt
đất (sắc) và rời mặt đất (Không). Làm
sao ta đi khi hai chân lúc nào cũng đụng đất
(đời ĺa đạo) hay lúc nào cũng rời
đất (đạo ĺa đời). Suy luận thích
đóng những ngăn định nghỉa khác nhau
để rồi ta bị thất lạc trong nhiều
ngăn phức tạp đó. Với tinh thần kinh này, ta
nên quên hết những định nghỉa sắc-không mà
ta đă học hỏi. Tà nên dùng sự tỉnh thức
để cảm nhận ḍng Tuệ Giác ngay trong hiện
tượng hàng ngày. Đó cũng là ư nghỉa “bồ tát” là
chử đầu tiên của kinh này. Tỉnh thức ngay
trong cái loạn động.
Muốn cảm nhận được sắc không khác
với không, ta hăy thử làm người mù mới
được trị lành mắt, nh́n cái cảnh xấu
nhứt trần gian vẫn hạnh phúc tươi
cười v́ cảnh (sắc) làm người đó
chợt biết (giác ngộ) rằng ḿnh đang có con
mắt sáng (Không, Tuệ Giác).
C̣n một thí dụ nửa là dĩa compact disc (CD). Ba
mươi năm về trước khi nghe nói có một
đĩa mà không cần sự cọ xát của cây kim (không)
mà có thể phát ra được nhạc (sắc) th́ không
có ai có thể suy tưởng ra cái CD ngày nay. Phải nói
người sáng chế ra CD, dùng ánh sáng laser để
đọc CD biến thành nhạc đă áp dụng Tuệ
Giác -vượt ra khỏi việc xử dụng sắc
(cây kim) biểu hiện sắc (nhạc)- trong phát minh
đó. Ai nghe qua một lần cũng rỏ là nhạc
từ CD âm thanh rất trong suốt, không bị rè như
dĩa hát hồi xưa. V́ sao âm thanh được tốt
như vậy? V́ không có chổ vướng mắc.
Nói về ánh sáng laser th́ ta phải nói đến h́nh
hologram chụp bằng ánh sáng laser. Cái đặc
điểm của film hologram là khi ta cắt nó ra làm hai nó
vẫn c̣n giử nguyên vẹn cái h́nh được
chụp thay v́ h́nh đó bị cắt phân nửa. Mỗi
lần cắt ra làm 4, làm 8, h́nh bị mờ thêm nhưng
vẫn được giử nguyên h́nh. Điều này muốn
nói lên là tia laser (tia sáng tụ điểm) là biểu
hiện vật chất của Tuệ Giác. Phim hologram nói lên
cái nguyên lư trong một có tất cả và tất cả có
trong một. Ta càng xa tánh Không th́ sự nhận thức hay
nhớ ra tánh Không bị mờ, nhưng tánh Không lúc nào
cũng nguyên vẹn. Giác ngộ là trở về tánh Không
nguyên vẹn nhưng tánh đó c̣n bị mờ; đến
khi thành Phật th́ tánh Không đó vẫn nguyên vẹn như
vậy nhưng hiện hoàn toàn.
Sắc tức thị không. Đây là nguyên lư tột cùng của kinh Tuệ
Giác mà suy luận phải bó tay. Đó là cái ṿng tṛn kín mà suy
luận không có chổ nương tựa để vào.
Chúng ta có thể giải thích một cách gượng ép
nhưng là chuyện làm vô ích, như vẽ cái bóng thứ nh́
lên cái bóng thứ nhứt làm người khác mê lầm
tưởng h́nh thật. Cái bóng thứ nhứt là
phương tiện của Phật tổ, cái bóng thứ
nh́ là bàn luận cái phương tiện đó làm
người khác bị dính mắc nhiều hơn.
Tác giả có một giấc mơ. Trong giấc mơ
đo, tác giả là một pháp sư nổi tiếng
thời đó, với biện luận trôi chảy đang
giảng kinh Bát Nhă cho hội chúng nghe. Hội chúng rất
đông ngồi nghẹt cả hội trường. Khi
giảng đến đoạn “sắc tức thị
không, không tức thị sắc” th́ có một ông lảo
ăn xin ăn mặc rách rưới dơ bẩn, khi
nảy ngồi trước cổng chùa chống gậy vào
giảng đường. Sau khi đảnh lể pháp
sư, ông lăo hỏi: “Bạch Thầy, Thầy có nói sắc
tức thị không, như vậy mùa đông, hồ
nước đông đá, Thầy có nhảy xuống
được không?”. Pháp sư rất kinh ngạc cứng
miệng không trả lời được. Qua cơn lúng
túng, người pháp sư đó nh́n lên ánh mắt ông
lảo và chợt nhận ra đó là Bồ tát Long Thọ,
người trụ tŕ kinh này. Để tạ ơn chỉ
bảo của Ngài và để xám hối, vị pháp sư
đó tự đổi tên ḿnh là “Ngu sỉ” và nguyện
bỏ nghiệp giảng kinh làm kẻ đưa đ̣.
Sắc bất dị không th́ có thể giảng
được. Tánh nước ví như thể lỏng,
tướng nước là thể đông đặc. Ta
chờ duyên họp Xuân đến, đá tan th́ nhảy
xuống con sông được. C̣n chổ “tức th́” th́
phải tự người tu khám phá lấy. Cái chổ
chết đi sống lại. Đạo Chúa dùng baptism
để nhắc lại sự việc đó. Nhưng
rất tiếc là về sau, các tín đồ đặt
nặng nghi lể mà quên đi cái ư nghỉa ban đầu.
Phật dơ cành hoa lên, ngài Ca Diếp tức th́ nở
một nụ cười. Đến đó chính Phật
cũng dùng sự im lặng hoặc nếu mở miệng
nói th́ Phật đă nói: “Trong 49 (7x7) năm thuyết pháp, ta
chưa từng nói một lời”. Rồi ở
đoạn kinh kế tiếp của kinh này, Phật
phủ nhận những pháp môn Phật dạy đệ
tử tu.
Cảm xúc (thọ), cảm tưởng
(tưởng), suy tưởng (hành) và trí nhớ (thức)
đều như vậy. Theo bà Barbara Ann
Brennan tác giả của quyển sách Light Emerging, th́ qua
thần nhản bà ta thấy con người có 7 lớp
(level) hào quan (auric field). Lớp gần thân thể nhứt
được gọi là “physical sensation” tương
đương với thọ, lớp kế tiếp là
“emotions with respect to self” tương đương với
tưởng, hai lớp kế tiếp là “rational mind” và
“relations with others” đại khái tương
đương với hành, 3 lớp c̣n lại “Divine will
within”, “Divine love”, “Divine mind, serenity” có thể tương
đương với thức, cái thức này gần
gủi với cái biết của Tuệ Giác bao gồm trí
(Divine will), bi (Divine love) và định/Không (Divine serenity).
Nếu dịch thức = trí nhớ = trí biết th́ có
thể gần gủi hơn với sự nhận xét của
bà Brennan. Theo bà ta nhận xét th́ những lớp hào quang này
chỉ khác nhau bằng sự rung động (vibration), càng
xa thân vật chất th́ rung động càng cao. Tuy nhiên chúng
chỉ là một, v́ chúng được nối liền
với nhau, cái này nhập vào cái kia (interpenetrate). Phật
chỉ ta đi xa hơn một bước nửa,
vượt khỏi cái một Thượng Đế
để đi đến tánh Không. Như thế mới
gọi là rốt ráo, cứu cánh.
Phần 3:
Này ông Xá Lợi
Phất! Vậy mọi sự hiện hửu (pháp) không
tướng, không sanh, không diệt, không nhơ, không
sạch, không thêm, không bớt.
Phần 4:
Cho nên trong tánh Không không có Sắc,
không có Thọ, Tưởng, Hành, Thức; không có mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ư; không có h́nh tướng, âm
thanh, mùi hương, vị nếm, cảm giác xúc chạm,
dối tượng của ư (pháp); không có thế giới
của mắt cho đến không có thế giới của
ư nghĩ; không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh, cho
đến không có già chết, cũng không có cái hết già
chết; không có khổ, tập, diệt, đạo; không có
trí huệ cũng không có chứng đắc.
Phần này Phật giới
thiệu cái thật tướng của vủ trụ (pháp)
không có thể thấy bằng h́nh tượng
được. H́nh tượng đây được
hiểu rộng bao gồm vật chất (material) và
những hiện tượng tâm lư. Để tránh sự
hiểu lầm văn tự, thật tướng c̣n
được gọi là “tánh Không”. Hai đoạn này có
thể coi như cục tẩy tâm linh (spiritual eraser)
tẩy sạch tất cả những hiện tượng
vật lư (tướng sanh/diệt, nhơ/sạch,
thêm/bớt), hiện tượng tâm lư (thọ,
tưởng, hành, thức), hiện tượng sinh lư (thân
tứ đại và những hoạt động của nó
hay những biến cố liên quan đến nó như sanh,
lảo, bịnh, tử), và những hiện tượng
trí thức (4 diệu đế, trí huệ, chứng
đắc). Khi không c̣n mảy may hiện tượng th́
tánh Không sẽ hiện ra.
Ta nên hiểu đoạn 4 là
phương tiện phá chấp ngă và ngă sở để
giới thiệu tánh Không. Nếu giải nghỉa kẹt
trên danh từ th́ đoạn 4 mâu thuẩn với
đoạn 2. Ở đoạn 2, Phật nói: “sắc
tức là không”, rồi đoạn 4 lại nói: “trong tánh
Không không có sắc”. Như vậy chẳng lẻ Phật tự
mâu thuẩn với chính ḿnh? Phải hiểu ở đây
cái “sắc” ở đoạn 4 là “chấp sắc”.
Trên phương diện
thực nghiệm ḍng Tuệ Giác, người tu sẽ
trải qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1. Có một thiền sư
diển tả giai đoạn này như sau: “Trước
khi tu, ta thấy núi sông là núi sông”. Giai đoạn này là giai
đoạn ta sống với ngă và ngă sở. Ta không có quan
hệ thành thật đối với ta và người
đối diện ta. Thí dụ ta là một thương gia
chào đón vui vẻ người khách. Ta dùng sự vui
vẻ đó để câu khách đem cái lợi về cho
ta, chớ ta không thực sự vui vẻ v́ ta mến khách,
v́ khách. Phân tâm học gọi quan hệ đó là “object
relation”. Ta coi người khách như cái phương tiện
(object) đem cái sự thỏa mản (tiền) đến
cho ta. Ta dối người. Ta không có quan hệ thành
thật đối với chính ta khi ta không nh́n nhận
sự thật đó (denial) v́ trong thâm tâm ta lo sợ khách
biết được “tâm đen” của ta mà không tới
nửa. Ta dối ta, tự cho rằng ta là thương gia
bạch thiệp.
Giai đoạn 2. “Trong lúc tu, núi sông không
phải là núi sông”. Đây là cái ư của phần 3 kinh này. Cái
“không phải” đây dùng để phá cái ngă sở, cái “không
phải” này chưa phải là cứu kính. Nói theo phân tâm
học, cái “không phải” này dùng để phá cái “object
relation” hay quan hệ ích kỷ của ngă (ego). Trong giai
đoạn này người tu không thấy được
sự thật nơi đối tượng ḿnh mà chỉ
nhằm phá cái ảo tưởng mà ngă, với nhu cầu
ham muốn, phóng lên đối tượng (projection).
Phật dạy cách dùng tưởng quán (visualization)
để thấy pháp duyên hợp nên tự tánh là không
thật. Khi ta thấy tự tánh không thật (huyển có)
th́ ta không tham đấm những ǵ chưa được
và tức giận khi mất. Lúc đó hành giả lưng
chừng giửa cái “không phải, không thật” và hiểu
man mán tánh Không chớ chưa nhận ra được tánh
Không. Đây là giai đoạn lau chùi gương cho nó sáng.
Giai đoạn này có thể chia ra 3 lớp (level) từ thô
đến tế: “mài thỏi sắt thành kim”, “giọt
nước rơi đá ṃn” và “cánh chim phớt qua đá
ṃn”. Lớp thứ nhứt là khi hành giả c̣n thấy có
cảnh thật, tâm thật để dụng công. Giai
đoạn này dụng công rất nhọc nhằn. Lớp
thứ nh́ là cái chấp có “mềm” hơn như giọt
nước. Lớp thứ ba là cái chấp có “nhẹ”
hơn như cánh chim phớt qua. Càng tu sâu, dụng công càng
ít nhưng công dụng lại càng nhiều.
Giai đoạn 3: “Sau khi tu, núi sông là núi sông”. Đây là cái giai đoạn mà
Phật diển tả ở phần 2 kinh này: “sắc
tức thị không, không tức thị sắc”. Hành giả
nh́n đời sống không qua lăng kính tham, sân, lo âu
của ngă mà nh́n cuộc đời một cách trong
suốt. Với sự trong suốt của ḍng Tuệ Giác,
hành giả thông cảm được nổi khổ
của muôn loài. Đây là giai đoạn núi sông là núi sống.
Đây là cái tiếng “thế à” ngây ngô mộc mạc nhưng
chứa đựng tràn trề t́nh thương của
thiền sư Hakuin bị cô gái có chửa hoang vu khống
Ngài. Ngài chỉ nói “Thế à?” rồi nhận đứa bé
về nuôi.
Phần 5:
V́ không có
chỗ chứng nên Bồ Tát y theo Tuệ Giác Vô
Thượng mà tâm không ngăn ngại. V́ không ngăn
ngại nên không sợ hăi, xa hẳn điên đảo,
mộng tưởng, đạt tới cứu cánh Niết
Bàn.
V́ nguyên nhân dụng công tu không
có sở đắc nên kết quả được viên
mảng (Niết Bàn). Đây là ứng dụng mầu nhiệm
của kinh này. Khi ta thấy ta có chổ chứng
đắc th́ theo đó cái lo sợ nó hiện theo. Khi ta
muốn bảo vệ sở đắc của ta, ta sẽ
không ngần ngại chê bai người không chấp
nhận sở đắc của ta (sân). Ta c̣n muốn
được nhiều người theo ta, tôn kín ta (tham).
Ta càng muốn bảo vệ th́ ta càng có nhiều đối
thủ thách thức ta. Như vậy lo sợ càng tăng,
ta dần dần mất đi sự tự tại (tâm
bị ngăn ngại).
Sợ là một loại nội kết có
từ ngàn đời. Mọi sinh vật đều
muốn bảo vệ sự sống, đó là bản
năng sinh tồn. Ở thế giới động
vật, sự sinh tồn của loài này dựa trên cái
chết của loài khác. Ăn và bị ăn. Con thú săn
mồi th́ sợ đói, con mồi th́ sợ bị
giết. Nói chung, cả hai con thú đều sợ chết.
Vượt ra khỏi cái
sợ (fear) không phải là chuyện dể khi mang cái thân
vật chất. Con người c̣n thêm một nội
kết nửa là lo (anxiety). Khi lo, ta hay tưởng tượng
ra hoàn cảnh xấu mặc dù nó chưa đến.
Phật gọi là điên đảo, mộng tưởng
(suy nghỉ trong mê). Nhiều người lầm
tưởng lo là chuẩn bị. Thực ra y khoa cho ta
biết, khi lo ta tạo cơ hội cho nhiều bịnh
tật xâm lấn thân và tâm ta.
Sự vật vô thường
biến đổi không dừng. Ta sẽ không đối
phó kịp thời với sự biến đổi đó
khi ta trụ trên một tư tưởng. Người
tướng quân ngưởng mộ một
đường kiếm của ông ta, chỉ thích dùng
đường kiếm đó, ra trận sẽ dể
bị thương v́ ông ta không kịp đở những
đ̣n kiếm khác nhau của đối phương.
Sự chuẩn bị thật
sự là buôn xả mọi tư tưởng lo âu bằng
cách để trôi thông thả trên ḍng Tuệ Giác, ta nh́n
những tư tưởng lo âu mà không theo chúng. Lúc đó tâm
ta mới được không ngăn ngại. Khi để
tâm không ngăn ngại th́ ta có khả năng mầu
nhiệm đáp ứng và giải quyết mọi phiền
nảo. Đó là nguyên nhân của Niết Bàn.
Phần 6: Chư Phật trong 3
đời cũng y vào Bát Nhă Ba La Mật Đa, được
đạo quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Nếu giải thích qua chử
nghỉa th́ ta lại mắc phải một mâu thuẩn
nửa. Đoạn 5, Phật nói không có chổ để
chứng, rồi đoạn này lại nói chẳng
những một đời mà tới 3 đời chư
Phật đều được quả Phật.
Đoạn này Phật ấn chứng Tuệ
Giác. Đây chính là ḍng sông dẩn 3 thế hệ Phật ra
biển Chân Không. Đứng trên phương diện sắc,
trí khôn hiểu biết thay đổi theo thời gian. Thí
dụ như trong y khoa, cách trị liệu một chứng
bịnh 10 năm về trước sẽ khác 10 năm sau
đó. Với những phát minh cập nhật sự
hiểu biết khoa học thay đổi liên tục.
Nói về tôn giáo, phương
tiện dùng những thí dụ hay danh từ thích hợp
với xă hội văn hóa thời xưa có thể không
đúng cho thời nay nhưng cái chân lư mà danh từ và thí
dụ phản ảnh th́ lúc nào vẫn như vậy. Cái
đối tượng của tham sân si thay đổi theo
thời gian nhưng cái sự thật tâm lư căn bản
tham sân si của loài người th́ lúc nào cũng c̣n như
vậy. Thí dụ thời xưa đánh giặc bằng
gươm kiếm, thời nay th́ bằng bôm đạn
nhưng cái sân của kẻ gây ra chiến tranh th́ vẫn
như vậy. Tuy nhiên khi để trí khôn làm nô lệ cho
tham sân si th́ sự tàn phá của tham sân si càng mảnh
liệt hơn.
Nếu ta sống với ḍng
Tuệ Giác th́ sẽ thấy rằng 3 thời hiện ra
khi có suy nghỉ giáng đoạn chia cắt quá khứ, hiện
tại, tương lai. Khi trở về nhất tâm (Không)
th́ thời gian không c̣n nửa. Nói một cách khác, khi ta
sống với ḍng Tuệ Giác, thời gian là hiện
thời vô tận. Rồi tiến thêm một bước
nửa, không gian với thời gian không khác. Lúc đó ta
sẽ hiểu sanh tử là một ảo giác (illusion)
giống như là một giấc mơ vậy.
Những nghiên cứu phân tâm
học cho ta thấy rằng khi thay đổi hiện
tại bằng sự nhận thức th́ quá khứ và
tương lại sẽ thay đổi theo. Qua những
buổi phân tích tâm lư, nếu người được
phân tích nhận ra được những nội kết
tiềm ẩn (complex) ngay lúc đó th́ những nội
kết của quá khứ sẽ tan mất và không c̣n ám
ảnh hiện tại và tương lai nửa. Ta không
thể dùng lư trí (intellectualization) để hiểu nội
kết được, làm như vậy nội kết
không được chửa lành. Ngoài ra càng dùng lư trí
nhiều th́ nội kết lại càng khó chửa.
Người ta hay dùng lư trí để kháng cự lại
(resistance), không dám đối diện với nội
kết.
Phân tâm học đă chứng
minh qua kết quả thực nghiệm rằng: Khi một
nội kết tiềm ẩn (complex) được phát
hiện qua những buổi phân tích tâm lư, th́ kết quả
nhận thức hiện tại có khả năng thay
đổi những nội kết ở quá khứ và tránh
được những hoàn cảnh liên quan đến
nội kết đó trong tương lai. Nếu quư vị
quan sát th́ sẽ thấy nhiều trường họp
rằng đứa trẻ lớn lên trong hoàn cảnh gia
đ́nh rượu chè, có nhiều bạc đải về
t́nh cảm và thể xác, mặc dù về lư trí muốn xa
lánh những hoàn cảnh đó nhưng khi lớn lên, chúng
lại xây dựng trở lại những hoàn cảnh y
chang như vậy cho ḿnh và gia đ́nh ḿnh. Chỉ khi
nhận thức được nội kết tiềm
ẩn (hiện tại) th́ người đó mới có
khả năng thay đổi quá khứ và tương lai.
Nói tóm lại, ở tâm lư 3 thời diểm được
nối liền với nhau. Ta thay đổi hiện
tại th́ quá khứ và tương lai thay đổi theo.
Nơi mà phân tâm học gặp
gở với Tâm kinh là khi giác ngộ, thời gian tâm lư không
có 3 thời. Đó cũng là khái niệm “đốn ngộ”
của thiền tông. V́ cách tu của tâm kinh không nương
tựa trên tập quán, ta không cần dùng nhiều thời
giờ để làm mỏng dần những thói quen
xấu do nghiệp vô minh bồi đắp, ta cũng không
cần tránh hoàn cảnh bất tiện. Khi “giác ngộ”
ở hiện tại th́ quá khứ vô minh liền tan rả
và cái nguyên nhân sanh ra đau khổ của tương lai
cũng bị mất luôn.
Khi ta “giác ngộ” uống
rượu sanh bịnh tật th́ những nguyên do thúc
đẩy ta uống rượu trong quá khứ không c̣n
đủ sức lôi cuốn ta và không diển lại ở
hiện tại. Những suy nghỉ dẩn đến
uống rượu trong tương lai cũng mất luôn.
C̣n nếu ta bị bắt buộc không uống rượu,
th́ ta có thể tránh được thói quen uống
rượu chỉ một thời hạn ngắn v́ cái
nguyên nhân vô minh dẩn ta đến con đường
nghiện rượu vẫn c̣n đó và đang chờ
đợi cơ hội thuận tiện để vùng lên.
Tóm lại đoạn kinh này
quy 3 thời về một “ở đây và hiện giờ”.
Đó là nguyên nhân của Phật quả.
Phần 7: V́ thế nên biết rằng
Tuệ Giác Vô Thượng là chú có thần hiệu lớn,
là chú soi sáng lớn, là chú cao cả hơn các chú khác, là chú
không c̣n chú nào cao hơn, chú trừ được hết
thảy khổ, chú chân thật không giả dối. Sự
mầu nhiệm của chú đó được tuyên nói
trong kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô Thượng rằng: “Yết
đế yết đế, ba la yết đế, ba la
tăng yết đế, bồ đề tát bà ha”.
Đoạn này là một mâu
thuẩn gây ít nhiều khó chịu cho nhiều vị nghiên
cứu và giảng kinh này. Đoạn đầu kinh Phật
đề cao trí tuệ, ở đoạn cuối th́
lại đề cao thần chú hay linh ngử, như vây
không theo luật logic. Có nhiều vị t́m ṭi và giải
nghỉa linh ngử trên để hợp lư hóa kinh,
để cho đầu đuôi được sáng tỏ.
Tuy nhiên, khi ta nghiên cứu và
hiểu kinh ngắn gọn này được cô
động lại từ 25.000 bài kệ và nếu h́nh dung
kinh là một báu vật nhỏ tinh vi được chạm
trổ tỉ mỉ, th́ mỗi đường nét trạm
đều phải có ư nghỉa cốt yếu của nó th́
nó mới được lưu giử.
Cái công hiệu của thần
chú là chổ “nhứt tâm bất loạn”, đến
trạng thái tâm lư đó th́ không có một vọng niệm
nào lọt vào được. Khi được như
vậy th́ mọi tai ách sẽ qua hết. C̣n nếu ta dùng
thần chú như mấy ông thầy bùa, một cách mê tín th́
chắc chắn là kinh này không linh nghiệm. Khi khởi tâm
muốn hiểu thần chú th́ tâm ta động và thần
chú mất linh nghiệm. Truyền thuyết Phật giáo
kể lại rằng có một bà lảo niệm chú lâu
năm đến độ tối đến dân làng ở
chung quanh thấy nhà bà ta sáng rực hào quang. Một hôm, con
bà ta là một pháp sư nổi tiếng nhận xét rằng
mẹ ḿnh đọc sai thần chú và chỉ bà cách phát âm
cho đúng. Đêm đó dân làng không c̣n thấy ánh hào quang
nửa.
Mỗi sáng khi đi làm
việc, chúng ta lái xe đến sở làm. Chúng ta đâu
cần hiểu máy xe hoạt động như thế nào
và hàng ngàn chi tiết liên quan đến sự hoạt
động của chiếc xe. Chúng ta chỉ cần
chăm chú lái xe để đến sở an toàn. Lái xe
trong tỉnh thức, lái xe trong thực tại là ta dùng
được “thần chú chuyên chở” của xe. Khi tâm lo
ra, ĺa cái thực tại của việc lái xe, th́ tai nạn
khổ ách sẽ dể xảy ra. Cũng như thế, khi
ta làm mọi việc của đời sống hàng ngày trong
tỉnh thức th́ cái “chú Tuệ Giác” có công hiệu an tâm
rất lớn.
Diệu dụng của ḍng
Tuệ Giác là như thế: sự mầu nhiệm
đưa ta ra khỏi cảnh khổ đau phát nguồn
từ sự đơn giản tột cùng. Đơn giản
đến nổi một niệm (suy nghỉ) cũng không
có chổ vào. Cái chổ vào là cái khoảng Không giửa 2
niệm. Phải lanh lẹ lắm mới thấy
được cái điểm tương ứng,
tương đồng đó.
V́ thế, để giúp
những người có nhiều sở đắc qua
được “bờ bên kia”, Phật nói linh ngử: “Yết
đế yết đế, ba la yết đế, ba la
tăng yết đế, bồ đề tát bà ha”.
Bài kệ kết thúc kinh:
Như Lai nhấc cành hoa
Ca Diếp chúm chím cười
Hôm qua như ngày nay
Ánh sáng vẫn long lanh
Một tiếng cười
vở đêm khuya
Hàng ngàn v́ sao rơi rụng
Mặt trời ban đêm chói
chan
Tại sao phải đợi
ngày mai.
Tusito Ngu Sĩ
California, hè 2004